Môi trường bụi bông trong đó có dị nguyên bụi bông là một trong nhữngnguyên nhân gây các bệnh dị ứng đường hô hấp: Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp,hen nghề nghiệp, viêm mũi dị ứng, … Các
TỔNG QUAN
TÍNH HÌNH BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG
Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là tình trạng viêm niêm mạc mũi liên quan đến sự hoạt động của kháng thể IgE, thường xảy ra do tiếp xúc với dị nguyên qua đường hô hấp Các triệu chứng đặc trưng của bệnh bao gồm hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi và/ngứa mũi, kéo dài ít nhất hai ngày liên tiếp hoặc hơn một giờ trong hầu hết các ngày (Theo tiêu chuẩn ARIA-WHO 2010).
1.1.2 Dịch tễ học bệnh viêm mũi dị ứng
VMDƯ là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại viêm mũi, nó cũng là một trong những dạng dị ứng phổ biến nhất trong các rối loạn về dị ứng Ở Việt Nam,theo nhiều nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ VMDƯ chiếm từ 10 -18% dân số Tại hội nghị quốc tế về dị ứng ở Stockholm tháng 6 - 1994, các tác giả cho biết tỷ lệ mắc dị ứng từ 10 -19% Ở Mỹ, thường xuyên có 20% dân số bị mắc chứng VMDƯ
Với tỷ lệ mắc bệnh cao, dịch tễ học của VMDƯ đang thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng y học Tuy nhiên, hiểu biết thực tế về dịch tễ học của VMDƯ còn rời rạc do các thông tin về chăm sóc sức khỏe ban đầu khó tiếp cận và thiếu hụt Các nghiên cứu rộng rãi trong cộng đồng đôi khi không thực hiện test dị ứng do nhiều lý do, làm cho việc chẩn đoán phân biệt giữa VMDƯ và viêm mũi không dị ứng trở nên khó khăn hơn.
Trong những thập kỷ gần đây, các nghiên cứu toàn cầu cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của viêm mũi dị ứng (VMDƯ) và bệnh dị ứng hô hấp Theo điều tra của ISAAC tại Vương quốc Anh (2013), tỷ lệ VMDƯ ở người trưởng thành đạt 29% Ngoài ra, dù chưa có đủ số liệu, nhưng xu hướng gia tăng VMDƯ cũng đã được ghi nhận ở các quốc gia đang phát triển và công nghiệp hóa như Hong Kong và Thái Lan, với tỷ lệ khoảng 40%.
Nhiều nghiên cứu về quần thể sinh viên đại học cho thấy tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần cao hơn rõ rệt so với các nhóm khác, dao động trong khoảng từ 12% đến 21% Các số liệu này nhấn mạnh mức độ phổ biến của các vấn đề này trong cộng đồng sinh viên, đòi hỏi các biện pháp can thiệp phù hợp để hỗ trợ sức khỏe tâm thần của sinh viên Thống kê này còn phản ánh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và cung cấp các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp cho sinh viên đại học.
Các quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi dị ứng (VMDƯ) thấp như Indonesia, Albania, Romania, Georgia và Hy Lạp, trong khi các nước có tỷ lệ cao gồm Australia, New Zealand và Vương quốc Anh Theo điều tra quốc gia những năm 90 của thế kỷ XX, tỷ lệ VMDƯ ở người lớn tại Pháp là 25,9%, còn tại Vương quốc Anh là 29%, trong đó viêm mũi mãn tính ở người lớn phổ biến hơn ở trẻ em.
Trong giai đoạn 2006-2007, nghiên cứu của Masafumi Sakashita cùng các cộng sự về VMDƯ tại Nhật Bản cho thấy tỷ lệ mắc VMDƯ ở người trưởng thành từ 20 đến 49 tuổi đạt 44,2%, không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm tuổi trong quần thể này.
Là một đất nước nhiệt đới, Việt Nam có tỷ lệ bệnh nhân mắc VMDƯ quanh năm, với sự gia tăng do ô nhiễm môi trường và các dị nguyên mới xuất hiện Dù chưa có số liệu cụ thể, nhưng VMDƯ đang ngày càng phổ biến tại các thành phố và phát triển nhanh trong những năm gần đây Từ năm 1969, VMDƯ đã được đề cập trong chẩn đoán và điều trị tại Việt Nam, ban đầu chủ yếu dựa trên chẩn đoán lâm sàng và điều trị triệu chứng Các nghiên cứu của Nguyễn Năng An, Nguyễn Văn Hướng, Vũ Minh Thục, Phan Quang Đoàn, Phạm Văn Thức, Trịnh Mạnh Hùng đã làm sáng tỏ nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, đồng thời đề xuất các phương pháp chẩn đoán và điều trị hiệu quả.
Khoảng 20% dân số toàn cầu đang gặp phải căn bệnh VMDƯ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh này khá cao, dao động từ 12,3% đến 18% dân số Những yếu tố như ô nhiễm môi trường, chuyển mùa và sự xuất hiện của kháng nguyên lạ đang thúc đẩy xu hướng gia tăng số ca mắc bệnh VMDƯ ở Việt Nam.
Viêm mũi dị ứng bắt nguồn từ nguyên nhân di truyền và dị ứng với các dị nguyên như phấn hoa, bụi, nấm, mùi vị, hóa chất, lông thú hoặc lệch lạc cấu trúc vách ngăn mũi Khi tiếp xúc với các dị nguyên, cơ thể giải phóng histamin gây viêm và tiết dịch tại niêm mạc mũi, họng, kết mạc mắt, gây ra các triệu chứng như ngứa mũi, hắt hơi liên tục Bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng gây ra nhiều phiền toái, ảnh hưởng đến sức khỏe, giấc ngủ, học tập và công việc của người bệnh Ngoài ra, viêm mũi dị ứng còn là nguyên nhân chính dẫn đến viêm xoang mạn tính, làm giảm chất lượng cuộc sống của người mắc bệnh.
Tại khoa Hô hấp của Bệnh viện Nhi đồng I, hàng ngày thu nhận hơn 500 trẻ khám các bệnh về hô hấp, tai mũi họng, trong đó có đến 50% được chẩn đoán mắc viêm mũi dị ứng Không chỉ trẻ em, các khoa Tai mũi họng tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Bệnh viện Nhân dân 115 và Bệnh viện Tai Mũi họng TP.HCM ghi nhận sự gia tăng rõ rệt về số lượng bệnh nhân lớn tuổi mắc viêm mũi dị ứng đến khám.
Tại BV Tai Mũi Họng TPHCM mỗi ngày tiếp nhận trên 200 bệnh nhân đến khám liên quan đến viêm mũi dị ứng, viêm xoang
Theo Võ Thanh Quang (2011), số lượng bệnh nhân VMDƯ đến khám tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương ngày càng gia tăng, đồng thời mức độ bệnh ngày càng khó kiểm soát hơn, chủ yếu do ô nhiễm không khí ngày càng nghiêm trọng và biến đổi môi trường sống Phan Dư Lê Lợi (2011) cho biết, ô nhiễm không khí do khói bụi góp phần làm tăng số ca VMDƯ đặc biệt vào các mùa chuyển mùa với thời tiết thất thường Viêm mũi dị ứng bắt nguồn từ nguyên nhân di truyền, dị ứng với các dị nguyên như phấn hoa, bụi, nấm, hóa chất, lông thú hoặc lệch lạc cấu trúc vách ngăn mũi Khi tiếp xúc với dị nguyên, cơ thể giải phóng histamin gây viêm nhiễm và tiết dịch niêm mạc mũi, họng, mắt, dẫn đến các triệu chứng dị ứng như ngứa mũi, hắt hơi liên tục.
Triệu chứng rõ ràng nhất của viêm mũi dị ứng là ngứa mũi, hắt hơi thành tràng dài và không thể kiểm soát, gây cảm giác đau đầu do các cơ co thắt khi hắt hơi nhiều (Phan Dư Lê Lợi, 2011) Để giảm bớt và hạn chế bệnh, người bệnh cần tránh tiếp xúc với các tác nhân gây kích thích dị ứng, giữ ấm cơ thể đặc biệt vào sáng sớm hoặc mùa lạnh, đeo khẩu trang khi ra đường hoặc làm việc trong môi trường ô nhiễm, duy trì chế độ sinh hoạt điều độ và chế độ dinh dưỡng hợp lý để tăng sức đề kháng, đồng thời giữ vệ sinh vật nuôi trong nhà (Võ Thanh Quang, 2011) Điều trị viêm mũi dị ứng bằng thuốc dạng xịt có thể đem lại hiệu quả, nhưng không thể điều trị triệt để nếu người bệnh chủ quan, sử dụng thuốc không hợp lý hoặc tự ý bỏ thuốc mà không có chỉ định của bác sĩ Hiện nay, các bệnh viện còn áp dụng phương pháp miễn dịch đặc hiệu bằng dị nguyên để chống lại các yếu tố gây dị ứng, và ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về dị nguyên mạt bụi nhà D.pte và dị nguyên lông vũ của các tác giả như Vũ Minh Thục, Nguyễn Trọng Tài, Ngô Thanh Bình (Namhee Kwon).
1.1.2.3 Viêm mũi dị ứng nghề nghiệp
Nhiều nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng công nhân ngành dệt may thường gặp phải các bệnh lý đặc trưng so với các ngành nghề khác Raymond D ParkV ghi nhận tỷ lệ rối loạn sinh lý cấp và mãn tính là 18-35%, do tiếng ồn và áp lực công việc gây stress nghề nghiệp Ông cũng phát hiện tỷ lệ cao các vấn đề về hô hấp như suy giảm chức năng tắc nghẽn, hen phế quản, viêm mũi dị ứng ở công nhân ngành dệt của các quốc gia Đông Âu, đặc biệt là những người lao động có thâm niên trên 10 năm Nghiên cứu của Artamonova và Satalop từ thập niên 1960-1990 cho thấy 12% công nhân tại liên hiệp dệt may Kanilin grad mắc bệnh Bysinose, còn 38% bị viêm phế quản cấp và mãn tính, cùng các bệnh về mũi họng như viêm mũi xoang, viêm mũi dị ứng, hen phế quản Các tác giả giải thích rằng sự kích thích tăng tiết dịch, mất nước, rối loạn chuyển hóa và hiện diện của dị nguyên, nấm mốc, vi sinh vật trong môi trường làm việc là nguyên nhân chính gây ra các rối loạn bệnh lý này Ngoài ra, nghiên cứu của De Jong FM, De Snoo GR, LooriJ TP năm 2001 cho thấy khoảng 10-20% công nhân dệt may tại Ba Lan gặp phải stress nghề nghiệp trong những năm đầu lao động, đặc biệt là những người mới vào ngành dưới 5 năm.
Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trước đây, công nghệ kéo sợi tại Việt Nam còn rất lạc hậu, gây điều kiện lao động kém an toàn với bụi vượt qua tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) hàng chục, hàng trăm lần, đặc biệt tại đầu dây chuyền có nồng độ bụi cao làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp về đường hô hấp Tuy nhiên, nhờ chính sách mở cửa của nhà nước, các dây chuyền công nghệ đã được cải tiến và đầu tư mới, dẫn đến giảm đáng kể nồng độ bụi trong môi trường làm việc, tất cả đều thấp hơn TCVSCP Các nghiên cứu của Bùi Thị Tuyết Mai (1983) và Nguyễn Huy Đản (1988) đã cho thấy hàm lượng bụi trong không khí khoảng từ 2,2 đến 56 mg/m³, cao gây nguy cơ bệnh phổi bụi bông, hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp Tỷ lệ mắc các bệnh này khá cao, với nghiên cứu của Nguyễn Huy Đản và Bùi Thị Tuyết Mai năm 1983 ghi nhận tỷ lệ 15,9%, trong khi các nghiên cứu của Vũ Văn Sản, Vũ Minh Thục, Phạm Văn Thức năm 2002 đã chỉ ra tỉ lệ viêm mũi dị ứng nghề nghiệp do bụi bông là 32,5% Nghiên cứu tại Công ty Dệt 8/3 năm 2003 của Tạ Tuyết Bình và Nguyễn Đăng An cho thấy tỷ lệ bệnh hô hấp mãn tính lên đến 32,8%, còn theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Dũng năm 1999, tỷ lệ mắc bệnh mạn tính là 34%, và năm 2005 là 42,4%, phản ánh rõ ràng về mức độ ảnh hưởng của bụi đến sức khỏe công nhân ngành dệt.
YẾU TỐ NGUY CƠ LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHỎE VÀ BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG Ở CÔNG NHÂN DỆT MAY
1.2.1 Điều kiện lao động của công nhân ngành công nghiệp dệt may
Vào đầu thế kỷ XX, khi nền công nghiệp phát triển mạnh, vấn đề sức khỏe của người lao động đã thu hút sự quan tâm đặc biệt, đặc biệt là các tác hại nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp [11], [12] Mặc dù khoa học đã đạt đến đỉnh cao, giúp con người hiểu rõ các tác hại nghề nghiệp và các rối loạn bệnh lý liên quan đến lao động kỹ thuật cao, nhưng việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người lao động vẫn còn nhiều hạn chế do sự đa dạng và độc hại của hàng trăm nghìn hoá chất, dung môi và yếu tố tác hại vật lý, sinh học trong môi trường lao động [3] Các yếu tố này tác động đơn lẻ hoặc phối hợp gây ra các rối loạn bệnh lý, mất cân bằng sinh lý, sinh hóa và gây khó khăn trong công tác nghiên cứu, đồng thời khiến nhiều tác hại nghề nghiệp chưa được xử lý triệt để.
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về môi trường lao động, biến đổi sinh lý, sinh hóa lao động và lâm sàng bệnh nghề nghiệp đã được phát triển tại Việt Nam, tuy nhiên chưa đồng bộ dẫn đến hiệu quả của các biện pháp dự phòng, bảo vệ công nhân, nâng cao năng suất lao động và phòng chống bệnh nghề nghiệp còn hạn chế Trong bối cảnh đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang thị trường hóa, các phương tiện và điều kiện sản xuất lạc hậu cùng với nhịp độ sản xuất ngày càng tăng khiến các tác hại nghề nghiệp vẫn tiếp tục gia tăng Điều này dẫn tới sự thay đổi trong cơ cấu và mô hình bệnh lý thông thường, cũng như tăng các rối loạn liên quan đến môi trường và điều kiện lao động, khiến các bệnh nghề nghiệp ngày càng phổ biến và phức tạp hơn Đây là vấn đề khó khăn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành để giải quyết nhằm đảm bảo sức khỏe cho người lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Ngành may đóng vai trò là ngành then chốt trong nền công nghiệp Việt Nam, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Với hơn 1.000 nhà máy và xí nghiệp dệt may, ngành may thu hút trên 500.000 lao động, chiếm đến 22% tổng số lao động trong toàn ngành công nghiệp Sản lượng sản xuất hàng năm của ngành luôn tăng trưởng trên 10%, thể hiện rõ sức mạnh và tiềm năng phát triển của lĩnh vực này.
Trong nhiều năm qua, ngành dệt may Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình 20% mỗi năm từ 2000 đến 2005, mở rộng thị trường tới trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm các thị trường quan trọng như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Tuy nhiên, ngành vẫn phải đối mặt với nhiều hạn chế và thách thức, đặc biệt là cạnh tranh khốc liệt với các cường quốc xuất khẩu như Trung Quốc, Indonesia, Pakistan Từ ngày 01/01/2006, việc giảm thuế nhập khẩu hàng dệt may từ các nước ASEAN xuống còn tối đa 5% đã tạo ra áp lực cạnh tranh lớn đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ lao động, chất lượng cuộc sống và sức khỏe của công nhân, với các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh nghề nghiệp, đặc biệt các bệnh về đường hô hấp, đang gia tăng.
1.2.2 Dị nguyên bụi bông trong bệnh dị ứng
Tác nhân gây Viêm mũi dị ứng
Bụi bông là tác nhân hàng đầu gây viêm phổi dị ứng nghề nghiệp (VMDƯ), ảnh hưởng không chỉ trong khu vực sinh hoạt như nhà ở mà còn trong môi trường lao động như nhà xưởng Tác nhân bụi bông không chỉ dẫn đến các bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp, một trong 34 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm hiện nay, mà còn trực tiếp gây ra VMDƯ, đe dọa sức khỏe người lao động.
1.2.2.1 Vai trò của dị nguyên bụi bông trong bệnh dị ứng
DNBB là loại hình của các doanh nghiệp vô nhiễm, nổi bật với đặc điểm hoạt tính mẫn cảm cao, giúp nâng cao hiệu quả trong các lĩnh vực chẩn đoán và điều trị Nhờ tính chất này, DNBB ngày càng được ứng dụng phổ biến trong y học để phát hiện và xử lý các tình trạng bệnh lý một cách chính xác và hiệu quả hơn Việc sử dụng DNBB trong chẩn đoán và điều trị không chỉ giúp nâng cao độ chính xác mà còn mở ra nhiều cơ hội mới trong y học hiện đại.
Trong các doanh nghiệp gây viêm mũi dị ứng ứng, bụi nhà là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này, đặc biệt trong cộng đồng môi trường làm việc Ngoài ra, bụi bông trong ngành dệt may cũng là yếu tố hàng đầu gây ra bệnh dị ứng cho công nhân Việc hạn chế tiếp xúc với bụi nhà và bụi bông đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các bệnh dị ứng nghề nghiệp ở các doanh nghiệp sản xuất.
Dị ứng do bụi bông ngày càng được quan tâm tại Việt Nam do ngành dệt may phát triển và số lượng công nhân tăng, với sợi bông là nguyên liệu chính Sợi bông ban đầu là các chất liệu nhỏ, chủ yếu là cellulose, hình thành trong quá trình phát triển của quả bông trên cây Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất, môi trường ô nhiễm và sự phát triển của sinh học trong quả bông làm cho tính chất của sợi bông không còn thuần khiết, dẫn đến phát sinh bụi bông trong quá trình chế biến Chính lượng bụi bông này là nguyên nhân chính gây bệnh đường hô hấp cho công nhân, đặc biệt là những người thường xuyên tiếp xúc hàng ngày.
Bụi bông không chỉ đơn thuần là một chất mà là sự pha trộn phức hợp của nhiều thành phần, chủ yếu gồm các chất có hoạt tính sinh học Theo Hiệp hội Y tế và an toàn lao động Mỹ (OSHA), bụi bông được định nghĩa là bụi phát sinh trong quá trình gia công và điều chế bông, có thể chứa hỗn hợp các chất như bụi đất, sợi, mảnh thực vật, vi khuẩn, nấm mốc, chất bẩn và các thành phần khác tích lũy trong quá trình gieo trồng, thu hoạch và chế biến Tính chất của bụi bông còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như khí hậu, đất đai, côn trùng, phương pháp thu hoạch, điều kiện kho chứa và dầu mỡ công nghiệp, khiến đặc điểm của bụi bông ở các vùng trở nên đa dạng Những yếu tố này thường được các chuyên gia nhấn mạnh khi đánh giá vai trò gây bệnh dị ứng của bụi bông.
Tại sao bụi bông lại gây ra các bệnh dị ứng
Bụi bông là hỗn hợp phức tạp gồm các sợi bông, bụi khoáng chất và các thành phần khác, trong đó 65-95% là chất hữu cơ chứa xenluloza (49-85%), protein nguồn gốc thực vật (8-17%), lisin (20%), lipit (2%), cùng với vi khuẩn và bào tử nấm mốc Chất lượng bông cao đi kèm với hàm lượng protein cao, trong khi thành phần khoáng phụ thuộc vào đất trồng Ngoài ra, bụi bông còn chứa enzyme proteaza và các tạp chất khác, và theo nghiên cứu của Prausnitz cùng cộng sự, cả cuống lá và lá của cây bông đều có chứa protein có khả năng gây dị ứng, góp phần vào cơ chế bệnh sinh của các phản ứng dị ứng liên quan đến bụi bông.
Ngay từ những năm 1937, các nhà nghiên cứu đã nhận định rằng bụi bông chứa các yếu tố gây giải phóng histamin trong phổi, góp phần gây ra các phản ứng dị ứng Năm 1920, bác sĩ Bouhyys đã thực hiện khí dung bụi bông cho bệnh nhân và phát hiện ra sự giải phóng histamin, xác nhận vai trò của bụi bông trong quá trình gây ra các phản ứng dị ứng đường hô hấp.
Evaro và Nicholls (1974) đã sử dụng phương pháp sắc ký trên giấy để xác định rằng cả ba phân đoạn trong DNBB đều có bản chất là glycoprotein Douglas và cộng sự cũng xác nhận kết quả này và nhận định rằng dịch chiết từ bụi bông chịu nhiệt độ cao và mất hoạt tính khi đun với axit hoặc kiềm, cho thấy tính bền vững của glycoprotein trong các điều kiện này.
Đánh giá hoạt tính kháng nguyên của dịch chiết bông cho thấy trong bụi bông tồn tại thành phần dị nguyên, trong đó một số có nguồn gốc nấm Kháng huyết thanh thỏ trong điện dị miễn dịch chéo xác nhận rằng kháng huyết thanh kháng lại dịch chiết nước của bụi bông không phản ứng với dịch chiết của đế hoa, lá, bao tươi và khô Thành phần có hoạt tính dị nguyên từ lá bao cây bông chịu nhiệt, không mất hoạt tính trong môi trường axit hoặc kiềm, không tách ra bằng nhựa trao đổi ion, chưng cất bằng hơi nước hoặc chiết xuất bằng ete Nó hấp thụ tốt than hoạt tính và hòa tan dễ dàng trong nước, với kích thước phân tử khoảng 10.000 Da theo số liệu thẩm tách và lọc gel.
Bụi bông có đặc tính gây dị ứng và là nguyên nhân chính của nhiều hội chứng và bệnh dị ứng như “sốt nhà máy”, “chứng ho của thợ dệt”, “phổi bụi bông”, hen phế quản, viêm mũi, mày đay và các vấn đề mẩn ngứa.
1.2.2.2 Bản chất hóa sinh của dị nguyên bụi bông
Bản chất sinh hóa của hầu hết các doanh nghiệp (DN) vẫn chưa được hiểu rõ ràng, nhưng theo H Richard Shough, các DN đã biết đều có bản chất là protein hoặc glycoprotein với khối lượng phân tử khoảng 10.000 - 70.000 Mặc dù dự án DNBB đã được sử dụng từ lâu trên thế giới, nhưng tại Việt Nam, nghiên cứu về DNBB mới bắt đầu trong những năm gần đây.
* Thành phần của bụi bông
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM TỶ LỆ VIÊM MŨI DỊ ỨNG Ở CÔNG NHÂN21 1 Các giải pháp can thiệp không đặc hiệu đối với viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông
1.3.1 Các giải pháp can thiệp không đặc hiệu đối với viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông
1.3.1.1 Giải pháp về chế độ chính sách
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam đã ban hành các chính sách hỗ trợ người lao động như Luật về an toàn vệ sinh lao động và các quy định về giám sát môi trường lao động Các chế độ khám tuyển, khám định kỳ và khám bệnh nghề nghiệp nhằm đảm bảo sức khỏe cho người lao động Đặc biệt, có hướng tiến tới đưa bệnh viêm mũi xoang – viêm mũi dị ứng nghề nghiệp vào danh mục các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm Ngoài ra, chế độ bồi dưỡng độc hại cũng được xây dựng để nâng cao quyền lợi cho người lao động trong lĩnh vực công nghiệp và nghề nghiệp tiếp xúc độc hại.
1.3.1.2 Giải pháp công nghệ và điều kiện lao động: Để kiểm soát và giảm thiểu các yếu tố độc hại phát sinh trong quy trình dệt may tác động lên sức khỏe người lao động tốt nhất là sử dụng quy trình công nghệ sản xuất hiện đại tự động hóa trong từng khâu…, nhưng biện pháp này không phải lúc nào cũng thực hiện được nên các biện pháp kĩ thuật về sinh VSAT như: che chắn, thông gió, hút bụi thường được áp dụng nhằm giảm thiểu các yếu tố độc hại (Vi khí hậu, bụi, hơi khí độc…) xuống dưới mức TCVSCP.
1.3.1.3 Giải pháp thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức
Giải pháp thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người lao động, người sử dụng lao động, nhân viên y tế, đội ngũ an toàn viên …đóng vai trò trong vấn đề phòng chống tác hại của môi trường đến sức khỏe người lao động nói chung, các tác hại từ môi trường lao động như bụi, hơi khí độc, nhiệt độ tới Mũi xoang.
1.3.1.4 Biện pháp dự phòng cá nhân (Biện pháp cách lý, giảm thiểu bụi, hơi khí độc trực tiếp) Đeo khẩu trang thường xuyên khi làm việc là biện pháp thường được áp dụng và cũng là quy định bắt buộc đối với công nhân lao động trực tiếp trong điều kiện lao động ô nhiễm, khắc nghiệt, độc hại. Ưu điểm: Khẩu trang có tác dụng năng ngừa bụi, hơi khí độc sinh ra trong điều kiện lao động đặc thù.
Phải được thay thế thường xuyên tùy thuộc điều kiện lao động để đảm bảo chức năng lọc bụi của khẩu trang dẫn đến các chi phí tốn kém.
Trong ngành dệt may, công nhân mắc bệnh viêm mũi dị ứng thường xuyên gặp phải triệu chứng ngạt tắc mũi Việc đeo khẩu trang liên tục trong quá trình làm việc có thể gây ra cảm giác thiếu hụt không khí, làm ảnh hưởng đến sự thoải mái và hiệu quả lao động của công nhân Đặc biệt, đối với những người mắc bệnh viêm mũi dị ứng, việc thở bị hạn chế khi đeo khẩu trang có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng và gây khó chịu trong quá trình làm việc Đây là vấn đề cần được quan tâm để đảm bảo sức khỏe và an toàn cho công nhân trong môi trường lao động dệt may.
* Quản lý sức khỏe và chăm sóc y tế
- Khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp để phát hiện sớm các bệnh liên quan đến nghề nghiệp do điều kiện lao động đặc thù gây ra.
Khám các chuyên khoa sâu bằng các phương pháp chẩn đoán hiện đại giúp phát hiện sớm bệnh viêm mũi dị ứng, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp phù hợp Việc chẩn đoán chính xác và sớm góp phần giảm nhẹ hậu quả của bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh Áp dụng các phương pháp xét nghiệm tiên tiến trong thăm khám là bước quan trọng để kiểm soát hiệu quả các triệu chứng của viêm mũi dị ứng.
Quản lý tốt các ca bệnh và phân loại bệnh chính xác là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả điều trị VMDƯ, đồng thời áp dụng các biện pháp dự phòng cá nhân và tư vấn sức khỏe thường xuyên giúp giảm thiểu rủi ro Tuy nhiên, trên thực tế, việc triển khai các giải pháp tổng thể về y tế tại các cơ sở y tế nhà máy còn gặp nhiều hạn chế và bất cập, cần cải thiện để đảm bảo chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân viên.
Vệ sinh mũi xoang là phương pháp được áp dụng từ lâu và phổ biến trên toàn thế giới để phòng ngừa và điều trị bệnh viêm mũi xoang Đây là biện pháp hàng đầu giúp giảm thiểu nguy cơ mắc các vấn đề về mũi xoang, đặc biệt trong các trường hợp do tác động của môi trường làm việc Việc duy trì vệ sinh mũi xoang đúng cách đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe đường hô hấp và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Rửa mũi trong và sau ca làm việc tiếp xúc nhiều với khói bụi là biện pháp giúp thải loại các chất gây kích ứng Đây là cách duy trì chức năng của hệ thống tiết nhày lông chuyển của niêm mạc mũi xoang, ngăn ngừa quá tải và tổn thương Việc làm sạch định kỳ giúp thiết lập lại trạng thái sinh lý bình thường của hệ thống này sau thời gian không tiếp xúc trực tiếp, từ đó giảm nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp, đặc biệt là VMDƯ.
Rửa mũi (Nasal Irrigation) là thủ thuật vệ sinh cá nhân giúp làm sạch các chất nhầy dư thừa và các mảnh mô nhỏ trong khoang mũi, đồng thời giữ ẩm cho niêm mạc mũi Phương pháp này sử dụng nước muối ấm để bơm vào hốc mũi, hỗ trợ loại bỏ bụi bẩn, khí độc và tăng cường chức năng của hệ thống tiết nhày và lông chuyển niêm mạc mũi xoang Đặc biệt hữu ích cho người làm việc trong môi trường ô nhiễm, rửa mũi giúp duy trì trạng thái sinh lý bình thường của hệ thống hô hấp.
Tác dụng của rửa mũi
Rửa mũi bằng dung dịch muối sinh lý giúp duy trì sức khỏe của khoang mũi Phương pháp này phù hợp với bệnh nhân viêm mũi dị ứng (VMDƯ) và đã được chứng minh có tác dụng điều trị các triệu chứng gần như tương đương với thuốc men Nhiều nghiên cứu cho thấy, rửa mũi hàng ngày với dung dịch muối ưu trương cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân VMDƯ, giảm triệu chứng và giảm lượng thuốc dùng, đặc biệt ở các trường hợp tái phát thường xuyên Do đó, rửa mũi được khuyến nghị như một phương pháp điều trị bổ trợ hiệu quả cho các triệu chứng của VMDƯ, giúp giảm thiểu ảnh hưởng của bệnh và nâng cao sức khỏe hô hấp.
Rửa mũi giúp phòng ngừa cảm cúm và duy trì vệ sinh mũi sạch sẽ bằng cách làm sạch các ngóc ngách trong mũi, giảm nghẹt mũi, khô mũi và các triệu chứng dị ứng Đặc biệt, đối với bệnh nhân viêm mũi dị ứng (VMDƯ), rửa mũi là phương pháp nhanh chóng, ít tốn kém để nâng cao chức năng của các lông mũi, làm tan dịch nhầy, giảm phù nề và cải thiện quá trình dẫn lưu qua lỗ thông tự nhiên của các xoang.
Kết quả của nhiều nghiên cứu quy mô lớn do nhóm Cocharane – Anh trên
Nước muối sinh lý có lợi ích đáng kể trong việc cân bằng độ ẩm tự nhiên của niêm mạc mũi xoang, giúp giảm kích thích do mũi khô, ngứa, rát, đồng thời ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn và virus nhờ tính kháng khuẩn tự nhiên Việc sử dụng dung dịch này còn bổ sung và cân đối hàm lượng khoáng vi lượng như K, Mg, Zn, Ca, F, Iod giúp tăng cường khả năng đề kháng, chống viêm và dị ứng của niêm mạc mũi Ngoài ra, nước muối sinh lý giúp làm loãng đờm và dịch tiết ứ đọng, dễ dàng đào thải ra ngoài, từ đó thông thoáng đường thở, giảm nguy cơ viêm nhiễm do dịch tích tụ gây ra.
Các phương pháp rửa mũi
Phương pháp rửa mũi đã được các bác sĩ tại phương Tây sử dụng hơn một thế kỷ qua để mang lại lợi ích rõ rệt cho sức khỏe Alfred Laskiewicz, Trưởng khoa Tai Mũi Họng tại bệnh viện Pozna, nhấn mạnh rằng rửa mũi góp phần vào chăm sóc vệ sinh chung và hỗ trợ điều trị các bệnh như xơ cứng bì Thủ thuật Proetz là phương pháp rửa mũi xoang phổ biến, được các chuyên gia Tai Mũi Họng áp dụng lâu dài và vẫn là lựa chọn hàng đầu trong điều trị hiện nay.
Các phương pháp tự rửa mũi
Netti (netti pot) là thủ thuật rửa mũi đã được kiểm chứng lâm sàng, an toàn và mang lại hiệu quả rõ ràng cho sức khỏe hô hấp Phương pháp này sử dụng bình netti đựng nước muối sinh lý để xịt vào một bên lỗ mũi, giúp dung dịch chảy qua khỏi mũi sang lỗ mũi kia, giúp làm sạch bụi bẩn, dịch nhầy và vi khuẩn Thủ thuật này không gây tác dụng phụ đáng kể và đã được nhiều chuyên gia y tế khuyến nghị là phương pháp hỗ trợ điều trị viêm mũi và các vấn đề về mũi hiệu quả.
Hình 1.2 Sử dụng bình netti pot
- Dùng vòi nước muối sinh lý tia vào lỗ mũi trước trong tư thế cúi đầu (Phương pháp của bác sĩ Sage những năm 1900)
- Dụng cụ rửa mũi của Bermingham: Dùng bình kiểu Bermingham đựng đầy nước muối sinh lý ẩm và tiến hành rửa giống như netti pot.
- Dùng bình rửa mũi Nasopure bottle
- Dùng bình xịt nước muối biển phun sương
- Dùng máy rửa mũi theo xung nhịp (Pulsating nasal sinus irrigation)
Hình 1.3 Máy Súc Rửa Mũi Xoang theo xung nhịp
1.3.2 Giải pháp can thiệp kháng viêm đối với viêm mũi dị ứng - Corticosteroid xịt mũi