Biện pháp bồi dưỡng kiến thức cho thanh niên nông thôn của trung tâm học tập cộng đồng
Trang 1hiện nay
Thứ hai: Xuất phát từ sự bất cập giữa một bên là ưu thế, tiềm năng nổi trội của Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) với thực tiễn khai thác
và phát huy tiềm năng đó trong việc đáp ứng nhu cầu học tập của TNNT
Vì vậy, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu, đổi mới các biện pháp bồi dưỡng kiến thức (BDKT) của TTHTCĐ
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá được thực trạng trình độ kiến thức của TNNT và nhu cầu BDKT của họ; đánh giá được các biện pháp đang được sử dụng để BDKT cho TNNT của TTHTCĐ; đề xuất được các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả BDKT cho TNNT của TTHTCĐ
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động BDKT của TTHTCĐ, với tư cách là cơ sở học tập thường xuyên do cộng đồng dân cư tự tổ chức và quản lí
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp BDKT cho TNNT đang được sử dụng của TTHTCĐ
4 Giới hạn của đề tài
4.1 Về nội dung: đề tài nghiên cứu biện pháp BDKT cho TNNT của
TTHTCĐ
4.2 Về nghiệm thể và địa bàn nghiên cứu: Nghiệm thể là TNNTvà
cán bộ xã đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp Địa bàn nghiên cứu là 12 xã
thuộc ba huyện của Hà Nội: Sóc Sơn: xã Minh Phú, Mai Đình, Trung Giã và
Xuân Giang; Gia Lâm: xã Cổ Bi, Kim Sơn, Phú Thị và Đa Tốn;Từ Liêm: xã Xuân Đỉnh, Thượng Cát, Xuân Phương và Đại Mỗ
5 Giả thuyết khoa học
Vốn kiến thức khoa học kĩ thuật, khoa học thường thức và hiểu biết về chính trị- pháp luật của TNNT hiện nay còn hạn chế; nhiều thanh niên có nhu cầu được bồi dưỡng các kiến thức này Trong khi đó, các biện pháp BDKT cho TNNT của TTHTCĐ hiệu quả chưa cao Nếu các biện pháp BDKT của TTHTCĐ được đổi mới theo hướng đáp ứng nhu cầu học tập của TNNT và phù hợp với sự phát của thực tiễn xã hội sẽ góp phần nâng cao kiến thức và
đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng của TNNT
Trang 26 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Xây dựng khung lí thuyết của việc nghiên cứu thực tiễn
6.2 Nghiên cứu thực trạng về nhu cầu được BDKT của TNNT và các biện pháp BDKT cho TNNT của TTHTCĐ ở các địa phương được nghiên cứu
6.3 Đề xuất và thực nghiệm các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả BDKT cho TNNT của TTHTCĐ
+ Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
+ Phương pháp trao đổi, phỏng vấn theo chủ đề
+ Phương pháp trắc nghiệm
+ Phương pháp thực nghiệm
Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác như: quan sát,
tổng kết kinh nghiệm và phương pháp chuyên gia…
8 Đóng góp mới của luận án
+ Về lý luận, làm rõ xu thế tất yếu và đặc trưng của GDTX trong giáo dục hiện đại; hoạt động và ưu thế của TTHTCĐ với tư cách là cơ sở để thực hiện GDTX ở các cộng đồng dân cư xã/ phường
+ Về thực tiễn, phát hiện được thực trạng trình độ kiến thức của TNNT và nhu cầu bồi dưỡng các kiến thức đó của họ; phát hiện thực trạng các biện pháp hiện đang được sử dụng để BDKT cho TNNT của TTHTCĐ
và nguyên nhân của thực trạng đó Đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả BDKT khoa học cho TNNT của TTHTCĐ
Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tμi 1.1.tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công cứu về xu thế học tập suốt đời và xã hội học tập
Công trình có giá trị định hướng cho giáo dục thế kỷ XXI là báo cáo của UNESCO, với tên gọi “Học tập, một kho báu tiềm ẩn” Trong đó nêu
bật hai đặc trưng mới của giáo dục thế kỷ XXI là: Học tập suốt đời và xã hội học tập Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu của các nhà Giáo dục học,
Tương lai học khác
1.1.2 Các nghiên cứu lí luận về giáo dục cho người lớn
Trước hết là các hội nghị Quốc tế bàn về giáo dục cho người lớn Trong đó có các Hội nghị tại Giôm chiên (Thái Lan) năm 1999 [43]; tại
Đaka (Xênêgan) tháng 4/2000 [43] Ngoài ra các nghiên cứu của nhiều tác
Trang 3giả về đặc điểm tâm lí của học viên là người lớn và quá trình dạy của giáo viên trong dạy học người lớn [114],[39]
ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về giáo dục cho người lớn Gần đây nhóm tác giả Thái Xuân Đào, đã khảo sát thực trạng và đề xuất đổi mới phương pháp dạy học người lớn trong giáo dục không chính quy (GDKCQ) ở Việt Nam [102]
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về GDKCQ và GDTX
GDTX được triển khai mạnh mẽ tại nhiều nước Liên bang Nga, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ấn Độ, Thái Lan v.v [98] ở Việt Nam, GDTX, cũng được nghiên cứu nhiều Trong đó đáng chú ý là các công trình của Viện Khoa học giáo dục [98]; Vụ giáo dục thường xuyên [97] Các công trình này đã gợi ra nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn cho các nghiên cứu tiếp theo về GDTX
1.1.4 Các nghiên cứu về trung tâm học tập cộng đồng
Trên thế giới, nước đi đầu trong nghiên cứu và phát triển TTHTCĐ là Nhật Bản, tiếp đến là Thái Lan, ấn Độ Năm 2006 90% số thị trấn, làng xã tại Nhật Bản có TTHTCĐ [17] ở Việt Nam, TTHTCĐ đầu tiên được thành lập năm 1996 Đến 2006 cả nước đã có 7.384 TTHTCĐ trên tổng số 10.938 xã, phường, thị trấn (đạt 67%) [17]
Năm 2004, Vụ giáo dục thường xuyên phát hành tài liệu “Phát triển Trung tâm học tập cộng đồng”[103] và “Sổ tay thành lập và quản lí Trung tâm học tập cộng đồng”[104] Năm 2005, Hội khuyến học Việt Nam phối hợp với Ngành Giáo dục và Đào tạo phát hành nhiều tài liệu về lĩnh vực này [15], [49], [50], cung cấp nhiều thông tin về TTHTCĐ và kinh nghiệm phát triển TTHTCĐ ở Việt Nam hiện nay
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tμi
1.2.1 Giáo dục thường xuyên
1.2.1.1 Khái niệm giáo dục thường xuyên
Theo UNESCO, trong xã hội hiện đại chỉ còn GDCQ (với nghĩa là giáo dục ban đầu) và GDTX (với nghĩa là giáo dục tiếp tục) Luật Giáo dục Việt Nam ban hành năm 2005 cũng quy định rõ: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, suốt đời, nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ
để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.”
1.2.1.2 Nội dung, biện pháp và cơ sở giáo dục thường xuyên
* Nội dung GDTX được thể hiện trong các chương trình sau:a)
Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; b) Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; c) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; d) Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 4* Các hình thức và biện pháp tổ chức học tập chương trình GDTX bao gồm:
+ Các hình thức thực hiện chương trình GDTX để lấy văn bằng của
hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: a) Vừa học vừa làm; b) Học từ xa; c)
Tự học có hướng dẫn [63]; các chương trình bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu của cộng đồng như cập nhật kiến thức khoa học, kĩ năng lao động, sản xuất; kĩ năng sống; chuyển giao công nghệ v.v,
+ Các biện pháp được sử dụng có thể là mở lớp tập huấn, sinh hoạt chuyên đề, đọc sách thư viện, tham quan học tập v.v Các biện pháp học tập rất sinh động này là cơ sở để đáp ứng được nhu cầu học tập suốt đời của người dân
và tạo ra xã hội học tập
* Các cơ sở thực hiện GDTX: a) Trung tâm GDTX được tổ chức tại cấp
tỉnh và cấp huyện; b) TTHTCĐ; c) Trong trường phổ thông, các trường chuyên nghiệp, cơ sở dạy nghề và thông qua các phương tiện thông tin đại chúng [72] Ngày nay, một trong những cơ sở để thực hiện GDTX có hiệu quả là TTHTCĐ
1.2.2 Trung tâm học tập cộng đồng
1.2.2.1 Định nghĩa TTHTCĐ
TTHTCĐ là cơ sở GDTX của một làng/xã hay phường, thị trấn,
thường do cộng đồng thành lập và quản lí, nhằm tạo cơ hội học tập đa dạng cho mọi người dân trong cộng đồng, đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho cộng đồng và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và của cộng đồng
1.2.2.2 Vai trò của TTHTCĐ
TTHTCĐ đóng vai trò là một trung tâm học tập suốt đời của tất cả mọi người trong cộng đồng; một trung tâm huấn luyện, dạy nghề; một trung tâm thư viện, đọc sách của làng, xã (phường); một địa điểm hội họp của cộng đồng và là một trung tâm văn hoá, thể thao của cộng đồng Hiện nay mô hình TTHTCĐ được coi là một công cụ có hiệu quả nhất trong việc
“giáo dục cho mọi người” và “mọi người cho giáo dục”
1.2.2.3 Chức năng của TTHTCĐ
TTHTCĐ có 4 chức năng cơ bản: a) Giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng,
cung cấp các chương trình giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng, tuỳ theo nhu
cầu của từng đối tượng; b) Thông tin và tư vấn: cung cấp các tin tức và dịch vụ thông tin chung; c) Phát triển cộng đồng: hỗ trợ cộng đồng tổ chức các hoạt động chung như hoạt động văn hoá- văn nghệ d) Liên kết,phối hợp: Trong xu thế hội nhập và giao lưu hiện nay, các cộng đồng
thường tiếp nhận nhiều chương trình, dự án của các tổ chức, cá nhân TTHTCĐ đã liên kết, phối hợp với các tổ chức cá nhân để triển khai các chương trình dự án đó
Trang 51.2.2.4 Hoạt động của TTHTCĐ
Theo Vụ Giáo dục thường xuyên, các TTHTCĐ có các hoạt động chủ
yếu sau đây [80]: a) Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ cho các thành viên cộng đồng; b) Chương trình bổ túc Trung học cơ sở; c) Chương trình bổ túc THPT; d) Chương trình tạo thu nhập, nhằm
giúp người học áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật nâng cao công nghệ vào việc phát triển kinh tế, tăng thu nhập; tăng hiểu biết về pháp luật, về
quyền lợi và nghĩa vụ công dân đối với gia đình và xã hội v.v; e) Chương trình học theo sở thích, nhằm cung cấp các cơ hội cho mọi người học tập,
nâng cao hiểu biết những vấn đề về xã hội, văn hoá, tinh thần, sức khoẻ, và
nghệ thuật; g) Chương trình định hướng tương lai, cung cấp cho mọi người
những kiến thức, kĩ năng, kĩ thuật mới, giúp họ thích ứng tốt hơn với những biến đổi nhanh chóng của đời sống xã hội
Tóm lại,TTHTCĐ được coi là cơ sở GDTX của hầu hết các nước trong
khu vực Châu á- Thái Bình Dương Đúng như ông Victor Ordonez, Tổng
giám đốc UNESCO khu vực đã đánh giá: “TTHTCĐ có thể coi là phát minh quan trọng nhất mà bấy lâu nay thế giới đang tìm kiếm” [98]
1.2.3 Các biện pháp bồi dưỡng kiến thức của TTHTCĐ
1.2.3.1 Kiến thức
Kiến thức được hiểu một cách khái quát là “những điều hiểu biết có
được của con người về thế giới tự nhiên và xã hội nhờ học tập trong trường
và từng trải trong thực tế cuộc sống” [ 46 tr 225-226].Trong đề tài này, các
kiến thức được đề cập tới là kiến thức phổ thông về khoa học kĩ thuật ; kiến thức về chính trị - pháp luật; kiến thức về khoa học thường thức phục vụ cho các hoạt động khác của cá nhân mà TNNT cần có để đáp ứng được
yêu cầu của lao động sản xuất nông nghiệp trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
1.2.3.2 Bồi dưỡng
Theo Từ điển giáo dục, bồi dưỡng được hiểu theo hai nghĩa: 1)
(nghĩa rộng) Quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn; 2) (nghĩa hẹp): trang bị thêm các kiến thức, kĩ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể [46] Trong đề tài này, thuật ngữ bồi dưỡng được dùng theo nghĩa hẹp, tức là thanh niên đã có kiến thức nhất định về khoa học kĩ thuật, khoa học xã hội v.v, nhưng những kiến thức đó chưa phù hợp hoặc chưa đủ để giải quyết có hiệu quả trong sản xuất và đời sống Vì vậy, cần trang bị thêm để
họ có khả năng thích ứng được với lao động và đời sống theo hình thức sinh hoạt và học tập trong các TTHTCĐ
Trang 6Nội dung bồi dưỡng rất phong phú, tuỳ thuộc vào nhu cầu của người
học.Tựu trung lại có ba nhóm: nhóm thứ nhất là các kiến thức khoa học kĩ thuật phục vụ sản xuất; nhóm thứ hai: các kiến thức về khoa học thường thức phục vụ đời sống ; nhóm thứ ba là các kiến thức về chính trị-pháp luật
1.2.3.3 Các biện pháp bồi dưỡng kiến thức tại TTHTCĐ
* Biện pháp bồi dưỡng
Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ [72, tr 45] : Biện pháp là cách
thức, là con đường để tác động đến đối tượng Biện pháp là yếu tố hợp thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp Trong từng tình huống sư phạm cụ thể, phương pháp và biện pháp giáo dục cụ thể có được chuyển hóa lẫn nhau
Chuyển vào lĩnh vực bồi dưỡng: biện pháp bồi dưỡng là các cách thức tác động của người bồi dưỡng và người được bồi dưỡng vào đối tượng cần bồi dưỡng (kiến thức, kĩ năng, thái độ), qua đó thực hiện được mục tiêu của việc bồi dưỡng
- Mở các khoá bồi dưỡng, huấn luyện đơn giản, ngắn ngày về kiến thức,
kĩ năng mới trong sản xuất, về sức khoẻ, pháp luật
- Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề nhằm cung cấp kiến thức, thông tin về thời sự, kinh tế, văn hoá, xã hội
- Tuyên truyền, phổ biến kiến thức thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: tivi, radio, video v.v
- Giới thiệu sách, đọc sách, hoặc cho mượn tài liệu tại TTHTCĐ
- Phối hợp với các cá nhân, các tổ chức xã hội, tổ chức câu lạc bộ, tham quan, trao đổi, học tập kinh nghiệm trong sản xuất và đời sống v.v
- Triển khai các hoạt động vui chơi giải trí, thể thao v.v
- Mở các câu lạc bộ để các thành viên gặp gỡ, trao đổi các lĩnh vực quan tâm: câu lạc bộ làm vườn, câu lạc bộ nuôi dạy con cháu, hát dân ca v.v
1.2.4 Thanh niên nông thôn
Thanh niên là những người từ 16 đến 30 tuổi (theo Luật Thanh niên) [65] TNNT là những thanh niên đang trực tiếp sống và lao động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn Do đặc trưng lao động nghề nghiệp và môi trường xã hội, nên TNNT có nhiều điểm khác với các nhóm thanh niên khác.Vì vậy TNNT thường có học vấn không cao và không năng động, sáng tạo v.v
1.3 Cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng kiến thức cho TNNT
1.3.1 Xu thế phát triển của giáo dục hiện đại
Nền giáo dục tương lai là nền giáo dục siêu công nghiệp mà một
trong nhiều đặc trưng của nó là sự lỗi thời nhanh chóng của kiến thức và sự
Trang 7biến động mạnh mẽ của nền sản xuất xã hội, do đó, giáo dục phải hướng
đến sự giáo dục suốt đời trên cơ sở thường xuyên đào tạo lại Vì vậy, đối
với nhiều thanh niên, vừa học vừa làm sẽ là cách phù hợp hơn và mang
tính chất giáo dục cao
1.3.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn là yêu cầu khách quan của việc bồi
dưỡng kiến thức cho TNNT
1.3.2.1 Sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay
Đảng và Nhà nước chủ trương: “ Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh
CNH, HĐH, nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông
nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững” [26] Muốn
vậy, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có tri thức, có kĩ năng cao Do đó tất
yếu phải phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng xã hội hoá và hiện đại
1.3.2.2 Sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng
nhu cầu cho sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực là khâu đột phá, quyết định
thắng lợi của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Quan điểm chiến lược
này đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X: Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở -
mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên
thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập
cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu
cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho mọi
người học, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục[26]
1.3.3 Học tập của thanh niên trong các TTHTCĐ
Học trong các TTHTCĐ, thanh niên có lòng tự trọng cao, độc lập, tự
giác và chủ động Nhu cầu học của họ là những điều thiết thực, có thể vận
dụng ngay vào cuộc sống sản xuất và sinh hoạt; họ là người có kinh
nghiệm sống phong phú Tuy nhiên, đa số thanh niên nông thôn bỏ học
lâu, thường gặp nhiều khó khăn về nhận thức, đồng thời họ thường mặc
cảm, tự ti về trình độ học vấn phổ thông của mình, dẫn đến dễ tự ái, bảo
thủ và các phản ứng có tính tự vệ, nếu không được tôn trọng
1.3.4 Vai trò của hướng dẫn viên trong học tập của thanh niên nông
thôn tại các TTHTCĐ
Học tập của TNNT tại TTHTCĐ không phải do giáo viên điều khiển
mà được sự trợ giúp, trao đổi của người có kinh nghiệm, có trình độ chuyên
môn, có điều kiện hơn về lĩnh vực nhất định, được gọi là những hướng dẫn
viên Họ có thể là cán bộ, kĩ sư, hưu trí ; nghệ nhân, người lao động giỏi,
giáo viên; các cựu chiến binh v.v hiện đang sinh sống ở địa phương Khi
hướng dẫn thanh niên học, hướng dẫn viên thường chú ý tới việc giúp họ
trao đổi, tự phát hiện để giải quyết vấn đề Vì vậy, trong học tập của thanh
niên tại các TTHTCĐ, vai trò của người hướng dẫn khác với vai trò của giáo
viên trong dạy học chính quy, đó là vai trò của người trợ giúp
Trang 8Chương 2 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng kiến thức cho
thanh niên nông thôn của TTHTCđ
2.1 tổ chức khảo sát thực tiễn
2.1.1 Mục tiêu khảo sát thực tiễn
Đánh giá được thực trạng mức độ kiến thức và nhu cầu BDKT của TNNT; đánh giá được thực trạng triển khai và hiệu quả của các biện pháp
và yếu tố tác động tới các biện pháp BDKT cho TNNT ở TTHTCĐ
2.1.2 Nội dung khảo sát
a) Khảo sát tình hình kinh tế văn hoá xã hội, cơ cấu dân cư- lao động của các địa phương được nghiên cứu; b) Điều tra về mức độ kiến thức và nhu cầu được BDKT của TNNT ở các xã được nghiên cứu; c) Khảo sát nội dung và biện pháp BDKT cho TNNT đã được sử dụng tại TTHTCĐ và các yếu tố tác động tới hoạt động của các TTHTCĐ
2.1.3 Lựa chọn nghiệm thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên 4 nhóm nghiệm thể: Nhóm 1: Gồm 1800 thanh
niên trực tiếp sản xuất thuộc 12 xã (mỗi xã 150 người từ 16 đến 30 tuổi);
Nhóm 2: Gồm 120 cán bộ xã, thôn, cán bộ quản lí các TTHTCĐ của 12 xã
được nghiên cứu; Nhóm 3: Gồm 105 thanh niên của 3 xã (mỗi xã 35 người)
của ba xã thuộc huyện Sóc Sơn: Minh Phú, Mai Đình và Trung Giã Đây là các nghiệm thể tham gia thực nghiệm Nhóm 4 gồm 105 TNNT của ba xã trên tham gia đối chứng
2.1.5 Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
*Phương pháp thống kê xã hội học Sử dụng 4 mẫu thống kê xã hội để
xác định cơ cấu lực lượng TNNT ở các địa phương được nghiên cứu
* Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Có 4 loại phiếu điều tra: Phiếu 1 và 2: Trưng cầu về kiến thức và nhu cầu bồi dưỡng của TNNT; Phiếu 3: Trưng cầu ý kiến về hoạt động BDKT cho TNNT của TTHTCĐ; Phiếu số 4 và số 5 trưng cầu ý kiến của nghiệm
thể trước và sau thực nghiệm; Phiếu số 6: Trưng cầu ý kiến của cán bộ xã, thôn và TTHTCĐ về hiệu quả BDKT và tính khả thi của biện pháp mới
* Phương pháp trao đổi, phỏng vấn theo chủ đề
* Phương pháp trắc nghiệm
Mục đích nhằm đánh giá sâu trình độ kiến thức của TNNT
Nội dung trắc nghiệm đề cập tới 5 lĩnh vực: Quy chế dân chủ cơ sở; Luật hôn nhân gia đình; Pháp lệnh về dân số và kế hoạch hoá gia đình; Luật dân sự và một số kiến thức mới về kĩ thuật sản xuất Thang đánh giá theo 5 mức: hầu như không hiểu biết: 0 đến 2 điểm; hiểu rất ít, hời hợt: 2,1 đến 4
điểm; hiểu một số nội dung cơ bản: 4,1 đến 6 điểm; hiểu rõ: 6,1 đến 8 điểm; hiểu rất rõ: 8,1 đến 10 điểm
2.2 Thực trạng kiến thức vμ nhu cầu bồi dưỡng kiến thức của thanh niên ở các x∙ trong địa bμn nghiên cứu
2.2.1 TNNT trong cơ cấu dân số- lao động của địa bàn nghiên cứu
Số thanh niên từ 16 đến 30 tuổi chiếm tỉ lệ khoảng 30% Trong đó có 74,4% đang trực tiếp lao động nông nghiệp Về học vấn phổ thông, trong số
Trang 91800 TNNT đ−ợc khảo sát có 48,2% THPT, 41,5% THCS và 10,2% tiểu học
Đây có thể đ−ợc coi là thuận lợi cơ bản của đội ngũ lao động trẻ ở nông thôn
đối với việc tiếp nhận kiến thức hiện đại trong sản xuất và đời sống
2.2.2 Kiến thức của thanh niên ở các xã đ−ợc nghiên cứu
* Kết quả tự đánh giá của đối t−ợng điều tra về mức độ hiểu biết của mình
Bảng 2.4 Kết quả tự đánh giá về mức độ hiểu biết kiến thức của TNNT
đánh giá
Thứ bậc
đánh giá
1 Kỹ thuật mới về SX và tiêu thụ SP 2.4 10
2 Luật đất đai và NĐ của CP về đất đai 2.3 12
3 Kinh nghiệm các điển hình trong SX và ĐS 2.4 10
Điểm trung bình chung 2.5
Điểm tự đánh giá: điểm 1 là thấp nhất và điểm 5 mức cao nhất
* Các kết quả trắc nghiệm về hiểu biết của thanh niên nông thôn
Bảng 2.5 Kết quả trắc nghiệm kiến thức của TNNT
Trang 10Đội ngũ TNNT được điều tra (qua trắc nghiệm và tự đánh giá) có hiểu
biết nhiều lĩnh vực có liên quan đến cuộc sống hàng ngày của cá nhân và xã
hội Tuy nhiên, mức hiểu các kiến thức khoa học chưa sâu, trong đó các kiến
thức khoa học liên quan trực tiếp tới lao động sản xuất được hiểu không tốt
bằng các lĩnh vực khác
2.2.3 Nhu cầu bồi dưỡng kiến thức của thanh niên nông thôn
2.2.3.1 Mức độ cần thiết của việc bồi dưỡng kiến thức cho TNNT
Kết quả điều tra cho thấy 94,9% TNNT thấy cần thiết phải có các lớp
BDKT để phục vụ cho sản xuất và đời sống Chỉ có 5,1% thấy không cần thiết
Đồng thời 100% số TNNT khẳng định sẽ tham gia, nếu huyện tổ chức phổ
biến kiến thức trong sản xuất và khoa học thường thức phục vụ đời sống Đây
có thể coi là biểu hiện nhu cầu cao về BDKT của TNNT hiện nay
2.2.3.2 Nhu cầu của TNNTvề nội dung kiến thức cần được bồi dưỡng
Bảng 2.8 Nhu cầu bồi dưỡng kiến thức của TNNT
Có nhu cầu bồi dưỡng
Không có nhu cầu STT Nội dung kiến thức
SL % SL %
1 Kỹ thuật mới về SX và tiêu thụ SP 1355 75.3 645 24.7
2 Luật đất đai và NĐ của CP về đất đai 1136 63.1 664 36.9
3 Kinh nghiệm điển hình trong SX và ĐS 1264 70.2 536 29.8
Nhu cầu về nội dung kiến thức cần bồi dưỡng của TNNT rất phong
phú Trong đó những nội dung sau đây được nhiều TNNT có nhu cầu được
bồi dưỡng: Các kiến thức khoa học kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt; các
kiến thức về khoa học thường thức, các chính sách của Đảng, Nhà nước;
kiến thức pháp luật; kiến thức về ngành nghề cũng là các nội dung cần bồi
dưỡng Nói chung, TNNT có xu hướng “cần gì học ấy, “khó khăn đến đâu
cần được giúp đỡ đến đấy”
Trang 112.2.3.3 Nhu cầu của TNNT về các biện pháp bồi dưỡng kiến thức
Bảng 2.12 Nhu cầu về biện pháp BDKT của TNNT
Nhu cầu của đối tượng khảo sát (n=1800)
7 Tuyên truyền qua băng hình video 4.75 3
8 Tuyên truyền trực tiếp tại các hộ gia đình 4.75 3
9 Thông qua báo chí, tài liệu, tờ rơi 5.41 6
Cả 10 biện pháp BDKT thường sử dụng hiện nay đều được TNNT
chấp nhận với các mức độ khác nhau Trong đó có 4 biện pháp được coi là
phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu của TNNT: Bồi dưỡng trực tiếp qua
đài truyền thanh của xã, tổ chức các đợt tập huấn ngắn ngày, qua các phương
tiện nghe nhìn đại chúng và phổ biến kiến thức tại các hộ gia đình
2.3 Thực trạng Biện pháp bồi dưỡng kiến thức cho
tNNT của TTHTCĐ ở địa bμn nghiên cứu
2.3.1 Thực trạng mạng lưới TTHTCĐ ở địa bàn nghiên cứu
ở cả 3 huyện Từ Liêm, Gia Lâm và Sóc Sơn hiện có 64/ 64 xã, thị
trấn (100%) đã thành lập TTHTCĐ Trong đó hầu hết là TTHTCĐ quy mô
xã Việc thành lập và quản lí TTHTCĐ chủ yếu là do xã kết hợp với
TTGDTX huyện thực hiện Nội dung, hình thức BDKT cho TNNT cũng
như nguồn ngân sách để TTHTCĐ hoạt động là do xã và các ban ngành
quản lí Trong cơ chế này, tính tự chủ, tự quản tự trong các hoạt động
nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của các thành viên trong cộng đồng hầu
như chưa có
2.3.2 Thực trạng biện pháp BDKT cho TNNT của TTHTCĐ
hiện nay ở địa bàn nghiên cứu
2.3.2.1 Mức độ triển khai các biện pháp BDKT cho TNNT của các
TTHTCĐ
Bảng 2.13 Đánh giá của cán bộ x∙ về mức độ triển khai các biện
pháp BDKT cho TNNTcủa các TTHTCĐ
Mức độ triển khai (n=120) (tỉ lệ % các ý kiến đánh giá) STT Các biện pháp
Thường xuyên Đôi khi ít khi
Trang 125 Hội thi 11.6 43.3 44.1
6 Phát thanh công cộng 65.8 19.2 15.0
9 Đọc báo, tài liệu, tờ rơi 0 13.3 86.7
10 Sinh hoạt tại nhà văn hoá 15.8 52.5 31.7
Các biện pháp BDKT cho TNNT đều được các TTHTCĐ thực hiện với
mức độ nhất định Trong đó sử dụng đài phát thanh xã được sử dụng
thường xuyên hơn cả Tiếp đến là tổ chức hội nghị, soạn và phát các tài
liệu, tờ rơi v.v Ngoài ra, việc mở các lớp BDKT ngắn ngày cũng được các
TTHTCĐ sử dụng Điều đáng lưu ý là biện pháp này rất phù hợp với
nguyện vọng, nhu cầu của nhiều TNNT Vì vậy, biện pháp này rất cần
được duy trì
Các biện pháp sinh hoạt câu lạc bộ, tham quan thực tế hay tuyên
truyền trực tiếp đến từng hộ gia đình; tổ chức đọc báo, tài liệu tại các
TTHTCĐ hay sản xuất và phát hành các băng hình kiến thức là các biện
pháp được nhiều thanh niên ưa thích nhưng trong thực tế rất ít được sử
dụng tại các TTHTCĐ Trong khi đó, một số biện pháp được triển khai
nhiều nhưng không thực sự hấp dẫn thanh niên như tổ chức các hội nghị
2.3.2.2 Thực trạng triển khai quy trình BDKT cho TNNT của các TTHTCĐ
Bảng 2.14 Mức độ thực hiện các khâu tổ chức BDKT cho TNNT của
Mức độ thực hiện (%) STT Nội dung triển khai
Tốt Bình thường Chưa tốt
1
Khảo sát mức độ kiến thức và nhu
cầu BDKT của đối tượng, trước khi
triển khai các biện pháp bồi dưỡng
Tuyên truyền, quảng bá mục tiêu,
nội dung và các hình thức bồi dưỡng
đến các thành viên trong làng, xã để
họ chủ động lựa chọn
5 Phối hợp, liên kết các tổ chức, cá nhân trong việc BDKT cho thanh niên 32.0 40.8 27.2
6 Tổ chức triển khai các hình thức bồi dưỡng theo kế hoạch 27,4 31.7 40.9
7 Trưng cầu ý kiến các đối tượng sau khi kết thúc việc bồi dưỡng 9.0 34.4 56.6
8 Đánh giá hiệu quả của các hoạt động bồi dưỡng 2.7 27.0 70.3