1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người đái tháo đường type 2 tại các phòng tư vấn đái tháo đường, thị xã thuận an, tỉnh bình dương, năm 2019

60 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người đái tháo đường type 2 tại các phòng tư vấn đái tháo đường, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, năm 2019
Tác giả Đỗ Ngọc Điệp
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học công cộng
Thể loại Đề cương
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung: Xác định các yếu tố liên quan đến điểm chất lượng cuộc sống và đánh giá sự thay đổi của điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường type 2

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI CÁC PHÒNG TƯ VẤN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG,

NĂM 2019

ĐỖ NGỌC ĐIỆP

LỚP CAO HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG, NIÊN KHÓA 2018-2020

Trang 2

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI CÁC PHÒNG TƯ VẤN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG,

NĂM 2019

ĐỖ NGỌC ĐIỆP

LỚP CAO HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG, NIÊN KHÓA 2018-2020

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 5

1.1 Đái tháo đường type 2 5

1.2 Tiêu chuẩn chuẩn đoán ĐTĐ type 2 5

1.3 Chất lượng cuộc sống 6

1.3.1 Định nghĩa chất lượng cuộc sống 6

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ĐTĐ type 2 6

1.4 Đo lường chất lượng cuộc sống: 9

1.5 Nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam: 11

1.5.1.Nghiên cứu trên thế giới 11

1.5.2.Nghiên cứu tại Việt Nam 14

1.6 Tình hình ĐTĐ và CLCS của người ĐTĐ tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương 15

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Thiết kế nghiên cứu 17

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

2.3 Đối tượng nghiên cứu 17

2.3.1 Dân số mục tiêu 17

2.3.2 Dân số chọn mẫu 17

2.3.3 Cỡ mẫu 17

2.3.4 kỹ thuật chọn mẫu 18

2.3.5 Tiêu chí chọn mẫu 18

2.3.6 kiểm soát sai lệch chọn lựa 19

2.4 Thu thập dữ kiện 19

2.4.1 Phương pháp thu thập dữ kiện 19

2.4.2 Công cụ thu thập 19

2.4.3 Quy trình thu thập 19

2.4.4 Kiểm soát sai lệch thông tin 20

Trang 4

2.6 Xử lý số liệu 25

2.7 Y đức 26

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ DỰ KIẾN 27

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 36

KẾ HOẠCH 3N 37 PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Cỡ mẫu nghiên cứu 18

Bảng 3.1 Đặc điểm dân số xã hội (n=) 27

Bảng 3.2 tình trạng bệnh ĐTĐ (n=) 28

Bảng 3.3 Các bệnh kèm theo (n= ) 29

Bảng 3.4 thói quen sinh hoạt (n=) 30

Bảng 3.5 Điểm trung bình CLCS của bệnh nhân ĐTĐ 30

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa điểm các lĩnh vực CLCS với đặc tính nền 31

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa điểm các lĩnh vực CLCS với các bệnh kèm theo 32

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa điểm các lĩnh vực CLCS với tình trạng bệnh ĐTĐ 33

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa điểm các lĩnh vực CLCS với thói quen sinh hoạt 33

Bảng 3.9 Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến xác định các yếu tố dự báo liên quan đến điểm CLCS lĩnh vực SKTC của bệnh ĐTĐ (n=) 34

Bảng 3.10 Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến xác định các yếu tố dự báo liên quan đến điểm CLCS lĩnh vực SKTT của bệnh ĐTĐ (n=) 34

Bảng 3.11 Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến xác định các yếu tố dự báo liên quan đến điểm CLCS lĩnh vực QHXH của bệnh ĐTĐ (n=) 34

Bảng 3.12 Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến xác định các yếu tố dự báo liên quan đến điểm CLCS lĩnh vực MTS của bệnh ĐTĐ (n=) 34

Bảng 3.13 Bảng tổng hợp các yếu tố dự báo liên quan đến CLCS của người ĐTĐ tại thời điểm T0 sau khi phân tích đa biến (n=) 35

Bảng 3.14 Bảng tổng hợp các yếu tố dự báo liên quan đến CLCS của người ĐTĐ tại thời điểm T1 sau khi phân tích đa biến (n=) 35

Trang 6

IDF: international diabetes federation

(liên đoàn đái tháo đường thế giới) SF36: Short Form 36

(Bộ câu hỏi 36 câu đánh giá chất lượng cuộc sống) WHO: World Health Organization

(Tổ chức y tế thế giới)

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mãn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc khi cơ thể không thể sử dụng hiệu quả insulin mà nó tạo ra Insulin là một loại hormone điều chỉnh lượng đường trong máu Tăng đường huyết, hoặc tăng lượng đường trong máu là ảnh hưởng phổ biến của bệnh tiểu đường không kiểm soát được và theo thời gian dẫn đến tổn hại nghiêm trọng cho nhiều hệ thống của cơ thể, đặc biệt là các dây thần kinh và mạch máu Theo số liệu thống kê của Tổ chức y tế thế giới vào năm 2014 có 8,5% người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên mắc bệnh tiểu đường Năm 2016, bệnh tiểu đường là nguyên nhân trực tiếp của 1,6 triệu ca tử vong và năm 2012 đường huyết cao là nguyên nhân của 2,2 triệu ca tử vong khác[20] Tổ chức y tế thế giới đã xếp đái tháo đường là một trong năm bệnh không lây ảnh hưởng đến toàn cầu, trong đó đái tháo đường típ 2 là chủ yếu chiếm tỉ lệ 85-90%[33] Theo liên đoàn ĐTĐ thế giới (IDF) thì đang ảnh hưởng đến hơn 425 triệu người, trong đó một phần ba là những người trên 65 tuổi số người mắc bệnh tiểu đường có thể tăng lên 629 triệu vào năm 2045 Đáng chú ý, chi phí chăm sóc sức khỏe năm nay đạt 727 tỷ USD chi phí chăm sóc sức khỏe toàn cầu dành riêng cho điều trị bệnh tiểu đường và các biến chứng liên quan Con số này tăng 8% kể từ khi số liệu thống kê trước đó được công bố vào năm 2015[17] Bệnh tiểu đường ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống thông qua các biến chứng và bệnh

lý kèm theo làm tăng thêm gánh nặng bệnh tật của bệnh đái tháo đường [15]

Tại Việt Nam, theo thống kê của IDF 2017 thì tỷ lệ mắc đái tháo đường của những người từ 20 - 79 tuổi là 5,5%[18] Cũng theo IDF dự kiến tỷ lệ này sẽ tăng lên 8,2 vào năm 2035[16] Theo nghiên cứu của tác giả Lương Thị Hồng Lê tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ của người từ 30-69 tuổi tại tỉnh Bình Dương năm 2011 là 6,1%[4]

Và theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Danh tỷ lệ hiện mắc bệnh ĐTĐ là 6,3% nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng nguy cơ cao trên địa bàn thị xã Thuận An năm 2010[3] Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở Thuận An cao hơn so với tỷ lệ hiện mắc chung của tỉnh Bình Dương và cao hơn nhiều so với tỷ lệ hiện mắc chung của

cả nước

Trang 8

Chăm sóc và quản lý bệnh nhân đái tháo đường tại nhà đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh và giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Chính vì vậy dự án phòng chống Đái tháo đường tỉnh Bình Dương đã triển khai chương trình tầm soát ĐTĐ trên địa bàn thị xã Thuận An vào năm 2010, và tiếp tục duy trì hoạt động này bằng việc thành lập 3 phòng tư vấn và xét nghiệm ĐTĐ miễn phí cho người dân Các đối tượng tham gia chủ yếu vào dự án là những người có nguy cơ cao mắc bệnh Đái tháo đường type 2, và các bệnh nhân đái tháo đường type 2 trên địa bàn đến xét nghiệm - tư vấn và theo dõi sức khỏe Nhằm tìm hiểu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Đái tháo đường type 2 qua đó nâng cao hiệu quả tư vấn của các phòng tư vấn đái tháo đường trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Đái tháo đường type 2, đó chính là lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân đái tháo đường type 2 khi tham gia xét nghiệm và tư vấn tại các phòng tư vấn ĐTĐ tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương có CLCS như thế nào, và

có thay đổi sau 3 tháng hay không? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến CLCS của người ĐTĐ type 2 cũng như sự thay đổi CLCS của người ĐTĐ sau 3 tháng tham gia tư vấn – xét nghiệm tại các phòng tư vấn?

Trang 9

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu chung:

Xác định các yếu tố liên quan đến điểm chất lượng cuộc sống và đánh giá sự thay đổi của điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường type 2 đến tham gia xét nghiệm và tư vân tại 3 phòng tư vấn đái tháo đường trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, năm 2019

và 3 tháng sau khi tham gia tư vấn- xét nghiệm

3 Xác định mối liên quan giữa điểm CLCS trước và sau tư vấn – xét nghiệm với đặc điểm dân số xã hội, tình trạng ĐTĐ ,các bệnh kèm theo và thói quen sinh hoạt của người ĐTĐ tại các phòng tư vấn đái tháo đường, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, năm 2019

Trang 10

- Chỉ số đường huyết chiều cao, cân nặng, vòng eo

- Tư vấn dinh dưỡng

Điểm CLCS sau tư vấn -

xét nghiệm

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Đái tháo đường type 2

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Bệnh ĐTĐ type 2 (trước đây gọi là bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin) là kết quả của việc sử dụng insulin không hiệu quả của cơ thể Phần lớn những người mắc bệnh tiểu đường trên toàn thế giới là Bệnh tiểu đường type 2, là kết quả của trọng lượng cơ thể dư thừa và không hoạt động thể chất [20]

1.2 Tiêu chuẩn chuẩn đoán ĐTĐ type 2

Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội Đái tháo đường

Mỹ - ADA), được Bộ Y tế Việt Nam áp dụng và ban hành quyết định số BYT ngày 19 tháng 07 năm 2017 về việc “Hướng dẫn và điều trị Đái tháo đường type 2” trong đó chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây[1] [19]:

3319/QĐ-Tiêu chuẩn 1: Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7mmol/L) Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ)

Tiêu chuẩn 2: Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT)

≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150-

200 gam carbohydrat mỗi ngày

Tiêu chuẩn 3: HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế

Trang 12

Tiêu chuẩn 4: Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)

Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán theo 4 tiêu chuẩn ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể

từ 1 đến 7 ngày

1.3 Chất lượng cuộc sống

1.3.1 Định nghĩa chất lượng cuộc sống

WHO định nghĩa Chất lượng cuộc sống là nhận thức của một cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống , trong bối cảnh văn hóa và giá trị mà họ sống và liên quan đến các mục tiêu , kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ Đây là một khái niệm phạm vi rộng bị ảnh hưởng một cách phức tạp bởi sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý, niềm tin cá nhân, mối quan hệ xã hội và mối quan hệ của họ với các đặc điểm nổi bật của môi trường sống[14]

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ĐTĐ type 2

Trong những thập kỷ qua, sự gia tăng các rối loạn mãn tính ngày càng tăng,

do điều kiện sống được cải thiện, phòng ngừa tốt hơn, quản lý bệnh truyền nhiễm, cải thiện công nghệ y tế và già hóa toàn bộ dân số Do đó, ngày càng có nhiều người sống chung với các bệnh mãn tính, và nó có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của họ Nói chung, các bệnh mãn tính tiến triển chậm, và kéo dài thời gian điều trị Phần lớn các bệnh mãn tính có khả năng làm xấu đi sức khỏe tổng thể của bệnh nhân bằng cách hạn chế khả năng sống tốt, hạn chế các chức năng hoạt động, năng suất làm việc, chất lượng cuộc sống và là yếu tố chính làm tăng chi phí giành cho chăm sóc sức khỏe[41]

Đặc điểm dân số xã hội:

Trang 13

Một số biến số nhân khẩu học liên quan đến chất lượng cuộc sống ở những người mắc bệnh tiểu đường trong dân số nói chung Cụ thể, đàn ông dường như có chất lượng cuộc sống tốt hơn phụ nữ; tuổi ngày càng tăng có liên quan đến sự suy giảm trong sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của bệnh nhân; và những người

có trình độ học vấn hoặc thu nhập cao hơn có chất lượng cuộc sống tốt hơn so với những người có trình độ học vấn va thu nhập thấp [44], [13]

Một nghiên cứu thực hiện tại Tây Ban Nha có kết quả cho thấy tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn ở những người ĐTĐ type 2 có liên quan tới chất lượng cuộc sống của họ[22]

Thói quen sinh hoạt:

Các hành vi nguy cơ sức khỏe bất lợi như hút thuốc, béo phì, không hoạt động thể chất và uống nhiều rượu có liên quan đến giảm chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân tiểu đường[45] Các tỷ lệ này đặc biệt là thừa cân béo phì ngày càng gia tăng và trở thành một vấn đề sức khỏe ở Việt Nam Đó chính là dấu hiệu cảnh báo

về các bệnh mãn tính không lây tại cộng đồng[10] Và theo kết quả điều tra quốc gia về tiêu dùng rượu bia tại Việt Nam thì có Gần 60% người được điều tra đã từng

sử dụng rượu bia và trung bình một ngày một người đã tiêu thụ 14,7g cồn nguyên chất [5] Thiếu hoạt động thể chất là yếu tố nguy cơ cao thứ 4 dẫn đến tử vong trên toàn thế giới, và thiếu hoạt động thể chất là nguyên nhân chính của khoảng 27% bệnh tiểu đường[11], và tập thể dục nhịp điệu cường độ cao trong tám tuần có tác dụng có lợi đối với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường[29] Những bệnh nhân ĐTĐ đã từng hút thuốc trong quá khứ (35,4%) cao hơn so với nhóm không hút thuốc (29%)[7]

Tình trạng ĐTĐ:

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ĐTĐ giảm khi khởi phát, nó đã cải thiện trong năm đầu tiên và 8 năm sau chẩn đoán ngoại trừ các hoạt động thông thường thì chất lượng cuộc sống của người ĐTĐ tương đương với người bình thường Có khả năng bệnh nhân một năm sau khi chẩn đoán đã chấp nhận bệnh và phần nào điều chỉnh các thói quen mới vào cuộc sống hàng ngày của họ[23]

Trang 14

Trong một nghiên cứu mô tả để điều tra chất lượng cuộc sống đặc trưng của bệnh tiểu đường, người ta thấy rằng chất lượng cuộc sống của bệnh tiểu đường có liên quan đến tuân thủ điều trị, kiểm soát đường huyết[46]

mù, thận (bệnh thận) dẫn đến suy thận, dây thần kinh (bệnh thần kinh) dẫn đến bất lực và rối loạn bàn chân đái tháo đường (bao gồm nhiễm trùng nặng dẫn đến cắt cụt chi)[21]

Biến chứng mạch máu của bệnh ĐTĐ bao gồm các bệnh tim mạch như đau tim, đột quỵ và thiếu lưu lượng máu đến chân Có bằng chứng từ các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng lớn cho thấy kiểm soát trao đổi chất tốt ở cả bệnh tiểu đường type 2 có thể trì hoãn sự khởi phát và tiến triển của các biến chứng này [21]

Thực tế là bệnh Đái tháo đường ảnh hưởng đến cuộc sống của bệnh nhân Bệnh đái tháo đường làm suy giảm chất lượng cuộc sống của một người Khi bệnh đái tháo đường cùng tồn tại với các bệnh mãn tính khác, hậu quả thậm chí còn tồi tệ hơn [37] Chính vì vậy, có nhiều nghiên cứu chứng minh các biến chứng bệnh ĐTĐ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân:

+ Một nghiên cứu tại Ả rập có kết quả là bệnh nhân đái tháo đường type 2 có biến chứng loét bàn chân có biểu hiện hậu quả sức khỏe thể chất và tinh thần kém[39]

+ Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ĐTĐ bị ảnh hưởng đáng kể bởi mức

độ nghiêm trọng của bệnh lý võng mạc biến chứng của bệnh ĐTĐ[25]

+ Bệnh thần kinh ngoại biên tiểu đường , một biến chứng thường gặp và gây rắc rối ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, góp phần làm tăng nguy cơ loét chân do

Trang 15

tiểu đường và cắt cụt chi dưới Do đó, việc điều trị để giảm đau thần kinh giúp cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường Type 2 [38]

+ Bệnh nhân tiểu đường và bệnh thận mãn tính có chất lượng cuộc sống thấp hơn Tiến triển xấu đi của bệnh thận là không thể tránh khỏi ở những người mắc bệnh tiểu đường[34] Và Điểm số hoạt động thể chất giảm dần qua các giai đoạn tiến triển của bệnh thận mãn tính [30]

+ Ở bệnh nhân Đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống giảm có liên quan đến bệnh tim mạch ở bệnh nhân đang mắc bệnh đái tháo đường [40]

1.4 Đo lường chất lượng cuộc sống:

Chất lượng cuộc sống là một khái niệm rộng, do đó cần được đo lường một cách khoa học và chuẩn xác Có hai cách tiếp cận cơ bản để đo lường chất lượng cuộc sống: các thang đo tổng quát về chất lượng cuộc sống; và các thang đo cụ thể tập trung vào các vấn đề liên quan đến tình trạng bệnh đơn lẻ, nhóm bệnh nhân Có thể sử dụng bảng câu hỏi do người phỏng vấn tự phỏng vấn để đo lường sự khác biệt giữa các phần về chất lượng cuộc sống giữa các bệnh nhân tại một thời điểm [42]

Thang đo tổng quát: WHOQOL-BREF, SF36, EuroQol (EQ-5D)

Mẫu 36 mục được xây dựng để khảo sát tình trạng sức khỏe (SF-36) và công

cụ đánh giá chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế Thế giới (WHOQOL-BREF) được sử dụng rộng rãi để đánh giá chất lượng cuộc sống ở tuổi già và đánh giá những thay đổi của các lĩnh vực sức khỏe trong dân số Ưu điểm của thang đo này

là rất hữu ích cho các nghiên cứu thăm dò sức khỏe trong cộng đồng[28]

Thang đo chuyên biệt: WHOQOL-HIV BREF, PROQOL-HIV

Thang đo này thường được sử dụng trong các nghiên cứu cho các trường hợp bệnh can thiệp điều trị chuyên biệt để đánh giá các khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đặc biệt là tâm lý bệnh nhân [26]

Trang 16

Phần lớn các lĩnh vực sức khỏe được đo lường bằng cách cho điểm Chính vì vậy tùy theo mục đích nghiên cứu, nguồn lực, và khả năng mà các tác giả lựa chọn hình thức thu thập số liệu phù hợp

Các phương thức thu thập dữ liệu đo lường CLCS [42]:

- Giảm sai sót do hiểu lầm

-Yêu cầu nhiều nguồn lực, người phỏng vấn phải được đào tạo

- Đối tượng phỏng vấn có thể chưa sẵn lòng thừa nhận vấn đề của mình

Thu thập số liệu qua

điện thoại

- Ít bỏ sót câu trả lời -Giảm sai sót do hiểu lầm

- Ít tốn nhân lực hơn so với phỏng vấn trực tiếp

-Các hạn chế trong định dạng công cụ đo lường

Tự điền - Ít tốn nhân lực Khả năng trả lời câu hỏi thấp

hơn, bỏ sót câu hỏi, hiểu lầm Phỏng vấn qua người

nuôi dưỡng

Giảm căng thẳng cho đối tượng nghiên cứu (người cao tuổi hoặc bị bệnh)

Nhận thức của người nuôi dưỡng có thể khác với đối tượng nghiên cứu

Chọn lựa công cụ đo lường CLCS phù hợp:

Hiện nay có rất nhiều công cụ được sử dụng để đo lường chất lượng cuộc sống của con người trong đó có bộ công cụ SF36(Short Form-36) bao gồm 36 câu hỏi đánh giá 8 lĩnh vực sức khỏe: hoạt động thể chất, vai trò của thể chất, đau, nhận thức sức khỏe nói chung, sức sống, hoạt động xã hội, vai trò của tình cảm, và sức khỏe tâm thần Mất 5-10 phút để trả lời bộ câu hỏi Có nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã sử dụng bộ công cụ này để đánh giá sự thay đổi chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ĐTĐ type 2 trước và sau can thiệp [8], [32] Vì lý

do trên nên trong nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường type 2 sẽ sử dụng bộ công cụ SF 36 để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trên 8 lĩnh vực: hoạt động thể chất, vai trò của thể chất, đau, nhận thức

Trang 17

sức khỏe nói chung, sức sống, hoạt động xã hội, vai trò của tình cảm, và sức khỏe tâm thần.

1.5 Nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam:

1.5.1.Nghiên cứu trên thế giới

Theo nghiên cứu của Imad Maatouk và cộng sự [35]: “Các dự báo tạm thời

về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe ở người cao tuổi mắc bệnh đái tháo đường: Kết quả của một nghiên cứu đoàn hệ của Đức”, đây là một nghiên cứu đoàn

hệ được thực hiện trong 5 năm từ năm 2002 đến 2007 với 1375 người tham gia vào đầu nghiên cứu và có 1034 bệnh nhân đái tháo đường hoàn thành nghiên cứu nghiên cứu sử dụng thang đo SF12 đánh giá trên 2 lĩnh vực của chất lượng cuộc sống (sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần) kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ĐTĐ được cải thiện về mặt sức khỏe tinh thần (2,1 điểm), trong khi đó điểm CLCS của sức khỏe thể chất thay đổi không đáng kể (0,1 điểm).Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các biện pháp can thiệp nhằm cải thiện CLCS

ở bệnh nhân tiểu đường cao tuổi nên giải quyết kiểm soát đường huyết, cai thuốc lá

và kiểm soát cân nặng, để ngăn ngừa các biến chứng ngắn hạn cũng như lâu dài

Sức mạnh chính của nghiên cứu là một thiết kế theo chiều dọc bao gồm thời gian quan sát là 5 năm, kiểm soát cho cả hai biến số nhân khẩu học và lối sống Điểm hạn chế của đề tài không đánh giá một số biến chứng liên quan đến bệnh tiểu đường

có liên quan cao như bệnh võng mạc, bệnh thần kinh tự trị và bàn chân đái tháo đường có thể dẫn đến việc đánh giá thấp tỷ lệ biến chứng, không phát hiện ra những khác biệt có liên quan là do thời gian biểu hiện của bệnh tiểu đường

Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Ali Gholami và cộng sự [13]: “Chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2: Áp dụng thang đo WHOQoL-BREF”, đây là một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 1847 bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Neyshabur (một thành phố ở phía đông bắc Iran) ,vào năm

2012 sử dụng thang đo WHOQOL-BREFE để đánh giá 4 lĩnh vực chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường type 2 (sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, mối quan hệ xã hội, môi trường sống) Nghiên cứu cho thấy rằng điểm trung bình

Trang 18

chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường type 2 dao động từ 11,73 đến 12,66 điểm giữa các lĩnh vực Điểm số trung bình thấp nhất là lĩnh vực Sức khỏe tâm lý và cao nhất là lĩnh vực mối quan hệ xã hội Nghiên cứu cho thấy rằng trình

độ học vấn, tình trạng hôn nhân và thu nhập hộ gia đình có liên quan với cả 4 lĩnh vực của chất lượng cuộc sống (P <0,05) Nghiên cứu còn cho thấy chất lượng cuộc sống ở những người đàn ông mắc bệnh tiểu đường tốt hơn so với những phụ nữ mắc bệnh tiểu đường sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê trong 3 lĩnh vực của chất lượng cuộc sống : sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, mối quan hệ xã hội Đồng thời nghiên cứu còn cho thấy được người trẻ tuổi có chất lượng cuộc sống cao hơn

so với những người lớn tuổi (P<0,001) Điểm mạnh của nghiên cứu là chọn mẫu toàn bộ theo danh sách quản lý tại Trung tâm y tế Neyshabur với tỷ lệ tham gia nghiên cứu là 83,05% Tuy nhiên đây là nghiên cứu cắt ngang nên không thể kết luận được mối quan hệ nhân quả

Theo nghiên cứu của Ming Hu và cộng sự [31], Ảnh hưởng của tần suất theo dõi đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tiểu đường loại 2 trong sử dụng thuốc

hạ đường huyết uống, một nghiên cứu can thiệp được đánh giá sau 3,6,9 và 12 tháng, nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2010, sử dụng công cụ DMQLS để đánh giá sự thay đổi CLCS Kết quả nghiên cứu cho thấy tần suất theo dõi chuyên sâu có liên quan đến cải thiện CLCS và các chỉ số lâm sàng

Nghiên cứu của nhóm tác giả Vegard Nilsen và cộng sự [32] : “Các dự báo

về chất lượng cuộc sống thay đổi liên quan đến sức khỏe sau khi can thiệp lối sống

ở những người có nguy cơ mắc đái tháo đường týp 2”, nghiên cứu đoàn hệ được thực hiện tại Na Uy vào năm 2014, trên 182 đối tượng theo dõi trong 18 tháng, trong đó có 172 đối tượng hoàn thành nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng công cụ SF36 để đánh giá sự thay đổi chất lượng cuộc sống của các đối tượng tham gia nghiên cứu kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy rằng có tương quan với giảm cân và cải thiện thể lực với chất lượng cuộc sống, tương ứng 1,5 điểm cho mỗi

5 kg giảm và 3,4 điểm cho mỗi cải thiện 5 ml / kg / phút trong khả năng vận động thể lực tối đa Nghiên cứu có điểm mạnh tỷ lệ tham gia> 98%, không có đối tượng

Trang 19

bị loại trừ và tỷ lệ bỏ cuộc ≤15% Bên cạnh đó nghiên cứu có một số hạn chế như nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu bỏ cuộc có khả năng ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, có thể bị sai lệch bởi sự thiên vị của các bác sĩ đa khoa giới thiệu bệnh nhân đến tham gia nghiên cứu hoặc sai lệch lựa chọn thông qua sự sẵn lòng tham gia nghiên cứu của người tham gia

Một nghiên cứu thực hiện vào năm 2018 tại Ả rập của tác giả AlSadrah SA [39]: “Chất lượng cuộc sống và bệnh bàn chân đái tháo đường bị suy giảm ở bệnh nhân Ả rập mắc bệnh tiểu đường loại 2: Một phân tích cắt ngang” Nghiên cứu cắt ngang trên 250 bệnh nhân đái tháo đường type 2 (100 bệnh nhân ĐTĐ bị loét so với 150 bệnh nhân ĐTĐ không bị loét), sử dụng bộ công cụ SF36 để đo lường chất lượng cuộc sống kết quả nghiên cứu cho thấy Tổng điểm CLCS trung bình của các đối tượng ĐTĐ không bị loét cao hơn so với những người mắc bệnh đái tháo

đường và bị loét (49,4 ± 12,0 so với 40,5 ± 10,6, p  <0,001) Bệnh nhân ĐTĐ bị loét

chân có sức khỏe thể chất và tinh thần kém so với bệnh nhân ĐTĐ không mắc bệnh loét bàn chân Hạn chế của nghiên cứu kích thước mẫu tương đối nhỏ và thiết kế phân tích cắt ngang nên không kết luận mối quan hệ nhân quả, thời gian theo dõi ngắn (3 tuần 6 tuần) và dân số nghiên cứu có thể không đại diện cho tất cả dân số Ả Rập vì các bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu từ một thành phố duy nhất của Ả Rập và các bệnh nhân không phải là người Ả Rập cũng được đưa vào Tuy nghiên công trình nghiên cứu này này đã cho thấy giá trị cao của các đánh giá SF-36 và FAAM để phân biệt bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ type 2 có / không mắc bệnh bàn chân ở các giá trị nhất định

Nghiên cứu của nhóm tác giả Nuria Alcubierre và cộng sự [25]: “Một nghiên cứu cắt ngang về chất lượng cuộc sống và sự hài lòng về điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 bị bệnh võng mạc mà không có biến chứng ĐTĐ khác” Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 148 bệnh nhân mắc bệnh võng mạc ĐTĐ

và 149 bệnh nhân không có bệnh võng mạc ĐTĐ Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh lý võng mạc ĐTĐ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống tuy nhiên chưa đủ sức mạnh thống kê vì cỡ mẫu chưa đủ lớn, yếu tố gây nhiễu là các biến chứng ĐTĐ tiến

Trang 20

triển có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Đây là nghiên cứu cắt ngang nên không thể kết luận mối quan hệ nhân quả

1.5.2.Nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Sơn [8] , được tiến hành từ tháng 10/2012 đến tháng 6/2016 nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống và hiệu quả giải pháp quản lý, chăm sóc người bệnh đái tháo đường type 2 tại nhà, tỉnh Thái Bình Nghiên cứu được tiến hành 2 giai đoạn Có 208 bệnh nhân tham gia vào giai đoạn 1 (mô tả thực trạng người bệnh ĐTĐ type 2 và đánh giá kiến thức, chất lượng cuộc sống, các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng), và 110 bệnh nhân tham gia vào giai đoạn

2 (Theo dõi trong 12 tháng đánh giá lại kiến thức về bệnh ĐTĐ và chất lượng cuộc sống) Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ SF-36, EQ-5D, VAS để đo lường chất lượng cuộc sống bệnh nhân ĐTĐ trước và sau can thiệp Địa bàn sống, tuổi, số biến chứng mắc phải, kiến thức về chế độ ăn, lượng glucose máu có liên quan đến sức khỏe thể chất Địa bàn sống, số biến chứng mắc phải, kiến thức về chế độ dùng thuốc, kiến thức về chế độ tập luyện có liên quan đến sức khỏe tâm thần Các giải pháp can thiệp, đặc biệt là các giải pháp về truyền thông, tư vấn cho người bệnh ĐTĐ làm tăng chất lượng cuộc sống của người bệnh

Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Tuyết Nhi [6], được thực hiện trên 246 bệnh nhân ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai, năm 2018 Nghiên cứu đo lường chất lượng cuộc sống bằng công cụ WHOQOL –BREF Cho thấy điểm trung bình CLCS của người ĐTĐ trên 4 lĩnh vực sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, quan hệ xã hội và môi trường sống là

ở mức trung bình.Theo kết quả nghiên cứu của tác giả, điểm trung bình CLCS trên

4 lĩnh vực sức khỏe của người ĐTĐ dao động trong khoảng 12,11 đến 12,97 điểm Trong đó cao nhất là điểm trung bình CLCS lĩnh vực môi trường sống và thấp nhất

là điểm trung bình CLCS lĩnh vực quan hệ xã hội Nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh, chỉ số đường huyết đói, bệnh đi kèm, mức độ hoạt động thể lực có tác động đến chất lượng cuộc sống

Trang 21

của bệnh nhân ĐTĐ type 2 Nghiên cứu đã cho chúng ta thấy được khái quát về CLCS của bệnh nhân ĐTĐ đang điều trị ngoại trú trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Đình Tuấn [9] đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Lê Lợi – thành phố Vũng Tàu năm 2013 Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả với cỡ mẫu

422 bệnh nhân ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh – bệnh viện Lê Lợi Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ SF36 để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ĐTĐ type 2 trên 10 lĩnh vực với điểm trung bình trong từng lĩnh vực như sau: hoạt động thể chất (64,86 ± 22,30), giới hạn hoạt động thể chất (48,75 ± 41,10), cảm nhận đau đớn (60,16 ± 25,38), tâm thần tổng quát (53,91 ± 17,44), giới hạn cảm xúc (52,84 ± 40,92), hoạt động xã hội (62,00 ± 20,80), cảm nhận sức sống (53,86 ± 18,30), sức khỏe tổng quát (43,07 ± 19,14), sức khỏe thể chất (54,14 ± 20,79), sức khỏe tin thần (53,13 ± 17,98) Theo kết quả thì điểm trung bình CLCS trên 10 lĩnh vực sức khỏe của người ĐTĐ dao động trong khoảng 43,07 đến 64,86 điểm Trong đó thấp nhất là điểm trung bình lĩnh vực sức khỏe tổng quát, cao nhất

là điểm trung bình lĩnh vực hoạt động thể chất Nghiên cứu tìm ra được các yếu tố liên quan đến CLCS của bệnh nhân ĐTĐ type 2 như: giới, nhóm tuổi, trình độ học vấn, biến chứng bệnh ĐTĐ

1.6 Tình hình ĐTĐ và CLCS của người ĐTĐ tại thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương

Nghiên cứu của tác giả Lương Thị Hồng Lê [4] : “ Tỷ lệ hiện mắc Đái tháo đường và các yếu tố liên quan ở ngưởi 30 đến 69 tuổi tại tỉnh Bình Dương năm 2011” Nghiên cứu được khảo sát trên 1.920 đối tượng cho thấy tỷ lệ mắc bệnh Đái tháo đường là 6,1%, tỷ lệ hiện mắc ở nữ là 6,5% cao hơn ở nam là 5,7% Tỷ lệ mắc bệnh Đái tháo đường tăng dần theo tuổi, trong đó: nhóm 30-39 tuổi là 2,9%, nhóm

40 – 49 tuổi là 6,7%, nhóm 50- 59 tuổi là 11,3%, nhóm 60-69 tuổi là 12,9% Một nghiên cứu khác của tác giả Lê Hoàng Ninh [7] : “Các yếu tố nguy cơ của các bệnh không lây (cao huyết áp, đái tháo đường týp 2) ở người lớn thành phố Hồ Chí Minh

và tỉnh Bình Dương, năm 2016” Nghiên cứu được thực hiện trên 704 đối tượng

Trang 22

tham gia nghiên cứu(Bệnh ĐTĐ: nhóm bệnh n= 335, nhóm chứng n=335) Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố từng hút thuốc lá, uống rượu bia hàng ngày, ăn mặn, chế độ ăn ít rau là các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ Các hoạt động thể lực cũng có liên quan đến bệnh ĐTĐ Một nghiên cứu gần đây được thực hiện vào năm 2018 của tác giả Huỳnh Thị Linh Chiêu và Đinh Thị Thanh [2]: “thực trạng tuân thủ điều trị người bệnh Đái tháo Đường tại khoa nội tiếc BVĐK tỉnh Bình Dương từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2018” Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ thời gian dùng thuốc chiếm 81,73% và người bệnh dùng thuốc đúng theo chỉ dẫn của bác sỹ 98,07%.Thuận An là địa phương có những điểm đặc trưng về mặc kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bình Dương nên cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi tình hình đái tháo đường chung của toàn tỉnh

Thị xã Thuận An là một trong những huyện đang triển khai tốt các hoạt động

tư vấn và xét nghiệm phát hiện sớm bệnh Đái tháo đường trên địa bàn tỉnh Bình Dương Hiện nay trên địa bàn có 3 phòng tư vấn - xét nghiệm bệnh ĐTĐ miễn phí (PKĐKKV Bình Hòa, PKĐKKV Bình Chuẩn, TTYT Thuận An) và đang quản lý

933 (trong đó tiền ĐTĐ: 580 , ĐTĐ: 373 bệnh nhân ) Ngoài ra, trên địa bàn thị xã chưa có nghiên cứu nào về CLCS được thực hiện trên địa bàn

Trang 23

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu theo dõi đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ĐTĐ type

2 trước và sau 3 tháng tham gia tư vấn, xét nghiệm tại các phòng tư vấn - xét nghiệm ĐTĐ trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: tháng 10 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020

- Địa điểm: Các phòng tư vấn ĐTĐ , thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương

2.3 Đối tượng nghiên cứu

2.3.3 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu cho nghiên cứu, áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu trước – sau trên một nhóm người bệnh

Trong đó:

n = cỡ mẫu nghiên cứu

α = 0,05 (độ tin cậy 95%), xác suất sai sót loại II (β) = 0,8

C = (Zα/2 + Zβ)2, với α = 0,05, β = 0,8, tra bảng phân phối chuẩn C= 7,85

r = hệ số tương quan giữa hai đo lường, giả định giao động trong khoảng từ 0,6 đến 0,8 Trong nghiên cứu này giả định hệ số tương quan = 0,75

Trang 24

ES = là hệ số ảnh hưởng, được tính dựa theo nghiên cứu của Nguyễn

Thanh Sơn [8] ta tính cỡ mẫu như sau:

Bảng 2.1: Cỡ mẫu nghiên cứu

Điểm

SF 36

mean 1 (m1)

sức khỏe thể lực

36,02 10,41 44,34 11,93 0.70 6 Cảm giác đau

40,82 8,07 46,95 10,21 0.60 7 Sức khỏe chung

28,19 5,34 33,01 6,95 0.69 5 Sinh lực

47,38 4,96 52,56 7,33 0.71 4 Hoạt động xã hội

43,31 8,02 46,03 9,88 0.28 34 Các hạn chế do dễ

xúc động

37,45 13,65 47,01 12,07 0.79 8 Sức khỏe tinh thần 41,06 7,78 49,42 9,50 0.88 3

Chọn N = 80 đối tượng Dự trù mất dấu trong thời gian theo dõi 20%  số

bệnh nhân tối thiểu cần nghiên cứu là 96 đối tượng

2.3.4 kỹ thuật chọn mẫu

- Chọn mẫu thuận tiện dựa vào số bệnh nhân đến tham gia tư vấn và xét

nghiệm tại các phòng tư vấn thông qua hoạt động khám sàng lọc

2.3.5 Tiêu chí chọn mẫu

Tiêu chí đưa vào

Người dân hiện đang cư trú tại thị xã Thuận An (có hộ khẩu hoặc đã tạm trú ít nhất 6 tháng tại thị xã Thuận An) bị Đái tháo đường type 2 đang điều trị

Bệnh nhân ĐTĐ type 2 lần đầu tiên tham gia tư vấn và xét nghiệm tại các phòng tư vấn trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương

Tiêu chí loại ra

- Bệnh nhân ĐTĐ type 2 không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bệnh nhân không có khả năng trả lời câu hỏi của người phỏng vấn

Trang 25

2.3.6 kiểm soát sai lệch chọn lựa

- Chọn các đối tượng vào nghiên cứu phù hợp với các tiêu chí chọn vào và loại ra

- Những bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu hoặc bỏ ngang cuộc phỏng vấn sẽ được thuyết phục lần nữa để tránh trường hợp mất mẫu

2.4 Thu thập dữ kiện

2.4.1 Phương pháp thu thập dữ kiện

Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi soạn sẵn bao gồm 4 phần: thông tin nền, thông tin liên quan đến bệnh, bộ câu hỏi về chất lượng cuộc sống và thói quen sinh hoạt

2.4.2 Công cụ thu thập

Bảng thu thập thông tin nền gồm 8 câu, từ A1 đến A8, bao gồm: năm sinh, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, cân nặng, chiều cao, vòng bung

Thông tin liên quan đến tình trạng bệnh ĐTĐ gồm 8 câu từ B1 đến B8: đường huyết đói, năm phát hiện bệnh, tuân thủ điều trị (từ B3 đến B7), và các bệnh kèm theo

Bộ câu hỏi đánh giá CLCS của SF36 gồm 36 câu hỏi đánh giá trên 8 lĩnh vực CLCS: hoạt động thể chất, vai trò của thể chất, đau, nhận thức sức khỏe nói chung, sức sống, hoạt động xã hội, vai trò của tình cảm, và sức khỏe tâm thần

Thói quen sinh hoạt gồm 13 câu trong đó có 1 câu về tình trạng hút thuốc, 5 câu về sử dụng rượu bia, 7 câu hoạt động thể lực theo thang đo IPAQ

2.4.3 Quy trình thu thập

Bước 1: Cộng tác viên phát thư mời đến đối tượng tham gia khám sàng lọc và tư vấn tại các phòng tư vấn

Bước 2: Chọn các bệnh nhân ĐTĐ type 2 mới lần đầu tham gia tư vấn

và xét nghiệm tại các phòng tư vấn trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương vào tham gia nghiên cứu và tiến hành phỏng vấn đối tượng tham gia nghiên cứu

Trang 26

bằng bộ câu hỏi soạn sẵn lần 1 (các số liệu như chỉ số đường huyết, chiều cao, cân nặng, vòng eo sẽ được thu thập từ phòng tư vấn)

Bước 3: theo dõi nhắc bệnh nhân đến tham gia tư vấn và xét nghiệm tại các phòng tư vấn 1 lần/ tháng

Bước 4: 3 tháng sau tiến hành phỏng vấn đối tượng tham gia nghiên cứu bằng bộ câu hỏi soạn sẵn lần 2

2.4.4 Kiểm soát sai lệch thông tin

Sai lệch thông tin là sai lệch có thể xảy ra do người trực tiếp phỏng vấn hoặc người được phỏng vấn Sai lệch được khắc phục bằng cách:

+ Định nghĩa biến số rõ ràng và cụ thể + Bộ câu hỏi thiết kế đúng mục tiêu, rõ ràng, dễ hiểu + Điều tra viên gồm 3 phỏng vấn viên (2 Cử nhân y tế công cộng, 1 Bác sỹ chuyên khoa 1 y tế công cộng) công tác tại TTYT Thuận An, có kinh nghiệm trong việc thu thập số liệu nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, nắm rõ các định nghĩa biến số, thống nhất cách hỏi và giải thích các biến số nhằm tránh sai lệch thông tin

+ Ghi chép đầy đủ, cụ thể rõ ràng từng chỉ số, và các câu trả lời Điều tra viên nhắc lại câu hỏi nếu người được phỏng vấn chưa hiểu

+ Trước khi kết thúc phần phỏng vấn, điều tra viên kiểm tra lại bộ câu hỏi nhằm tránh sai sót

2.5 liệt kê, định nghĩa biến số

Các biến số nền

Đặc điểm dân số học:

Tuổi: biến số định lượng

Tuổi được tính theo năm dương lịch (năm tiến hành nghiên cứu – năm sinh)

Giới tính: biến số nhị giá gồm 2 giá trị:

0: Nữ

1: Nam

Trình độ học vấn: biến số nhị giá gồm 2 giá trị

Trang 27

0: < cấp 2 (Những người chưa hoàn thành bậc trung học cơ sở (< lớp 9) hoặc

mù chữ)

1: ≥ cấp 2 (Những người đã hoàn thành bậc trung học cơ sở (≥ lớp 9)

Tình trạng hôn nhân: là biến nhị giá có 2 giá trị

0: đang có vợ/ chồng

1: khác (độc thân, góa vợ/chồng, ly dị/ly thân)

Tình trạng đi làm: biến số nhị giá gồm 2 giá trị:

0: Đi làm

1: Không đi làm

Do đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu là bệnh nhân ĐTĐ type 2 đa phần là lớn tuổi (theo danh sách quản lý) nên nghiên cứu chỉ xét tình trạng đi làm của đối tượng nghiên cứu

Cân nặng: là biến định lượng, tính bằng kilogram (làm tròn số, lấy 1 số thập phân),

được cân trực tiếp khi khảo sát, đối tượng nghiên cứu mặc đồ mỏng và nhẹ, không mang dép Cân đo đã được hiệu chỉnh đặt ở vị trí bằng phẳng, người được cân đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng đảm bảo trọng lượng phân bố đều cả 2 chân và ghi nhận kết quả

Chiều cao: là biến định lượng, tính bằng cm (làm tròn số, không lấy số thập phân)

được đo trực tiếp khi khảo sát Đối tượng nghiên cứu khi đo chiều cao đi chân không, được đo bằng thước đo chiều cao thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang Gót chân, mông, vai và đầu áp sát vào thước đo đứng, mắt nhìn về phía trước, hai tay thả lỏng và ghi nhận kết quả

Vòng bụng: là biến định lượng, tính bằng cm, được thu thập bằng cách đo trực tiếp

khi khảo sát Cách đo: bệnh nhân đứng thẳng, 2 chân song song Xác định điểm cao nhất của mào chậu, đặt thước dây ngay điểm cao nhất, quấn 1 vòng quanh bụng Béo bụng khi vòng bụng ≥ 80 cm với nữ, ≥ 90 cm với nam[36]

Tình trạng ĐTĐ

Đường huyết lúc đói (mg/dl): là biến định lượng, được xét nghiệm trực tiếp trong

thời gian nghiên cứu

Trang 28

Thời gian mắc bệnh (năm): là biến định lượng, tính bằng năm, được tính bằng

cách lấy năm khảo sát (2018) trừ cho năm phát hiện bệnh

Tuân thủ điều trị (tuân thủ theo hướng dẫn và chỉ định của bác sỹ): gồm 2 giá trị

0: Không

1: Có

Không tuân thủ điều trị khi có một trong các đặc điểm sau:

- Không tái khám định kỳ theo hướng dẫn và chỉ định của bác sỹ

- Bệnh nhân không uống thuốc theo chỉ định và hướng dẫn của bác sỹ

- Bệnh nhân có uống thuốc theo chỉ định và hướng dẫn của bác sỹ nhưng trong tháng qua bỏ uống thuốc hay quên uống thuốc dù chỉ một ngày (khi được bác

sỹ chỉ định phải dùng thuốc điều trị bệnh tiểu đường)

Có tuân thủ điều trị khi thực hiện đầy đủ các yêu cầu sau:

- Tái khám định kỳ theo hướng dẫn và chỉ định của bác sỹ

- Khi được chỉ định dùng thuốc ĐTĐ, bệnh nhân có uống thuốc đều đặn mỗi ngày theo đúng chỉ định và hướng dẫn của bác sỹ

Tăng huyết áp: Là biến nhị giá có 2 giá trị:

0: không mắc

1: có mắc

Trang 29

Bệnh tim mạch: Là biến nhị giá có 2 giá trị:

Thói quen sinh hoạt

Hút thuốc lá: là biến nhị giá có 2 giá trị

Trang 30

Uống rượu được tính khi tổng đơn vị rượu uống vào trong 1 lần ≥ 1 đơn vị chuẩn

(1 đơn vị chuẩn tương đương 10 gram Ethanol, tương đương 330ml bia, 30ml rượu mạnh, 120ml rượu vang)

- Không uống: khi không uống rượu trong vòng 1 tháng qua

- Không lạm dụng rượu: khi

 Uống rượu/bia với bất kỳ số lượng nào ít hơn 5 ly chuẩn đối với nam hoặc ít hơn 4 ly chuẩn đối với nữ vào bất kỳ ngày nào có uống rượu/bia trong tháng

 Hoặc có < 5 ngày/tháng uống từ 5 ly chuẩn trở lên đối với nam hoặc từ 4 ly chuẩn trở lên đối với nữ[24]

- Lạm dụng rượu/ bia: khi có ≥ 5 ngày/tháng uống từ 5 ly chuẩn trở lên đối với nam hoặc từ 4 ly chuẩn trở lên đối với nữ[24]

Mức độ hoạt động thể lực: được đo bằng bộ câu hỏi IPAQ –SF phiên bản ngắn

gồm 7 câu đây là thang đo có hiệu lực tốt trong phân loại mức độ hoạt động thể lực [27] Đánh giá thời gian hoạt động của bệnh nhân trong 1 tuần ở mức độ nặng, vừa phải, thời gian đi bộ và thời gian nghĩ ngơi không tham gia hoạt động gồm 3 mức độ:

1: Hoạt động thể lực nhẹ

2: Hoạt động thể lực vừa phải

3: Hoạt động thể lực nặng

Cách phân loại thể lực:

Cách chuyển đổi thời gian hoạt động sang MET – phút

Đi bộ (MET – phút/tuần) = 3,3*số phút đi bộ * số ngày đi bộ

Trung bình (Met-phút/tuần) =4* số phút hoạt động cường độ vừa phải * số ngày hoạt động trung bình

Nặng (Met- phút/tuần)= 8* số phút hoạt động cường độ mạnh * số ngày hoạt động cường độ mạnh

Tổng số hoạt động thể chất (MET- phút/tuần) = hoạt động đi bộ + hoạt động trung bình + hoạt động nặng

Phân loại mức hoạt động thể lực:

Ngày đăng: 15/03/2023, 18:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w