Chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương vào ngày 26031999. Ngày 02012016 do nhận thấy chị Hảo nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương để yêu cầu được ly hôn với anh Nguyệt yêu cầu được nuôi 02 con chung, yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 07, diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được 02 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hai người sống ly thân từ năm 2014. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04012001) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13062007). Cháu Nhi có đơn đề nghị được ở với mẹ; cháu Đức Anh ban đầu đề nghị ở cùng mẹ, sau đề nghị sống cùng bố. Từ khi cha mẹ ly thân cháu Nhi ở cùng chị Hảo, cháu Đức Anh sống cùng anh Nguyệt. Về tài sản: Liên quan tới tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với diện tích đất tại thôn Thượng Trệt I, xã Thượng Đạt, số thửa 496 tờ bản đồ số 01 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả hai vợ chồng từ năm 2005. Trên đất có các tài sản là nhà lợp ngói, công trình phụ, tường bao, bể nước, giếng đảo. (i) Chị Hảo xác định tài sản trên đất và diện tích đất trên là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng. (ii) Anh Nguyệt đồng ý tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng, còn quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên không phải là tài sản chung của vợ chồng mà là của bố mẹ anh em anh, không phải là của chung giữa anh và chị Hảo, vì chị không có công sức tôn tạo, bồi đắp thửa đất mặc dù chị Hảo sống từ năm 1999 đến năm 2014 khi chị Hảo bỏ đi . Về nghĩa vụ chung là khoản nợ chung: khoảng năm chị Hảo và anh Nguyệt đã thế chấp “tài sản chung” của vợ chồng là quyền sử dụng đất nêu trên để vay 30.000.000 đồng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) – chi nhánh Nam Sách. Hiện nay anh Nguyệt đã trả được 10.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại là 20.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BẢN THU HOẠCH
KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA
GIẢI QUYẾT CÁC VỤ, VIỆC DÂN SỰ
Chuẩn bị bản luận cứ cho nguyên đơn theo Hồ sơ vụ án LS.DS07/DA1 tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hảo và bị đơn anh Nguyễn Văn Nguyệt
Hà Nội, ngày 08 tháng 02 năm 2023
Họ và tên :
Ngày sinh :
Lớp Luật sư :
Số báo danh :
Trang 2MỤC LỤC
I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP VÀ YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ LÀ
NGUYÊN ĐƠN – CHỊ NGUYỄN THỊ HẢO 1
1 Nội dung tranh chấp qua tổng hợp và lời trình bày của các bên 1
2 Yêu cầu của đương sự là chị Nguyễn Thị Hảo 2
3 Các chứng cứ chứng minh 2
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT SƯ CỦA NGUYÊN ĐƠN 3
1 Đối với nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Hảo 3
2 Câu hỏi chuẩn bị hỏi bị đơn – anh Nguyễn Văn Nguyệt 4
3 Câu hỏi để hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Thoa 4
4 Hỏi người làm chứng 4
IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN 5
V NHẬN XÉT TẠI BUỔI DIỄN ĂN 11
Trang 3b Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Tranh chấp về ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thuộc thẩmquyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (Căn cứ theo cácquy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ Luật TTDS 2015)
c Nội dung tranh chấp:
Chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kýkết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương vào ngày26/03/1999 Ngày 02/01/2016 do nhận thấy chị Hảo nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dânthành phố Hải Dương để yêu cầu được ly hôn với anh Nguyệt yêu cầu được nuôi 02 con chung,yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 07, diện tích 216 m2 đất tại
xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương
- Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được 02 năm thì vợchồng phát sinh mâu thuẫn, hai người sống ly thân từ năm 2014
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2001)
và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/06/2007) Cháu Nhi có đơn đề nghị được ở với mẹ;cháu Đức Anh ban đầu đề nghị ở cùng mẹ, sau đề nghị sống cùng bố Từ khi cha mẹ ly thân cháuNhi ở cùng chị Hảo, cháu Đức Anh sống cùng anh Nguyệt
- Về tài sản: Liên quan tới tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với diện tích
Trang 4đất tại thôn Thượng Trệt I, xã Thượng Đạt, số thửa 496 tờ bản đồ số 01 đã được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất đứng tên cả hai vợ chồng từ năm 2005 Trên đất có các tài sản là nhà lợpngói, công trình phụ, tường bao, bể nước, giếng đảo
(i) Chị Hảo xác định tài sản trên đất và diện tích đất trên là tài sản chung trong thời kỳ hônnhân của vợ chồng
(ii) Anh Nguyệt đồng ý tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng, còn quyền sử dụngđất đối với diện tích đất trên không phải là tài sản chung của vợ chồng mà là của bố mẹ anh emanh, không phải là của chung giữa anh và chị Hảo, vì chị không có công sức tôn tạo, bồi đắpthửa đất mặc dù chị Hảo sống từ năm 1999 đến năm 2014 khi chị Hảo bỏ đi1
- Về nghĩa vụ chung là khoản nợ chung: khoảng năm chị Hảo và anh Nguyệt đã thế chấp
“tài sản chung” của vợ chồng là quyền sử dụng đất nêu trên để vay 30.000.000 đồng tại Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) – chi nhánh Nam Sách Hiện nay anhNguyệt đã trả được 10.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại là 20.000.000 đồng và số tiền lãi phátsinh cho đến khi tất toán hợp đồng
2 Yêu cầu của đương sự là chị Nguyễn Thị Hảo
- Về quan hệ hôn nhân Hảo trình bày: Sau 02 năm kết hôn vợ chồng thường xuyên phátsinh mâu thuẫn, anh Nguyệt đi chơi về thường xuyên chửi bới, đánh đập vợ con, chính vì vậyanh chị đã sống ly thân được một thời gian từ ngày 14/12/2014 đến nay Nay nhận thấy mâuthuẫn không thể hòa giải, cuộc sống vợ chồng không thể hòa hợp nên yêu cầu được Tòa án nhândân thành phố Hải Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyệt
- Về con chung: Chị Hảo đề nghị được nuôi cả hai cháu không cần anh Nguyệt cấp dưỡng;trong khi anh Nguyệt không đồng ý (trong khi anh Nguyệt đề nghị giao cháu Đức Anh cho anhtrực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai)
- Về tài sản chung: Đối với phần tài sản trên đất chị không có có yêu chia và chỉ yêu cầuđược chia một nửa diện tích đất trên và xin được lấy phần không có tài sản Đồng thời khôngđồng ý với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyệt
3 Các chứng cứ chứng minh
Các chứng cứ ban đầu chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợppháp gồm:
- Bản sao sổ hộ khẩu gia đình số 270056469 – xác minh tư cách cá nhân của chị Hảo
1 Đồng thời yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Nguyệt và chị Hảo vì cho rằng đây là tài sản của cha mẹ anh em anh Nguyệt và cấp lại cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang.
Trang 5- Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn số 09, Quyển số: 01/1999 do UBND xã Thượng Đặt,Huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 26/03/1999 – Hôn nhân giữa anh Nguyệt và chị Hảo
là tự nguyện và đúng pháp luật
- Bản sao Giấy khai sinh của cháu Nhi số 73 quyền số 2014 và cháu Nguyễn Đức Anh số
38 quyền số 2007 – chứng minh về con chung
- Đơn đề nghị của cháu Nhi ngày 20//01/2016 – chứng minh mong muốn được ở với mẹcủa cháu
- Đơn đề nghị của cháu Đức Anh về mong muốn ở cùng mẹ ngày 22/01/2016
- Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 đứng tên anhNguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo – chứng minh tài sản chung
- Hồ sơ vay vốn – Thể hiện anh chị đồng ý với việc quyền sử dụng đất đối với thửa đất số
496 là tài sản chung của vợ chồng được sử dụng dựa trên sự đồng ý của vợ chồng
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT SƯ CỦA NGUYÊN ĐƠN
Với mục đích làm sáng tỏ sự việc, đồng thời chứng minh yêu cầu của nguyên đơn – chịNguyễn Thị Hảo là có căn cứ và hợp pháp
1 Đối với nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Hảo
1/ Chị Hảo cho biết, tại sao chị lại quyết định ly hôn?
2/ Hiện tại chị đang làm công việc gì? Ở đâu? Mức thu nhập bình quân là bao nhiêu? Cóđiều gì thể hiện việc này hay không? (hỏi nếu thân chủ là người có công việc và mức thu nhập ổnđịnh)
3/ Anh Nguyệt cỏ giúp chị chăm sóc, nuôi dạy con cái không?
4/ Anh Nguyệt có khi nào đánh đập con cái hay không?
5/ Anh Nguyệt có đánh chị hay không? Mức độ như nào? Có ai chứng kiến hay không?Gia đình hai bên có biết hay không?
6/ Kể từ khi ly thân, chị sống ở đâu? Cùng với ai? Chị có thường thăm gặp cháu Đức Anhkhông?
7/ Theo lời khai của chị Hảo và cháu Đức Anh thì anh không cho cháu Đức Anh gặp mẹ,điều này có đúng sự thật hay không?
8/ Chị Hảo cho biết, tại thời điểm sau khi anh chị kết hôn thì anh chị ở tại đâu?
Trang 69/ Vợ chồng anh bà bắt đầu sinh sống tại thửa đất 496 tờ bản đồ số 01 vào thời gian nào?
10 Chị hãy cho biết ai là người đăng ký kê khai để được cấp quyền sử dụng đất đối vớithửa đất 496 tờ bản đồ số 012? Lúc kê khai, chị có cùng anh Nguyệt thực hiện thủ tục giấy tờhay không?
11/ Ai là người đóng tiền thuế sử dụng đất hàng năm đối với thửa đất trên
12/ Anh Nguyệt cho rằng UBND thành phố Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất cho cả hai anh chị sai, vậy từ thời điểm nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtđến nay anh Nguyệt có từng khiếu nại hay yêu cầu cấp lại hay không?
13/ Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên của hai anh chị, gia đìnhanh Nguyệt có biết không? Có ai phản đối về việc này không?
14/ Trong quá trình ở trên diện tích đất, anh chị đã tôn tạo và xây dựng những gì? Có ai ýkiến gì không?
2 Câu hỏi chuẩn bị hỏi bị đơn – anh Nguyễn Văn Nguyệt
1/ Hiện anh và chị Hảo đang sống ly thân đúng hay không?
2/ Tại sao anh chị lại sống ly thân? Hai người đã sống ly thân được bao lâu rồi?
3/ Trong thời gian sống ly thân, cháu Đức Anh ở với anh đúng hay không?
4/ Vì sao anh thường không cho chị Hảo gặp cháu Đức Anh?
5/ Anh Nguyệt cho biết, anh có thường xuyên chơi bời, uống rượu hay không?
6/ Anh chị có thường cãi vã dẫn đến xô sát hay không?
7/ Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên của hai anh chị, gia đình anh
có biết không? Có ai phản đối về việc này không?
3 Câu hỏi để hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Thoa
1/ Bà có biết thời điểm đo đạc, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anhNguyệt chị Hảo không?
2/ Bà cho biết vào thời điểm anh Nguyệt chị Hảo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất gia đình bà có biết việc này không?
3/ Từ lúc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được cấp GCNQSDĐ đến trước khi ly thân, bà
có ý kiến gì không?
4/ Tại sao tới nay bà mới phản đối?
5/Việc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo xây nhà trên thửa đất số 496 bà có ý kiến gì không?
Trang 76/Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đối với thửa đất này không?
4 Hỏi người làm chứng
- Hỏi ông Bích – Công chức địa chính xã Thượng Đạt
1/ Sau khi vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được cấp GCNQSDĐ, UBND xã có nhận dượcbất kỳ ý kiến, thư khiếu nại nào không?
2/ Ông cho biết, có tranh chấp nào đối với thửa đất số 496 không?
- Hỏi ông Tư – Cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt
1/ Ông cho biết, việc anh Nguyệt đánh và không cho cháu Đức Anh gặp chị Hảo có đượcnhiều người biết không?
Trang 8IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN LUẬN CỨ
- Vị đại diện Viện kiểm sát
- Toàn thể quý vị đang có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay
Tôi là Luật sư Nguyễn T Hoài thuộc Văn phòng luật sư …… , Đoàn Luật sư thành phố
…… Hôm nay, tôi được mời tới tham gia phiên tòa hôm nay với tư cách người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hảo trong vụ án “tranh chấp về ly hôn, nuôicon, chia tài sản” với bị đơn là anh Nguyễn Văn Nguyệt
Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án và qua phần xét hỏi công khai tại tòa hôm nay, tôi xinđưa quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho nguyên đơn là chị NguyễnThị Hảo như sau:
I CÁC VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG
Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã đảm bảo đúng các quy định của pháp luật tốtụng dân sự Trong quá trình giả quyết vụ án cho đến thời điểm diễn ra phiên tòa ngày hôm nay,không phát sinh các tình tiết tố tụng làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án
II CÁC VẤN ĐỀ VỀ NỘI DUNG VỤ ÁN
1 Về yêu cầu ly hôn
Chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau trên
cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26/03/1999 Tuy nhiên, chỉ sau 02năm, đời sống hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hảo đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn
Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hảo là hoàn toàn có căn cứ theo quy
định của pháp luật cụ thể là các quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014.
Qua các bằng chúng, lời khai của các đương sự cho thấy tình trạng của vợ chồng trầm trọng, đờisống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nguyên nhân là do tínhtình không hợp anh Nguyệt không lo làm ăn, hay đi chơi về rồi lại hay chửi bới, đánh đập vợcon Điều này được thể hiện qua các lời khai của chị Hảo, của cán bộ tư pháp xã Thượng Đạttrong biên bản xác minh ngày 09/03/2016
Trang 9Chính vì vậy mà anh Nguyệt và chị Hảo đã sống ly thân từ ngày 14/12/2014 cho đến nay.Việc anh Nguyệt và chị Hảo sống ly thân đã được cả anh Nguyệt, chị Hảo cũng như nhữngngười có liên quan thừa nhận trong các bản tự khai, biên bản lấy lời khai.
Mục đích hôn nhân không đạt được Theo các lời khai của anh, em anh Nguyệt thì chị Hảo
là người phụ nữ ngoan hiền, chịu thương, chịu khó, chăm chỉ làm ăn, vun vén hạnh phúc giađình Tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân không thể hạnh phúc nếu chỉ một chỉ một người vun vén.Hơn nữa, việc anh Nguyệt chơi bởi, không lo làm ăn, đánh đập, chửi bởi vợ con làm cho bả Hảokhông thể sống chung với anh Nguyệt nữa do đó mà dẫn đến việc ly thân
Từ những căn cứ trên có thể thấy cuộc sống hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hảo đã lâm vàotình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhânkhông đạt được Do vậy, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hônnhân gia đình 2014 (Luật HNGĐ 2014) và các chứng cứ tại hồ sơ cũng như tại phiên tòa hômnay, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyệt và chị Hảo
2 Về yêu cầu nuôi con của chị Hảo
Chị Hảo và anh Nguyệt có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi và cháu Nguyễn ĐứcAnh Khi ly hôn chị Hảo yêu cầu được nuôi cả hai con mà không yêu cầu anh Nguyệt thực hiệncấp dưỡng nuôi con Hiện cả cháu Nhi và cháu Đức Anh đều trên 07 tuổi Do đó căn cứ theokhoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xemxét được nguyện vọng của các con
2.1 Về việc nuôi dưỡng cháu Nhi
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyệt và chị Hảo đã đạt được thỏa thuận về việc chị Hảo
sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhi, thể hiện tại các biên bản hòa giải Đồng thời, cháu Nhi cũng có
đề nghị được ở với mẹ thông qua Đơn đề nghị ngày 20/01/2016 và khả năng kinh tế cũng nhưcác yếu tố khác của chị Hảo có thể đáp ứng tốt việc nuôi dạy cháu Nhi
2.1 Về việc nuôi dưỡng cháu Đức Anh
Thứ nhất, theo đơn đề nghị và Biên bản lấy lời khai, có thể thấy được nguyện vọng của
cháu Đức Anh, nếu hai bố mẹ ly hôn, cháu muốn được ở với mẹ Hiện nay cháu Đức Anh đãđược 10 tuổi Đây là độ tuổi khá nhạy cảm về dễ bị ảnh hưởng về tâm lý và tính cách Trong bốicảnh cha mẹ ly hôn, việc cháu được ở cùng với mẹ và chị gái 16 tuổi sẽ tốt hơn cho cháu và bảnthân cháu cũng đã thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ tại biên bản lấy lời khai của Quý tòangày 05/07/2016 có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu
Thứ hai, về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng, hiện nay, chị Hảo đang sống ở nhà mẹ
Trang 10đẻ và có công việc với mức lương khá và nơi ở ổn định, cùng với đó là sự giúp đỡ của mẹ ruộtchị trong việc nuôi dạy các cháu Điều này thể hiện ở phần xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay,biên bản lấy lời khai của chị Hảo Nói cách khác, chị Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện để nuôidưỡng cháu Đức Anh.
Thứ ba, công việc của chị Hảo theo trật tự giờ giấc nên chị Hảo sẽ có thời gian chăm sóc
cho con tốt hơn nhất là khi các cháu đang trong giai đoạn phát triển tâm sinh lý thì việc quantâm, chia sẻ của người mẹ với con là một trong tác nhân giúp các cháu có thể phát triển một cáchtoàn diện Trên thực tế cho thấy thì người mẹ luôn là người gần gũi, tâm sự, sẻ chia với các conhơn người cha
Thứ tư, hơn nữa, qua các lời khai của cháu Anh, lời khai của chị Hảo cũng như lời khai của cán
bộ tư pháp xã Thượng Đạt thì khi ly thân với chị Hảo anh Nguyệt không cho cháu Anh được gặp
mẹ Hai mẹ con muốn gặp nhau thì phải nên gặp, nếu anh Nguyệt biết được anh Nguyệt lại đánhđập, hành hạ cháu Điều này chính quyền và bà con hàng xóm láng giềng đều biết và ông ĐỗVăn Tư - cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt cũng đã xác nhận thực tế này thông qua biên bản xácminh ngày 09/03/2016
Đối với một đứa trẻ đang tuổi phát triển thi hành vi của anh Nguyệt sẽ gây ra những ảnhhưởng tới sự phát triển của châu Anh Mặt khác, hiện dù chỉ mới ly thân nhưng anh Hảo cònkhông cho châu Anh gặp mẹ thì thử hỏi nếu giao cả cháu Nhi và cháu Anh cho anh Nguyệt nuôithì anh Nguyệt có cho các con của mình gặp mẹ hay không Như vậy, nếu như anh Nguyệt đượcgiao nuôi cháu Đức Anh thì sau khi ly hôn, quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục cháu Đức Anh của chị Hảo theo khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 không được bảo đảm.
Chính vì những lẽ trên có thể thấy việc giao cả hai cháu cho chị Hảo trực tiếp nuôi dưỡng chămsóc sẽ giúp các cháu phát triển một cách toàn diện và đầy đủ hơn, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho
cả hai cháu
Từ những lẽ trên tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc chấp nhận yêu cầu của chị Hảođược trực tiếp nuôi dạy 2 con phù hợp với nguyện vọng của con và vì lợi ích của các cháu
3 Về yêu cầu chia tài sản chung
Căn cứ vào tất cả các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như qua lời khai của các bên trongquá trình tố tụng, tôi xin khẳng định đối với yêu cầu chia tài sản chung là đất và tài sản trên đất
có số thửa 496 tờ bản đồ số 01 được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa anh Nguyệt và chịHảo là hoàn toàn có căn cứ
3.1 Thửa đất số 496 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hȧo Thứ nhất, vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được ông bà Cang – Thoa cho thửa đất số 496
Trang 11để xây nhà và sinh sống Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trong thời kỳ hôn nhâncủa anh Nguyệt và chị Hảo cụ thể là vào ngày 31/12/2005 đứng tên chủ sử dụng đất là chịNguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt.
Cả anh Nguyệt và chị Hảo đều công nhận nguồn gốc thửa đất này là của gia đình anhNguyệt mua của UBND xã Thượng Đạt Năm 1999 gia đình anh Nguyệt cho vợ chồng ông bà raxây dựng nhà và ở trên thửa đất này từ đó tới nay
Đồng thời, anh Nguyệt, bố mẹ anh Nguyệt cũng như tất cả các anh chị em trong gia đìnhanh Nguyệt đều thừa nhận vào năm 1999 gia đình anh Nguyệt cho anh Nguyệt, chị Hảo làm nhà
và sinh sống trên thửa đất này Thêm vào đó, chị Hảo và anh Nguyệt được cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất nêu trên vào ngày 31/12/2005 và tất cả mọi người đều biết và không có bất kỳ
ai có ý kiến gì hay phản đối gì về việc anh Nguyệt, chị Hảo được cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất đối với thửa đất trên
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng chị Hảo, anh Nguyệt xâydựng nhà và sinh sống ổng định từ đó đến nay, điều này cũng đã được thể hiện qua Biên bản lấylời khai của ông Ông Đỗ Văn Tỏ, là anh em trong họ với anh Nguyệt xác nhận cùng với Biênbản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Giới và một số thợ khác đã xây nhà và công trình phụ chohai vợ chồng năm 1999
Thứ hai, đồng thời, không xảy ra bất kỳ tranh chấp cũng như không có bất kỳ ai khiếu
kiện, khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 496 tờ bản đồ số
01 Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh chị cũng hoàn toàn hợppháp (thể hiện trong Biên bản xác minh ngày 06/05/2016 và ngày 23/06/2016 tại UBND xãThượng Đạt) Hơn nữa khi thực hiện các thủ tục kê khai để chuẩn bị hồ sơ cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất thì anh Nguyệt hoàn toàn đồng ý cho chị Hảo được đúng ra kê khai, nộp thuế
và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Điều này được thể hiện ở trong các hồ sơcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cả anh Nguyệt, chị Hảo đều kỷ vào các hồ sơ đó.Thêm nữa sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị Hảo và anh Nguyệtthì phía gia đình anh Nguyệt đều biết về việc này Tuy nhiên không có bất kỳ ai phản đối haykhiếu nại gì về việc cấp này Từ đó có thể thấy về mặt ý chí phía gia đình anh Nguyệt đã đồng ý
để cho anh Nguyệt và chị Hảo thửa đất này
- Ngày 31/12/2005, UBND huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương đã cấp cho anh Nguyễn VănNguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1, diện tích216m2 tại xã Thượng Đạt Công văn ngày 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trườngUBND TP Hải Dương đã xác nhận với Quý tòa về việc cấp GCNQSDĐ cho thửa số 496 nóitrên cho anh Nguyệt và chị Hảo trong khuôn khổ cấp đồng loạt cho cả 30 hộ dân trong xã
Trang 12Thượng Đạt bảo đảm đúng quy định của pháp luật và không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSDĐnày của anh Nguyệt, bà Thoa và ông Cang.
- Tại buổi hòa giải ngày 19/5/2016 do Quý tòa thực hiện, bà Thoa nêu rằng đã biết việc anhNguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSĐ và bà Thoa và mọi người trong gia đình không ai có ýkiến phản đối hay thắc mắc gì, không ai tranh chấp gì Bên cạnh đó, tại biên bản xác minh ngày23/6/2016 ông Bích cán bộ địa chính xã Thượng Đạt xác nhận kể từ khi được cấp GCNQSDĐđến nay anh Nguyệt và chị Hảo sử dụng đất ổn định không có tranh chấp với các hộ giáp danhcũng như với ông Cang, bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình anh Nguyệt
- Công văn ngày 10/6/2016 nói trên của Phòng Tài nguyên và Môi trường cũng nêu rõ ôngCang, bà Thoa đã biết việc anh Nguyệt chị Hảo được cấp GCNQSDĐ nhưng tất cả đều không có
ý kiến về việc cấp GCNQSDĐ nêu trên và các thành viên trong gia đình ông Cang, bà Thoakhông ai có tranh chấp hay ý kiến phản đối gì
giao lại toàn bộ thửa đất số 496 cho vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt sau khi hai người kết hônnăm 1999 Hai vợ chồng đã xây dựng một nhà 18m lợp ngói kiên cố, 1 gian bếp và nhà vệ sinh,
1 giếng khơi và 1 bề xây gạch xi măng trên thửa đất này Bà Thoa, ông Cang và các thành viêntrong gia đình anh Nguyệt đều biết việc xây dựng này và không ai có ý kiến gì
Thứ ba, trong thời gian sống trên thửa đất số 496, chị Hảo góp công tôn tạo cho thửa đất
cùng anh Nguyệt
Lúc ban đầu thửa đất này là đất thùng vũng sâu (đất ao) mới chỉ được san lấp được mộtphần để xây nhà và công trình phụ Hai vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt hàng năm đã bỏ côngsức và tiền ra tôn tạo mảnh đất mới được như hiện nay Tại bản xác minh của Quý tòa ngày9/3/2016, ông Nguyễn Văn Bích, cán bộ địa chính xã Thượng Đạt đã xác nhận rằng thửa đất nàytrước đây là thùng vũng
Và tại biên bản lấy lời khai của Quý tòa ngày 9/3/2016, ông Đỗ Văn Tạo là hàng xóm củahai vợ chồng đã nêu rõ tại thời điểm năm 2002 chị Nguyệt và anh Hảo đã ở trên thửa đất đượcmột thời gian và khi đó diện tích thùng vũng chiếm khoảng thửa đất, ông Tạo đã giúp phun bùnbồi lắp và đến năm 2004 có thấy hai vợ chồng tiếp tục đắp thêm cho thửa đất thùng vũng này.Trong quá trình ở từ năm 1999, chị Hảo và anh Nguyệt đã có nhiều công tôn tạo để biếnthửa đất thùng vũng này thành đất ở như hiện nay Kể từ khi được cấp GCNQSDĐ năm 2005đến khi có việc ly hôn của chị Hảo và anh Nguyệt đã hơn 10 năm, vợ chồng chị Hảo và anhNguyệt đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định, gia đình bà Thoa, ông Cang cũng không
ai có khiếu nại gì về việc cấp đất, xây nhà này Điều đó thể hiện ý chí của gia đình bà Thoa, ông