1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim đang điều trị nội trú

44 28 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim đang điều trị nội trú
Tác giả Nguyễn Thị Nguyên
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Hoàng Định
Trường học Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chăm sóc sức khỏe
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 123,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ NGUYÊN CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH SUY TIM ĐANG ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành[.]

Trang 1

Chuyên ngành Điều dưỡng

Người hướng dẫn: PGS.TS.Nguyễn Hoàng Định

Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

DANH MỤC SƠ ĐỒ

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về suy tim 4

1.1.1 Định nghĩa 4

1.1.2 Nguyên nhân 4

1.1.3 Triệu chứng 5

1.1.4 Phân độ suy tim theo chức năng (theo Hiệp hội tim mạch New York (NYHA) [3] 7

1.1.5 Điều trị suy tim [5] 7

1.2 Chất lượng cuộc sống 11

1.3 Ảnh hưởng của suy tim đến chất lượng cuộc sống 12

1.4 Thang đo đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim 13

1.5 Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim 14

1.6 Vận dụng học thuyết Điều dưỡng vào nghiên cứu 16

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng và thiết kế nghiên cứu 19

2.1.1 Thiết kế nghiên cứu: 19

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19

2.1.3 Thời gian nghiên cứu: 19

2.1.4 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2 Phương pháp chọn mẫu- Tiêu chuẩn chọn mẫu 19

Trang 3

2.2.3 Phương pháp và thu thập số liệu 20

2.2.4 Xử lý và phân tích số liệu: 22

2.2.5 Kiểm soát sai lệch 22

2.2.6 Liệt kê và định nghĩa các biến số nghiên cứu 22

2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 24

2.2.8 Tính ứng dụng của đề tài trong nghiên cứu 24

2.2.9.Thời gian nghiên cứu và dự trù 24

Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH SUY TIM ĐANG ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ 32

Phụ lục 2: THỎA THUẬN ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 39

Trang 4

WHO: World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

MLHFQ: Minnesota Living with Health Failure Questionnaire (Bộ câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc của người bệnh suy tim Minnesota)

THA: tăng huyết áp

CLCS: chất lượng cuộc sống

NB: người bệnh

Trang 5

Bảng 3.2 Điểm số chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim 27 Bảng 3.3 Mối liên quan giữa một số yếu tố với chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim 28

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lý tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, trong

đó suy tim là kết cục cuối cùng của nhiều bệnh lý tim mạch như: tăng huyết áp,bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh…Vì vậy cùng với sự gia tăngnhanh chóng của các bệnh mạn tính trên thì tần suất mắc bệnh và tỷ lệ tử vong

do suy tim đang ngày càng gia tăng

Theo thống kê của hiệp hội Tim mạch - Đột quỵ Hoa Kỳ cập nhật năm 2017,

số người trưởng thành bị suy tim tăng từ khoảng 5,7 triệu người (năm 2012) lên khoảng 6,5 triệu người (năm 2011-2014) và dự đoán đến năm 2030 sẽtăng 46%, dẫn đến hơn 8 triệu người bị suy tim [11]

2009-Tại Việt Nam, tuy chưa có thống kê chính thức về số lượng người mắc bệnhsuy tim, song theo tần suất mắc bệnh của thế giới, ước tính có khoảng 320.000người đến 1,6 triệu người nước ta bị suy tim [1]

Suy tim làm giảm hoặc mất sức lao động của người bệnh, làm gia tăng tìnhtrạng nhập viện cũng như gia tăng tỷ lệ tử vong Khoảng 50 % người bệnh suytim chết trong vòng 5 năm sau khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên, và 50% –60%người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh suy tim nặng không sống lâu hơn 1 năm[25] Suy tim là nguyên nhân phổ biến nhất của nhập viện ở những người bệnhtrên 65 tuổi, và 54% người bệnh phải nhập viện lại trong vòng 6 tháng sau khixuất viện, do đó tạo ra gánh nặng chi phí cho điều trị và chăm sóc sức khỏe lâudài.[24], [9], [19]

Đối với điều trị trong bệnh suy tim, hai mục tiêu quan trọng nhất cần hướngtới đó là giảm triệu chứng, kéo dài sự sống còn của người bệnh và cải thiện sựthoải mái của người bệnh trong suốt thời gian còn lại của cuộc đời Nếu chỉ kéodài sự sống còn mà không có những lợi ích này có thể được coi là một mục tiêukém quan trọng [26]

Trang 7

Mặc dù ngày nay cùng với sự ra đời của các kỹ thuật hiện đại, các liệu phápđiều trị mới đã cải thiện đáng kể sự sống còn của người bệnh suy tim, nhưng tiênlượng của người bệnh suy tim luôn có xu hướng ngày càng xấu đi, làm ảnhhưởng nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh [4]

Đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh suy tim là đánh giákhách quan về mức độ ảnh hưởng của bệnh đối với cuộc sống của họ và cách màngười bệnh đối phó với nó Đánh giá này rất cần thiết, nó như là một biện pháp

cơ bản và kết quả cần cung cấp trong quá trình điều trị để ghi nhận những tácđộng làm thay đổi ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh, góp phần để đưa ra cáccan thiệp phù hợp trong quản lý lâm sàng và ra các quyết định điều trị [10],[23]Tuy nhiên hiện nay tại Việt nam, số lượng các nghiên cứu về CLCS củangười bệnh suy tim còn rất hạn chế

Tại khoa Nội tim mạch- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương, số người đếnkhám và điều trị bệnh suy tim ngày càng tăng Việc nâng cao chất lượng điều trị

và chăm sóc cho người bệnh được khoa rất chú trọng Đó là lý do chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “ Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim đang điều trị nội trú” với mong muốn tìm hiểu về chất

lượng cuộc sống của người bệnh suy tim và các yếu tố gây khó khăn, là rào cảnảnh hưởng tới CLCS của họ Qua đó có biện pháp can thiệp, hỗ trợ kịp thời, giúpngười bệnh khắc phục và cải thiện CLCS Đồng thời góp phần vào việc nâng caochất lượng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, giúp quá trình điều trị đạt hiệuquả tốt hơn

Trang 8

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát

Đánh giá CLCS của người bệnh suy tim và các yếu tố liên quan đến CLCScủa người bệnh tại Khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương

Trang 9

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về suy tim

1.1.1 Định nghĩa

Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, là hậu quả của bất kỳ rối loạnnào về cấu trúc hoặc chức năng của tim (di truyền hoặc mắc phải) dẫn đến giảmkhả năng đổ đầy hoặc bơm máu của tâm thất [3]

1.1.2 Nguyên nhân

Suy tim là tình trạng bệnh lý hậu quả của rất nhiều bệnh tim mạch và toànthân gây ra Dưới đây là một số nguyên nhân thường gặp.[5]

1.1.2.1 Gây suy tim trái

Tăng huyết áp động mạch: là nguyên nhân thường gặp nhất trong việc gây

ra suy tim trái Chính tăng huyết áp đã làm cho cản trợ sự tống máu của thất tráitức là làm tăng hậu gánh

Một số bệnh van tim: hở hoặc hẹp van động mạch chủ đơn thuần hoặc phốihợp với nhau, hở van hai lá

Các tổn thương cơ tim: nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim do thấp tim, nhiễmđộc hay nhiễm khuẩn, các bệnh cơ tim

Một số rối loạn nhịp tim: như các cơn nhịp nhanh cực phát trên thất,nhịpnhanh thất, bloc nhĩ - thất hoàn toàn

Một số bệnh tim bẩm sinh như hẹp eo động mạch chủ, còn ống động mạch ,ống nhĩ thất chung

1.1.2.2 Gây suy tim phải

Các nguyên nhân về phổi và dị dạng lồng ngực , cột sống: các bệnh phổimạn tính, nhồi máu phổi, tăng áp lực động mạch phổi tiên phát, gù vẹo cột sống

và các dị dạng lồng ngực khác

Các nguyên nhân về tim mạch: hẹp van hai lá là nguyên nhân thường gặpnhất; một số bệnh tim bẩm sinh như hẹp động mạch phổi, tam chứng fallot,

Trang 10

thông liên nhĩ , thông liên thất; viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn gây tổn thươngnặng ở van ba lá.

1.1.2.3 Suy tim toàn bộ

Thường gặp nhất là các trường hợp suy tim trái tiến triển thành suy timtoàn bộ; các bệnh cơ tim giãn; viêm tim toàn bộ do thấp tim, viêm cơ tim; cuốicùng cần phải nhắc đến một số nguyên nhân đặc biệt gây suy tim toàn bộ với lưulượng tim tăng: cường giáp trạng, thiếu vitamin B1, thiếu máu nặng, rò động –tĩnh mạch

1.1.3 Triệu chứng

1.1.3.1 Suy tim trái

 Triệu chứng cơ năng:

Khó thở là triệu chứng thường gặp nhất, khó thở ngày một tăng dần từ khóthở gắng sức đến khó thở thường xuyên, khó thở khi nằm Diễn biến và mức độkhác nhau: có khi từ từ, có khi đột ngột, khó thở dữ dội như trong cơn hen timhay cơn phù phổi cấp

Ho: hay xảy ra vào ban đêm hoặc khi người bệnh gắng sức, thường ho khannhưng đôi khi ho có đờm và lẫn ít máu tươi

Mệt nhọc do giảm cung lượng tim làm giảm tưới máu tổ chức

 Triệu chứng thực thể

Khám tim: nhìn và sờ thấy mỏm tim đập hơi lệch sang trái Nghe tim: nhịptim nhanh ; có thể nghe thấy cơ tiếng ngựa phi; cũng thường thấy có một tiếngthổi tâm thu nhẹ ở mỏm, dấu hiệu của hở hai lá cơ năng vì buồng thất trái bị giãnto

Khám phổi: thường thấy có một số ran ẩm ở hai đáy phổi

Trong đa số các trường hợp, huyết áp tối đa thường giảm xuống, huyết áptối thiểu bình thường nên số huyết áp chênh lệch thường nhỏ lại

 Cận lâm sàng:

Trang 11

X-quang: tim to ra, nhất là các buồng tim bên trái Trên phim thẳng: tâmthất trái giãn, biểu hiện bằng cung dưới bên trái hơi phồng và bị kéo dài ra , cảhai phổi đều mờ nhất là vùng rốn phổi.

Điện tâm đồ: thường chỉ thấy những dấu hiệu thể hiện có tăng gánh của cácbuồng tim trái Trục trái, dày nhĩ trái và thất trái

Siêu âm tim: kích thước các buồng tim trái giãn to, có thể thấy được nguyênnhân suy tim

1.1.3.2 Suy tim phải

 Triệu chứng cơ năng

Khó thở: ít hoặc nhiều, nhưng mức độ khó thở thường xuyên, ngày mộtnặng dần không có cơn kịch phát như trong suy tim trái

Đau tức hạ sườn phải do gan to ứ huyết

 Triệu chứng thực thể

Chủ yếu là những dấu hiệu ứ máu ngoại biên như: gan to, tĩnh mạch cổ nổi,dấu hiệu phản hồi gan – tĩnh mạch cổ dương tính, áp lực tĩnh mạch trung tâm vàngoại biên tăng, phù và đái ít, tím da và niêm mạc

Khám tim có thể thấy tâm thất phải đập ở mũi ức ( dấu hiệu Haztzer), tần

số tim nhanh, tiếng ngựa phi phải, tiếng thổi tâm thu nhẹ trong mỏm hoặc ở mũi

ức do hở van ba lá cơ năng, hít sâu vào nghe rõ hơn

Huyết áp tối đa bình thường nhưng huyết áp tối thiểu thường tăng

 Cận lâm sàng:

X- quang: trên phim tim phổi thẳng: có thể thấy cung dưới phải(thể hiệntâm nhĩ phải) giãn, mỏm tim nâng cao hơn phía trên của vòm hoành trái (do tâmthất phải giãn) , động mạch phổi giãn to, phổi mờ nhiều do ứ máu ở phổi

Điện tâm đồ : trục phải, dày nhĩ phải, dày thất phải

Siêu âm tim: chủ yếu thấy kích thước thất phải giãn to, trong nhiều trườnghợp có thể thấy các dấu hiệu tăng áp lực động mạch phổi

Trang 12

1.1.3.3 Suy tim toàn bộ

Thường là bệnh cảnh của suy tim phải ở mức độ nặng: người bệnh khó thởthường xuyên, phù toàn thân, tĩnh mạch cổ nổi to, áp lực tĩnh mạch tăng rất cao,gan to nhiều Thường có thêm tràn dịch màng phổi, màng tim, hay cổ trướng.Huyết áp tối đa giảm, huyết áp tối thiểu tăng, làm cho huyết áp trở nên bị kẹt.X-Quang: tim to toàn bộ

Điện tâm đồ: có thể có biểu hiện dày của hai thất

1.1.4 Phân độ suy tim theo chức năng (theo Hiệp hội tim mạch New York (NYHA) [3]

Độ I: có bệnh tim nhưng không giới hạn hoạt động thể lực Hoạt động thểlực thông thường không gây mệt, hồi hộp, khó thở hay đau ngực

Độ II: có bệnh tim gây giới hạn nhẹ hoạt động thể lực Thoải mải khi nghỉngơi Hoạt động thể lực thông thường gây mệt, hồi hộp, khó thở hay đau ngực

Độ III: có bệnh tim gây giới hạn đáng kể hoạt động thể lực Thoải mải khinghỉ ngơi Hoạt động thể lực dưới mức thông thường gây mệt, hồi hộp, khó thởhay đau ngực

Độ IV: có bệnh tim gây triệu chứng với bất kỳ hoạt động thể lực nào, thậmchí ngay cả khi đang nghỉ ngơi Triệu chứng nặng hơn khi hoạt động

1.1.5 Điều trị suy tim [5]

1.1.5.1 Nguyên tắc điều trị suy tim:

Giảm gánh nặng làm việc cho tim bằng chế độ nghỉ ngơi

Tăng sức co bóp cơ tim bằng các thuốc trợ tim

Giảm ứ máu ngoại biên bằng chế độ ăn nhạt, dùng thuốc lợi tiểu, dùngthuốc giãn mạch

Giải quyết nguyên nhân: điều trị tăng huyết áp, sửa chữa van tim, thay vantim

1.1.5.2 Những biện pháp điều trị chung:

Trang 13

 Chế độ nghỉ ngơi góp phần làm giảm gánh nặng làm việc cho tim

Nói chung người bệnh phải giảm hoặc bỏ hẳn các hoạt động gắng sức.Trong trường hợp suy tim nặng phải nghỉ ngơi tại giường theo tư thế nửa nằmnửa ngồi

Khi hoàn cảnh cho phép, chúng ta cần khuyến khích người bệnh xoa bóp vàlàm một số động tác lúc đầu là thụ động sau là chủ động ở các chi, nhất là hai chidưới để làm cho máu tĩnh mạch trở về tim dễ dàng hơn, giảm bớt các nguy cơ tắcnghẽn mạch thường hay gặp trong suy tim

 Chế độ ăn nhạt làm giảm hạn chế ứ nước

Chế độ ăn nhạt là cần thiết vì muối ăn (NaCl) làm tăng áp lực thẩm thấutrong máu, do đó làm tăng khối lượng tuần hoàn gây tăng gánh nặng cho tim.Với các trường hợp suy tim nặng, phù nhiều, chỉ được dùng tới 0.5gmuối/ngày

Trong các trường hợp khác cũng dùng rất hạn chế muối; từ 1 – 2gmuối/ngày

 Thuốc lợi tiểu:

Các thuốc lợi tiểu làm tăng đào thải muối và nước, do đó sẽ làm giảm bớttiền gánh Có rất nhiều loại lợi tiểu khác nhau, những trong suy tim người tathường dùng một trong ba loại sau:

 Hypothiazid( Hydrochlorothiazide)

Là thuốc có tác dụng lợi tiểu vừa phải và kéo dài, nên hay được dùng trong cáctrường hợp suy tim mạn tính Thuốc gây đào thải nhiều kali ra nước tiểu, nên khidùng thuốc này cần uống thêm kali clorua

 Lasix (Furosemid)

Là một loại lợi tiểu mạnh, tác dụng nhanh, nên thường được sử dụng trong cáctrường hợp suy tim trái cấp, và trong các thể suy tim không hồi phục đã khánglại các thuốc lợi tiểu khác.Thuốc cũng gây đào thải nhiều kali ra nước tiểu, nên

Trang 14

khi dùng thuốc này cần uống thêm kali clorua đề phòng tránh hạ kali máu

 Aldactone (Spironolactone)

Là loại thuốc lợi tiểu trung bình, có đặc điểm là không gây mất nhiều kali nhưcác loại thuốc lợi tiểu khác Thường dùng loại này khi có phù kéo dài hoặc điềutrị bằng các loại thuốc lợi tiểu khác không có kết quả

Hiện nay người ta còn hay dùng một số loại thuốc phối hợp nhóm Thiazid vớiSpironolactone(Aldactazine) hoặc với một loại lợi tiểu giữ kali (Moduretic),tương đối dễ sử dụng và có kết quả tốt

 Thuốc trợ tim: người ta thường dùng các glucozid trợ tim thuộc nhómDigitalis và Strophantus

 Các loại thuốc trợ tim thuộc nhóm Digitalis có những đặc tính sau: làmtăng co bóp của cơ tim, làm chậm nhịp tim, làm giảm dẫn truyền xungđộng ở tim và làm tăng kích thích của cơ tim

 Trong trường hợp suy tim cấp tính, người ta dùng một số loại thuốc trợ tim

có tác dụng nhanh, tiêm tĩnh mạch như: Uabamin (Ouabaine) hoặc thườnghơn cả là lanatosid C mà biệt dược thường dùng là Isolanid, Cedilanide…

 Trong trường hợp suy tim mạn tính:người ta thường dùng một trong hailoại thuốc trợ tim sau:

+ Loại tác dụng chậm nhưng kéo dài, đào thải cũng chậm: Digitoxin hayDigitalin (Acetyl – Digitoxine)

+ Loại tác dụng và thải trừ đều tương đối nhanh: thường người ta thích dùngloại Digoxin hơn vì thuốc đào thải tương đối nhanh nên đỡ gây nhiễm độc màvẫn đạt hiệu quả điều trị

 Thuốc giãn mạch: làm giảm trương lực tĩnh mạch hay tiểu động mạch, do

đó làm giảm tiền gánh, bớt ứ đọn máu trong tâm thất hay giảm hậu gánh

để cải thiện hoạt động của tim, tăng thể tích tâm thu, giúp cho tim bị suyyếu lại hoạt động được trong các điều kiện thuận lợi hơn

Trang 15

 Nói chung không được sử dụng thuốc giãn mạch, khi huyết áp tối đadưới 90 mmHg

Người ta thường chia ra làm 3 loại thuốc giãn mạch:

- Giãn tĩnh mạch làm giảm tiền gánh: lenitral (trinitrin), risordan( IsosorbideDinitrate)

- Giãn động mạch làm giảm hậu gánh: nepressol( Dihydralazin): làm giãn cơtrơn thành động mạch, đặc biệt là các tiểu động mạch

 Các thuốc ức chế calci: làm cho tế bào thiếu hẳn calci cần thiết cho sự quátrình co cơ, do đó sẽ làm giãn cơ trơn thành động mạch

 Tuyệt đối không dùng Isoptin (Verapamil) trong trường hợp suy tim, vìthuốc làm giảm nhiều sức co bóp của cơ tim, nên rất nguy hiểm

 Các amin giống giao cảm: thường dùng dopamin hay tốt hơn cả làdobutamine (dobutrex)

Dobutamin làm tăng sức co bóp của cơ tim, làm tăng cung lượng tim, nên cũnghay được dùng trong các trường hợp sốc nguyên nhân do tim hay các trường hợpsuy tim lâu ngày đã trơ với các thuốc khác

Trang 16

 Thuốc chống đông: điều trị dự phòng trong các trường hợp suy tim, tim to,nhất là các trường hợp có thêm loạn nhịp hoàn toàn do rung nhĩ Bên cạnh

sử dụng heparin trong các trường hợp tắc mạch cấp, người ta thường dùngcác loại thuốc chống đông thuộc nhóm kháng vitamin K

 Điều trị tùy theo nguyên nhân gây bệnh

1.2 Chất lượng cuộc sống

Khái niệm về “chất lượng cuộc sống” được sử dụng khá rộng rãi trong lĩnhvực chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩathống nhất chung được đưa ra

Tác giả Guyatt đã sử dụng thuật ngữ "chất lượng cuộc sống liên quan" vìnhiều khía cạnh được đánh giá rộng rãi của cuộc sống thường không được coi là

"liên quan đến sức khỏe" bao gồm thu nhập, tự do và chất lượng môi trường CLCS được xem trong một nghĩa rộng là tất cả các yếu tố liên quan trựctiếp và gián tiếp tới tình trạng sức khỏe Nó là một sự phản ánh của tinh thần vàthể chất của một người trong cuộc sống hàng ngày của họ [15]

Theo Rumsfiel thuật ngữ liên quan đến “chất lượng cuộc sống” là tình trạngsức khỏe, có nghĩa là tác động ảnh hưởng của bệnh tật đối với các chức năng củangười bệnh theo báo cáo của người bệnh [23]

Mặc dù chưa có định nghĩa chung nhất về CLCS, nhưng nhóm nghiên cứuchất lượng cuộc sống của Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã xác định: “chất lượngcuộc sống là nhận thức của cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bốicảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ sống và liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng,tiêu chuẩn và các mối quan tâm.” [27]

Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim được đánh giá khác nhau

dựa trên quan điểm chủ quan của người bệnh Nhưng nhìn chung được đánh giá

là khả năng có thể tự chăm sóc bản thân, thực hiện các hoạt động thể lực, giảmcác triệu chứng khó thở, mệt nhọc, được tham gia vào các mối quan hệ gia đình,

Trang 17

xã hội, tâm lý thoải mái [16]

1.3 Ảnh hưởng của suy tim đến chất lượng cuộc sống

Suy tim độ I, độ II có thể chưa ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của ngườibệnh, hầu như họ vẫn có thể sinh hoạt bình thường và các triệu chứng ít xuấthiện Nhưng khi suy tim chuyển sang độ III, IV với các triệu chứng khó thở, mệt,phù… làm ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động thể lực và cuộc sống của ngườibệnh Với những biến cố đột ngột, suy tim là nguyên nhân hàng đầu của tất cảcác lần nhập viện và điều trị ở người cao tuổi, chiếm tỷ trọng lớn trong chi phíchăm sóc sức khỏe của các quốc gia [3]

Ngày nay cùng với sự tiến bộ trong các can thiệp y học và chăm sóc đã cảithiện đáng kể các triệu chứng cũng như kéo dài tuổi thọ cho người bệnh, nhưnggánh nặng về kinh tế và sự tác động nhiều khía cạnh của bệnh vẫn làm cho ngườibệnh bị ảnh hưởng rất nhiều, đặc biệt là về mặt tâm lý

Theo một đánh giá tổng quan qua 30 nghiên cứu, tác giả Jeon cùng cộng sự

đã đưa ra 3 ảnh hưởng nghiêm trọng mà bệnh suy tim tác động lên chất lượngcuộc sống của người bệnh đó là: sự cô lập về mặt xã hội, cảm giác sợ hãi và sựmất kiểm soát.[18]

Sự cô lập về mặt xã hội được ghi nhận trong 20 nghiên cứu: do thườngxuyên bị khó thở, mệt mỏi nên người bệnh không muốn ra ngoài, hoặc đôi khi dotác dụng phụ của thuốc (ví dụ thuốc lợi tiểu: khiến người bệnh đi tiểu thườngxuyên) nên người bệnh không dám đi chơi xa, cùng với chế độ ăn kiêng làm chongười bệnh hạn chế khả năng tham gia các sự kiện xã hội Những điều này làmcho người bệnh cảm thấy bị cô lập và cảm thấy bị xã hội, bạn bè, gia đình bỏ rơi.Cảm giác sống trong sợ hãi được báo cáo trong 16 nghiên cứu: Một số bệnhnhân lo lắng và sợ bị chết trong khi ngủ nên thức trắng đêm Khi mới được chẩnđoán bệnh tim, nhiều bệnh nhân sợ sẽ không tiếp tục làm việc được, nhưng khibệnh tiến triển nặng hơn nhất là trong những đợt khó thở bệnh nhân lại sợ chết

Trang 18

Cảm giác mất kiểm soát: Những hạn chế trong sinh hoạt do phải tuân thủđiều trị cũng tạo nên cảm giác bất lực, cảm giác này còn liên quan với sự xấu đikhông dự báo trước được của tình trạng sức khỏe

Tóm lại suy tim ảnh hưởng nghiêm trọng đến CLCS của người bệnh cả vềthể chất lẫn tinh thần, so với các bệnh mãn tính khác thì bệnh nhân suy tim cóchất lượng cuộc sống thấp hơn [22]

1.4 Thang đo đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim

Có nhiều thang đo được sử dụng trong đánh giá CLCS của người bệnh suytim mạn tính Chia làm 2 nhóm: nhóm thang đo CLCS dành cho bệnh mạn tínhnói chung và nhóm thang đo dành riêng cho bệnh suy tim mạn

Trong các thang đo CLCS dùng cho bệnh mạn tính nói chung, SF-36 form health survey -36 questions) được sử dụng phổ biến nhất

(short-SF-36: Là thang đo tổng quát được sử dụng nhiều nhất, có từ năm 1988 vàdùng rộng rãi hơn 60 quốc gia, gồm 36 câu thuộc 8 lĩnh vực sức khoẻ, chia thành

2 nhóm thể chất và tinh thần Tuy nhiên thang đo có nhược điểm là khó áp dụngtrên bệnh nhân lớn tuổi và kém nhạy với những biến đổi lâm sàng quan trọng ởbệnh nhân suy tim

Đối với nhóm thang đo CLCS dành riêng cho bệnh suy tim: được sử dụngphổ biến là các thang đo: MLHFQ (Minnesota Living with Heart FailureQuestionnaire), KCCQ (Kansas City Cardiomyopathy Questionnaire), CHQ(Chronic Heart Failure Questionnaire)

CHQ là một bảng câu hỏi có 20 mục tập trung vào 3 vấn đề: khó thở, mệt

và chức năng cảm xúc Thang đo này chưa được nghiên cứu nhiều trên bệnhnhân suy tim Ngoài ra, thang đo CHQ còn có nhược điểm là khá phức tạp, phảithực hiện bởi một người phỏng vấn đã được huấn luyện kỹ

KCCQ (Kansas City Cardiomyopathy Questionnaire) là một bảng 15 câuhỏi gồm 23 mục, cho phép định lượng những lĩnh vực sau đây của bệnh nhân suy

Trang 19

tim: các hạn chế về mặt thể lực, các triệu chứng, độ nặng và sự thay đổi theo thờigian, khả năng đạt mục tiêu và hiểu biết, sự tương tác xã hội và chất lượng sống.Thiết kế cho bệnh nhân suy tim mạn tự điền, có giá trị tiên báo bệnh suất và tửsuất, phân tầng nguy cơ của bệnh nhân suy tim ngoạitrú.

MLHF đã được dịch ra gần 30 ngôn ngữ, gồm 21 câu hỏi liên hệ với cáctriệu chứng điển hình của suy tim (khó thở, khó ngủ, mệt mỏi, phù chân), hoạtđộng thể chất, tương tác xã hội, hoạt động tình dục, công việc và cảm xúc (lo âu,trầm cảm) trong vòng 1 tháng qua MLHF có độ hằng định và tin cậy cao, ngoài

ra ưu điểm của thang đo này là ngắn gọn, dễ hiểu, dễ sử dụng, và hiện tại đâyvẫn là thang được sử dụng phổ biến nhất trên đối tượng suy tim [13], [7], [12]

Đó cũng là lý do chúng tôi chọn thang đo MLHF để đánh giá CLCS củangười bệnh suy tim mạn tính trong nghiên cứu này

1.5 Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim

 Nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu về CLCS của người bệnh suy tim ở nước ngoài rất phổ biến,phong phú và đa dạng

Nghiên cứu của Gott M (2006) trên 542 người trong độ tuổi > 60 tuổi bịsuy tim được đưa vào nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng CLCS củangười cao tuổi bị suy tim được mô tả là thấp, đặc biệt đối với phụ nữ, nhữngngười có phân loại mức độ suy tim cao, NB có trầm cảm, tình trạng kinh tế thấp.[14]

Theo nghiên cứu của Iqbal J và cộng sự (2010) nghiên cứu trên 179 ngườibệnh suy tim đưa ra kết luận là: suy tim nặng, tình trạng kinh tế xã hội kém vàthiếu hỗ trợ xã hội là các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh suy tim[17]

Trang 20

Theo nghiên cứu của Nesbitt T và cộng sự (2014) cho thấy: giảm CLCS ởngười bệnh suy tim có liên quan đến những người: trẻ hơn, giới tính nam, mức

độ suy tim cao, thiếu kiến thức về suy tim, kiểm soát nhận thức thấp hơn hoặc cócác triệu chứng trầm cảm hoặc lo lắng [21]

Theo nghiên cứu của Musekamp G.(2017) trên 342 bệnh nhân bị suy timmạn tính, được điều trị tại các phòng khám phục hồi nội trú, người đã nhận đượcmột chương trình giáo dục tự quản lý suy tim Kết quả cho thấy những ngườiđược cải thiện trong quản lý tự chăm sóc theo thời gian cũng được cải thiện vềchất lượng cuộc sống [20]

 Nghiên cứu tại Việt Nam

Các công trình nghiên cứu trong nước về chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suytim hiện nay vẫn còn rất hạn chế

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Minh (2014) trên 285 bệnh nhânsuy tim sau xuất viện 4 tuần điều trị ngoại trú tại phòng khám bệnh viện NhânDân Gia Định Kết quả: CLCS giảm ở tất cả các lĩnh vực sức khoẻ thể chất vàtâm thần, đặc biệt là sức khoẻ thể chất Tuổi liên quan đến giảm sức khoẻ thểchất Phụ nữ có chất lượng cuộc sống kém hơn nam giới Bệnh nhân có trình độhọc vấn cao có chất lượng cuộc sống tốt hơn Phân độ NYHA càng cao có chấtlượng cuộc sống thấp hơn [4]

Nghiên cứu của Hồ Huỳnh Quang Trí (2013) về ảnh hưởng của ivabradinetrên chất lượng sống được khảo sát trong một nhánh nghiên cứu có 1944 bệnhnhân tham gia (968 người dùng ivabradine, 976 người dùng placebo) Kết quảcho thấy điểm chất lượng cuộc sống càng thấp thì tiên lượng bệnh càng xấu.Điều trị bằng ivabradine giúp cải thiện có ý nghĩa chất lượng sống của bệnhnhân Các tác giả cũng ghi nhận có một mối tương quan chặt chẽ giữa mức giảmtần số tim sau 12 tháng với mức tăng chất lượng cuộc sống của người bệnh sau

12 tháng.[8]

Trang 21

Nghiên cứu của Hà Thị Phương Dung (2016) về “ Đánh giá hiệu quảphương pháp tư vấn tự chăm sóc cho người bệnh suy tim mạn tính tại khoa Nộitim mạch- Bệnh viện TWQĐ 108” đã đưa đánh giá CLCS là một trong nhữngtiêu chí đánh giá hiệu quả của phương pháp

Kết quả: tổng điểm chất lượng cuộc sống ở nhóm được tư vấn là 35,7 điểmthấp hơn có ý nghĩa ở nhóm không tư vấn 79,8 điểm (theo thang điểm MLHF:điểm số càng cao tương ứng với chất lượng cuộc sống càng thấp)[2]

1.6 Vận dụng học thuyết Điều dưỡng vào nghiên cứu

1.6.1 Mô hình học thuyết về nâng cao hành vi sức khỏe của Pender.

- Mô hình nâng cao hành vi sức khỏe là một học thuyết được phát triển bởi Nola

J Pender Tiến sĩ Nola J Pender, RN, FAAN là giáo sư điều dưỡng tại Đại họcMichigan Năm 1982, lý thuyết này lần đầu tiên được đề xuất và sau đó được sửađổi vào năm 1996 Học thuyết này thường được gọi là Mô hình nâng cao hành visức khỏe của Pender

Mô hình của Pender tập trung vào ba lĩnh vực: đặc điểm và kinh nghiệm cá nhân,nhận thức hành vi cụ thể và ảnh hưởng, kết quả hành vi

Đặc điểm và kinh nghiệm cá nhân: bao gồm hành vi và yếu tố cá nhân liênquan trước đây Các yếu tố này tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới tình trạngsức khỏe của người bệnh

Nhận thức về hành vi cụ thể và ảnh hưởng: nhận thức lợi ích của hànhđộng, nhận thức những rào cản đối với hành động, nhận thức khả năng của bảnthân, ảnh hưởng liên quan đến hoạt động, ảnh hưởng giữa các cá nhân và ảnhhưởng tình huống Nhận thức được các yếu tố trên tạo động lực quan trọng giúpngười bệnh thay đổi hành vi để đạt được trạng thái sức khỏe mong muốn

Kết quả hành vi: chủ động phòng tránh bệnh tật, phát hiện sớm hoặc duy trìchức năng trong các hạn chế của bệnh tật

Trang 22

1.6.2 Áp dụng mô hình học thuyết Pender vào nghiên cứu

Suy tim là bệnh mãn tính, điều trị kéo dài suốt cuộc đời, vì vậy vai trò củangười bệnh trong quá trình điều trị, chăm sóc rất là quan trọng Sự tuân thủ điềutrị về thuốc, thay đổi lối sống, nâng cao khả năng tự chăm sóc của người bệnh sẽgiúp họ làm giảm các triệu chứng, phòng diễn biến bệnh nặng hơn và đặc biệt làcải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh

Mô hình học thuyết của Pender giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đếnsức khỏe của người bệnh Vì vậy, bằng cách sử dụng mô hình và hợp tác vớingười bệnh có thể giúp họ thay đổi hành vi sức khỏe chưa tốt để đạt được mộtcuộc sống thoải mái hơn, hạnh phúc hơn cùng với tình trạng sức khỏe của mình

Hành vi có liên quan:

- Quên uống thuốc

Nhận thức lợi ích thay đổi hành vi:

Giảm triệu chứng khó thở, mệt,Phòng các biến chứng nặng

Ngày đăng: 15/03/2023, 18:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Ngọc Anh (2016), "Kiến thức và thực hành về tự chăm sóc ở nhà của người bệnh suy tim mạn tại Viện tim mạch Việt Nam năm 2016", Hội nghị tim mạch toàn quốc năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức và thực hành về tự chăm sóc ở nhà của người bệnh suy tim mạn tại Viện tim mạch Việt Nam năm 2016
Tác giả: Trần Thị Ngọc Anh
Nhà XB: Hội nghị tim mạch toàn quốc năm 2016
Năm: 2016
17. Iqbal J., Francis L., Reid J., et al. (2010), "Quality of life in patients with chronic heart failure and their carers: a 3-year follow-up study assessinghospitalization and mortality", Eur J Heart Fail, 12 (9), pp. 1002-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life in patients with chronic heart failure and their carers: a 3-year follow-up study assessinghospitalization and mortality
Tác giả: Iqbal J., Francis L., Reid J., et al
Nhà XB: Eur J Heart Fail
Năm: 2010
18. Jeon Y. H., Kraus S. G., Jowsey T., et al. (2010), "The experience of living with chronic heart failure: a narrative review of qualitative studies", BMC Health Serv Res, 10, pp. 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The experience of living with chronic heart failure: a narrative review of qualitative studies
Tác giả: Jeon Y. H., Kraus S. G., Jowsey T
Nhà XB: BMC Health Serv Res
Năm: 2010
27. WHOQOL Group (1993), "Study protocol for the World Health Organization project to develop a Quality of Life assessment instrument (WHOQOL)", Qual Life Res, 2 (2), pp. 153-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Study protocol for the World Health Organization project to develop a Quality of Life assessment instrument (WHOQOL)
Tác giả: WHOQOL Group
Nhà XB: Qual Life Res
Năm: 1993
16. Heo S., Lennie T. A., Okoli C., et al. (2009), "Quality of Life in Patients With Heart Failure: Ask the Patients", Heart & lung : the journal of critical care, 38 (2), pp. 100-108 Khác
19. Jovicic A., Chignell M., Wu R., et al. (2009), "Is Web-only self-care education sufficient for heart failure patients?", AMIA Annu Symp Proc, 2009, pp. 296-300 Khác
21. Nesbitt T., Doctorvaladan S., Southard J. A., et al. (2014), "Correlates of Quality of Life in Rural Heart Failure Patients", Circulation. Heart failure, 7 (6), pp. 882-887 Khác
22. Riedinger M. S., Dracup K. A., Brecht M. L. (2002), "Quality of life in women with heart failure, normative groups, and patients with other chronic conditions", Am J Crit Care, 11 (3), pp. 211-9 Khác
23. Rumsfeld J. S. (2002), "Health Status and Clinical Practice", Circulation, 106 (1), pp. 5 Khác
24. Stromberg A. (2005), "The crucial role of patient education in heart failure", Eur J Heart Fail, 7 (3), pp. 363-9 Khác
25. Stromberg A., Martensson J., Fridlund B., et al. (2003), "Nurse-led heart failure clinics improve survival and self-care behaviour in patients with heart failure: results from a prospective, randomised trial", Eur Heart J, 24 (11), pp.1014-23 Khác
26. Wenger N. K. (1989), "Quality of life: can it and should it be assessed in patients with heart failure?", Cardiology, 76 (5), pp. 391-8 Khác
1. 18 – 40 tuổi 2. 41 – 60 tuổi 3. > 60 tuổiA 2 Giới tính của ông/bà? 1. Nam 2. Nữ A3 Nghề nghiệp củaông/bà Khác
5. Già/hưu trí 6. Nghề tự do A4 Trình độ học vấn caonhất của ông/bà là Khác
5. Trung cấp trở lên( cao đẳng, đại học, sau đại học)A5 Tình trạng hôn nhân của ông/bà Khác
1. Độc thân 2. Kết hôn 3. Ly dị 4. Góa vợ (chồng) A6 Ông / bà sống với ai? 1. Sống một mình Khác
2. Sống với gia đình A7 Kinh tế hiện tại của giađình ông/bà là Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w