1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Thạc Sĩ Hubt Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gia Trại, Trang Trại Nuôi Trồng Thủy Sản Trên Địa Bàn Thành Phố Hải Phòng.pdf

109 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gia Trại, Trang Trại Nuôi Trồng Thủy Sản Trên Địa Bàn Thành Phố Hải Phòng
Tác giả Nguyễn Văn Toán
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Cúc
Trường học Trường đại học Kinh Doanh Và Công Nghệ Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 717,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI NGUYỄN VĂN TOÁN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA TRẠI, TRANG TRẠI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN TOÁN

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA TRẠI, TRANG TRẠI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh

- Mã số : 60.34.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CÚC

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện, dưới sự hướngdẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Cúc; số liệu và kết quả nghiên cứu trongluận văn này hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trìnhkhoa học nào, các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõnguồn gốc Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm

ơn Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm./

Hải Phòng, ngày tháng 5 năm 2018.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Toán

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ GIA TRẠI, TRANG TRẠI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 7

1.1 Một số khái niệm về gia trại, kinh tế gia trại 7

1.1.1 Gia trại, kinh tế gia trại 7

1.1.2 Gia trại, kinh tế gia trại nuôi trồng thủy sản 7

1.2 Khái niệm về trang trại, kinh tế trang trại 8

1.2.1 Trang trại, kinh tế trang trại 8

1.2.2 Trang trại, kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản 17

1.3 Vai trò của kinh tế trang trại trong phát triển nông nghiệp nông thôn 17

1.4 Tiềm năng lợi thế, vai trò và vị trí kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản ở thành phố Hải Phòng 20

1.5 Kinh nghiệm của các nước châu Âu và một số địa phương về phát triển kinh tế trang trại của một số địa phương và bài học cho thành phố Hải Phòng 21

1.5.1 Kinh nghiệm của một số nước châu Âu 21

1.5.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại của một số địa phương ở Việt Nam 26

1.5.3 Bài học kinh nghiệm có thể tham chiếu cho thành phố Hải Phòng .34 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA TRẠI, TRANG TRẠI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 39

2.1 Tổng quan về thành phố Hải Phòng 39

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 39

2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 40

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng 41

2.2.1 Số lượng và cơ cấu gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản 41

Trang 4

2.2.2 Năng lực sản xuất của gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản 42

2.3 Kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của các mô hình gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản 49

2.3.1 Những kết quả đã được 49

2.3.2 Những khó khăn, hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản 53

2.3.3 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu cơ hội và thách thức của kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản 58

2.3.4 Nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình phát triển gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA TRẠI, TRANG TRẠI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 64

3.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2025 64

3.2 Định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản đến năm 2025 trên địa bàn thành phố 65

3.2.1 Quy hoạch phát triển vùng nuôi nước mặn 65

3.2.2 Quy hoạch diện tích và sản lượng nuôi nước lợ: .67

3.2.3 Quy hoạch diện tích và sản lượng nuôi nước ngọt 68

3.3 Quan điểm phát triển gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản trên thành phố Hải Phòng đến năm 2025 70

3.4 Giải pháp phát triển mô hình kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản trên thành phố Hải Phòng 72

3.4.1 Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản đến năm 2025 72

3.4.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng 75

3.4.3 Hoàn thiện một số chính sách liên quan 76

3.4.4 Huy động về vốn sản xuất kinh doanh 77

3.4.5 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm 79

3.4.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 80

3.4.7 Đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng tiên bộ khoa học công nghệ 81

3.5 Kiến nghị 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 87

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH

BẢNG:

Bảng 2.1 Số lượng gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phốgiai đoạn 2012- 2016 42Bảng 2.2 Quy mô, diện tích trong mô hình gia trại, trang trại nuôi trồng thủysản trên địa bàn thành phố 2012-2016 43Bảng 3.1 Diện tích và sản lượng nuôi nước mặn năm 2018, định hướng đếnnăm 2025 trên địa bàn thành phố 66Bảng 3.2 Quy hoạch nuôi nước lợ trên địa bàn thành phố 68Bảng 3.3 Quy hoạch phương thức nuôi trồng thủy sản nước ngọt trên địa bànthành phố năm 2018, định hướng đến năm 2025 69

HÌNH:

Hình 2.1 Biểu đồ sử dụng lao động trong gia trại, trang trại nuôi trồng thủysản trên địa bàn thành phố giai đoạn 2012 - 2016 45Hình 2.2: Biểu đồ sử dụng vốn trong các gia trại, trang trại NTTS trên địa bànthành phố Hải Phòng giai đoạn 2012-2016 48Hình 2.3 Biểu đồ kết quả kinh tế các mô hình gia trại, trang trại nuôi trồngthủy sản trên địa bàn thành phố giai đoạn 2012 - 2016 50Hình 3.1: Mối quan hệ giữa doanh nghiệp chế biến, dịch vụ, thương mại;ngân hàng và gia trại, trang trại 79

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Thực hiện đường nối đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nôngdân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh trong sực phát triển nôngnghiệp và kinh tế nông thôn Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đãhình thành các gia trại, trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ côngnghệ và quản lý cao hơn nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa và nângcao năng suất, hiệu quả và sức mạnh trong cơ chế thị trường

Nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nhanh côngnghiệp dịch vụ, đồng thời ưu tiên phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm

2025 là một định hướng quan trọng của thành phố Hải Phòng Để triển khaiđịnh hướng trên, Ủy ban nhân dân thành phố đã đưa ra các giải pháp quyhoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn, quy hoạch vùng sản xuất tập trung,đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, ban hành cơ chế chính sách pháttriển nông, lâm, ngư nghiệp góp phần thúc đẩy quá trình hình thành và pháttriển mô hình kinh tế gia trại, trang trại (nông, lâm, ngư nghiệp)

Là một bộ phận của kinh tế gia trại, trang trại (nông, lâm, ngư) củathành phố; kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản giữ vai trò, vị trítương đối lớn Những năm gần đây, trên địa bàn thành phố Hải Phòng kinh

tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản (tôm chân trắng, cá vược, ngao, cánước ngọt) hoạt động khá hiệu quả, lợi nhuận lớn góp phần nâng cao đờisống vật chất, tinh thần của bà con ngư dân và làm thay đổi cục diện kinh tếnuôi trồng thủy sản của toàn thành phố Tuy nhiên, các chương trình pháttriển kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phốHải Phòng còn mang tính tự phát, thiếu tính định hướng chiến lược, thiếunguồn lực đầu tư và chưa có kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu của thịtrường Hầu hết việc triển khai gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản xâydựng còn manh mún, thiếu nguồn vốn đầu tư sản xuất, thiếu kiến thức quản

lý trang trại và kỹ thuật chuyên ngành nuôi trồng thủy sản; mức độ đầu tư

Trang 7

máy móc, trang thiết bị để hỗ trợ cơ giới hoá trong các công đoạn sản xuất ởcác gia trại, trang trại, chưa cao; tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều;thị trường các yếu tố đầu vào, đầu ra còn nhiều bấp cập, thiếu ổn định vàtiềm ẩn nhiều rủi ro; sản phẩm có chất lượng và tính cạnh tranh thấp, chủyếu được tiêu thụ thị trường trong nước.

Số lượng gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản không ngừng gia tăng,nhưng việc phát triển về gia trại, trang trại chưa thật sự phù hợp, tương xứngvới những điều kiện, tiềm năng và lợi thế sẵn có của địa phương; công tác xâydựng các cơ chế, chính sách và đề ra mục tiêu phát triển cho các gia trại, trangtrại nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng còn thiếu tính đồng

bộ và liên kết giữa các cơ quan quản lý dẫn tới tình trạng phát triển gia trại,trang trại thiếu tính bền vững và chưa hiệu quả

Trước thực trạng đó, để xây dựng và phát triển về gia trại, trang trại nuôitrồng thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng một cách bền vững, tác giả

lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phát triển kinh tế gia trại, trang trại

nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hoá cơ sở về lý luận và thực tiễn của mô hình kinh tế gia trại,trang trại nuôi trồng thủy sản;

- Đánh giá thực trạng về gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản trên địabàn thành phố Hải Phòng trong 5 năm từ năm 2012-2016 Đề xuất một số giảiphát triển kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phốHải Phòng đến năm 2025

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản thương phẩmtrên địa bàn thành phố Hải Phòng như: Gia trại, trang trại nuôi tôm (tôm sú,tôm chân trắng); nuôi cá vược; nuôi ngao; nuôi cá nước ngọt: Cá rô phi, cáchép, cá trắm cỏ, cá trắm đen, cá trôi

Trang 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian: Đề tài chuyên nghiên cứu tình hình sản xuất kinhdoanh của 30 cơ sở gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản thương phẩm trênđịa bàn thành phố Hải Phòng tại 3 quận (Dương Kinh, Đồ Sơn, Hải An) và 6huyện (An Lão, Cát Hải, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo)

Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình phát triển kinh tếgia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong

5 năm từ năm (2012 - 2016) và dự báo đến 2025

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp điều tra, thống kê, phân tích so sánh đểthực hiện các nội dung nghiên cứu trong luận văn

Phương pháp phân tích SWOT (Strength Weakness Opportunity Threats):Phân tích, so sánh các điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội và thách thứccủa các loại hình trang trại, gia trại nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thànhphố Hải Phòng

Sử dụng phần mềm ứng dụng excel để thống kê và xử lý số liệu đã điềutra (đất đai, lao động, tiền vốn, doanh thu, chi phí, năng suất, lợi nhuận ).Sau đó tiến hành lọc dữ liệu lập các bảng thống kê mô tả, kiểm định, phântích gia trại và trang trạng nuôi trồng thủy sản

5 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Sự hình thành và phát triển của kinh tế gia trại, trang trại là biểu hiệncủa mô hình mới nảy sinh trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lýcủa nhà nước Nó mang tính quy luật chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp củagia đình sang sản xuất chuyên môn hoá quy mô lớn của kinh tế gia trại, trangtrại Kinh tế gia trại, trang trại ở nước ta mặc dù mới ra đời nhưng những nămgần đây đã có bước phát triển nhất định về số lượng, phương thức sản xuất.Qua kết quả điều tra cho thấy kinh tế gia trại, trang trại hình thành và pháttriển ở nước ta với nhiều loại hình và quy mô khác nhau Do địa hình và đặcđiểm của từng vùng khác nhau nên loại hình phát triển kinh tế gia trại, trang

Trang 9

trại ở từng địa phương cũng khác nhau Về loại hình phát triển ở các vùngnông thôn chủ yếu là mô hình gia trại, trang trại gia đình, trên thực tế đạt hiệuquả kinh tế khá cao Song vẫn chưa đầu tư đúng mức và còn một số hạn chếlàm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các gia trại, trang trại.

Vì vậy, chính phủ cần phải có sự hỗ trợ và đầu tư về đất đai, vốn, công nghệ,

kỹ thuật, nhằm nâng tầm phát triển kinh tế trang trại trong cả hiện tại và tươnglai

- GS.TS Trần Đức, Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, trong công trìnhnghiên cứu “Kinh tế trang trại vùng đồi núi”, NXB Thống kê, năm 1998, đãnhấn mạnh hiệu quả kinh tế và những tác động tích cực về môi trường và xãhội khi phát triển kinh tế trang trại ở các tỉnh miền núi, trong đó có trang trạichăn nuôi Tuy nhiên, theo tác giả, khó khăn lớn nhất cản trở sự phát triển của

mô hình này chính là thói quen, tập quán sản xuất manh mún, nhỏ lẻ của bàcon nông dân Hơn thế nữa, tác giả Trần Đức cho rằng, trình độ dân trí chưacao đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chuyển giao công nghệ cho nông dânvùng nông thôn, miền núi

- Đề tài cấp Nhà nước “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trangtrại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” do Trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân chủ trì nghiên cứu từ năm 1999 đến năm 2000,(GS.TS.Nguyễn Đình Hương làm chủ nhiệm) Đề tài đã đề xuất một số giảipháp cụ thể về đất đai, về vốn, về phát triển nguồn nhân lực, về thị trường, vềkhoa học - công nghệ, về phát triển hạ tầng nông thôn, về phát triển côngnghiệp chế biến và tăng cương quản lý nhà nước đối với kinh tế trang trại Kếtquả nghiên cứu của đề tài cũng đã được xuất bản thành sách: “Thực trạng vàgiải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa ở Việt Nam” do GS.TS.Nguyễn Đình Hương làm chủ biên (Nhà xuất bảnChính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000)

- Trong cuốn giáo trình Kinh tế nông nghiệp do Vũ Đình Thắng chủbiên, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2006, có một phần nghiên cứu về

Trang 10

kinh tế trang trại Ở đây, các tác giả đã đưa ra khái niệm về trang trại “là mộthình thức tổ chức sản xuất tập trung trong nông, lâm, thủy sản với mục đíchchủ yếu là sản xuất hàng hóa, có quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đủlớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý hiện đại” (17, Trang 56).Cuốn sách cũng đã đưa ra những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang 7 trại.Đồng thời các tác giả cũng nghiên cứu nguồn gốc hình thành và phát triểnkinh tế trang trại ở nước ta từ sau đổi mới Cuối cùng, các tác giả phác thảomột số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở nước ta gồm những giải pháptrước mắt và những giải pháp cơ bản, lâu dài (Trang 58-60).

- Trần Quốc Đạt, 2012 “Một số giải pháp phát triển kinh tế trang trạihuyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam” Luận văn thạc sỹ kinh tế phát triển, Đạihọc Kinh tế Đà Nẵng Phần cơ sở lý luận của nghiên cứu này nêu khá đầy đủtổng quan về kinh tế trang trại, phân tích các nhân tố tác động đến sự pháttriển của nó Trong phần thực trạng, đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạngphát triển kinh tế trang trại của huyện Đại Lộc, trong đó có kinh tế trang trạichăn nuôi Nghiên cứu cũng đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chấtlượng sản phẩm của các trang trại và phát triển thị trường tiêu thụ

- Trương Thành Long, 2014 “Phát triển kinh tế trang trại trên địa bànhuyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị,trường Đại học kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả luận văn đã hệthống hóa một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế trang trại, phân tích đánhgiá thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnhQuảng Bình Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế 9 trang trại tại huyệnQuảng Ninh, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2015 - 2020

Các công trình nghiên cứu trên đây là những tài liệu tốt mà tác giả cóthể tiếp thu bổ sung một số kiến thức cho luận văn của mình Tuy nhiên còn ítcông trình nghiên cứu về kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản ởthành phố Hải Phòng và đây cũng chính là định hướng nghiên cứu của tác giả

Trang 11

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế gia trại nuôi trồng thủy sản Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng

thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Chương 3: Giải pháp phát triển kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy

sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong những năm tới

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ GIA TRẠI,

TRANG TRẠI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1.1 Một số khái niệm về gia trại, kinh tế gia trại

1.1.1 Gia trại, kinh tế gia trại

1.1.1.1 Khái niệm về gia trại

Hiện nay, khải niệm về gia trại, trang trại vẫn chưa thống nhất, một sốquan điểm cho rằng, gia trại như là hình thức quá độ từ kinh tế hộ sang trangtrại Tuy nhiên, theo Vũ Trọng Khải khái niệm này không phù hợp với bảnchất kinh tế - xã hội của các sự vật, hiện tượng khách quan trong các hoạtđộng kinh tế nói chung và hoạt động nông nghiệp nói riêng Gia trại là mộtkhái niệm không có thật vì nó không phản ánh bản chất kinh tế xã hội hayđịa vị pháp lý của tổ chức này Không lẽ, đều do hộ gia đình bỏ vốn đầu tư

và sử dụng chủ yếu sức lao động của các thành viên trong gia đình để sảnxuất trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp quy mô nhỏ ở ngay nơi cư trú,trên đất thổ cư thì được gọi là “Gia trại” Nếu coi “gia trại” là cách gọi tắt

“Trang trại gia đình” thì dễ ngộ nhận và không có ý nghĩa gì đối với việcquản lý vĩ mô và quản lý vi mô [11]

Theo quan điểm của Tổng cục Thống kê, gia trại là hộ sản xuất trong lĩnhvực nông, lâm, ngư nghiệp chưa đạt tiêu chí trang trại song có hoạt độngthường xuyên trong năm Hiện nay, mới có tiêu chuẩn quy định gia trại chănnuôi (lợn, trâu bò, gà, vịt…)

1.1.1.2 Khái niệm kinh tế gia trại

Kinh tế gia trại là hình thức sản xuất trong lĩnh vực nông, lâm, ngưnghiệp được hình thành và phát triển với quy mô lớn hơn hộ nhưng nhỏ hơntrang trại, dựa trên nên tảng nguồn lực từ kinh tế nông hộ là chủ yếu

1.1.2 Gia trại, kinh tế gia trại nuôi trồng thủy sản

Hiện nay chưa có một văn bản hoặc thuật ngữ nào đưa ra khái niệm vềgia trại, kinh tế gia trại nuôi trồng thủy sản, vì vậy việc đưa ra khái niệm để

Trang 13

giải thích đúng nghĩa của cụm từ “gia trại nuôi trồng thủy sản” và “kinh tế giatrại nuôi trồng thủy sản” chỉ mang tính tương đối Trong quá trình tìm hiểu,khảo sát, điều tra thực tế các mô hình gia trại nuôi trồng thủy sản trên địa bànthành phố, cùng với khả năng hiểu biết khiêm tốn của bản thân, tác giả xinđưa ra khái niệm về gia trại, kinh tế gia trại nuôi trồng thủy sản như sau:

1.1.2.1 Khái niệm về gia trại nuôi trồng thủy sản

Gia trại nuôi trồng thủy sản là hộ nuôi (tôm sú, tôm chân trắng, ngao,

cá rô phi, cá vược…) thương phẩm ở ao, đầm nằm trong vùng quy hoạchphát triển nuôi trồng thủy sản của chính quyền địa phương, thường xuyêntrong năm; do hộ gia đình bỏ vốn đầu tư và sử dụng chủ yếu sức lao độngcủa các thành viên trong gia đình để sản xuất ra hàng hóa thủy sản, với quy

mô lớn hơn hộ và nhỏ hơn trang trại Hàng hóa thủy sản có thể hộ gia đình

sử dụng hoặc tiêu thụ trên thị trường

1.1.2.2 Khái niệm kinh tế gia trại nuôi trồng thủy sản

Kinh tế gia trại nuôi trồng thủy sản là hình thức nuôi (tôm sú, tôm chântrắng, ngao, cá rô phi, cá vược…) thương phẩm, được hình thành và phát triểnvới quy mô lớn hơn kinh tế hộ nhưng nhỏ hơn kinh tế trang trại, dựa trên nềntảng nguồn lực từ kinh tế nông hộ là chủ yếu

1.2 Khái niệm về trang trại, kinh tế trang trại

1.2.1 Trang trại, kinh tế trang trại

a) Khái niệm trang trại

FAO (1997), đã đưa ra khái niệm trang trại trên cơ sở khái niệm nôngtrại Theo FAO, nông trại (Farm) là một mảnh đất mà trên đó nông hộ thựchiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ sinh kế của họ Nông trại ởkhu vực châu Á được chia thành 6 loại hình cơ bản theo mục đích sản xuất,diện tích đất đai và mức độ phụ thuộc khác nhau [10]

- Nông trại gia đình quy mô nhỏ sản xuất theo hướng tự cung tự cấp: Đốivới nông trại thuộc loại này, sản xuất để tiêu thụ gia đình là mục tiêu chủ yếucủa nông trại, có thể sản phẩm bán ra nhưng không đáng kể; nó thường độc

Trang 14

lập, ít chịu tác động của thị trường.

- Nông trại gia đình quy mô nhỏ, một phần sản xuất hàng hóa: Mục tiêucủa nông trại loại này là sản xuất ra các nông sản hàng hóa để tiêu thụ hàngngày phục vụ gia đình và bán lượng sản phẩm dư thừa so với yêu cầu tiêudùng để thu nhập tiền mặt

- Nông trại gia đình quy mô nhỏ, sản xuất chuyên môn hóa và độc lập:Đặc trưng của nông trại thuộc loại này là chuyên môn hóa trong một số hoạtđộng sản xuất trồng trọt, chăn nuôi cụ thể Mục tiêu của nông trại loại này baogồm sản xuất hàng hóa và tiêu thụ gia đình nhưng ở mức độ chuyên môn hóa

- Nông trại gia đình quy mô nhỏ, chuyên mô hóa sản xuất nhưng phụthuộc: Mục tiêu của nông trại loại này bao gồm sản xuất hàng hóa và tiêu thụgia đình nhưng ở mức độ chuyên môn hóa Tuy nhiên hộ gia đình ít có quyềnlực trong việc ra quyết định sản xuất của nông trại, bởi vì: Đất sản xuất củanông trại không thuộc quyền sở hữu của gia đình mà được thuê mướn từ cácchủ đất khác; hộ gia đình phải vay mượn các yếu tố đầu vào cho sản xuất từcác doanh nghiệp và sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của các doanh nghiệp;chịu sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động sản xuất của gia đình

- Nông trại gia đình sản xuất hàng hóa với quy mô lớn: Mục tiêu hoạtđộng của nông trại loại này là lợi nhuận thông qua sản xuất hàng hóa bán rathị trường, người hưởng lợi của nông trại là các thành viên trong gia đình

- Nông trại sản xuất hàng hóa: Đặc trưng của nông trại thuộc loại này làsản xuất độc canh, diện tích từ 20-200 ha Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu.Người hưởng lợi chủ yếu của nông trại là người chủ nông trại, họ chỉ làmcông tác quản lý, không tham gia lao động trực tiếp trên nông trại Lao độngcho nông trại hoàn toàn được thuê mướn

Loại hình nông trại gia đình sản xuất hàng hóa với quy mô lớn và nôngtrại trại sản xuất hàng hóa được xem như là trang trại Như vậy trang trại làmột hình thức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp phổ biến hình thành trên

cơ sở phát triển kinh tế hộ mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt

Trang 15

Ban kinh tế Trung ương cho rằng, trang trại là một hình thức tổ chứckinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp phổ biến được hình thành trên cơ sở pháttriển kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt, đạt khối lượng và

tỷ lệ sản phẩm hàng hóa lớn hơn và thu được lợi nhuận nhiều hơn

Theo Lê Trọng, “Trang trại là cơ sở, doanh nghiệp kinh doanh nôngnghiệp của một hoặc của một hoặc một nhóm kinh doanh” [7]

Theo Nguyễn Thế Nhã, “Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tếtrong nông, lâm, thủy sản có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, có tư liệusản xuất thuộc quyền sử hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sảnxuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tiến bộ vàtrình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [4]

Theo Lâm Quang Huyên, “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấyviệc khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phươngthức chủ yếu, nó cho phép huy động khai thác đất đai, sức lao động và nguồnlực khác nhau một cách đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả góp phần tích cực thúcđẩy sự tăng trưởng, phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn” [3].Theo Bùi Minh Vũ, “trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sởtrong nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp) mà tư liệu sản xuất thuộc quyền

sở hữu của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành với quy mô ruộngđất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn cùng phương thức tổ chức quản lýsản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ để sản xuất ra cácloại sản phẩm hàng hoá phù hợp với yêu cầu đặt ra của cơ chế thị trường”[10]

Dưới góc độ pháp lý khái niệm về trang trại gia đình với tư cách làmột chủ thể kinh doanh độc lập trong nền kinh tế thị trường có thể hiểunhư sau: “Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế hoạt động trong lĩnh vựcnông, lâm, ngư nghiệp dựa trên cơ sở hộ gia đình, có mục đích chủ yếu làkinh doanh nông sản hàng hoá, trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sảnxuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ, tự chủ

Trang 16

trong các hoạt động sản xuất kinh doanh”

Tóm lại trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong lĩnh vựcnông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sảnxuất cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật nhất định hoạtđộng tự chủ và luôn gắn với thị trường

b) Khái niệm kinh tế trang trại

Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ vềkinh tế trang trại: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóatrong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộngquy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi,nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông,lâm, thủy sản” [2]

Theo Lê Trọng, “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở,doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra hàng hóa nông sản dựa trên cơ

sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn,thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất

để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nên kinh tế thị trường, được Nhànước bảo hộ theo luật định” [7]

Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông, lâm, ngư nghiệp được hình thành, phát triển trên nền tảng kinh tế nông

hộ và cơ bản mang bản chất kinh tế hộ, là loại hình kinh tế phát triển bậc caocủa kinh tế nông hộ Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại gắnvới sự tích tụ, tập trung các yếu tố sản xuất kinh doanh (đất đai, lao động, tưliệu sản xuất, tiền vốn, khoa học kỹ thuật) để nâng cao năng lực sản xuất, sảnxuất nhiều sản phẩm hàng hoá với chất lượng và hiệu quả cao hơn

c) Những tiêu chí định lượng xác định trang trại hiện nay ở nước ta

Trong quá trình nghiên cứu về kinh tế trang trại ở nước ta hệ thống tiêuchí chưa có sự thống nhất từ Trung ương đến các địa phương đã làm chậmquá trình đăng ký phân loại, cấp giấy chứng nhận trang trại Vì vậy chủ trang

Trang 17

trại chưa yên tâm đầu tư, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại.

* Theo Ban kinh tế Trung ương Đảng

Trang trại là hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp, nóđược hình thành trên cơ sở kinh tế hộ nhưng mang tính chất sản xuất hànghoá rõ rệt

Trang trại có sự tập trung tích tụ cao hơn hẳn so với mức bình quân củacác hộ kinh tế gia đình trong xã hội, ở từng vùng về các điều kiện sản xuất(đất đai, nguồn vốn, lao động), đạt khối lượng, tỷ lệ sản phẩm hàng hoá lớnhơn và thu được lợi nhuận nhiều hơn

Chủ trang trại là những người có ý chí làm giàu, có điều kiện và biếtcách làm giàu, có vốn, trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý, có hiểu biếtnhất định về thị trường, bản thân và gia đình thường trực tiếp tham gia laođộng quản lý, sản xuất của trang trại, đồng thời có thuê mướn thêm laođộng để sản xuất kinh doanh

Theo hệ thống tiêu chí này Ban kinh tế Trung ương đã xác định kinh tếtrang trại mang tính chất sản xuất hàng hoá, gắn liền với thị trường, chính Vìvậy có nhu cầu cao hơn kinh tế hộ mang nặng tính tự cấp, tự túc tiếp cận về

sự tác động của khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, phát triển củacông nghiệp trực tiếp là công nghệ bảo quản, chế biến nông lâm thuỷ sản, chếtạo công cụ nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và đáp ứngđược đòi hỏi của khách hàng về quy cách, chất lượng của sản phẩm để bảođảm tiêu thụ hàng hoá, cạnh tranh trên thị trường Trong đó, đối với đặc trưngsản xuất hàng hoá của trang trại thì Ban kinh tế Trung ương đã đề xuất chỉtiêu định lượng là tỷ suất hàng hoá phải lớn hơn 70% trong tổng lượng sảnphẩm do trang trại sản xuất ra Quy mô sử dụng các điều kiện sản xuất khácnhư đất đai, lao động và vốn cũng là những yếu tố cơ bản quyết định tính chấtsản xuất hàng hoá của trang trại Do vậy tiêu chí để xem xét một hộ sản xuấtnông, lâm, ngư nghiệp có phải là trang trại hay không cũng phải căn cứ vàoquy mô sử dụng đất đai, lao động và tiền vốn, trong đó định lượng cụ thể của

Trang 18

các yếu tố này phải căn cứ theo từng loại hình sản xuất, kinh doanh của trangtrại với yêu cầu chung là phải lớn hơn so với mức bình quân của kinh tế hộtrong vùng và có sự khác nhau theo vùng, thay đổi theo thời gian.

* Theo Tổng cục Thống kê

Năm 1998, Tổng cục Thống kê đã tiến hành điều tra khảo sát tình hìnhphát triển kinh tế của 5.466 trang trại ở 4 tỉnh: Yên Bái, Thanh Hoá, BìnhDương, Bình Phước trên cơ sở 4 tiêu chí Bốn tiêu chí mà Tổng cục Thống kê

áp dụng đối với kinh tế trang trại như sau:

- Đối với trang trại trồng trọt

+ Trang trại trồng các loại cây hàng năm ở miền Bắc và miền Trung phải

có diện tích từ 2 ha canh tác trở lên

+ Trang trại trồng các loại cây hàng năm ở miền Nam phải có diện tích

- Đối với trang trại lâm nghiệp: Trang trại lâm nghiệp phải có 10 ha

đất trở lên

- Đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản: Trang trại nuôi trồng thuỷ sản

phải có diện tích từ 2 ha mặt nước trở lên và phải đảm bảo các tiêu chuẩn

Trang 19

+ Lấy sản xuất hàng hoá làm hướng chính và có thu nhập vượt trội sovới mức trung bình của kinh tế hộ tại địa phương.

Ngoài ra, những trang trại có tính chất đặc thù thì phải có tiêu chí quyđịnh riêng Đối với các hộ nông thôn kinh doanh các ngành nghề dịch vụ phinông nghiệp, các hộ nông dân sản xuất nhỏ và những người ở thành phố, thị

xã, cán bộ nhà nước có đất nông, lâm nghiệp quy mô lớn nhưng không trựctiếp điều hành sản xuất thì cũng không phân loại là kinh tế trang trại vì chưahội đủ 4 tiêu chí trên, mặc dù ở địa phương vẫn quan niệm là trang trại

* Theo Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT - BNN&PTNT - TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

Thực tế cho thấy do sự đa dạng của loại hình kinh tế trang trại cho nêngiữa các địa phương còn có sự khác biệt lớn trong việc xác định tiêu chí vềtrang trại Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN&PTNT-TCTK ngày23/6/2000 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổngcục trưởng Tổng cục Thống kê về hướng dẫn tiêu chí để xác định trang trại,Thông tư liên tịch nêu rõ: Một hộ sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷsản được xác định là trang trại phải đạt được cả hai tiêu chí theo định hướngsau:

- Tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm:Đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên.Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

- Tiêu chí về quy mô sản xuất: Quy mô sản xuất của trang trại phải đảmbảo tương đối lớn, vượt trội so với kinh tê hộ nông dân tương ứng với từngngành sản xuất và từng vùng kinh tế cụ thể:

+ Đối với trang trại trồng trọt

* Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnhphía Bắc và duyên hải miền Trung Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phíaNam, Tây Nguyên

Trang 20

* Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc

và duyên hải miền Trung Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam, TâyNguyên

* Trang trại hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên

* Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước + Đối với trang trại chăn nuôi:

* Chăn nuôi đại gia súc: Trâu, bò, chăn nuôi gia súc sinh sản lấy sữathường xuyên có từ 100 con trở lên Chăn nuôi lấy thịt thường xuyên 50con trở lên

* Chăn nuôi gia súc: Lợn, dê; chăn nuôi sinh sản phải đạt từ 20 con trởlên đối với lợn và từ 200 con trở lên đối với dê, cừu

* Chăn nuôi gia cầm: Gà, vịt, ngan, ngỗng…có thường xuyên từ 2000con trở lên (không tính số đầu dưới 7 ngày tuổi)

+ Đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản

* Diện tích nuôi trồng từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm theo kiểucông nghiệp từ 1 ha trở lên)

* Có sử dụng lao động làm thuê thường xuyên từ 2 lao động/năm Nếulao động thời vụ thì quy đổi thành lao động thường xuyên

* Chủ trang trại là những người có kiến thức, kinh nghiệm về nông lâmngư nghiệp và trực tiếp điều hành sản xuất tại trang trại

* Lấy sản xuất hàng hoá làm hướng chính và có thu nhập vượt trội sovới mức trung bình của kinh tế hộ tại địa phương

+ Đối với trang trại tổng hợp:

Trang trại tổng hợp có nhiều loại sản phẩm nông, lâm nghiệp; nuôi trồngthuỷ sản Đây là loại hình trang trại có tính chất đặc thù như: Trồng hoa, trồngnấm, nuôi ong, giống thuỷ sản thì tiêu chí xác định là sản phẩm hàng hoá Tuynhiên, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông

tư số 74/2003/TT-BNN&PTNT ngày 04/7/2003 về sửa đổi, bổ sung mục IIIcủa Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN&PTNT- TCTK ngày

Trang 21

23/6/2000 hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại và thay thế Thông

tư liên tịch số 62/2000/TTLT-BNN&PTNT-TCTK ngày 20/5/2000 của Bộtrưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục trưởng Tổng cụcThống kê

Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hànghoá của các ngành nông, lâm nghiệp; thuỷ sản thì tiêu chí để xác định trangtrại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm hoặc về quy môsản xuất của trang trại theo quy định tại Thông tư liên tịch số69/2000/TTLT-BNN&PTNT-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ trưởng BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục trưởng Tổng cục Thốngkê

* Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNN&PTNT ngày 13/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Gần đây nhất Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã banhành Thông tư số 27/2011/TT-BNN&PTNT ngày 13/4/2011, hướng dẫn nhậnbiết về tiêu chí trang trại theo đó cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông, lâmnghiệp; nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãnđiều kiện sau:

- Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:+ Có diện tích trên mức hạn điền tối thiểu 3,1 ha đối với vùng ĐôngNam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

+ Có giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

+ Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000triệu đồng/năm trở lên

+ Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha vàgiá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

Qua việc điều tra, khảo sát thực tế tại các quận, huyện trên địa bàn thànhphố cho thấy, các tiêu chí trang trại để xác định một hộ nông dân là một trangtrại của liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Tổng cục Thống kê,

Trang 22

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra còn mang tính “định lượng rồimới định tính” Do vậy, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân sản xuất kinh doanhnông, lâm, ngư nghiệp đều coi là kinh tế hộ, nên không bị Luật Doanh nghiệpchi phối, không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp Theo quan điểm chủquan cá nhân, trước tiên phải định tính “Bản chất vấn đề nó là cái gì”, sau đómới định lượng “Quy mô to hay nhỏ”.

1.2.2 Trang trại, kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản

Tương tự như khái niệm “Gia trại, kinh tế gia trại nuôi trồng thủy sản”;trang trại, kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản cũng chưa có một khái niệm

cụ thể, nhất quán Qua việc tìm hiểu tài liệu liên quan đến trang trại, kinh tếtrang trại nói chung và khảo sát, điều tra thực tế các mô hình trang trại nuôitrồng thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng

1.2.2.1 Khái niệm trang trại nuôi trồng thủy sản

Là hình thức tổ chức sản xuất của cơ sở, doanh nghiệp nuôi trồng thủysản (tôm sú, tôm chân trắng, ngao, cá vược, cá rô phi thương phẩm ) thườngxuyên trong năm, trên diện tích (ao - đầm ≥ 2,1 ha) và nằm trong vùng quyhoạch phát triển nuôi trồng thủy sản của chính quyền địa phương; đạt năngsuất và hiệu quả kinh tế cao (giá trị sản lượng hàng hóa ≥ 700 triệu đồng/năm)[5]

1.2.2.2 Khái niệm kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản

Là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở trực tiếp sản xuất ra sản phẩm thủysản (tôm sú, tôm chân trắng, ngao, cá vược ) có sự gắn kết trong việc tiêuthụ với các cơ sở kinh doanh, thu mua; nhà máy chế biến thủy sản chủ yếudựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuấttrong nuôi trồng thủy sản

1.3 Vai trò của kinh tế trang trại trong phát triển nông nghiệp nông thôn

(1) Là động lực chuyển sang nông nghiệp hàng hóa

Kinh tế trang trại là một bước phát triển mới của nền sản xuất xã hội, là

Trang 23

nhân tố mới ở nông thôn, là động lực mới, nối tiếp và phát huy lực kinh tế hộnông dân, là sự đột phá trong bước chuyển sang sản xuất nông nghiệp hànghóa, tạo ra sức sản xuất mới, có khả năng tạo ra khối thị trường lớn về nôngsản hàng hóa đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Kinh tế trạng trại làm ra sản phẩm để bán theo yêu cầu của thị trường,nên nó kích thích sản xuất và đòi hỏi cạnh tranh để tồn tại, phát triển Đểgiành thắng lợi trong cạnh tranh, các trang trại phải nâng cao năng suất laođộng Chất lượng sản phẩm, giảm giá thành để nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh Muốn vậy, các trang trại phải biết đầu tư quy mô sản xuất hợp lý,đầu tư khoa học công nghệ, mái móc thiết bị, tăng cường năng lực quản lý

do đó kinh tế trang trại đã góp phần thúc đẩy nhanh việc sản xuất hàng hóađáp ứng yêu cầu thị trường trong nông nghiệp và nông thôn

Sự tập trung sản xuất đòi hỏi các trang trại tất yếu phải tiến hành cơ giớihóa, điện khí hóa các khâu của quá trình sản xuất, vận chuyển, bảo quản, chếbiến và tiêu thụ sản phẩm Như vậy, kinh tế trang trại đã tạo điều kiện để đưanông nghiệp đi dần vào công nghiệp hóa theo tiến trình hiện đại, tạo tiền đềphát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn

(2.) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn

Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở nước ta hiện nay là xuhướng tất yếu của tập trung hóa, chuyên môn hóa và thị trường hóa sản xuấtnông nghiệp, góp phần tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp nông thôn, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hànghóa cao, khắc phục dần tình trạng manh mún, phân tán, tạo nên những vùngchuyên canh hóa, tập trung hóa và thâm canh hóa, tạo điều kiện thúc đẩy côngnghiệp phát triển nhất là công nghiệp chế biến, thương mại và dịch vụ, gópphần làm nông thôn phát triển, tạo thu nhập ổn định trong một bộ phận dân cưlàm nông nghiệp

Nhiều chủ trang trại đã đầu tư hoặc tự giác hợp tác với nhau để đầu tư

Trang 24

mua sắm máy móc thiết bị công nghiệp để chế biến sản phẩm tạo ra nhữngbán thành phẩm nông sản hàng hóa cung cấp đầu vào cho các cơ sở chế biếnhàng xuất khẩu lớn hơn của Nhà nước.

Một số doanh nghiệp Nhà nước đã hợp tác với các trang trại thực hiệnđầu tư ứng trước vốn cho chủ trang trại và bao tiêu toàn sản phẩm, tạo thế chủđộng về nguồn nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh Một số lâm trường quốcdoanh đã khoán khoang nuôi, bảo vệ, chăm sóc rừng cho các hộ dân, điều đótạo ra sự phân công và hợp tác, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệpnông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

(3) Vai trò huy động, khai thác các nguồn lực trong dân, giải quyết việc làm cho lao động xã hội, làm giầu cho nông dân, cho đất nước

Kinh tế trang trại là sự đột phá trong bước chuyển sang sản xuất nôngnghiệp hàng hóa, lấy việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhucầu xã hội làm phương thức chủ yếu, nên các trang trại phải nỗ lực tìm mọibiện pháp để phát huy tiềm năng đất đai Huy động các nguồn lực về vốn, laođộng, kinh nghiệm, kỹ thuật trong dân một cách hợp lý, có hiệu quả để mởrộng và phát triển sản xuất, tăng thêm lợi nhuận Điều đó dẫn đến sự tích tụ vàtập trung đất đai, vốn đầu tư quy mô sản xuất của các trang trại ngày một lớnhơn, thu hút, sử dụng ngày càng nhiều lao động hơn

(4) Vai trò sử dụng hiệu quả và bảo vệ tài nguyên đất đai

Bên cạnh lợi ích kinh tế, Nhà nước và cộng đồng còn thu được lợi ích vềtài nguyên và môi trường Phát triển kinh tế trang trại đã góp phần khai thác

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đất đai tài nguyên, đưa đất hoang hóavào phát triển sản xuất, nhất là đối với vùng trung du, miền núi và ven biển.Ngoài ra, phát triển kinh tế trang trại còn góp phần tăng nhanh độ che phủrừng, bảo vệ môi trường sinh thái, tận dụng mặt nước cho nuôi trồng thủysản

Mô hình kinh tế trang trại trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã hìnhthành và không ngừng được mở rộng, phát triển trong thời gian qua Sự phát

Trang 25

triển của kinh tế trang trại đã góp phần giúp người dân phát huy được lợi thế

so sánh, mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nâng cao năng suất,hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường

1.4 Tiềm năng lợi thế, vai trò và vị trí kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản ở thành phố Hải Phòng

Kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản là một hình thức tổ chứckinh tế phổ biến trong nền kinh tế ngư nghiệp của các nước trên thế giới Ởnước ta, kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản mặc dù mới phát triểntrong những năm qua nhưng đã khẳng định vai trò quan trọng về mặt kinh tế,

xã hội và môi trường; cụ thể như sau:

- Kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản góp phần đưa tiến bộ kỹthuật (kỹ thuật nuôi tôm, cá, nhuyễn thể 2 mảnh vỏ thương phẩm; quản trịtrang trại thủy sản ) vào sản xuất, định hướng cho ngư dân từ bỏ sản xuất tựcung, tự cấp (tư duy con cá, mớ rau) vươn tới sản xuất hàng hoá quy mô lớngắn với thị trường đồng thời tạo ra nhu cầu và đẩy nhanh tiến trình hợp táckinh tế trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn

- Sự phát triển kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản góp phầnkhai thác thêm nguồn vốn của địa phương, diện tích mặt nước (ngọt, lợ, mặn),lao động dân cư trong vùng, mở mang thêm diện tích đất hoang hoá, đất bãibồi, tạo ra nhiều hàng hóa thủy sản có giá trị kinh tế cao, cải thiện môi trườngsinh thái, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cơ cấu mùa vụ tạothêm việc làm cho lao động nông thôn

- Với kết quả đầu tư cải tạo diện tích (ao - đầm) nuôi, lựa chọn môhình, đối tượng nuôi hợp lý theo hướng sản xuất hàng hoá, kinh tế gia trại,trang trại nuôi trồng thủy sản đã khai thác tiềm năng diện tích mặt nướchiệu quả hơn, tạo ra khối lượng thủy sản lớn, góp phần thúc đẩy ngành chếbiến thuỷ sản phát triển

- Việc đầu tư vốn, lao động ; kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủysản đã phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, hình thành các vùng sản

Trang 26

xuất hàng hoá tập trung Các gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sản thủy sảntập trung phát triển ở những vùng ven biển, nơi có nhiều sông, hồ, đầm (đồngbằng sông Hồng, các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông CửuLong).

- Ngoài ra, kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng còn có vai trò:

+ Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sảngóp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm nhiềucông ăn việc làm, giải quyết lao động thất nghiệp và tăng thêm thu nhập cholao động nông thôn, đặc biệt các vùng ven biển

+ Về mặt kinh tế: Mô hình kinh tế gia trại, trang trại nuôi trồng thủy sảnphát triển sẽ thu hút một khối lượng lớn tiền vốn trong dân đầu tư vào pháttriển nuôi các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, dần dần khắc phục tìnhtrạng sản xuất phân tán, manh mún tạo nên những vùng nuôi thủy sản quy môlớn, thâm canh bền vững, tập trung chuyên môn hoá, góp phần chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ở khu vực nông thôn

+ Về mặt môi trường: Do sản xuất kinh doanh tự chủ, lâu dài, vì lợi íchthiết thực và trình độ nhận thức, mà các chủ gia trại, trang trại nuôi trồng thủysản luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường,trước tiên là trong phạm vi không gian sinh thái gia trại, trang trại và sau nữa

là trong phạm vi của vùng Ví dụ như: Không chặt, phá rừng ngập mặn mởrộng diện tích nuôi; ít sử dụng các kháng sinh, hóa chất độc hại trong sản xuấtảnh hưởng ra môi trường nước xung quanh; góp phần bảo vệ nguồn lợi thủysản bền vững

1.5 Kinh nghiệm của các nước châu Âu và một số địa phương về phát triển kinh tế trang trại của một số địa phương và bài học cho thành phố Hải Phòng

1.5.1 Kinh nghiệm của một số nước châu Âu

Ngay sau cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, ở châu Âu người ta đãthấy cần thiết phải có một mô hình tổ chức sản xuất công nghiệp phù hợp với

Trang 27

quá trình công nghiệp hóa thay thế mô hình sản xuất tiểu nông mang nặngtính tự nhiên Từ đây đã xuất hiện mô hình tổ chức sản xuất mới như mô hìnhkinh tế trang trại trong nông nghiệp, việc ra đời của nó đã tạo ra bước nhảyvọt trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa Trang trại gia đình trong nôngnghiệp là kiểu tổ chức sản xuất của nông hộ nông dân, sử dụng lao động giađình và thuê lao động bên ngoài để sản xuất nông sản hàng hóa Mô hìnhtrang trại gia đình tiếp tục tồn tại và phát triển cho đến ngày hôm nay cho dùcác nước Tây Âu đã là nước công nghiệp phát triển Trang trại gia đình đãkhẳng định được mô hình sản xuất nông nghiệp không chỉ cung cấp nông sảnchủ yếu cho nền kinh tế các gia đình nói riêng và nông nghiệp nói chung đã

và đang được Nhà nước bảo hộ trong quá trình toàn cầu hóa, thid cũng phảithừa nhận mô hình tổ chức sản xuất này vẫn có những thành công nhất định.Khu vực Tây Âu với nhiều nước như Anh, Pháp, CHLB Đức, Italia, HàLan, Thụy Điển, Đan Mạch với những đặc trưng nông nghiệp khác nhau,nên sự phát triển kinh tế trang trại ở mỗi nước cũng có quy mô và trình độ,khả năng và sức cạnh tranh cũng khác nhau Theo thời gian, cùng với sự pháttriển của lực lượng sản xuất, dưới tác động của những thành công từ quá trìnhcông nghiệp hóa, nền kinh tế trang trại ở Tây Âu cũng có những thay đổi cả

về số lượng và quy mô Xu hướng rõ nhất của những thay đổi thể hiện quamối quan hệ nghịch biến giữa mức độ công nghiệp hóa với số lượng các trangtrại và quan hệ thuận chiều giữa mức độ công nghiệp hóa với quy mô trangtrại – tức là khi mới bắt đầu công nghiệp hóa thì số lượng trang trại rất nhiều

và quy mô nhỏ, đến thời kỳ công nghiệp hóa phát triển cao thì số lượng trangtrại giảm xuống nhưng quy mô mỗi trang trại lớn hơn Chẳng hạn ở Anhnhững năm 1950 số lượng trang trại hơn 540 ngàn với quy mô trung bình là36ha/trang trại, đến những năn 1990 giảm xuống còn 250 ngàn với quy môtrung bình là 71ha/trang trại; tại Pháp năm 1950 số lượng trang trại là hơn 2,2triệu với quy mô trung bình là 14ha/trang trại, đến những năm 1990 giảm

Trang 28

xuống còn khoảng 900 ngàn trang trại với quy mô trung bình gần 30ha/trangtrại

Quá trình tăng dần về quy mô, giảm dần số lượng của các trang trại giađình trong nông nghiệp ở các nước Tây Âu là tất yếu khách quan, nó phù hợpvới yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp Đồng thời nhữngthành công từ quá trình công nghiệp hóa cho phép các trang trại có thể ápdụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ để nâng cao năng xuất lao động, hiệu quảsản xuất và có điều kiện tích lũy tư bản và mở rộng quy mô Là lĩnh vực nôngnghiệp gắn với nền kinh tế thị trường sớm hình thành và phát triển, vì thế thịtrường các yếu tố sản xuất cũng phát triển, các trang trại có thể mua bán haythuê mưới từ đất đai, trang thiết bị máy móc, dịch vụ kỹ thuật tới lao động

* Thể chế kinh tế đối với sản xuất nông nghiệp ở các nước Tây Âu

a) Thể chế hóa đất đai trong sản xuất nông nghiệp

Đặc chưng phát triển nông nghiệp các nước Tây Âu gắn với các hoạtđộng của các trang trại trong việc sử dụng vật tư, máy móc thiêt bị, cây congiống và kể cả các dịch vụ kỹ thuật khác đều được cung cấp bởi yếu tố thịtrường thông qua các công ty hay hợp tác xã Chính thị trường bảo đảm cácyếu tố đầu vào và cung cấp thông tin về cung cầu sản phẩm cho họ trong việc

ra quyết định sản xuất Kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường, các chủtrong trang trại phải chấp nhận luật chơi – cạnh tranh để tồn tại và phát triển.Chỉ những ai trong số các trang trại không ngừng cải tiến và áp dụng nhữngphương thức quản lý có hiệu quả, giảm chi phí cải tiến và áp dụng nhữngphương thức quản lý có hiệu quả, giảm chi phí sản xuất trên cơ sở tiến bộ

khoa học công nghệ do quá trình công nghiệp hóa đưa tới, tức là biết ”chớp lấy thời cơ” và có chiến lược kinh doanh khôn ngoan mới tồn tại

(b) Thể chế hóa ”hợp tác xã kiểu mới” khi tham gia sản xuất nông nghiệp

Cho dù là các trang trại gia đình là lực lượng sản xuất nông nghiệp chủyếu ở các nước Tây Âu, đồng thời là những đơn vị kinh tế tự chủ trong sản

Trang 29

xuất kinh doanh Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiệnkinh tế thị trường đã liên kết các trang trại riêng rẽ thành các hợp tác xã Cóthể nói phần lớn các trang trại ở khu vực này đều tham gia vào các hợp tác xã,hoạt động của mạng lưới hợp tác xã tập trung vào cả cung ứng các hàng hóa –dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp Hoạt động của các hợptác xã có thể chỉ trọn gói trong một lĩnh vực nào đó, nhưng cũng có thể làhoạt động sản xuất kinh doanh tổng hợp

Ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp,nhưng do ở các nước Tây Âu, một phần diện tích đất nông nghiệp thuộc sởhữu của nhà nước, chẳng hạn: Khu rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên,đồng cỏ tự nhiên dùng làm bãi chăn thả công cộng, thắng cảnh thiên nhiên,công viên quốc gia , còn lại diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

và các bất động sản khác thuộc sở hữu tư nhân Tỷ lệ các trang trại có ruộngđất riêng khác nhau giữa các nước, cụ thể: Ở Anh, Pháp tỷ lệ này chiếm tới70% trong khi ở Thụy Điển chỉ có 30% số lượng trang trại có ruộng đất riêng.Trên thị trường, đất đai được coi là hàng hóa dùng để mua bán, trao đổi, chothuê mướn, cầm cố, thế chấp, Tùy theo vị trí của đất đai, độ màu mỡ, giá trị

sử dụng mà người ta định giá cụ thể cho những diện tích đất trong các giaodịch (giá mua bán đất do thị trường quyết định và chi phí thuê mua thườngchiếm khoảng trên dưới 2% giá bán đất trên thị trường)

Với thị trường đất nông nghiệp như vậy, các trang trại gia đình ở cácnước Tây ÂU có thể sản xuất kinh doanh trên chính diện tích đất của họ vàcũng có thể lĩnh canh, thuê mướn hoàn toàn Việc thuê mướn đất nông nghiệptrên thị trường có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn nhưmua bán hay thuê riêng rẽ, hay có thể mua bán và thuê ruộng đất cùng với cơ

sở hạ tầng như kho chứa, sân bãi, máy móc thiết bị và kể car nhà ở, Thờigian và điều kiện cho thuê và thuê đất do hai bên người cho thuê và bên đithuê thỏa thuận trên cơ sở những quy định của pháp luật từng nước Nhìnchung, pháp luật của các nước đều có điều khoản bảo vệ lợi ích cho người đi

Trang 30

thuê đất, những người trực tiếp sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp Thời hạnthuê đất cũng khác nhau tùy theo mỗi nước, chẳng hạn như ở Anh thời hạnthuê đất được quy định tối thiểu là 3 năm và người đang thuê có quyền được

ưu tiên thuê tiếp nhằm khuyến khích người thuê ddaasts đầu tư hơn vào cảitạo đất đai Ngoài ra, luật pháp của các nước cũng có sự thay đổi, điều chỉnhtạo điều kiện thuận lợi cho phép các trang trại thực hiện việc tích tụ và tậptrung đất đai, đầu tư tư bản nhằm hướng tới sản xuất hàng hóa gắn với quy

mô lớn

(c) Thể chế hóa lao động trong sản xuất nông nghiệp

Về chế độ sử dụng lao động trong các trang trại ở các nước Tây Âuthường sử dụng lực lượng lao động gia đình, họ là những thành viên trong giađình của chủ trang trại vừa có kiến thức quản lý, vừa có kỹ năng về sử dụngthành thạo các máy móc, thiết bị nông nghiệp Chế độ làm việc của các chủthành viên trong trang trại không bằng tính lương, mà thu nhập của họ lĩnhđược dựa trên năng lực, vị trí quản lý trên cơ sở đánh giá mức độ hoàn thànhcông việc có được từ khoản thu nhập sau thuế - tức là thu nhập sau khi trừ cácnghĩa vụ về thuế đất (nếu là chủ sở hữu), thuế thuê mướn lao động (nếu ngườilao động ủy quyền), thuế sản xuất hàng hóa nông nghiệp (nếu chủ là cácdoanh nghiệp nông nghiệp),

Ngoài ra, các trang trại còn sử dụng lao động thuê ngoài thường xuyênhay theo thời vụ, thực hiện chế độ trả lương theo sản phẩm (hoặc thời gianngày/tuần) tùy theo tính chất công Việc trả lương cho người lao động thuêngoài được nhà nước bảo hộ và giám sát chặt chẽ về chế độ tiền lương, chế độbảo hiểm, chế độ độc hại liên quan nhằm bảo vệ lợi ích cho người lao độngtrong sản xuất nông nghiệp Khuyến khích và hỗ trợ các trang trại tiếp cận cáccông nghệ mới, phương pháp canh tác mới, gắn với quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp (nông thôn) bằng chính sách,

cơ chế tài chính thiết thực Hạn chế lao động chân tay, lao động nguy hiểmtrong lĩnh vực nông nghiệp bằng các chế tài bắt buộc như hạn chế người lao

Trang 31

động tiếp xúc với phân bón độc hại, thuốc trừ sâu, và thay vào đó bằng máymóc thiết bị hiện đại phù hợp sản xuất nông nghiệp.

(d) Thể chế hóa thị trường và hiệp hội khi tham gia sản xuất nông nghiệp

Một đặc điểm cơ bản ở các nước Tây Âu là ba trụ cột ”nhà nước xã hội dân sự - thị trường” được thừa nhận và hoạt động một cách độc lập và tương

tác trong quá trình phát triển Nhà nước không can thiệp quá sâu vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp mà chỉ đóng vao trò lập

kế hoạch Việc phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệuquả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển nôngnghiệp bền vững; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giầu đi đôivới xóa đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thônmới

Thông qua phát triển kinh tế trang trại đã góp phần quan trọng trong quátrình chuyển dịc cơ cấu kinh tế, tích tụ ruộng đất gắn liền với quá trình phâncông lại lao động ở nông thôn, tưng bước chuyển dịch lao động nông nghiệpsang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóatrong nông nghiệp và nông thôn

1.5.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại của một số địa phương

ở Việt Nam

Nền nông nghiệp đã tồn tại hàng ngàn năm và phát triển với phươngthức sản suất đa dạng, phong phú; bởi sự không thuần nhất của cây trồng, vậtnuôi có quá trình sinh trưởng, phát triển theo quy luật sinh học, trên các nền

tự nhiên, xã hội khác nhau Hình thức kinh tế trang trại đã mạnh mẽ phát triểnqua các giai đoạn lịch sử xã hội

Trang trại gia đình là một loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp củacác hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển trong điều kiện của nềnkinh tế thị trường từ khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức

Trang 32

sản xuất phong kiến, khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thức nhất

ở một số nước châu Âu

Về kinh tế nông hộ, C.Mác khi nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội củacác nước Tây Âu, đặc biệt là nước Anh, một nước tiến hành công nghiệp hóasớm, lúc đầu C.Mác dự đoán trong nông nghiệp cũng phát triển theo hướngtập trung như công nghiệp, giai cấp nông dân sẽ bị xóa bỏ cùng với sự pháttriển của đại công nghiệp C.Mác viết: “Trong lĩnh vực nông nghiệp, đại côngnghiệp tác động cách mạng hơn cả theo nghĩa nó thủ tiêu thành trì xã hội cũ làngười nông dân và thay thế nó bằng người công nhân làm thuê” Tuy nhiênsau đó, sự phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn có quy luật riêng của nó,bất chấp xu hướng ban đầu diễn ra trong thời kỳ công nghiệp hóa nhanhchóng của nước Anh, trang trại gia đình vẫn tỏ ra sức sống mãnh liệt là hiệuquả của nó Từ đó, khi viết quyển III bộ tư bản, C.Mác đã rút ra kết luận:

“Ngay những nước công nghiệp đã khẳng định hình thức lãi nhất không phải

là trang trại công nghiệp mà là trang trại gia đình không sử dụng lao động làmthuê Ở những nước còn giữ hình thức chia đất thành khoanh nhỏ, giá lúa mì

rẻ hơn so với các nước có nền sản xuất tư bản chủ nghĩa” [10]

Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày02/02/2000 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 9/2000/TTLT/BNNPTNT-TCTK ngày 23/6/2000 về ban hành hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tếtrang trại, cho đến nay kinh tế trang trại ở nước ta đã có bước phát triển nhanh

về số lượng, đa dạng về hình thức tổ chức sản xuất Kinh tế trang trại pháttriển nhanh về số lượng ở hầu hết các vùng trong cả nước, để thời điểm01/7/2016 cả nước có 33.488 trang trại, tăng 13.460 trang trại (tăng 67,2% sovới năm 2011) Từ năm 2011 đến 2016 bình quân mỗi năm số lượng trang trạicủa cả nước tăng hơn 13% Trong đó, vùng ĐBSH có số lượng trang trại tăngmạnh nhất (tăng 6.435 trang trại) chiếm gằn một nửa trang trại tăng thêmtrong vòng 5 năm qua của cả nước; vùng Trung du miền núi phía Bắc tăng2.213 trang trại, chiếm 16,4%; vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

Trang 33

tăng 1.885 trang trại, chiến 14%; vùng Tây Nguyên tăng 1.513 trang trại,chiếm 11,2%; Đông Nam Bộ tăng 1.4120 trang trại, chiếm 10,5% số trang trạităng thêm của cả nước và vùng Đồng bằng sống Cửu Long gần như khôngthay đổi về số lượng trang trại Riêng Hà Nội và Đồng Nai có số lượng trangtrại tăng nhiều nhất trong vòng 5 năm (tăng lần lượt là 2.065 trăng trại và2.048 trang trại), chiếm trên 30% số lượng trang trại tăng thêm của cả nước

Số lượng trang trại tăng tập trung chủ yếu ở loại hình trang trại chănnuôi, tăng 14.521 trang trại (gấp 3,3 lần) so với cùng kỳ năm 2011 Trongvòng 5 năm qua, bình quân mối năm trang trại chăn nuôi tăng hơn 45,7% Sốlượng trang trại thủy sản giảm mạnh, giảm 2.172 trang trại (giảm 48%) so vớinăm 2011, giảm trung bình gần 10% mỗi năm Trong đó riêng Bạc Liêu đãgiảm 2.615 trang trại (giảm 1.890 trang trại nuôi tôm), nguyên nhân số lượngtrang trại thủy sản giảm nhiều chủ yếu là do dịch bệnh thường xuyên xảy ra,giá tôm biến động mạnh làm cho người nuôi gặp rất nhiều rủi ro nên khôngdám đầu tư lớn Bên cạnh đó, năm 2016, tình hình hạn hán, xâm nhập mặnxảy ra trên diện rộng tại hầu hết các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đã giảmdiện tích cũng như sản lượng thu hoạch của các hộ nuôi tôm quy mô lớn nênkhông đạt tiêu trí trở thành trang trại [13]

Kinh nghiệm, kết quả phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Bình Dương: Là

tỉnh điển hình về sản xuất, kinh doanh giỏi, tinh thần hợp tác, tương trợ giữa

các chủ gia trại, trang trại được phát triển Một số gia trại, trang trại tự nguyệnthành lập hợp tác xã, điển hình là mô hình Hợp tác xã Cây Trường ở huyệnBến Cát, được thành lập tự nguyện từ 61 chủ gia trại, trang trại quản lý hơn

412 ha cây ăn trái, hoạt động của hợp tác xã này giúp các thành viên đưa đượccác loại giống cây ăn trái có năng suất và chất lượng cao vào sản xuất, côngtác bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm được hợp tác xã chăm lo Hiện naynhà máy tiêu thụ 100% sản phẩm trái cây của các trang trại, gia trại thànhviên và của bà con trong vùng, chủ yếu để xuất khẩu [1]

Trang 34

Kinh nghiệm, kết quả phát triển kinh tế gia trại, trang trại ở tỉnh Vĩnh

Phúc: Mô hình làm gia trại, trang trại ở tỉnh Vĩnh Phúc nhiều năm qua đã

mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động địaphương đặc biệt là xóa đói, giảm nghèo cho hàng trăm hộ đồng bào dân tộcthiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa Năm 2013, tỉnh Vĩnh Phúc đã có hơn 500trang trại gia đình và tập thể ở tất cả các huyện, thị xã Sản xuất, kinh doanhtheo mô hình kinh tế VACR, VAC ở các vùng (đồng bằng có 200 trang trại,gia trại VAC, vùng trung du miền núi có 340 trang trại, gia trại VACR) vớitổng diện tích đất đã sử dụng hơn 15.000 ha Để thúc đẩy kinh tế gia trại,trang trại phát triển; tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai hàng loạt các biện pháp trênquan điểm “đột phá từ điểm yếu, giảm đóng góp, tăng đầu tư” Xác định điểmyếu trong tỉnh là nông nghiệp với ruộng đất đa số là bạc màu, tuy có hệ số sửdụng đất cao và bà con đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhưng giá trị thu nhậpthấp bình quân chỉ đạt 31 triệu đồng/ha Trước thực trạng này, Ủy ban nhândân tỉnh đã giao cho ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyếnkhích cá nhân tố tích cực trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời chú trọng đếnviệc cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá, ứngdụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào canh tác, chuyển đổi mùa vụ và đẩymạnh đầu tư tiềm năng thế mạnh (kinh tế đồi rừng và vùng chiêm trũng) Vìvậy đã có trên 20.000 ha đồi rừng được tổ chức thành các gia trại, trang trạitrồng cây ăn quả, cây nguyên liệu giấy, cây lấy gỗ và chăn nuôi gia súc giacầm Các trang trại chăn nuôi theo hướng công nghiệp quy mô lớn được ưutiên, các lò mổ được xây dựng và phân bố đều trong toàn tỉnh, 6.000 ha vùngchiêm trũng được chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản tập trung, ngoài ra tỉnhcòn ban hành chính sách miễn giảm thuỷ lợi phí, chú trọng công tác chuyểngiao tiến bộ kỹ thuật, công tác đào tạo nghề nâng cao trình độ cho nông ngưdân từ đó đã tạo ra những đột phá để thúc đẩy kinh tế gia trại, trang trạitrong tỉnh phát triển [1]

Trang 35

Kinh nghiệm, kết quả phát triển kinh tế gia trại, trang trại ở tỉnh Hải

Dương: Cho đến nay, toàn tỉnh có trên 700 gia trại, trang trại; trong đó có 434

gia trại, trang trại sản xuất, kinh doanh tổng hợp; 266 trang trại chăn nuôi lợn

và gia cầm, thuỷ sản và trồng trọt Hệ thống các gia trại, trang trại đang sửdụng trên 1.900 ha đất, bình quân, mỗi trang trại sử dụng 2,87 ha và đầu tưcho sản xuất, kinh doanh trên 221 triệu đồng Các gia trại, trang trại đang sửdụng trên 3.280 lao động, bình quân mỗi trang trại sử dụng 5 lao động Tuynhiên, số trang trại của tỉnh phần lớn đang trong giai đoạn hoàn thành xâydựng cơ bản, phần lớn trang trại chỉ được lập trên cơ sở tận dụng đất sâutrũng, bạc màu ; hệ thống gia trại, trang trại chưa có loại sản phẩm chủ yếu,đứng vững trên thị trường bằng thương hiệu; quy mô trang trại nhỏ, thu nhập

từ 24-35 triệu đồng/năm vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số trang trại Để thúcđẩy kinh tế trang trại phát triển tỉnh Hải Dương đưa ra nhiều cơ chế chínhsách khá cụ thể như: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 100% trangtrại nhằm tạo điều kiện cho các chủ trang trại thế chấp vay vốn ngân hàng đầu

tư cho sản xuất; đẩy mạnh việc xây dựng kết cấu hạ tầng như đường giaothông, đường điện, hệ thông tiêu thoát nước; bồi dưỡng nghiệp vụ quản lýkinh tế cho 100% chủ trang trại; miễn tiền thuê đất phát triển trang trại chănnuôi tập trung xa nơi dân cư trong thời gian 3 năm đầu và giảm 50% tiền thuêđất cho 5 năm tiếp theo; hỗ trợ 50% kinh phí làm đường giao thông, đườngđiện, kênh mương thoát nước cho các khu vực trang trại; hỗ trợ 100% kinhphí bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công việc cho cácchủ trang trại, gia trại và lao động trong các gia trại, trang trại; ngoài ra Ủyban nhân dân tỉnh còn thành lập Ban chỉ đạo phát triển trang trại, Ban nàyđược cấp kinh phí hoạt động [1]

Kinh nghiệm, kết quả phát triển kinh tế gia trại, trang trại ở tỉnh HưngYên: Toàn tỉnh có 635 mô hình kinh tế trang trại, trong đó: Trang trại chănnuôi có 565 mô hình chiếm 88,9%; 8 trang trại trồng trọt chiếm 1,2%; 11trang trại nuôi trồng thủy sản chiếm 1,7%; 51 trang trại tổng hợp chiếm 8%

Trang 36

Tổng số lao động của các trang trại hiện có gần 1,4 nghìn người Các trangtrại có tổng diện tích đang sử dụng trên 537 ha, đạt bình quân 0,85 ha/trangtrại Năm 2013, các trang trại có tổng doanh thu đạt gần 1.600 tỷ đồng, bìnhquân đạt 2,48 tỷ đồng/trang trại/năm Sự chuyển dịch sản xuất của kinh tếtrang trại, đã hình thành các vùng chuyên canh tập trung mới như: Vùng cây

ăn quả, cây đặc sản, rau các loại, chăn nuôi bò thịt, bò sữa, lợn và thủy cầmthuộc các xã đồng bãi ven sông Hồng, sông Luộc Vùng nuôi cá theo côngthức luân canh một vụ lúa - một vụ cá hoặc nuôi cá kết hợp trồng cây ăn quả,chăn nuôi gia súc, gia cầm, tạo nguyên liệu cung ứng cho các cơ sở chế biếnkhu vực phía nam của tỉnh Vùng nuôi lợn phục vụ sản phẩm chế biến, trồngrau sạch, hoa, cây cảnh, các loại thủy đặc sản ven thành phố, thị tứ, các khucông nghiệp ở phía bắc của tỉnh Cơ cấu các loại hình sản xuất và sự phân bốcác trang trại phù hợp đặc điểm tỉnh đồng bằng, đất chật người đông [8].Những năm qua, nhiều hộ nông dân tại tỉnh Nam Định đã phát huy tính

tự chủ, sáng tạo trong việc phát triển kinh tế hộ, từ đó thúc đẩy sản xuất nôngnghiệp và kinh tế nông thôn Mô hình xây dựng kinh tế gia trại, trang trạiđược nhiều người lựa chọn Tính đến hết quý I năm 2014, toàn tỉnh Nam Định

đã có 453 trang trại đạt tiêu chí theo quy định tại Thông tư số BNN&PTNT ngày 13/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn; trong đó: 3 trang trại trồng trọt, 47 trang trại tổng hợp, 149 trangtrại chăn nuôi và 254 trang trại nuôi trồng thuỷ sản Những năm gần đây,nhận thức của người nông dân đã có nhiều thay đổi, nhiều hộ gia đình đã bỏcách chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ, cố gắng tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi

27/2011/TT-và vận động nguồn lực từ gia đình để tập trung đầu tư lớn hơn làm kinh tếtrang trại Tại các xã, huyện, thị trấn, đội ngũ cán bộ chuyên môn về chănnuôi, thú y cũng được bổ sung kịp thời và đào tạo vững về chuyên môn đểgiúp đỡ bà con về các quy trình kỹ thuật (chăm sóc, phòng, chống dịch bệnhcho cây trồng và gia súc, gia cầm…) Đặc biệt, các trang trại đã có mối liên hệvới nhau trong việc cung ứng con giống thị trường tiêu thụ, giúp người nông

Trang 37

dân yên tâm phần nào trong vấn đề bảo đảm đầu ra cho sản phẩm [9].

Kinh nghiệm, kết quả phát triển kinh tế gia trại, trang trại ở tỉnh NinhBình: Trong những năm qua, kinh tế trang trại đã góp phần tích cực vào việcđẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân của ngànhđạt 2%/năm; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; chuyển đổi phương thứcsản xuất từ nhỏ, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa tập trung với quy môlớn gắn với thị trường Trên cơ sở đó mở ra hướng làm giàu cho người nôngdân, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống người lao động.Tính đến thời điểm 31/3/2016, toàn tỉnh có 950 trang trại, gia trại; trong đó có

272 trang trại đạt được tiêu chí của Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, cònlại là gia trại Số trang trại, gia trại phân theo lĩnh vực sản xuất như sau: Chănnuôi là 521, chiếm 54,84%, trồng trọt là 58 chiếm 6,1%; thủy sản là 158,chiếm 16,63%; lâm nghiệp là 10, chiếm 1,05%; tổng hợp là 203, chiếm21,38% Các thành phố, huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Tam Điệp, Kim Sơn

là những nơi có số trang trại và gia trại nhiều Trang trại và kinh tế trang trạitrên địa bàn tỉnh nhà vẫn chủ yếu phát triển theo tính tự phát, tốc độ chậm, sửdụng lao động chưa nhiều, vệ sịnh môi trường chưa đảm bảo Trình độ nănglực quản lý, tiếp cận thông tin về thị trường của chủ trang trại còn hạn chế,chất lượng lao động thấp, thiếu mối liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêuthụ sản phẩm Vấn đề thiếu vốn trong sản xuất là khá phổ biến và việc vayvốn lại khó khăn nên chưa đủ sức đầu tư mở rộng, lại càng không thể cónguồn lực đầu tư theo chiều sâu Dịch bệnh trên cây con diễn biến phức tạp,thời tiết khí hậu khó lường, giá cả vật tư, nguyên liệu không ổn định lànhững yếu tố gây cản trở không nhỏ đến sự hình thành và phát triển của trangtrại và kinh tế trang trại Mục tiêu của tỉnh đến năm 2020 toàn tỉnh có 450trang trại và có từ 5-10 trang trại có sản phẩm đăng ký trên sàn giao dịch Giátrị sản xuất hàng hóa của các trang trại chiếm 25% giá trị sản xuất của ngànhnông nghiệp Mỗi trang trại tạo việc làm cho 10-15 người với thu nhập bìnhquân đạt 4-5 triệu đồng/ tháng Để đạt được mục tiêu trên, ngành Nông

Trang 38

nghiệp đưa ra các giải pháp là: Lựa chọn mô hình phát triển kinh tế trang trạiphù hợp với từng vùng (miền núi là các trang trại lâm nghiệp, trồng rừng kinh

tế và cây bản địa lấy gỗ có giá trị cao, chăn nuôi nông lâm kết hợp; vùng đồngbằng phát triển mô hình trang trại tổng hợp kết hợp trồng trọt với chăn nuôi,cấy lúa với nuôi trồng thủy sản, đi cùng với đó là hoạt động dịch vụ; vùng venbiển phát triển trang trại chăn nuôi tập trung, trồng rừng ven biển kết hợp vớichăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Về đất đai, tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổsung quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp; hình thành các vùng trangtrại tập trung với quy mô phù hợp gắn với bảo vệ môi trường; đẩy nhanh việccấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ trang trại, hộ gia đìnhđược giao đất phát triển theo quy hoạch; triển khai cấp giấy chứng nhận kinh

tế trang trại đốivới cơ sở đạt tiêu chuẩn nhằm tạo điều kiện cho các chủ trangtrại yên tâm đầu tư vào sản xuất cũng như vay vốn để sản xuất; Khuyến khíchcác hộ dân chuyển nhượng, đồn điền đổi thửa tạo điều kiện cho tích tụ ruộngđất, chuyển đổi từ đất khác sang trang trại chuyên canh hoặc kết hợp Tiếp tụcđầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật thiết yếu: Đường giao thông, điện, nước,kênh mương từng bước chuyển trang trại đang nằm trong khu dân cư ra xahoặc vào vùng quy hoạch kinh tế trang trại Tạo điều kiện cho các chủ trangtrại được tiếp cận nhiều nguồn vốn tín dụng, nhất là đối với vốn tín dụng ưuđãi với thủ tục vay đơn giản, hợp lý, có sự ưu tiên và có thể tín chấp bằngcông trình đầu tư trong trang trại Tăng cường đầu tư và xây dựng các môhình kinh tế trang trại để nhân ra diện rộng Giới thiệu tiềm năng và cơ hộihợp tác với các nhà đầu tư, nhất là ở lĩnh vực công nghệ, chế biến nôngsản Về khoa học kỹ thuật, cần chú trọng đầu tư cho công tác khuyến nông,lâm, ngư, khuyến công; chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, khoa học côngnghệ cho chủ trang trại; đưa các giống cây con có phẩm chất tốt, chất lượngcao, năng suất khá vào sản xuất; áp dụng công nghệ mới trong chế biến, bảoquản nông sản; khuyến khích các hình thức liên kết và hợp tác trong nghiêncứu và ứng dụng KHCN; trong đó coi trọng liên kết với các trung tâm nghiên

Trang 39

cứu ra giống cây con phù hợp với các điều kiện thổ nhưỡng, đất đai, khí hậucủa từng vùng Nâng cao trình độ quản lý kinh doanh và trình độ hiểu biết vềkhoa học kỹ thuật cho chủ trang trại, hộ gia đình; tổ chức tốt việc đào tạonghề phù hợp cho một bộ phận lao động trang trại, nhất là những lao động kỹthuật của trang trại Hàng năm có kế hoạch đào tạo, tập huấn cho đội ngũ chủtrang trại về kỹ năng quản trị kinh doanh, nhằm tìm hướng phát triển phù hợptrong cơ chế thị trường Bằng cơ chế, chính sách sát thực, kịp thời Nhà nước

sẽ đảm bảo công bằng trong sản xuất kinh doanh của các trang trại, địnhhướng cho trang trại phát triển, quản lý tốt đầu ra và chất lượng sản phẩmnhằm đảm bảo lợi ích và quyền lợi của người tiêu dùng Khuyến khích và đẩymạnh mối liên kết giữa cơ sở sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản bằng việccung cấp tốt thông tin thị trường, hướng đẫn và định hướng cho các trang trạisản xuất ra những sản phẩm thị trường cần và tăng cường quảng bá, giới thiệusản phẩm của các trang trại [12]

1.5.3 Bài học kinh nghiệm có thể tham chiếu cho thành phố Hải Phòng

Từ những kinh nghiệm thực tế về phát triển kinh tế trạng trại của một sốđịa phương của Việt Nam, có thể rút ra bài học kinh nghiệm như sau:

- Quá trình phát triển trang trại ở hầu hết các địa phương đều có xuhướng chung là:

+ Kinh tế trang trại là sản phẩm của nhân loại trong lĩnh vực sản xuấtnông, lâm, ngư nghiệp đã xuất hiện ở một số nước trên thế giới vào thời kỳkinh tế hàng hóa bắt đầu vận hành theo cơ chế thị trường Cho đến nay kinh tếtrang trại đã phát triển hầu hết các nước có sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp vàtrở thành mô hình sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp thế giới

+ Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp của các hộ giađình nông dân, phù hợp gắn liền với quá trình công nghiệp hóa từ thấp đếncao Kinh tế trang trại là sự phát triển tất yếu của nền nông nghiệp, sản phẩmtất yếu của kinh tế thị trường và của quá trình công nghiệp hóa Chính công

Trang 40

nghiệp hóa đã đạt ra yêu cầu khách quan cho phát triển sản xuất hàng hóanông sản nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và tạo ra những điều kiệncho kinh tế trang trại hình thành, phát triển.

+ Các trang trại gia đình được hình thành chủ yếu từ cơ sở của các hộtiểu nông sau khi phá vỡ nền sản xuất tự cung tự cấp, khép kín, vươn lên sảnxuất nhiều hàng hóa nông sản với quy mô từ nhỏ đến lớn, tiếp cận thị trường,từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh So với nền kinh tế tiểu nôngthì kinh tế trang trại là một bước phát triển của nền sản xuất xã hội

+ Con đường đi từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, từ sản xuấttiểu nông sang sản xuất trang trại, không phải là sản phẩm riêng của cácnước công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa, mà là bước phát triển tất yếu của

xã hội, phù hợp với quy luật tiến hóa chung của loài người Kinh tế trangtrại không quyết định bản chất của một chế độ xã hội Chưa có dấu hiệu tưbản hóa loại hình kinh tế trang trại

+ Kinh tế trang trại có thể và có điều kiện phát triển ở tất cả các lĩnh vựcsản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp và tất cả các vùng khác nhau (đồinúi, đồng bằng, ven biển )

+ Trong thời kỳ bắt đầu công nghiệp hóa, lao động ở nông thôn tăngnhiều, nhưng khả năng tiếp nhận còn thấp, thì số lượng trang trại gia đìnhtiếp tục tăng nhiều, quy mô nhỏ, phát triển theo hướng kinh doanh tổnghợp Khi công nghiệp phát triển đạt trình độ cao, khả năng thu hút lao độngcủa công nghiệp và dịch vụ tăng thì số lượng trang trại giảm, quy mô lạităng, phát triển sản xuất tập trung, chuyên canh lớn

- Kinh tế trang trại trong thời gian tới vẫn tồn tại và phát triển vì cónhiều ưu điểm hơn các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp khác như: Khảnăng dung nạp các trình độ sản xuất nông nghiệp khác nhau về xã hội hóa,chuyên môn hóa, tập trung hóa trong sản xuất; khả năng dung nạp các quy môsản xuất khác nhau (nhỏ, vừa, lớn); khả năng liên kết các loại hình kinh tế, sởhữu khác nhau (gia đình, hợp tác hóa nhà nước); khả năng đáp ứng yêu cầu

Ngày đăng: 15/03/2023, 18:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w