1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay theo dự án đầu tư tại chi nhánh NHCT Bến Thuỷ

82 777 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay theo dự án đầu tư tại chi nhánh NHCT Bến Thuỷ
Tác giả Hồ Thị Nga
Người hướng dẫn Th.s Lê Trung Thành
Trường học Ngân Hàng Công Thương Việt Nam
Chuyên ngành Tài chính ngân hàng
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 473 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay theo dự án đầu tư tại chi nhánh NHCT Bến Thuỷ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

NHCT Việt Nam- NHTM lớn thứ hai nước ta hiện nay đang chuyển mìnhmạnh mẽ trong các hoạt động chiến lược phát triển với hoạt động tín dụng làmtrọng tâm, trong đó cho vay khách hàng doanh nghiệp là một lĩnh vực quan trọngmang lại nhiều thuận lợi cho ngân hàng cũng như nền kinh tế

Chi nhánh NHCT Bến Thuỷ là chi nhánh ngân hàng cấp I trực thuộc NHCTViệt Nam và thực hiện hạch toán độc lập Hiện nay, Chi nhánh NHCT Bến Thuỷđang cho vay khoảng 20 khách hàng lớn với tổng dư nợ khoảng 610 tỷ Trongtổng số 20 khách hàng lớn có khoảng 1/5 khách hàng vay vốn theo dự án Phầnlớn là các công ty nhà nước hoạt động trong lĩnh vực cơ bản như: điện lực, xâydựng cơ sở hạ tầng, cầu đường,… Đây là lĩnh vực nhiều tiềm năng với đặc thùhoạt động theo dự án Tuy nhiên, hoạt động cho vay theo dự án của chi nhánhvẫn còn ít về số lượng, loại hình đơn điệu, quy mô nhỏ hẹp và chủ yếu các dự ánđang giải ngân là các dự án để lại từ các năm trước Dư nợ cho vay theo dự ánchiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ cho vay khách hàng lớn Từ thực tếnày, việc nâng cao chất lượng cho vay theo dự án đầu tư tại Chi nhánh NHCTBến Thuỷ là một vấn đề bức thiết hiện nay của Chi nhánh

Đứng trên giác độ là một sinh viên thực tập, tôi nghiên cứu vấn đề “ cho vaytheo dự án đầu tư” tại Chi nhánh NHCT Bến Thuỷ mong đóng góp một phần ý

kiến với cơ sở thực tập về một số “ nâng cao chất lượng hoạt động cho vay

theo dự án đầu tư”.

Chuyên để tốt nghiệp ngoài lời mở đầu và kết cấu theo 3 chương:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về chất lượng hoạt động cho vay theo dự án đầutư

Trang 2

Chương II: Thực trạng cho vay theo dự án đầu tư tại Chi nhánh NHCT BếnThuỷ.

Chương III: Giải pháp nâng cao hoạt động cho vay theo dự án đầu tư tại Chinhánh NHCT Bến Thuỷ

Trang 3

Hoạt động của NHTM thường gồm 3 nội dung chính:

+ Hoạt động huy động vốn

+ Hoạt động cho vay, đầu tư

+ Hoạt động thanh toán

Đây được coi là ba hoạt động truyền thống của NHTM, chúng có mối quan

hệ chặt chẽ và tương hỗ lẫn nhau

Hoạt động huy động vốn là hoạt động tạo nguồn cho NHTM Ngân hànghuy động tiền nhàn rỗi trong dân cư, trong các doanh nghiệp và các chủ thể kháctrong nền kinh tế để bảo quỹ cho vay

Thông qua chức năng cho vay, NHTM sử dụng nguồn vốn huy động được

để thực hiện cho vay đầu tư, cung cấp vốn cho nền kinh tế, phục vụ hoat độngsản xuất kinh doanh Đây là hoạt động chủ yếu của ngân hàng và là hoạt độngđem lại nguồn thu lớn nhất cho các NHTM Khi NHTM cung cấp vốn cho thịtrường là làm tăng lưu thông tiền tệ cho nền kinh tế Nền kinh tế phát triển, nhucầu về dịch vụ tiện ích của con người tăng cao, ngân hàng mở và cung cấp cácdịch vụ tiện ích đó để thu phí_ một nguồn thu không nhỏ của các NHTM,

Trang 4

1.1.2 Hoạt động cho vay của NHTM:

Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định “ hoạt động tín dụng bao gồmcho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu, bảo lãnh và một số hoạt động khác dongân hàng nhà nước quy định” Tín dụng được hiểu là quan hệ vay muợn trên cơ

sở hoàn trả Nghĩa là bao gồm các hoạt động cho vay và đi vay Tuy nhiên, đểtránh nhầm lẫn trong các văn bản pháp luật hiện hành, khi gắn tín dụng với chủthể nhất định như ngân hàng, ví dụ tín dụng ngân hàng thì chỉ bao hàm nghĩa làngân hàng cho vay

Cho vay có thể hiểu là hoạt động sử dụng vốn của NHTM cho những người

có nhu cầu vay vốn và thu một khoản lãi nhất định trên số tiền cho vay theonguyên tắc hoàn trả vón và lãi với thời gian xác định, đảm bảo tính an toàn vàkhả năng sinh lời Đối tượng của hoạt động cho vay là tiền, chủ thể đi vay làkhách hàng của các tổ chức tín dụng Hoạt động cho vay vẫn được hiểu là mộtnghiệp vụ truyền thống của NHTM bên cạnh hoạt động huy động tiền gửi

Tổ chức tín dụng xem xét cho vay khách hàng theo 3 thể loại: cho vay ngắn hạn,cho vay trung hạn và cho vay dài hạn

+ Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng

+ Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến dưới 60tháng

+ Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn từ 60 tháng trở lên

Cần phân biệt rõ thời hạn cho vay và tín dụng phân loại theo thời gian.Thời hạn cho vay là “ khoảng thời gian khách hàng bắt đầu nhận vốn vay chođến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận tronghợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng” Việc phân chia cho vaytheo thời hạn cho vay là rất rõ ràng Tuy nhiên tín dụng ngắn hạn, trung hay dài

Trang 5

hạn chỉ có tính chất tương đối Trên thực tế có những khoản vay không xác địnhtrước thời hạn hoặc những khoản tín dụng có thời hạn trên 12 tháng nhưng thờigian đến ngày đáo hạn dưới 12 tháng vẫn được xếp vào tín dụng ngắn hạn.Khách hàng có thể thỏa thuận với tổ chức tín dụng về phương thức cho vay Quychế cho vay của tổ chức tín dụng quy định nhiều phương thức cho vay khácnhau: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu

tư, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng,cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, cho vay theohạn mức thấu chi và các phương thức cho vay khác Cùng với sự phát triển củaNHTM, các phương thức cho vay ngày càng đa dạng và hiện đại

1.2 Dự án đầu tư:

Đầu tư phát triển có vai tròp quan trọng đối với sự phát triển của một quốcgia, là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của cơ sỡ vậtchất kỹ thuật của nền kinh tế Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, hoạtđộng đầu tư là một bộ phận trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm

cơ sở vật chất, kỹ thuật mới, duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất, kỹ thuậthiện có và vì thế, đầu tư phát triển là điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh,dịch vụ của doanh nghiệp

 Vậy dự án là gì?

Về mặt tổng quát, ta hiểu “dự án là một tập hợp các hoạt động đặc thù liênkết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau nhằm đạt được trong tương lai ý tưởng đã đặt

ra mục tiêu nhất định với nguồn lực và thời gian xác định”

Dự án có vai trò rất quan trọng đối với các chủ đầu tư, các nhà quản lý vàtác động trực tiếp tới tiến trình phát triển kinh tế xã hội, nếu không có dự án, nềnkinh tế sẽ khó nắm bắt được cơ hội phát triển Dự án là căn cứ quan trọng để

Trang 6

quyết định bỏ vốn đầu tư, xây dựng kế hoạch đầu tư và theo dõi quá trình thựchiện đầu tư Dự án là căn cứ để các tổ chức tài chính đưa ra quyết định tài trợ,các cơ quan chức năng của nhà nước phê duyệt và cấp giấy phép đầu tư Dự áncòn được coi là công cụ quan trọng trong quản lý vốn, vật tư, lao động trong quátrình thực hiện đầu tư Do vậy, hiểu được những đặc điểm của dự án là một trongnhững yếu tố quyết định sự thành công của dự án đó.

1.2.1 Dự án đầu tư là gì?

Dự án đầu tư có thể đựơc xem xét từ nhiều góc độ;

 Về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bàymột cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằmđạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tươnglai

 Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc

sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trongmột thời gian dài

 Trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kếhoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế_

xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ

 Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chiphí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địađiểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất địnhnhằm thực hiện các mục tiêu nhất định trong tương lai

Trang 7

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của dự án đầu tư:

Thứ nhất, dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng

Thứ 2, dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn

Thứ 3, dự án có sự tham gia của nhiều bên như: chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quancung cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước

Thứ 4, sản phẩm dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo

Thứ 5, Môi trường hoạt động của dự án là: “va chạm”, có sự tương tác phức tạpgiữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lýkhác

Thứ 6, Dự án có tính bất định và độ rủi ro cao do đặc điểm mang tính dài hạncủa hoạt động đầu tư phát triển

1.2.3 Phân loại dự án đầu tư:

Ta có thể phân loại các dự án đầu tư theo các tiêu thức sau:

1.2.3.1 Theo cơ cấu tái sản xuất:

 Dự án đầu tư theo chiều rộng: đòi hỏi khối lượng vốn lớn, thời gian thựchiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, tính chất kỹ thuậtphức tạp, độ mạo hiểm cao

 Dự án đầu tư theo chiều sâu: đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn, thời gian thựchiện đầu tư không lâu, độ mạo hiểm cũng thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng

 1.2.3.2 Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội:

 Dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh

 Dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật

 Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

1.2.3.3 Theo các giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình táisản xuất xã hội

Trang 8

 Dự án đầu tư thương mại: Là loại dự án đầu tư có thời gian thực hịên đầu

tư và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tínhchất bất định không cao lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt được kết quảcao

 Dự án đầu tư sản xuất: là loại dự án có thời hạn hoạt động dài hạn ( từ 5năm trở lên), vốn đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm, thời gian thực hiện đầu tưlâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động của nhiềuyếu tố bất động khó lường trong tương lai

 1.2.3.4 Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã

bỏ ra:

 Dự án đâu tư ngắn hạn

 Dự án đầu tư dài hạn

 Dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sỡ hạ tầng

1.2.3.5 Theo sự phân cấp quản lý dự án:

 Dự án quan trọng quốc gia: do quốc hội quyết định chủ trương đầu tư

 Dự án nhóm A

 Dự án nhóm B

 Dự án nhóm C

1.2.3.6 Theo cấp độ nghiên cứu:

 Dự án tiền khả thi: là kết quả của giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi

 Dự án khả thi: là kết quả của giai đoạn nghiên cứu khả thi

1.2.3.7 Theo nguồn vốn:

 Dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

 Dự án đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốntín dụng do nhà nước bảo lãnh

Trang 9

 Dự án đầu tư bằng nguồn vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồnvốn khác.

 Dự án đầu tư bằng các nguồn vốn hỗn hợp

1.2.3.8 Theo vùng lãnh thổ: theo tỉnh, vùng kinh tế của đất nước

1.2.4 Chu kỳ của một dự án đầu tư.

Sơ đồ 1.1 Các thời kỳ của một dự án:

Thựchiệnđầu tư

Vậnhànhcác kếtquảđầu tư

Hay nói cách khác, phương thức tài trợ sẽ chi phối việc xác định dòng tiềnphù hợp cũng như lựa chọn lãi xuất chiết khấu hợp lý để xác định giá trị hiện tạiròng( NPV) của dự án

1.3 Cho vay theo dự án đầu tư:

1.3.1 Khái niệm hoạt động cho vay theo dự án đầu tư.

Trang 10

Cho vay theo dự án đầu tư là phương thức cho vay trong đó “ tổ chức tíndụng cho khách hàng vay vốn để thực hiệ dự án đầu tư sản xuất kinh doanh dịch

vụ phục vụ đời sống” Với hình thức tín dụng này, chủ đầu tư dự án là kháchhàng, các chi phí của dự án là đối tượng cho vay Khi thực hiện cho vay theo dự

án, những vấn đề ngân hàng và cán bộ tín dụng quan tâm nhất là:

 Vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án: Cho vay theo dự án thư thường là vớithời gian dài, rủi ro cao Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro, ngoài việc quy định tài sảnđảm bảo, ngân hàng cho vay còn quy định khách hàng phải có vốn chủ sở hữutham gia vào dự án Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án cao hay thấp tùythuộc vào độ rủi ro và hiệu quả của dự án Hiện nay, một số NHTM Việt Namquy định mức vốn chủ sở hữu của khách hàng tham gia vào dự án là:

 Tối thiểu 10% tổng mức vốn đầu tư với dự án cải tiến kỹ thuật, mở rộngsản xuất, hợp lý hóa sản xuất

 Tối thiểu 30% tổng mức vốn đầu tư (sau khi trừ vốn lưu động dự kiến) đốivới dự án xây mới

 Tối thiểu 30% tổng mức vốn đầu tư (sau khi trừ phần vốn lưu động dựkiến trong tổng mức vốn đầu tư) đối với dự án phục vụ đời sống

là nguồn khấu hao và một phần từ lợi nhuận của dự án

Trang 11

 Giải ngân trong cho vay dự án: Khoản cho vay một dự án có thể được giảingân một lần (với dự án nhỏ) hoặc nhiều lần (với dự án lớn và dài hạn) trongtrường hợp giải ngân nhiều lần, ngân hàng không cho khách hàng rút vốn khi cácnhu cầu chi tiêu trong các các dự án chưa phát sinh, và nhằm đảm bảo cho cáckhách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích Việc giải ngân có thể được tiếnhành căn cứ vào tiến độ công việc hoàn thành của dự án.

 Lãi suất cho vay: Nhìn chung lãi suất cho vay theo dự án là lãi suất chovay trung- dài hạn nên cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn Tùy thuộc vào thỏathuận giữa ngân hàng và khách hàng mà hợp đồng tín dụng quy định lãi suất thảnổi hay cố định Việc thu tiền lãi có thể thu hàng tháng, năm theo số dư nợ thực

tế Khách hàng có thể trả tiền lãi cùng nợ gốc tại mỗi kỳ hạn trả nợ hoặc trả tiềnlãi vào một ngày nào đó trong kỳ hạn theo thỏa thuận

 Quy trình thủ tục cho vay và hoạt động thẩm định đơn giản , đảm bảo mức

độ chính xác cao: Hiệu quả nổi bật của cho vay theo dự án là giảm đáng kể khốilượng công việc cho cán bộ tín dụng Với hình thức cho vay theo hạn mức, ngoàicông việc thẩm định cho món vay năm đầu tiên, cán bộ tín dụng phải tái thẩmđịnh cho các năm tiếp theo để đánh giá hạn mức tín dụng hợp lý Việc theo dõihoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp khách hàng cũng phức tạp vàkéo dài liên tục

Trong khi đó với hoạt động cho vay theo dự án, công việc thẩm định chỉtiến hành một lần vào đầu dự án cho một dự án kéo dài nhiều năm về cơ bảnkhâu thẩm định dự án cũng không có nhiều khác biệt so với thẩm định tín dụnghạn mức cho năm đầu của hạn vay Thậm chí ở một khái cạnh nào đó thẩm định

dự án còn phức tạp với khối lượng công việc lớn Bên cạnh những thông tin quantrọng của doanh nghiệp khách hàng như chứng nhận pháp lý, tình hình tài chính,

Trang 12

tài sản đảm bảo,… Thẩm định dự án còn phải tiến hành phân tích và dự báodòng tiền, tính toán các chỉ tiêu hiệu quả Tuy nhiên, công việc phức tạp đó được

hỗ trợ lớn về mặt kỹ thuật Với các phần mền thẩm định và quản lý dự án, khốilượng công việc của cán bộ tín dụng được giảm đáng kể Bên cạnh đó, việc ápdụng công nghệ hiện đại vào quy trình thẩm định cũng đem lại kết quả chính xáchơn

 Quản lý chặt chẽ tiến độ giải ngân, thu nợ gốc và lãi linh hoạt

Khách hàng có sử dụng vốn vay đúng mục đích không? Nhu cầu vốn thực

sự của khách hàng là bao nhiêu? Đó vẫn luôn là những câu hỏi làm đau đầu cán

bộ tín dụng Với hình thức cho vay theo hạn mức, cán bộ tín dụng rất khó theodõi tiến độ hoạt động của doanh nghiệp

Một dự án có sự tham gia của chủ dự án, ngân hàng với tư cách là nhà tài trợ vàcác cơ quan quản lý nhà nước Đồng thời tiến độ công việc luôn phải được báocáo cụ thể và chi tiết Khoản vay chỉ được giải ngân khi có những chi phí liênquan tới những dự án nảy sinh Toàn bộ món vay có thể được giải ngân làmnhiều lần Theo cơ chế đó, chủ đầu tư phải đảm bảo món vay phải được sử dụngđúng mục đích và dự án đúng tiến độ mới có thể tiếp tục được giải ngân

Phân biệt cho vay dự án và cho vay đầu tư vào TSCĐ

Cho vay dự án đầu tư là một mảng rất quan trọng trong lĩnh vực cho vaytrung và dài hạn các tổ chức, doanh nghiệp của các NHTM Việc cho vay trung

và dài hạn doanh nghiệp thường được phục vụ cho 2 mục tiêu

Thứ nhất, cho vay doanh nghiệp để đầu tư vào tài sản cố định Tài sản này

có thể là cơ sở hạ tầng, nhà cửa, máy móc, vật kiến trúc, từ đó có thể mở rộngsản xuất kinh doanh, nâng cao năng xuất chất lượng sản phẩm Thông thườngcho vay doanh nghiệp để đầu tư vào tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh

Trang 13

doanh có nhu cầu vốn không quá lớn, mặt khác thời gian vay vốn thường làtrung hạn, phù hợp với chu kỳ phát triển của một loại sản phẩm, khoảng từ 3- 5năm.

Thứ hai, cho vay các doanh nghiệp để đầu tư vào một dự án Đó là khi cácdoanh nghiệp xây dựng một dự án kinh doanh có thời gian trung và dài hạn(thông thường các dự án có thời gian từ 5 năm trở lên) Khi đó, nhu cầu về vốnđầu tư là tất yếu, ngoài việc sử dụng vốn tự có của doanh nghiệp cũng như huyđộng từ các nguồn tài trợ góp vốn khác các doanh nghiệp luôn có nhu cầu tìmcác trung gian tài chính làm đối tác cho vay vốn trong thời gian đủ dài của dự ánvới lãi suất phù hợp

Quá trình cho vay dự án cũng giúp các NHTM gắn bó với chính tổ chức vayvốn thông qua việc theo dõi, quá trình giải ngân theo từng gíai đoạn của dự án,

và việc thu hồi lãi và gốc vào các năm đến hạn

1.3.2 Các hình thức cho vay theo dự án đầu tư:

 Cho vay trực tiếp ( cho vay toàn bộ )

Đây là hình thức đơn giản nhất trong cho vay dự án, đó là việc một NHTM có đủtiềm năng về vốn và không bị hạn chế hạn mức tín dụng đối với tổ chức cho vay,sau khi tiến hành thẩm định dự án phù hợp, NHTM có khả năng bỏ hoàn toànnguồn vốn của mình ra để trực tiếp cho vay.Tất cả các công đoạn trong quá trìnhcho vay và việc giải ngân, thu nợ đều do NHTM trực tiếp đứng ra thực hiện.Toàn bộ lãi suất thu được từ việc cho vay và những rủi ro có thể xảy ra do chovay đều thuộc NHTM cho vay vốn Tuy nhiên, việc cho vay trực tiếp đòi hỏingân hàng thương mại phải có đủ tiềm lực về vốn khi tiến hành cho vay, đặc biệt

là các dự án lớn, nhu cầu vốn cho vay nhiều Việc cho vay phải bảo đảm khoảnvay đó không vượt quá 15% vốn điều lệ của NHTM

Trang 14

 Ủy thác cho vay:

Là việc bên ủy thác giao vốn cho bên nhận ủy thác thông qua hợp đồng ủy tháccho vay để trực tiếp cho vay đến các đối tượng khách hàng, trong đó bên ủy thác

trả phí ủy thác cho bên nhận ủy thác.( Quyết định số 742/2002/QĐ- NHNN Quy

định về ủy thác và nhận ủy thác cho vay vốn của các tổ chứcc tín dụng)

 Đồng tài trợ:

Đồng tài trợ dự án của các tổ chức tín dụng lá quá trình cho vay- bảo lãnh củamột nhóm cho vay tổ chức tín dụng( Từ 2 trở lên) cho một dự án, do một tổ chứctín dụng làm đầu mối phối hợp các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao nănglực và hiệu quả trong hoạt động- sản suất kinh doanh của doanh nghiệp và các tổ

chức tín dụng.( Quyết định 154/1998/QĐ- NHNN về việc ban hành Quy chế

đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng)

1.3.3 Đặc điểm hoạt động cho vay theo dự án đầu tư:

Cho vay dự án đầu tư là một loại hình cho vay cơ bản của các tổ chức tíndụng trên thị trường tài chính và có đặc điểm chung của nghiệp vụ cho vay.Một là, có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sangngười sử dụng Người sỡ hữu vốn có thể là chính phủ, các tổ chức, cá nhân trongnước và nước ngoài Họ là những người có nguồn vốn chưa sử dụng và có nhucầu cho vay vốn để lấy một phần lợi tức do nguồn vốn đó mang lại

Và bên vay là những tổ chức cá nhân có những dự án, kế hoạch sản xuất kinhdoanh hiệu quả, có khả năng sinh lời cao, tuy nhiên lại thiếu vốn để phục vụ chomục đích đó NHTM là trung gian tài chính làm cầu nối cho các chủ thể trên gặpnhau Họ đứng ra huy động các khoản tiền tiết kiệm trong nền kinh tế, tập hợplại và với những kinh nghiệm, chuyên môn của mình để đứng ra cho các tổ chức,

cá nhân có nhu cầu vay Do đặc thù riêng biệt và chuyên nghiệp này, NHTM sẽ

Trang 15

thu một phần lợi nhuận nhờ sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất chovay phần vốn đó.

Hai là, sự chuyển nhượng trong hoạt động cho vay là có thời hạn Thời hạn

có thể ngắn hoặc dài tùy vào nhu cầu của ngườì vay, chính sách cho vay và khảnăng cho vay của bản thân NHTM Việc xác định thời hạn của vốn vay giúpngân hàng hoạch định được chính sách cho vay vốn của mình, từ sự dịch chuyểncủa luồng tiền cho vay, lãi suất và các biện pháp thu hồi nợ đối với người vay

Ba là, sự chuyển nhượng quyền sự dụng vốn này có kèm theo chi phí Chiphí đó chính là lãi suất cho vay.Bất cứ một khoản cho vay nào của các NHTMđều phải có một lãi suẩt cho vay nhất định.Lãi suất phụ thuộc vào nhiều yếu tốkhác nhau, đó là đối tượng khách hàng, giá trị khoản vay, thời hạn của khoảnvay, khả năng trả nợ của người vay cũng như những biến động của nền kinh tế

Và đương nhiên, lãi suất đó cũng sẽ phải đảm bảo là đem lại nguồn thu cho Ngânhàng lớn hơn khoản chi phí huy động mà Ngân hàng phải bỏ ra

Vậy khi ta đứng trên giác độ của loại hình cho vay theo đầu tư thì khoảncho vay này có những đặc trưng riêng nổi bật nào?

Thứ nhất, lượng vốn ban đầu để đầu tư cho dự án là rất lớn, do đó chủ đầu

tư dự án phải huy động từ nhiều nguồn vốn, trong đó nguồn tài trợ từ cho vay dự

án của các NHTM là rất quan trọng Tuy nhiên, NHTM không tài trợ toàn bộvốn đầu tư mà yêu cầu chủ đầu tư phải có lượng vốn tự có với một tỷ lệ nhấtđịnh, và đồng thời căn cứ vào các thông tin dữ liệu về dự án để xác định mứccho vay hợp lý đối với từng dự án cụ thể Khối lượng vốn Ngân hàng tài trợ cho

dự án được xác định theo nguyên tắc sau đây:

Trang 16

Số tiền cho vay = Nhu cầu vốn đầu tư – VCSH tham gia vào dự án – các vốnkhác

Thứ hai, ta biết mức lãi suất cho vay theo đầu tư cao và thực hiện phântích trước khi cho vay cũng như quản lý khoản vay chặt chẽ hơn Thời hạn chovay của dự án thường kéo dài nhiều năm, chủ yếu là các khoản cho vay trung vàdài hạn Đặc tính của dự án là cần một lượng vốn đầu tư lớn, được thực hiệntrong khoảng thời gian dài Như thế, hoạt động cho vay theo dự án có tiềm ẩn rủi

ro cao Vì vậy, các Ngân hàng đòi hỏi một mức lãi suất cho vay cao và chặt chẽ

để bù đắp và hạn chế rủi ro

Một dự án được lập và phân tích kỹ đến đâu vẫn thể hiện tính chủ quan củaphía chủ đầu tư, khi quyết định đầu tư vàp dự án bao giờ chủ đầu tư cũng có cáinhìn lạc quan hơn đối với dự án, vì vậy hồ sơ dự án có thể không đánh giá hếtcác khía cạnh liên quan đến dự án như các thông tin số liệu trong luận chứng kỹthuật, các yếu tố chi phí, lợi nhuận, không dự báo hết các vấn đề trong dài hạn,

… Hơn nữa, trong hoạt động Ngân hàng nhiều lúc xảy ra tình trạng thông tinkhông cân xứng, do đó những thông tin về dự án mà khách hàng cung cấp khôngphải lúc nào cũng chính xác

Nguyên tắc cho vay của NHTM là phải dựa trên các dự án có hiệu quả, vì

sự thất bại của dự án sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, tác động tiêu cực trựctiếp đến hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân hàng cho vay, không chỉ đơnthuần làm giảm lợi nhuận Mà còn làm giảm khả năng thanh toán của Ngânhàng Nếu nghiêm trọng và hiện tượng xảy ra hàng loạt sẽ tác động xấu đến cả

hệ thống, không loại trừ tình trạng khủng hoảng cả hệ thống Ngân hàng Nhậnthức tầm quan trọng của sự thất bại, đứng trên giác độ là nhà tài trợ, các NHTM

Trang 17

trước hết phải thẩm định dự án đầu tư một cách nghiêm túc, có quyết định chínhxác theo quan điểm của mình liệu dự án có kết quả kinh tế hay không, và có khảnăng trả nợ đúng hạn hay không và từ đó đưa ra các quyết định cho vay chínhxác.

1.3.4 Quy trình cho vay theo dự án đầu tư.

Quy trình cho vay theo dự án đầu tư bao gồm các bước sau:

 Bước 1: Khách hàng gửi hồ sơ vay vốn tới ngân hàng Bộ hồ sơ vay vốngồm: Giấy đề nghị vay vốn (theo mẫu), hồ sơ pháp lý, hồ sơ kinh tế (chứng minhkhả năng tài chính của khách hàng), hồ sơ về khoản vay (phương án sử dụng vốnvay), hồ sơ về đảm bảo tiền vay (nếu vay có đảm bảo bằng tài sản)

 Bước 2: Thu thập thông tin, đánh giá khách hàng và thẩm định dự án.Việc chấp nhận hay từ chối cho vay một dự án của khách hàng phải dựa vàokết quả thẩm định của dự án Cán bộ tín dụng dựa vào hồ sơ phương án kinhdoanh sự dụng vốn vay của khách hàng để tiến hành thẩm định dự án Trong quátrình thẩm định, ngoài các vấn đề cần thẩm định về mục tiêu dự án, thẩm định kỹthuật, thẩm định công nghệ; mối quan tâm lớn nhất của cán bộ tín dụng là cácchỉ tiêu thẩm định tài chính dự án Các tỷ số phân tích tài chính dự án rất đadạng, đi từ đơn giản tới phức tạp, trong đó phổ biến nhất là các tỷ số:

Vốn đầu tư dự án

Tỷ suất lợi nhuận giản đơn( ROI) =

Lợi nhuận sau thuế hàng năm

ROI cho biết một đồng vốn đầu tư cho dự án có được bao nhiêu đồng lợinhuận sau thuế hàng năm ROI là chỉ số phản ánh khả năng sinh lời của dự án

Trang 18

Ưu điểm của chỉ số này là đơn giản, dễ tính và dễ so sánh Tuy nhiên, ROI đã bỏqua giá trị thời gian của tiền và không phản ánh được khả năng sinh lời của cảvòng đời dự án

Tổng vốn vay

Thời gian thu hồi =

vốn vay Khấu hao TSCĐ + Lợi nhuận dự án +Nguồn khác hthành từ vốn vay dùng trả nợ dùng trả nợ

Chỉ số này cho nhà đầu tư và cán bộ tín dụng biết trung bình sau bao nhiêunăm thì dự án trả hết vốn vay Các đại lượng trong công thức là các giá trị trungbình năm mang tính đại diện, vì vậy cũng không phản ánh một cách chính xácthời gian thu hồi vốn trong suốt vòng đời dự án Chỉ tiêu này thực hiện theophương pháp thẩm định sử dụng các chỉ tiêu giản đơn, bỏ qua giá trị thời giancủa tiền Để nâng cao tính chính xác cho công việc thẩm định, các chỉ tiêu phứctạp hơn tính bằng giá trị hiện tại được sử dụng: NPV và IRR

1 (

NPV- Giá trị hiện tại ròng – Là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của cácdòng tiền thu được trong tương lai với tổng vốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hóa.NPV phản ánh giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư, một dự án có NPV dương là cótính khả thi NPV là một chỉ tiêu quan trọng giúp chủ đầu tư ra quyết định có đầu

tư vào dự án hay không, đồng thời cũng giúp cán bộ tín dụng xác định những

Trang 19

dòng tiền đi vào doanh nghiệp trong tương lai có đủ đảm bảo trả nợ hay không.NPV là một chỉ tiêu tương đối hoàn thiện, phản ánh giá trị tăng thêm cho cảvòng đời của dự án Tuy nhiên, NPV chỉ phản ánh được quy mô tăng thêm tuyệtđối chứ chưa phản ánh được phần giá trị gia tăng tương đối Nhược điểm củaNPV được khắc bằng cách khắc phục chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ -IRR.

Tỷ suất hoàn vốn nội bộ - IRR phản ánh tỷ suất hoàn vốn của dự án, dựatrên giả định của các dòng tiền thu được trong cả năm được tái đầu tư với lãi suấtbằng lãi suất chiết khấu IRR chính là trường hợp đặc biệt cuả lãi suất chiết khấukhi NPV bằng không IRR khắc phục được nhược điểm của NPV ở chỗ có thể sosánh được các dự án có thời gian khác nhau hay vốn đầu tư khác nhau: IRR thểhiện tỷ suất sinh lời bình quân hàng năm của dự án Thông thường hai chỉ tiêuNPV và IRR thường được sử dụng kết hợp, bổ trợ cho nhau để cán bộ thẩm định

có thể đưa ra được những kết luận chính xác nhất Sau khi thẩm định khách hàngvay vốn của dự án, cán bộ tín dụng phải đưa ra được những kết luận về tình hìnhtài chính của khách hàng, tính khả thi của dự án, mức độ đáp ứng các điều kiệncủa tài sản đảm bảo (nếu cho vay đảm bảo bằng tài sản), từ đó đưa ra ý kiến đềsuất:

 Đề nghị duyệt cho vay /không duyệt cho vay và nêu rõ lý do

 Phương thức cho vay

 Số tiền cho vay cao nhất

 Thời hạn cho vay

 Lãi suất cho vay

 Cách thức trả nợ gốc, lãi vay

Trang 20

 Bước 3: Ký hợp đồng tín dụng Sau khi đã có sự phê duyệt của cấp cóthẩm quyền, ngân hàng cùng khách hàng ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng đảmbảo tiền vay ( nếu có).

 Bước 4 :Thực hiện hợp đồng Hợp đồng tín dụng được thực hiện trước hếtbằng việc giải ngân, khách hàng rút tiền vay cũng phải xuất trình các chứng từtheo luật định Thông thường, ngân hàng sẽ mở tài khoản cho vay để ghi chép sốtiền vay phát ra, đồng thời lập giấy nhận nợ

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, khâu thu nợ gốc và lãi vaychiếm vị trí rất quan trọng Dựa vào thời hạn nợ đã thỏa thuận, khách hàng chủđộng trả nợ khi đến hạn ( gồm cả nợ gốc và lãi vay)

1.4 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động cho vay theo dự án

Để đánh giá một vấn đề chúng ta có rất nhiều quan điểm, nhiều giác độ nhìnnhận Vậy để đánh giá chất lượng hoạt động cho vay theo dự án bài viết phânloại theo nhóm một cách tương đối là:

Nhóm chỉ tiêu 1: Quy mô, hình thức cho vay

Nhóm chỉ tiêu 2: Tính an toàn và khả năng sinh lời của dự án

Nhóm chỉ tiêu 3: Mở rộng đối tượng cho vay

1.4.1 Nhóm chỉ tiêu 1: Quy mô, hình thức cho vay.

1.4.1.1 Doanh số cho vay, dư nợ cho vay và số lượng dự án

Quy mô tín dụng nói chung và quy mô cho vay nói riêng trước hết thể hiện

ở doanh số cho vay và dư nợ cho vay Trong cho vay theo dự án, doanh số chovay là giá trị những món vay Ngân hàng cho doanh nghiệp vay Hiểu đơn giản,doanh số cho vay là con số tuyệt đối trong hợp đồng tín dụng ký kết giữa Ngân

Trang 21

hàng và khách hàng Tránh nhầm lẫn doanh số cho vay với tổng đầu tư của dự

án Trong cơ cấu vốn đầu tư của dự án có thể có nhiều nguồn tài trợ khác ngoàivốn vay Ngân hàng Để xác định chính xác doanh số cho vay cần dựa vào hợpđồng tín dụng giữa Ngân hàng và chủ đầu tư Nếu như doanh số cho vay đượcxác định vào thời điểm bắt đầu dự án thì khoảng thời gian tiếp theo khi chủ đầu

tư thực hiện trả nợ gốc vã lãi vay lại ảnh hưởng tới dư nợ cho vay của Ngânhàng Dư nợ cho vay là số tiền vay mà khách hàng còn phải trả nằm trong kếhoạch trả nợ của dự án Như vậy, rõ ràng dự án lớn với vốn đầu tư lớn không thểtương ứng với doanh số cho vay và dư nợ cho vay nhỏ Nhìn chung doanh số chovay và dư nợ cho vay là những tiêu chí thông dụng nhất đánh giá quy mô chovay của Ngân hàng Bên cạnh đó, số lượng dự án cũng là một tiêu chí hiệu quảđánh giá cho vay theo dự án

Các chỉ tiêu doanh số cho vay, dư nợ cho vay hay số lượng dự án chỉ phảnánh những con số tuyệt đối về quy mô cho vay Để có được kết luận logic vàchính xác hơn, loại hình tổ chức của Ngân hàng cần được phân tích với nhữngchỉ tiêu như: thẩm quyền quyết định cho vay của chi nhánh, nguồn vốn huy độngcủa Ngân hàng, quy mô tổng tài sản, quy mô vốn chủ sở hữu….Không thể sựdụng các con số tuyệt đối về dư nợ cho vay của Ngân hàng quốc doanh với tiềmlực nguồn vốn cực lớn với NHTM cổ phần Hoặc không thể so sánh doanh sốcho vay của một chi nhánh của thành phố với chi nhánh tỉnh lẻ Việc kết hợp cácnhân tố khác sẽ đánh giá chính xác hơn cả về quy mô và tiềm năng cho vay củaNgân hàng

1.4.1.2 Không gian tín dụng:

Trang 22

Món vay đó được thực hiện trên quy mô khu vực hay quy mô toàn cầu?Điều này phụ thuộc rất lớn vào quy mô của dự án mà ngân hàng tài trợ trong quátrình mở rộng cho vay Nếu dự án được thực hiện là một dự án đa quốc gia hoặcliên kết giữa các chính phủ đó là quy mô toàn cầu Tuy nhiên, một dự án tầm cỡquốc gia hay dự án nghành chỉ thực hiện ở quy mô khu vực Thậm chí với các dự

án của các khách hàng doanh nghiệp hoặc tư nhân thì dự án chỉ được thực hiệntại một địa điểm cụ thể Tới đây có thể sẽ nảy sinh một câu hỏi: Ngân hàng nhỏ,thậm chí chỉ là một chi nhánh có khả năng thực hiện các dự án tầm cỡ quốc tếhay quốc gia không Câu trả lời là CÓ Với các dự án quy mô quốc tế, dự ánthường sẽ được chia làm các gói thầu nhỏ, và khi đó các ngân hàng/chi nhánh cóthẻ thực hiện nghiệp vụ giải ngân nguồn vốn quốc tế hoặc nguồn vốn chính phủ.Trong những trường hợp đó, ngân hàng đã mở rộng đáng kể hoạt động tín dụngcủa mình: đó là kinh nghiệm quản lý nguồn vốn lớn, tiếp cận với các dự ánkhổng lồ và xây dựng mối quan hệ với các tổ chức quốc tế Mục đích của hoạtđộng tín dụng không chỉ vì lợi nhuận, mà vì mục tiêu chung của NHTM

1.4.1.3 Khả năng bao quát của món vay tới các nghành, các thành phần kinh tế Vấn đề cần quan tâm ở đây là khách hàng thuộc thành phần kinh tế nào,hoạt động trong lĩnh vực nào Điều này cũng không tách rời quy mô của dự án.Những dự án lớn lại thường có sự tham gia của thành phần kinh tế Nhà nước Đódường như là một điều đi ngược lại xu thế cổ phần hoá ào ạt hiện nay và sự canthiệp thô bạo của các công ty đa quốc gia vào các nền kinh tế Các dự án với sựxuất hiện của Chính phủ dù dưới hình thức nào đi nữa (có thể trực tiếp, nhưngcũng có thể là một công ty nhà nước) - thường đi kèm với một sự đảm bảo củaChính phủ - là những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng những dự án phát triển dân

cư hay nền kinh tế vì mục tiêu lợi ích xã hội hơn là mục tiêu kinh tế Ngược lại

Trang 23

những dự án do các công ty đa quốc gia thực hiện lại có mục tiêu kinh tế rõ ràng

và thuộc lĩnh vực kinh tế Cũng giống như các hình thức cho vay khác, cho vaytheo dự án cũng có hai hình thức thông thường và ưu đãi Cho vay các dự án củadoanh nghiệp hoặc tư nhân thường được thực hiện thường được thực hiện theohình thức thông thường với các điều khoản khắt khe về tài sản đản bảo, lãi vay,thời hạn trả nợ, thời gian ân hạn,…Các dự án quy mô nghành hoặc quốc gia với

sự tham gia của chính phủ hay các tổ chức quốc tế, lại thường có sự ưu đãi Đó

là vì mục đích lợi ích xã hội của các dự án này: các chương trình điện- trường- trạm, các chương trình phát triển nông thôn, các chương trình trồngrừng… Trong hình thức cho vay ưu đãi vấn đề lãi suất dành được sự quan tâmđặc biệt, vì có liên quan trực tiếp tới thu nhập của ngân hàng Tuy nhiên, nếu nhưngân hàng chỉ thực hiện một hình thức cho vay điều đó không có nghĩa hoạtđộng tín dụng không được mở rộng có thể quy mô tín dụng vẫn tăng, nhưng nếuchỉ tập trung vào một hình thức nào đó, ngân hàng sẽ không tối đa được lợi íchcủa mình Ngân hàng thực hiện được càng nhiều hình thức cho vay dự án, điều

đường-đó cũng đồng nghĩa với hoạt động tín dụng đang được mở rộng Với hình thứccho vay thông thường có thể ngân hàng sẽ thu được nhiều lãi vay hơn, nhưngquy mô dự án lại nhỏ hơn, và không có cơ hội tiếp cận những nguồn vốn lớn.Với hình thức cho vay ưu đãi rõ ràng ngân hàng sẽ không thu được lãi theomong muốn Mở rộng cho vay theo dự án cũng đòi hỏi phải có cơ cấu cho vayhợp lý trong hình thức cho vay

1.4.2 Tính an toàn và khả năng sinh lời của dự án

Như bất kỳ khoản cho vay nào khác, hai vấn đề ngân hàng quan tâm nhấtkhi tài trợ một dự án là mức độ an toàn và khả năng sinh lời của món vay Một

dự án được coi là an toàn với ngân hàng khi dự án đảm bảo có đủ dòng tiền vào

Trang 24

để trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng Có nhiều biện pháp để đảm bảo an toàn chomột dự án, trong đó phổ biến nhất là ngân hàng yêu cầu tài sản đảm bảo Cũng

có những dự án thuộc diện chính sách, ưu đãi không có tài sản đảm bảo nhưng

có được sự bảo lãnh của Chính phủ Bên cạnh đó, lãi suất chovay là vấn đề ngânhàng đặc biệt chú ý Ngân hàng có thể cho vay với lãi suất cố định, lãi suất chovay thả nổi hoặc lãi suất cho vay ưu đăi Trong hoạt động tín dụng, ngân hàngthường phải chấp nhận đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Cho vay một dự án vớimức rủi ro thấp ( ví dụ một dự án ưu đãi của Chính phủ ) ngân hàng phải chấpnhận lãi suất cho vay thấp ( thông thường là lãi suất ưu đãi ) Ngược lại, cho vayvới các dự án rủ ro cao, mạo hiểm ngân hàng sẽ có được lợi tức kỳ vọng cao

1.4.3 Mở rộng đối tượng cho vay

Theo đặc thù hình thức cho vay theo dự án là dự toán vốn đầu tư phứctạp, tham gia vào một dự án có thể có vốn ngân sách nhà nước, vốn đầu tư nướcngoài hoặc vốn vay thương mại Không phải chỉ dự án nào có nguồn vốn vaythương mại mới có sự tham gia của NHTM Trong trường hợp đó NHTM cầntham gia với vai trò tài trợ, nguồn tài trợ có thể là nguồn huy động trong dân cư,nguồn tiền gửi của doanh nghiệp Tuy nhiên có những dự án NHTM đóng vai trògiải ngân nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc vốn đầu tư nước ngoài Khi đóngân hàng chỉ thu được phí trên số vốn giải ngân mà không thu được đồng lãinào, nhưng cũng không phải chịu rủi ro trong thanh toán Trong hoạt động tíndụng, khi quy mô càng được mở rộng ngân hàng có cơ hội tiếp cận với nhiềunguồn vốn hơn, tham gia vào nhiều dự án hơn Vì vậy có thể coi việc đa dạnghoá nguồn tài trợ cho dự án gắn liền với quá trình mở rộng hoạt động cho vaytheo dự án

Trang 25

Đối tượng cho vay của một dự án không phải là một khách hàng, đó là cáckhoản chi phí cần tài trợ bằng nguồn vốn vay của dự án đó Quy mô của dự án –hay nói chính xác hơn là quy mô của chi phí trong dự án đó - càng lớn thì quymột của món vay thương mại càng lớn Đó có thể là chi phí cho tài sản cố địnhcủa dự án, nhưng cũng có thể nhằm mục đích tài trợ cho vốn lưu động: để muanguyên vật liệu hay chi trả lương nhân công Ngân hàng càng thực hiện cho vayvới nhiều dự án thuộc các nghành, các lĩnh vực khác nhau thì đối tượng cho vaycàng đa dạng.Tuy nhiên, sự đa dạng này không hẳn là tốt hoàn toàn cho ngânhàng Bên cạnh việc gia tăng quy mô vốn vay, ngân hàng phải đối mặt với khókhăn do phải có cán bộ chuyên môn về quá nhiều nghành, nhiều lĩnh vực để cóthể đưa ra các quyết định cho vay sáng suốt với những đối tượng cho vay khácnhau.

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay theo dự án đầu tư.

1.5.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng:

Ngân hàng là chủ thể thực hiện hoạt động cho vay theo dự án, vì vậy nắmtrong tay các công cụ, biện pháp quản lý món vay đảm bảo tính an toàn và tínhsinh lời Nhìn chung, các biện pháp này do ngân hàng nhà nước hay hội sở chínhquy định cho toàn nghành hoặc toàn hệ thống Đó là các phương pháp, cách thựchiện mang tính hoạch định, định hướng Việc thực hiện cụ thể các quy định đótương đối linh hoạt và tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng chi nhánh từng kháchhàng Nổi bật trong các nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng là: điều kiện chovay, các hoạt động phòng ngừa rủi ro và quản lí lãi suất, hoạt động thẩm định dự

án, hiệu quả cho vay

 Điều kiện cho vay

Trang 26

Khi thực hiện cho vay, NHTM luôn đưa ra những ràng buộc đối với kháchhàng nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn cho món vay và đảm bảo ngân hàng sẽ thu

nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn và đủ số lượng Trong hồ sơ vay vốn ngân hàng,bên cạnh giấy đề nghị vay vốn, ngân hàng yêu cầu khách hàng có các giấy tờchứng minh pháp lý, báo cáo chứng minh tình hình tài chính, giấy tờ tài sản đảmbảo Chỉ khi những giấy tờ đó đạt yêu cầu tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệpmới được vay vốn Điều kiện vay vốn chính là công cụ của ngân hàng để đảmbảo cho hoạt động tín dụng đạt mục tiêu chung của ngân hàng: tính sinh lời vàtính an toàn

Các ngân hàng khác nhau với những cơ chế hoạt động khác nhau có mức

độ khắt khe trong điều kiện vay vốn khác nhau Các NHTM nhà nước hoạt độngtheo cơ chế bao cấp cũ thường có điều kiện vay vốn rất thoáng cho các doanhnghiệp nhà nước Trong khi đó, các NHTM cổ phần nhìn chung có điều kiện vayvốn chặt chẽ hơn vào những giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế điềukiện vay vốn của ngân hàng cũng khác nhau Khi nền kinh tế đang tăng trưởngtốt, các doanh nghiệp hoạt động tốt và khả năng trả nợ cao ngân hàng hoàn toàn

có thể nới lỏng điều kiện vay vốn của mình Trên thực tế NHTM nào áp dụngđiều kiện vay vốn lỏng hơn, những yêu cầu về tình hình tài chính hay tài sản đảmbảo ít khắt khe hơn có nhiều cơ hội mở rộng tín dụng hơn Ngược lại những ngânhàng thực hiện điều kiện vay vốn quá khắt khe khiến cho các doanh nghiệp e dètrong việc lập hồ sơ vay vốn Hơn thế nữa bản thân các doanh nghiệp cũngkhông thoả mãn điều kiện vay vốn của các ngân hàng đó, hậu quả tất yếu là ngânhàng rất khó mở rộng tín dụng

 Phòng ngừa rủi ro của ngân hàng

Trang 27

Trong quá trình hoạt động, ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro: rủi

ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động, rủi ro hối đoái.Ngân hàng có nhiều biện pháp để chống lại các rủi ro nói trên và đảm bảo tìnhhình tài chính của mình: nâng cao năng lực quản lí, đa dạng hoá, vốn chủ sở hữu

 Nâng cao chất lượng quản lý: Công tác quản lý - năng lực trongđiều hành ảnh hưởng rất lớn tới khả năng xử lý rủi ro trước khi Ngân hàng bị tổnthất Trong công tác quản lý chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng.Khi ra quyết định cho vay với một dự án, cán bộ thẩm định phải chịu hoàn toàntrách nhiệm của mình Chỉ khi nào trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộthẩm định cao mới đảm bảo hầu hết rủi ro trong dự án đã được tính đến và phòngngừa hữu hiệu

 Vốn chủ sở hữu: đây là biện pháp cuối cùng khi các phương phápngăn chặn, phòng ngừa rủi ro không còn hiệu quả Vốn chủ sở hữu được coi làtấm đệm an toàn cuối cùng cho hoạt động tín dụng của ngân hàng Trong quátrình hoạt động cho vay, ngân hàng cần phải tăng thêm nguồn vốn chủ sở hữu,đảm bảo một tấm đệm chắc chắn cho những trường hợp xấu nhất có thể xảy ra

Lãi suất là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới mục tiêu tăng khả năng sinh lờicủa tín dụng ngân hàng Ngân hàng luôn phải thực hiện quản lý lãi suất chi trả

và quản lý lãi suất tín dụng Quản lý lãi suất chi trả là xác định các loại và cơ cấulãi suất trả cho các nguồn tiền khác nhau nhằm đảm bảo duy trì quy mô và kếtcấu nguồn phù hợp với yêu cầu sinh lợi của ngân hàng Lãi suất chi trả càng cao,ngân hàng càng có thể huy động được nhiều vốn, từ đó mà có thể mở rộng hoạtđộng tín dụng Tuy nhiên, lãi suất cao làm gia tăng chi phí của ngân hàng và nếudoanh thu không tăng kịp chi phí, lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm tương ứng

Trang 28

Vì vậy quản lý lãi suất nguồn vốn có liên quan chặt chẽ tới quản lý lãi suất chovay và đầu tư của ngân hàng.

Mục tiêu của quản lý lãi suất cho vay và đầu tư nói riêng và mục tiêu quản

lý tài sản nói chung của ngân hàng là tối đa hoá lợi ích trên cơ sở đảm bảo antoàn Khi ngân hàng quy định lãi suất cho vay và đầu tư cao, ngân hàng thựchiện được mục tiêu tăng khả năng sinh lời Tuy nhiên cùng với các khoản chovay hay đầu tư lãi suất cao đó là những rủi ro tiềm tàng mà cán bộ tín dụng khó

có thể đánh giá hết được Ngược lại, nếu ngân hàng quy định lãi suất cho vaythấp thì có thể thực hiện được các chỉ tiêu kế hoạch đề ra về tín dụng khi cho vaynhiều dự án hơn Nhưng với lãi suất thấp doanh thu của ngân hàng có đủ bù đắpnhững chi phí lãi suất và chi phí ngoài lãi khác để đảm bảo cho ngân hàng có lợinhuận không?

 Hiệu quả của quá trình mở rộng cho vay

Mở rộng hoạt động cho vay theo dự án là phát triển chiều rộng hoạt độngtín dụng cua NHTM Quá trình này gắn liền với phát triển chiều sâu: đạt hiệuquả tín dụng nói riêng và hiệu quả của dự án nói chung Ngân hàng quan tâm vềhiệu quả đầu tư tín dụng, trong khi chủ đầu tư và các cơ quan quản lý Nhà nướcquan tâm tơi hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Hoạt động mở rộng tín dụng chỉđược đánh giá là thành công khi đạt hiệu quả trên hai góc độ này

 Hiệu quả tín dụng của ngân hàng: như đã phân tích ởmục 1.4.2

 Hiệu quả kinh tế xã hội: Mặc dù đây dường như là mốiquan tâm hàng đầu của các cơ quan quản lý Nhà nước, tuy nhiên nó cũng khôngnằm ngoài tầm quan sát của chủ đầu tư và ngân hàng Chủ đầu tư quan tâm nhấttới khả năng sinh lời của dự án Tuy nhiên, để có thể đạt được lợi tức kỳ vọng,

Trang 29

trước hết dự án phải có tính khả thi và được cơ quan quản lý nhà nước phê duyệt.Cùng mối quan tâm đó, trong tờ trình thẩm định dự án của cán bộ tín dụng ngânhàng luôn có đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án Đặc biệt, trên thực tếnhững dự án có quy mô lớn lại là những dự án mang tính chiến lược, với sự thamgia của Chính phủ hay các tổ chức phi chính phủ và hiệu quả kinh tế xã hội làmục tiêu lớn nhất của dự án này.

Khi mở rộng cho vay, cùng với sự tăng lên về quy mô vốn vay ngân hàngluôn phải đối mặt với nguy cơ rủi ro tăng cao Việc mở rộng cho vay phải đượcxây dựng trên cơ sở nâng cao sự an toàn cho ngân hàng Để thực hiện điều đó,chất lượng hoạt động thẩm định là chiếc chìa khoá dẫn tới thành công cho ngânhàng Chất lượng hoạt động thẩm định là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quảcủa mở rộng cho vay,do đó ảnh hưởng tới mở rộng cho vay Hoạt động cho vayđược xây dựng trên cơ sở chất lượng thẩm định tốt sẽ có tính bền vững và mức

độ an toàn cao Ngược lại, nếu hoạt động thẩm định không hiệu quả, viêc mởrộng cho vay sẽ phải đối mặt với nguy cơ rủi ro tiềm tàng rất lớn Nhìn chung,hoạt động thẩm định là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng nhất tới chất lượng

và hiệu quả của quá trình mở rộng cho vay

Nâng cao chất lượng phải đi cùng mở rộng và phải đặt trong mối quan hệtổng thể phát triển chung của ngân hàng mới có sự phát triển toàn diện

1.5.2 Các nhân tố ngoài Ngân hàng

 Các nhân tố ảnh hưởng từ phía khách hàng:

 Loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động

Loại hình doanh nghiệp của khách hàng vay vốn ảnh hưởng tới phươngthức tài trợ cho dự án Hiện nay có rất nhiều phương thức tài trợ cho dự án khácnhau: chủ đầu tư tự tài trợ, tài trợ thông qua tín dụng trung – dài hạn, tài trợ

Trang 30

thông qua cho thuê tài sản, tài trợ thông qua cấp phát vốn hay tài trợ phù hợp.Mỗi loại hình doanh nghiệp có những phương thức tài trợ khác nhau.

Các doanh nghiệp tư nhân thường tự tài trợ độc lập cho dự án của mìnhhoặc góp vốn đầu tư cho dự án Nếu doanh nghiệp không có khả năng về vốn tự

có, phương thức tài trợ được lựa chón sẽ là thông qua tín dụng trung – dài hạn.NHTM có thể cấp tín dụng độc lập cho khách hàng quy mô phù hợp với khảnăng cho vay của ngân hàng Tuy nhiên, với những dự án lớn, nhu cầu vốn vaycủa khách hàng vượt quá giới hạn tín dụng cho phép hoặc vượt quá khả năng chovay của ngân hàng, phương thức tài trợ thông qua tín dụng hợp vốn được sửdụng Phương thức này phù hợp với các doanh nghiệp quy mô lớn, các công tytập đoàn xuyên quốc gia Một phương thức tài trợ khác hiện đại và mang nhiềulợi ích cho khách hàng là cho thuê tài sản (leasing) Do đặc thù của tài sản chothuê thường là tài sản cố định, vốn đầu tư lớn và thời gian chiết khấu dài nênhình thức tài trợ này chủ yếu phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanhvới những dây chuyền trang thiết bị hiện đại; chứ không phù hợp với các doanhnghiệp thương mại Phương thức tài trợ thông qua cấp phát vốn là hình thức cấptài chính để thực hiện dự án bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước Rõ ràng, chỉ

có các doanh nghiệp đặc biệt như các tổng công ty Nhà nước hay các doanhnghiệp độc quyền ngành mới có cơ hội nhận được nguồn vốn từ ngân sách Nhànước Phương thức tài trợ phối hợp tỏ ra linh động nhất vì đó là sự kết hợp củaphương thức tài trợ trước đó Phương thức này phù hợp với hầu hết các loại hìnhdoanh nghiệp Với những doanh nghiệp đặc thù, phương thức tài trợ phù hợp sẽchiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn tài trợ dự án

Trang 31

Chính phủ - cơ quan hành pháp của Nhà nước để quản lý nền kinh tếthường nắm trong tay những doanh nghiệp chủ đạo trong các ngành kinh tế trọngđiểm Doanh nghiệp có thể thuộc thành phần kinh tế tư bản Nhà nước ở các nước

tư bản chủ nghĩa hoặc thuộc thành phần kinh tế Nhà nước ở các nước xã hội chủnghĩa Ở Việt Nam, đó là mô hình các Tổng công ty Nhà nước Các doanhnghiệp này thường có quy mô rất lớn và giữ vai trò cực kì quan trọng trong nềnkinh tế Sự phá sản của doanh nghiệp sẽ dẫn đến sự sụp đổ của toàn ngành, gây

ra biến động lớn trong nền kinh tế Vì vậy, từ bản thân các doanh nghiệp này,cũng như từ phía Chính phủ, loại hình doanh nghiệp này hầu như không thể tựphá sản (too big to fail)

Mặc dù có quy mô rất lớn, nhưng không phải lúc nào doanh nghiệp - tậpđoàn cũng có đủ số vốn cần thiết để thực hiện các dự án trong hoạt động củamình - thường là các dự án tầm cỡ quốc gia với quy mô lớn Vì vậy tất yếu nảysinh nhu cầu vay vốn từ NHTM Với quan điểm “too big to fail”, NHTM có thểtương đối yên tâm với món vay của mình vì dự án nhiều khả năng sẽ đạt hiệuquả về mặt kinh tế Với vị trí chủ đạo trong ngành của mình, lại thêm sự ưu đãicủa Chính phủ, doanh nghiệp - tập đoàn hoàn toàn có khả năng trả nợ cho Ngânhàng Mối quan hệ tín dụng này càng trở nên dễ dàng nếu một Tổng công ty Nhànước vay vốn tại một Ngân hàng thương mại Nhà nước Trường hợp này giốngnhư rút tiền từ túi này sang túi khác để tiêu Với loại hình doanh nghiệp này,tiềm năng tín dụng của Ngân hàng là rất lớn

 Mối quan hệ tín dụng với Ngân hàng:

Quan hệ tín dụng là quan hệ “vay muợn” trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau Để

có được một khoảng vay, khách hàng vay lần đầu thường gặp khó khăn trong

Trang 32

việc tạo niềm tin với Ngân hàng Họ phải bắt đầu từ việc trình hồ sơ pháp lý,phương án sử dụng vốn vay các giấy tờ chứng nhận tài sản đảm bảo Phải chắcchắn thoả mãn những điều kiện vay vốn của Ngân hàng, khách hàng mới có thểnhận được khoản tín dụng Theo thời gian, niềm tin nơi khách hàng của Ngânhàng nhằm được củng cố bằng những khoản trả nợ gấp và lãi đúng thời hạn, đủ

số lượng Khách hàng càng có mối quan hệ tín dụng với Ngân hàng trong thờigian dài càng tạo được niềm tin chắc chắn, và khả năng vay vốn trong những lầnsau thuận lợi hơn nhiều Sự thuận lợi đó có thể là giảm bớt khắt khe trong điềukiện vay vốn, hoặc bỏ qua một số khâu trong quá trình thẩm định cho vay Thậmchí, trong những trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn, Ngân hàng hoàn toàn

có thể cho khách hàng truyền thống những khoản tín dụng “nóng” để thoát khỏikhó khăn

Khách hàng truyền thống là một lợi thế cho bản thân doanh nghiệp, đồngthời cũng mang lại cho Ngân hàng những tiện ích nhất định Khi quan hệ tíndụng lâu dài đã được xây dựng trên cơ sở niềm tin chắc chắn, Ngân hàng sẽ cóthể “sống chết” cùng doanh nghiệp Việc thu nợ gốc, lãi vay cũng đơn giản hơn;đồng thời công tác thẩm định cho vay những lần sau cũng không mất nhiều côngsức Một Ngân hàng càng có nhiều khách hàng truyền thống trong cơ cấu kháchhàng của mình thì hoạt động tín dụng càng an toàn và niềm tin mở rộng tín dụngcũng lớn Tuy nhiên có một thực tế là thời gian để tạo ra một khách hàng truyềnthống không phải ngắn Và Ngân hàng nào có càng nhiều khách hàng truyềnthống, tức là số lượng khách hàng mới phát triển hàng năm không nhiều Đó lànghịch lý trong mối quan hệ khách hàng và tiềm năng mở rộng tín dụng Ngânhàng

Trang 33

 Các nhân tố ảnh hưởng từ Hội sở chính và cơ quan quản lýNhà nước.

 Quy mô và chính sách của Chính phủ

NHTM cũng như doanh nghiệp đều là các chủ thể trong nền kinh tế, đềuhoạt động kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Hơn thế nữa, NHTM là mộtloại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên càng bịkiểm soát chặt chẽ Đại diện của các cơ quan quản lý Nhà nước với NHTM làChính phủ, Bộ tài chính và NHNN Các văn bản luật, những quy định, thông tưthực hiện luật ảnh hưởng mang tính chi phối tới hoạt động của Ngân hàng nóichung và hoạt động chính trị nói riêng

Với tư cách cơ quan quản lý Nhà nước, vấn đề Bộ tài chính và Ngân hàngNhà nước quan tâm đầu tiên là đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM.Tính chất an toàn ở đây không phải là làm sao để NHTM thu đúng và đủ nợ chovay, mà mục tiêu đảm bảo Ngân hàng hoạt động trong phạm vi cho phép, khônggây ra những biến động lớn trong thị trường tiền tệ Các quy định về tỉ lệ đảmbảo an toàn trong hoạt động tín dụng thường xuyên được điều chỉnh và ảnhhưởng rất lớn tới hoạt động của NHTM Quy định mới nhất của Thống đốcNHNN - quyết định 457/2005/QĐ – NHNH đã ảnh hưởng đáng kể tới NHTM.Việc quy định hệ số an toàn tối thiểu với các NHTM là 8% đã đặt ra thách thứclớn cho toàn hệ thống Đây là yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển ngànhNgân hàng, hướng tới mục tiêu hoà nhập vào khu vực và thế giới Các NHTMchưa đạt tiêu chuẩn về hệ số an toàn tối thiểu cho thời hạn tối đa 3 năm để đạtchỉ tiêu này Hoặc việc NHNN cho phép NHTM sử dụng tới 40% vốn ngắn hạn

để cho vay trung - dài hạn giúp NHTM mở rộng hoạt động tín dụng

Trang 34

trung – dài hạn Chưa bàn tới tính phù hợp và hiệu quả của những quy định này,nhưng rõ ràng nó đã ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của NHTM, trong đó có

mở rộng hoạt động tín dụng

Ngân hàng không phải là đối tượng duy nhất chịu sự điều tiết của các cơquan quản lý Nhà nước Khách hàng của Ngân hàng: các doanh nghiệp cũngchịu sự quản lý của các cơ quan như: Chính phủ, Bộ tài chính Tuỳ vào nhữngthời kì phát triển khác nhau với mục tiêu chiến lược kinh tế khác nhau, Chínhphủ thường có những chương trình chính sách ưu đãi với các đối tượng doanhnghiệp khác nhau Các doanh nghiệp thường xuyên nhận được ưu đãi của Chínhphủ nhất là các doanh nghiệp độc quyền ngành, các doanh nghiệp thuộc sở hữuNhà nước và các doanh nghiệp nằm trong các chương trình đầu tư phát triển của

WB hay ADB Các doanh nghiệp này khi đến Ngân hàng với tư cách khách hàngthường được vay vốn với những điều khoản hết sức ưu đãi Chính phủ có thể chỉđịnh NHTM cho vay với các doanh nghiệp đó hoặc như một thông lê, các Tổngcông ty Nhà nước khi đến Ngân hàng vay vốn tài trợ cho các dự án trọng điểmQuốc gia luôn có được lãi suất rất ưu đãi Chính phủ - với những chương trình vàchính sách của mình không chỉ trực tiếp điều tiết NHTM mà còn ảnh hưởngthông qua khách hàng: các doanh nghiệp

 Quy trình thẩm định – cho vay của Ban tín dụng do Hội sở chínhquy định

Trong quy trình cho vay theo dự án, hoạt động thẩm định dự án đóng vaitrò đặc biệt quan trọng với Ngân hàng Đây là khâu ảnh hưởng tới quyết địnhcho vay của cán bộ tín dụng và là hoạt động đánh giá khách quan và chính xácnhất mức độ rủi ro của dự án - vấn đề mà Ngân hàng quan tâm hàng đầu Các hệ

Trang 35

thống Ngân hàng khác nhau áp dụng những quy trình thẩm định – cho vay và tổchức Ban tín dụng khác nhau Hiện nay có hai hệ thống tổ chức Ban tín dụngchính: mô hình bộ phận thẩm định kiêm chức năng cho vay (mô hình này đangđược áp dụng rộng rãi tại Việt Nam) và mô hình bộ phận thẩm định chỉ đóng vaitrò tư vấn cho Ban tín dụng hoặc Ban giám đốc ra quyết định cho vay Mỗi hệthống đều có những ưu, nhược điểm riêng

Quy trình thẩm định – cho vay ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt độngtín dụng, đồng thời ảnh hưởng tới tâm lý khách hàng Nếu hệ thống Ngân hàng

áp dụng quy trình phù hợp, phát huy được những ưu điểm của những quy trình

đó thì hoạt động tín dụng sẽ rất hiệu quả và chính xác Đó là tiền đề vững chắccho Ngân hàng có thể nâng cao chất lượng tín dụng Ngược lại, nếu Ngân hàngvẫn duy trì Ban tín dụng theo mô hình cũ, không tiếp cận với các hệ thốngphương pháp hiện đại sẽ không có được tính chính xác cần thiết cho quyết địnhtín dụng Cũng có những trường hợp Ngân hàng không đủ điều kiện về trangthiết bị kĩ thuât, trình độ cán bộ thẩm định nhưng vẫn áp dụng các phương pháphiện đai, không phù hợp cũng làm ảnh hưởng không tốt tới hoạt động tín dụng.Bên cạnh đó, một mô hình thẩm đinh – cho vay gọn nhẹ, đơn giản là yêu cầuchính đáng của khách hàng Nếu Ngân hàng sử dụng quy trình đơn giản (quytrình mở cửa) nhưng vẫn đảm bảo tính hiệu quả và chính xác sẽ tạo ra sức hútlớn với khách hàng Tiềm năng tín dụng nói chung và tiềm năng cho vay nóiriêng có khả năng phát huy tối đa

Trang 36

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO DỰ ÁN ĐẦU

TƯ TẠI CHI NHÁNH NHCT BẾN THỦY

2.1 Khái quát chung về chi nhánh NHCT Bến Thủy.

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh NHCT Bến Thủy

Chi nhánh NHCT Bến thủy- 12 năm xây dựng và trưởng thành từ chi nhánhngân hàng cấp II trực thuộc NHCT Nghệ An, ngày 1/1/1995 được nâng cấp làchi nhánh ngân hàng cấp trực thuộc NHCT Việt Nam theo QĐ số 493/NHCT-TCCB ngày 17/12 /1994

Giám đốc: Bà Phạm Thị Hòa

Tên giao dịch: BENTHUYICB

Địa điểm trụ sở chính: số 229, Dường Lê Duẩn- thành phố Vinh- Tỉnh NghệAn

Hình thức sở hữu: doanh nghiệp nhà nước

Là một chi nhánh NHTM ra đời tong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi từ cơchế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhànước, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức Song nhờ sự nổ lực phấnđấu để trưởng thành, đến nay Chi Nhánh NHCT Bến Thủy đã xác lập vững chắcthị trường kinh doanh, nhanh chóng chuyển hướng đầu tư và hòa nhập với cơ chếmới một cách mạnh mẽ

Hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHCT Bến Thủy là huy động vốn từcác tổ chức kinh tế- xã hội- nghề nghiệp, các doanh nghiệp và dân cư trên địabàn thành phố Vinh, đầu tư và cho vay ngắn, trung và dài hạn, cho vay tài trợ ủy

Trang 37

thác…đối với doanh nghiệp và dân cư; thực hiện các dịch vụ tư vấn về các lĩnhvực tài chính- tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng, tài chính khác.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh NHCT Bến Thủy:

Trang 38

Sơ đồ 2.1 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CHI NHÁNH NHCT BẾN THUỶ.

P.Kếtoán

P.Ngânquỹ

Tổquản lýrủi ro

P

TCHC

TổKDXNK

P.GDT.Thi

B.phận

Tíndụng

B.phậnHĐV

B.phậnTổnghợp

B.phậnTíndụng

B.phậnHC

B.phậnT.lương

QTK

số 05

QTK số 06

QTK số 07

B.phận tín dụng

Trang 39

2.2.1 Hoạt động huy động vốn

Thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, chi nhánh NHCT Bến Thủy đã tổ

chức huy động nguồn vốn của các thành phần kinh tế và dân cư trên địa bàn để

tiến hành đầu tư đối với các thành phần kinh tế địa phương, tạo diều kiện cho các

tổ chức kinh tế trên địa bàn Nghệ An thực hiện các phương án sản xuất kinh

doanh có hiệu quả, các dự án đầu tư khả thi nhằm tạo công ăn việc làm cho

người lao động, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế xã hội

địa phương phát triển

Bảng 2.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động 2004-2007

Đơn vị: triêụ đồng Chỉ tiêu 31/12/2004 31/12/2005 31/12/2006 31/12/2007 I/Nguồn vốn huy động

419.311 65.003 310.420 43.888 215.312 209.725 5.587

566939 100.688 383.225 83.026 387.517 387.517 0

615.146 121.010 458.429 35.707 273.383 273.383 0

(Nguồn báo cáo tổng hợp chi nhánh NHCT Bến Thủy các năm)

Tổng nguồn huy động của chi nhánh tăng với tốc độ khá qua các năm

nhưng tốc độ biến động không ổn định Năm 2005 do những khó khăn chung của

nền kinh tế: chỉ số giá cả tăng liên tục, thị trường tài chính thế giới nhiều biến

động nên tốc độ tăng trưởng năm 2005 so với năm 2004 chỉ đạt 12% Sang năm

Trang 40

2006 nền kinh tế có sự biến chuyển tích cực tổng nguồn huy động tăng trưởng35,3% (vượt kế hoạch 15,3%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của chi nhánh NHCTNghệ An là 3 % và cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình nghành tới 14%) Đây

là một sự vượt bậc trong hoạt động huy động vốn trong những năm qua Tuynhiên đến năm 2007 lại bị tụt dốc do những lý do tương tự năm 2005 chỉ với tốc

độ 8,5 % Mặc dù bị giảm mạnh nhưng những công sức của chi nhánh là khôngthể phủ nhận, chi nhánh đang tích cực phát huy nguồn vốn tiềm năng của cácdoanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn để có thể thay đổi con số 8,5% trong năm2008

Chi nhánh NHCT Bến Thủy đã sự dụng nhiều hình thức và phương pháp,biện pháp phong phú, đa dạng để huy động vốn của các thành phần kinh tế trênđịa bàn tỉnh Nghệ An như mở rộng mạng lưới các quỹ tiết kiệm, kết hợp quỹ tiếtkiệm và dịch vụ chuyển tiền, thanh toán phục vụ khách hàng có hiệu quả cao, thuhút tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiểm của dân cư,phát hành kỳ phiếu với các loại có kỳ hạn và không có kỳ hạn bằng nội tệ vàngoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi cao Nguồn vốn tăng tương đối ổn định

và vững chắc, từng bước tạo thế chủ động cho chi nhánh trong đầu tư tind dụng

2.2.2 Hoạt động đầu tư, cho vay nền kinh tế

Song song với việc huy động vốn, ngân hàng đã tiến hành đầu tư cho vay đối vớicác thành phần kinh tế Đây là nghiệp vụ mang lại nguồn thu lớn nhất cho cácNHTM

Bảng 2.3 Cơ cấu kỳ hạn dư nợ qua các năm

Đơn vị:triệu đồng

Ngày đăng: 20/12/2012, 12:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2.               Cơ cấu nguồn vốn huy động 2004-2007 - Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay theo dự án đầu tư tại chi nhánh NHCT Bến Thuỷ
Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn vốn huy động 2004-2007 (Trang 39)
Bảng 2.3.                     Cơ cấu kỳ hạn dư nợ qua các năm. - Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay theo dự án đầu tư tại chi nhánh NHCT Bến Thuỷ
Bảng 2.3. Cơ cấu kỳ hạn dư nợ qua các năm (Trang 40)
BẢNG 2.7. Tình hình hoạt động của công ty QL và SCĐB 470 Đơn vị: Triệu đồng - Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay theo dự án đầu tư tại chi nhánh NHCT Bến Thuỷ
BẢNG 2.7. Tình hình hoạt động của công ty QL và SCĐB 470 Đơn vị: Triệu đồng (Trang 47)
Bảng 2.9                      Một số chỉ tiêu kinh tế - Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay theo dự án đầu tư tại chi nhánh NHCT Bến Thuỷ
Bảng 2.9 Một số chỉ tiêu kinh tế (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w