1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

89 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huệ
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Đình Hảo
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 507,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng NamLuận văn thạc sĩ: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH HUỆ

THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH HUỆ

THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn này có xuất xứ rõ ràng và kết quả nghiên cứu là do quá trình học tập tích cực và trải qua thực tiễn công tác nhiều năm tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam của bản thân

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Huệ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự 6 1.2 Thẩm quyền và trình tự, thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự 7 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự 44

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 46

2.1 Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam có liên quan đến Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự 46 2.2 Thực trạng thực hiện thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành

án dân sự tại tỉnh Quảng Nam 48 2.3 Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong Thủ tục ban hành Quyết định thi hành

án trong Thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam 53

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN TRONG THI HÀNH

ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 70

3.1 Nhu cầu nâng cao hiệu quả Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 70 3.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 71 3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 74

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

Bảng thống kê Quyết định thi hành án (chủ động

và yêu cầu) trong THADS từ năm 2013 đến năm

2017 tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam

51

2.3

Những hạn chế, bất cập trong công tác ban hành quyết định thi hành án trong THADS tại tỉnh Quảng Nam

2.2 So sánh Quyết định THA chủ động với Quyết định

THA yêu cầu tại tỉnh Quảng Nam 2013-2017 53

2.3

Những hạn chế, bất cập trong công tác ban hành quyết định thi hành án trong THADS tại tỉnh Quảng Nam

66

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp 2013 khẳng định: "Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức,

cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" Bản án, quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật phải được thi hành không chỉ thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật mà còn có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật Việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế

Thi hành án là hoạt động làm cho các Bản án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thực hiện được trong thực tế Thi hành án dân sự là một bộ phận của Thi hành án, đó là hoạt động của cơ quan Thi hành án tiến hành theo trình

tự, thủ tục nhất định nhằm đưa những quyết định, bản án có hiệu lực của Tòa án ra thi hành Công tác thi hành án nói chung và công tác Thi hành án dân sự (THADS) nói riêng đều có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mọi phương diện của đời sống

Nó làm cho các bản án, quyết định của Tòa án trở thành hiện thực Thông qua hoạt động thi hành án quyền và lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức kinh tế, tổ chức

XH và của công dân được bảo vệ; pháp chế được tăng cường, tạo được niềm tin vững chắc trong quần chúng nhân dân, đảm bảo trật tự xã hội Cũng như các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan THADS giữ vị trí đặc biệt quan trọng, là một khâu không thể thiếu trong quá trình tố tụng Mọi phán quyết của Tòa

án chỉ là những quyết định trên giấy tờ và không thể phát huy trên thực tế nếu không được thi hành đầy đủ và hiệu quả nhất là trong lĩnh vực thi hành án

Nghị quyết hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã

chỉ rõ: “Sớm xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi hành án theo hướng tập trung

nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thi hành án vào Bộ Tư pháp Xây dựng đội

Trang 8

ngũ cán bộ làm công tác thi hành án để bảo đảm tốt công tác xét xử.”

Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã

khẳng định “Xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước

thống nhất về công tác thi hành án” Tiếp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày

02/6/2015 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã tiếp tục khẳng định

“Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính

phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án”

Công tác THADS trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong những năm qua luôn tăng về số lượng và giá trị nhưng kết quả thi hành vẫn hoàn thành và vượt chỉ tiêu của Quốc hội giao Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại, hạn chế đối với công tác ban hành quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự

Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Thủ tục ban hành Quyết định

thi hành án trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm Luận văn

Thạc sỹ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong quá trình cải cách nền hành chính nhà nước ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, đã có khá nhiều công trình ở mặt này hay mặt khác nghiên cứu về nền hành chính nhà nước Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu:

Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Công Long về "Các biện pháp

cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện", Trường Đại

học Luật Hà Nội, năm 2000;

Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về "Xã hội hóa thi hành

án dân sự ở Việt Nam", Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002;

Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Quang Thái về "Đổi mới tổ

chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam", Trường Đại học Luật Hà Nội,

2003;

Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn về “Đổi mới thủ tục

THADS ở Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004;

Trang 9

Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Hoàng Thế Anh “Giám sát THADS ở

Việt Nam hiện nay”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005;

Luận văn Tiến sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thanh Thủy về “Hoàn thiện

THADS ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí

Minh, 2008;

Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Đậu Thị Thủy “Quản lý nhà nước về

THADS qua thực tế ở Thanh Hóa”, Viện Nhà nước và Pháp luật, 2008;

Luận văn Thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thế Ánh về “Thực hiện pháp

luật về THADS qua thực tiễn tỉnh Hưng Yên”, Học viện khoa học xã hội, 2011;

Những công trình khoa học nói trên đã nghiên cứu những khía cạnh, phạm vi khác nhau của THADS như nghiên cứu về tổ chức và hoạt động THADS, nghiên cứu về vấn đề thực hiện pháp luật, nghiên cứu về công tác tổ chức thi hành án dân

sự, về các thủ tục thi hành án dân sự nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi một vấn đề

cụ thể nào đó như “thủ tục xác minh” Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong THADS

Vì vậy, đây chính là vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ mà luận văn này mong muốn góp phần giải quyết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong THADS

Đánh giá thực trạng cải cách hành chính trong THADS trên địa bàn tỉnh

Quảng Nam

Trang 10

Trên cơ sở những nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tác giả kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu công tác ban hành quyết định thi hành án trong

THADS trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những vấn đề chung về thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong THADS, thực tiễn ban hành Quyết định thi hành án trong THADS tại tỉnh Quảng Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật; đưa ra các kiến nghị, đóng góp để nâng cao hiệu quả công tác ban hành Quyết định thi hành án trong THADS

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận nghiên cứu của luận văn bám sát việc phân tích thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong THADS theo Luật THADS 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 và những hạn chế về thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong THADS để từ đó đề xuất các phương hướng, quan điểm cá nhân về việc hoàn thiện thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong THADS

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên

Trang 11

cứu tác giả cũng sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu nhưng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp và một số phương pháp khác để lựa chọn những vấn đề cần thiết đưa vào nội dung nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về THADS; đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác THADS

6.2 Thực tiễn của luận văn

Luận văn đã đưa ra và luận giải được một số quan điểm cơ bản về khái niệm thi hành án và thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm cho các hoạt động nghiên cứu khoa học về thi hành án dân sự

Từ việc đánh giá thực trạng ban hành quyết định thi hành án trong thi hành

án dân sự, tác giả đã đưa ra những bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi hành án dân sự

Từ việc đánh giá thực trạng ban hành quyết định thi hành án trong thi hành

án dân sự, tác giả đã phân tích những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ban hành quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự

Ngoài ra, luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật hành chính

7 Kết cấu của luận văn

Chương 1 – Những vấn đề lý luận về thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự

Chương 2 - Thực trạng thực hiện thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự tại tỉnh Quảng Nam hiện nay

Chương 3 - Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu thủ tục ban hành quyết định thi hành án trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam hiện nay

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH

THI HÀNH ÁN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự

Trước khi tìm hiểu khái niệm thủ tục ban hành quyết định thi hành án, cần làm rõ các khái niệm sau:

"Thủ tục" - xét về mặt ngôn ngữ có nghĩa ''những việc cụ thể phải làm theo

một trình tự đã được quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức"

Qua đó, có thể hiểu khái niệm thủ tục là phải thực hiện một công việc nhất định theo những quy định cụ thể, được sắp xếp theo trình tự nhất định, còn "Ban hành" là

"Công bố hoặc cho thi hành"

Theo từ điển Luật học, nhà xuất bản từ điển Bách Khoa, năm 2006: “THADS là

hoạt động của Cơ quan THADS, người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác trong việc thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của tòa án”

Quá trình tổ chức thi hành quyết định, bản án của tòa án gồm 03 giai đoạn: Thụ lý thi hành án, tổ chức thi hành án và thẩm tra, lưu trữ hồ sơ thi hành án Thụ lý thi hành án là giai đoạn đầu tiên để ban hành Quyết định thi hành án

"Quyết định thi hành án" là văn bản do Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền ban hành để đưa ra thi hành một hoặc nhiều khoản của những bản án, quyết

định dân sự được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, làm căn cứ cho Chấp

hành viên lập hồ sơ thi hành án và tổ chức việc thi hành án, nhằm đảm bảo lợi ích của người được thi hành án, của nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia vào việc thi hành án Quyết định thi hành án được ban hành

là khâu cuối cùng của việc thụ lý thi hành án Việc ban hành quyết định thi hành án

là thủ tục đầu tiên và là một trong số nhiều thủ tục rất quan trọng mà cơ quan THADS phải thực hiện trong quá trình tổ chức thi hành án Quyết định thi hành án

là cơ sở để Chấp hành viên làm căn cứ trong quá trình tổ chức thi hành án

Trang 13

Từ sự trình bày nêu trên, chúng ta rút ra khái niệm: Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự là trình tự, thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm công bố hoặc cho thi hành để đưa phần dân sự trong bản án, quyết định của Tòa án, trọng tài thương mại và của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra thi hành

Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự có đặc điểm là: chúng được điều chỉnh bằng quy phạm thủ tục tư pháp (quy định về trình

tự, trật tự thực hiện thẩm quyền hệ thống của các cơ quan tư pháp), là căn cứ pháp

lý hiệu lực để ràng buộc các cơ quan nhà nước tiến hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo thẩm quyền trong Thi hành án dân sự

Vai trò của Thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân

sự là rất quan trọng, bởi đó là căn cứ trước hết để đảm bảo hiệu lực pháp lý cũng

như thuận lợi trong việc tiến hành tổ chức sự phối hợp chặt chẽ hữu cơ giữa các cơ quan tư pháp với cơ quan hành pháp nhằm thi hành hiệu lực, hiệu quả các bản án án dân sự mà Tòa đã tuyên

1.2 Thẩm quyền và trình tự, thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự

1.2.1 Thẩm quyền ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành án dân sự:

Trước hết, cần bám sát quy định của pháp luật tố tụng và thi hành án dân sự

để xác định cơ quan THADS có thẩm quyền tổ chức thi hành hay không? Việc xác định bản án, quyết định của Tòa án có thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan THADS hay không, cần đối chiếu vào bản án, quyết định để xác định loại vụ việc, tòa án (cơ quan có thẩm quyền) đã giải quyết, nội dung của phán quyết và căn cứ vào Điều 1, Điều 2 Luật THADS

Trường hợp xác định các bản án, quyết định đó được tổ chức thi hành theo quy định pháp luật về THADS thì tiếp tục xác định về thẩm quyền tổ chức thi hành

án thuộc cơ quan mình hay cơ quan THADS nơi khác Theo quy định tại Điều 35

Trang 14

Luật THADS 2014 thì thẩm quyền tổ chức thi hành án được xác định:

1 Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định đó là: Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở; Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác

2 Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định đó là: Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh trên cùng địa bàn; Bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành

án dân sự cấp tỉnh; Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng

xử lý vụ việc cạnh tranh; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác; Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện quy định tại Khoản 1 Điều này mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành và Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp

về thi hành án

3 Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định đó là: Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn; Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,

xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình

sự của Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn; Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu

Trang 15

tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; Bản án, Quyết định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp quân khu khác ủy thác

Theo quy định tại Điều 35 Luật THADS thì đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, cơ quan THADS cấp huyện hoặc cấp tỉnh sẽ ra quyết định thi hành án tùy thuộc vào Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là tòa án cấp nào Như vậy, vê nguyên tắc, thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng tương tự như đối với thẩm quyền thi hành của các bản án, quyết định khác của Tòa án và Trọng tài thương mại

Tuy nhiên, các loại biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Trọng tài thương mại áp dụng cũng có nhiều điểm tương tự như của Tòa án nhưng thẩm quyền thi hành quyết định áp dụng biện pháp khấn cấp tạm thời của Trọng tài thương mại chỉ thuộc

về cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh Đồng thời, khi tiếp nhận quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, cơ quan thi hành án cũng cần lưu ý về trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân tỉnh) trong quá trình xét xử phúc thẩm có ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì thẩm quyền ra quyết định thi hành án vẫn thuộc về cơ quan thi hành án cấp huyện dù Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án cấp tỉnh

Thực tế tại Quảng Nam đó là trong quá trình xét xử phúc thẩm đối với Bản

án số 34/2010/DSST ngày 13/3/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định số 09/2010/QĐ-BPKCTT ngày 02/11/2010 với nội dung: “Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 115 của Bộ luật tố tụng dân sự; cấm ông Trần Minh

S và bà Thái Thị Thu N chuyển nhượng, tặng cho đối với tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 169m2, thuộc thửa số 226, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại khối phố 10,

Trang 16

phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam do ông Trần Minh S và bà Thái Thị Thu N đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H2995 do UBND Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cấp ngày 01/9/2008 ”

Trong trường hợp nói trên, mặc dù, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khấn cấp tạm thời Tuy nhiên, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án nhân dân Quảng Nam sẽ do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ tổ chức thi hành

Khi ban hành quyết định về thi hành án, trước hết cần căn cứ đúng quy định của pháp luật; cần làm rõ quyết định đó có căn cứ vào văn bản pháp luật nào; thẩm quyền ban hành, thời hạn ban hành quyết định có phù hợp quy định pháp luật hay không

Như việc ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành án phải căn cứ khoản 1 Điều 23, Điều 35, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 45 và Điều 54 (nếu có

chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án) Luật THADS, Điều 7 Nghị định số

62/2015/NĐ-CP; Điều 1 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC- VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/9/2016 Hay việc ban hành Quyết định thi hành án đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, trọng tài thương mại phải căn cứ Điều 130 Luật THADS

Trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định, Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên thụ lý hồ sơ chỉ được ban hành các quyết định mà nội dung các quyết định phải tuân theo pháp luật, theo đúng nội dung phán quyết của Tòa án hoặc các phán quyết của cơ quan có thẩm quyền khác như quy định tại Điều

2 Luật THADS Do vậy trong phần căn cứ để ra quyết định thường căn cứ pháp luật như nêu ở phần trên; đồng thời căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền nào đó Ví dụ: căn cứ bản án, quyết định sơ thẩm; bản án, quyết định phúc thẩm; quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; quyết định công nhận

Trang 17

sự thỏa thuận của đương sự … của Tòa án

1.2.2 Trình tự, thủ tục ban hành Quyết định thi hành án trong Thi hành

+ Bên cạnh đó, quyết định áp dụng biển pháp khẩn cấp tạm thời là loại việc thuộc diện Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án Theo quy định của Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành thì cơ quan đã ra

Trang 18

quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có trách nhiệm chuyển giao quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để tổ chức thi hành án và không có quy định về quyền yêu cầu của đương sự cũng như trách nhiệm của cơ quan THADS tiếp nhận quyết định đó từ đương sự Vì vậy, nếu cơ quan thi hành án nhận được đơn yêu cầu thi hành từ đương sự nhưng vẫn chưa nhận được quyết định

do Tòa án, Trọng tài thương mại chuyển giao thì chưa thực hiện việc ra quyết định, nhưng vẫn phải ghi vào sổ nhận bản án, quyết định và hướng dẫn đương sự khẩn trương liên hệ cơ quan đã ra quyết định áp dụng chuyển ngay cho cơ quan THADS

để có cơ sở kịp thời ra quyết định và tổ chức thi hành

Xác định hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định để đưa ra thi hành:

Để đưa bản án, quyết định ra tổ chức thi hành, cần đảm bảo xác định đúng bản

án, quyết định đủ điều kiện để được đưa ra thi hành theo thủ tục THADS hay không?

Về phạm vi tổ chức: Phạm vi tổ chức thi hành theo thủ tục thi hành án dân

sự là các loại bản án, quyết định, phần nội dung bản án, quyết định theo tính chất vụ việc theo quy định tại Điều 1 Luật THADS gồm: bản án, quyết định dân sự; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự; phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án; quyết định của Tòa án giải quyết phá sản; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại Như vậy, chỉ những loại bản án, quyết định, nội dung của bản án, quyết định thuộc phạm vi trên mới thuộc thẩm quyền tổ chức thi hành của cơ quan THADS, theo thủ tục THADS

Theo quy định tại Điều 27 Luật THADS thì Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định được quy định tại Điều 2

của Luật này phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi “Để thi hành" Trên

thực tế khi cấp bản án, quyết định cho đương sự đối với những bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật, chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan THADS, Tòa

án đóng dấu “Án có hiệu lực pháp luật” hoặc “Để thi hành” Vì vậy, căn cứ vào dấu này để xác định hiệu lực thi hành của bản án, quyết định Đối với trường hợp bản án

Trang 19

sơ thẩm có nhiều người mà có người kháng cáo và có người không kháng cáo thì có hiệu lực một phần và có xác nhận của Tòa án thông qua dấu “kháng cáo” hoặc

“không kháng cáo” đối với từng người tại phần cuối của bản án, quyết định phải có chữ ký của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay mặt cho Hội đồng xét xử và được đóng dấu của Tòa án nơi ban hành bản án, quyết định đó Tuy nhiên, thực tế cũng

có những trường hợp bản án, quyết định do đương sự cung cấp lại không có đóng dấu án có hiệu lực pháp luật, thực tế cũng đã có một số trường họp đương sự có đơn khiếu nại việc cơ quan THADS ra quyết định thi hành án đối với bản án chưa có hiệu lực pháp luật

Bản án, Quyết định được tổ chức thi hành theo thủ tục THADS: Để có thẩm quyền tổ chức thi hành, việc xác định bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hay chưa, hay thuộc diện án chưa có hiệu lực nhưng cũng được đưa ra thi hành mặc

dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị cần bám sát quy định liên quan của pháp luật tố tụng và quy định tại Điều 2 Luật THADS

Theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì những bản án, quyết định được thi hành theo Luật THADS gồm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

và những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị

Việc xác định ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tùy thuộc vào từng loại bản án, quyết định

Đối với bản án phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm và quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:

Theo quy định tại Khoản 6 Điều 313, Điều 349 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 355, Khoản 1 Điều 395 và Điều 403 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 7 Điều 242, Điều 278 và Điều 286 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì nguyên tắc chung là bản án phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án hoặc ngày ra quyết định đó Mặt khác, nhằm đảm bảo tính cấp thiết thì các quyết định áp dụng biện

Trang 20

pháp khẩn cấp tạm thời cũng thuộc diện có hiệu lực ngay theo quy định tại Khoản 1 Điều 139 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tương tự, trên tinh thần tôn trọng thỏa thuận của các đương sự, ngày quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

có hiệu lực pháp luật là ngày ban hành quyết định đó theo quy định tại Khoản 1 Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Đối với bản án sơ thẩm có thể bị kháng cáo kháng nghị: Theo quy định tại

Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015 và Điều 215 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì bản án quyết định sơ thẩm hoặc những phần bản án quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Với quy định này có liên quan đến thời hạn kháng cáo, kháng nghị Tại Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện mà không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án nhưng có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án đó được niêm yết; trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính

từ ngày tuyên án Đồng thời, đối với bản án hình sự thì theo quy định tại Khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án Trường hợp đương sự, bị cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật Theo quy định tại Khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án; trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát

Trang 21

cùng cấp nhận được bản án Theo quy định tại Khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Khoản 1 Điều 213 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp

là 15 ngày, của Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án

Như vậy, theo các quy định trên thì ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật là ngày các đương sự, bị cáo không còn quyền kháng cáo, Viện kiểm sát các cấp không còn quyền kháng nghị theo quy định pháp luật Vậy, tùy từng trường hợp cụ thể mà xác định ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, đảm bảo việc ra quyết định thi hành án đối với bản án đã đủ điều kiện đưa ra thi hành

Đối với phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại: Theo quy định tại

Khoản 5 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành Cũng theo quy định tại Điều 61 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì tại phán quyết trọng tài thường có nội dung xác định thời hạn thi hành phán quyết Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 66 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài khi hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 69 của Luật Trọng tài thương mại

Vì vậy, để xác định có tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án hay không, cơ quan THADS căn cứ vào nội dung này để xác định xem đã hết thời hạn thi hành phán quyết hay chưa, đồng thời cơ quan THADS cũng cần yêu cầu làm rõ đương sự có yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài hay không?

Bên cạnh đó, đối với Trọng tài vụ việc theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài sau khi phán quyết được đăng ký tại Tòa án Theo quy định tại Điều 62 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày ban hành phán quyết trọng tài, bên yêu cầu đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc phải gửi đơn xin đăng ký phán

Trang 22

quyết trọng tài tói Tòa án có thẩm quyền Sau khi nhận được đơn xin đăng ký phán quyết trọng tài thì Tòa án hoặc thực hiện việc đăng ký hoặc từ chối đăng ký Vì vậy,

để có thể tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan THADS phải yêu cầu đương sự chứng minh việc phán quyết trọng tài đã được đăng ký tại Tòa án

Đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh: Theo quy định tại Điều 106 Luật Cạnh tranh thì quyết định xử lý vụ việc

cạnh tranh có hiệu lực pháp luật sau ba mươi ngày kể từ ngày ký nếu trong thời hạn

đó không bị khiếu nại theo quy định tại Điều 107 của Luật này (Điều 107: 1

Trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên Hội đồng cạnh tranh; 2 Trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Thương mại)

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 121 Luật Cạnh tranh thì sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hiệu lực pháp luật, nếu bên phải thi hành không tự nguyện thi hành, không khởi kiện ra Tòa án theo quy định tại Mục 7 Chương này thì bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó Trên cơ sở các quy định này, tại Điểm đ Khoản 1 Điều 2 Luật THADS quy định: Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được thi hành trong trường hợp sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật mà đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án

Như vậy, bên được thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh chỉ có quyền yêu cầu thi hành án sau 60 ngày, kể từ ngày ký nếu quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh không bị khiếu nại, bên phải thi hành không tự nguyện thi hành và không khởi kiện tại Tòa án Do đó, cơ quan THADS cần đề nghị người yêu cầu thi hành quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cung cấp thông tin về việc đương sự không khởi kiện tại Tòa án để có căn cứ ra quyết định thi hành án và xử

Trang 23

lý vụ việc

Đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 427 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì

bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đó có hiệu lực pháp luật

Về thời điểm có hiệu lực pháp luật liên quan đến thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Theo quy định tại Khoản 1 Điều 442, Khoản 1 Điều 461 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, đương sự, người đại diện hợp pháp của

họ có quyền kháng cáo quyết định đó; trường hợp đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính

từ ngày họ nhận được quyết định đó; trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không thể kháng cáo trong thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn kháng cáo Đối với Viện kiểm sát, theo quy định tại Khoản 2 Điều 442, Khoản 2 Điều 461 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn kháng nghị đối với quyết định công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa

án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 07 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định Như vậy, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà xác định ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và phán quyết của Trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật và được thi hành tại Việt Nam

Xác định thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Đối với việc ra quyết định thi hành án theo yêu cầu, thời hiệu là vấn đề quan trọng Thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà người được thi hành án, người

Trang 24

phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án; hết thời hạn

đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án theo quy định của Luật THADS Để xác định thời hiệu yêu cầu thi hành án, cơ quan THADS cần căn

cứ vào Điều 30 Luật THADS; Khoản 2 Điều 147, Điều 148 Bộ luật dân sự năm 2015

và Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS, theo đó: Về nguyên tắc, Khoản 1 Điều 30 Luật THADS quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, kể

từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Như vậy, để xác định được bản án, quyết định có còn thời hiệu yêu cầu thi hành án hay không thì cơ quan THADS cần xác định ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật theo các nguyên tắc đã nêu ở trên, từ đó đối chiếu với ngày yêu cầu thi hành án của đương sự

Theo quy định tại Điều 31 Luật THADS thì ngày yêu cầu thi hành án của đương sự được xác định tuỳ thuộc vào hình thức yêu cầu thi hành án của họ

Đơn cử trường hợp yêu cầu thi hành án của đương sự được gửi qua đường bưu điện thì ngày yêu cầu thi hành án của đương sự được tính từ ngày có dấu bưu điện nơi gửi Trường hợp đương sự trực tiếp nộp đơn yêu cầu thi hành án tại cơ quan THADS thì ngày yêu cầu thi hành án là ngày đương sự nộp đơn Trường hợp đương sự trình bày trực tiếp bằng lời nói tại cơ quan THADS thì ngày yêu cầu thi hành án là ngày đương sự trình bày trực tiếp tại cơ quan THADS (cơ quan THADS

có trách nhiệm hướng dẫn viết đơn hoặc được lập thành biên bản ghi nhận yêu cầu thi hành án của họ với các nội dung như quy định tại Điều 31 Luật THADS, theo mẫu D32-THADS ban hành kèm theo Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp)

Trên cơ sở ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và ngày yêu cầu thi hành án đã được xác định, cơ quan THADS căn cứ vào Điều 30 Luật THADS, Khoản 2 Điều 147 và Điều 148 Bộ luật dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu yêu cầu thi hành án

Theo quy định tại Điều 30 Luật THADS thì thời hiệu yêu cầu thi hành án có một số trường hợp đặc biệt đó là:

Trang 25

Bản án, quyết định có ấn định thời hạn thực hiện nghĩa vụ Đối với trường hợp này thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn Hoặc trường họp bản án, quyết định có ấn định thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ (ví dụ hàng tháng, hàng quý): Đối với trường họp này, thời hiệu yêu cầu thi hành án được xác định đối với từng định kỳ

Trong trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan THADS cần chú ý đến các quy định nhằm tính toán đối trừ thòi gian được coi là không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án như trường họp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật THADS thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án Hoặc trường hợp có các trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng theo quy định tại Khoản

3 Điều 30 Luật THADS Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan phải thuộc một trong các trường họp được quy định tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP (cụ thể: Sự kiện bất khả kháng là trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa Trở ngại khách quan là trường họp đương sự không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể gửi đơn yêu cầu thi hành án đúng hạn; tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức hoặc đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế;

tổ chức họp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cổ phần hóa mà chưa xác định được

tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật hoặc

do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan THADS hoặc cơ quan, cá nhân khác dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn)

Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án mà đương sự không yêu cầu thi hành án đúng hạn và đương sự trình bày việc không yêu cầu thi hành án đúng hạn là do có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng thì cơ quan THADS phải căn cứ vào Khoản 2, 3, 4 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn đương sự có quyền đề nghị Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền xem xét, quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu thi hành án quá hạn Việc yêu cầu thi

Trang 26

hành án quá hạn phải nêu rõ lý do, kèm theo tài liệu chứng minh lý do không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn

Tài liệu chứng minh tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể (Đối với trường

hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc do đương sự chết mà chưa xác định được ngưòi thừa kế hoặc do trở ngại khách quan xảy ra tại địa phương nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã nơi người

đó cư trú cuối cùng hoặc nơi cư trú khi xảy ra sự kiện bất khả kháng Đối với trường hợp tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có tóm tắt hồ sơ bệnh án được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp huyện trở lên xác nhận và tài liệu kèm theo, nếu có Đối với trường hợp do yêu cầu công tác nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc giấy cử đi công tác của cơ quan, đơn vị đó Đối với trường họp do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của cơ quan đã ra bản án, quyết định, cơ quan thi hành án có thẩm quyền Đối với trường hợp hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cổ phần hóa đối với tổ chức phải thi hành án thì phải có xác nhận của cơ quan ra quyết định họp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể,

cổ phần hóa Đối với các trường họp bất khả kháng, trở ngại khách quan khác nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn thì phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc tài liệu hợp pháp khác để chứng minh)

Khi kiểm tra những tài liệu chứng minh do đương sự cung cấp cơ quan THADS cần lưu ý xác nhận của tồ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thể hiện rõ địa điểm, nội dung và thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 08/2010/QĐST-KDTM ngày 26/8/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định: “ Trong thời hạn

03 tháng, tính kể từ ngày 17/8/2010, Công ty cổ phần V phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền tồng cộng 33.919.392.693 đồng Nếu hết thời hạn nêu trên, Công ty cổ phần V vẫn không thực hiện việc trả nợ hoặc trả không

Trang 27

đầy đủ theo cam kết cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, thì phải chịu lăi phát sinh tính từ ngày 17/8/2010 cho đến khi thanh toán xong nợ và phải chịu biện pháp cưỡng chế phát mại tài sản thế chấp ”

Ngày 05/7/2016, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có đơn yêu cầu thi hành

án đề nghị thi hành số tiền 33.919.392.693 đồng đối với Công ty cổ phần V

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Luật THADS và tại Quyết định số 08/2010/QĐST-KDTM nêu trên thì thời hiệu yêu cầu thi hành án của Ngân hàng Đ được tính từ ngày 18/11/2010 đến ngày 18/11/2015 Tuy nhiên, ngày 05/7/2016, Ngân hàng Đ mới có đơn yêu cầu thi hành án (thực hiện việc yêu cầu thi hành án quá hạn 07 tháng 17 ngày) Ngân hàng Đ có đề nghị xem xét việc yêu cầu thi hành

án quá hạn Lý do đưa ra là ngày 21/10/2014, ông Nguyễn Văn T là giám đốc Ngân hàng bị bắt theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 216/C46-P11 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ Công an Ngày 10/11/2014, mới có người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng là bà Nguyễn M Ngày 31/12/2014 đến ngày 01/1/2015 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện việc kiểm soát đặc biệt Ngân hàng Đ Tuy nhiên sau khi xem xét đối trừ các sự kiện đã nêu thì yêu cầu thi hành án của Ngân hàng Đ vẫn quá hạn

Như vậy, về nguyên tắc, Thủ trưởng cơ quan THADS chỉ ra quyết định thi hành án theo yêu cầu thi hành án khi còn thời hiệu yêu cầu thi hành án Tuy nhiên, đối với những trường hợp đương sự yêu cầu thi hành án khi đã hết thời hiệu thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ- CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ

Xác định chủ thể yêu cầu thi hành án

Trước hết phải xác định quyền yêu cầu thi hành án:

Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng mà cơ quan THADS phải

thực hiện khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án để ra quyết định thi hành án Quyền, nghĩa vụ của đương sự trong thi hành án dân sự được quy định chi tiết cụ thể tại các Điều 7, Điều 7a và Điều 7b Luật THADS 2014 Theo đó, phạm vi quyền yêu cầu thi hành án không chỉ bó hẹp đối với người được thi hành án mà cả đối với người phải

Trang 28

thi hành án và những người mà người được thi hành án, người phải thi hành án ủy quyền Để xác định chính xác những người có quyền yêu cầu thi hành án, cơ quan THADS cần căn cứ vào Khoản 2, 3 Điều 3 Luật THADS Theo đó đương sự bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án:

Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành

Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án thi hành

Bên cạnh đó, Luật THADS cũng quy định về việc người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án theo quy định (điểm đ khoản 1 Điều 7, điểm b khoản 1 Điều 7a Luật THADS); Luật cũng quy định về chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án (Điều 54 Luật THADS)

Mặt khác, trong một bản án, quyết định, có thể có trường h ợp đối với

khoản thi hành án này thì một người là người được thi hành án, nhưng đối với khoản thi hành án khác thì họ có thể lại là người phải thi hành án Vì

vậy, khi xác định người có quyền yêu cầu thi hành án, Thẩm tra viên hoặc

công chức được phân công phụ trách tiếp nhận, thụ lý phải xem xét kỹ đương sự

đó (bên được thi hành án, bên phải thi hành án) phải được hưởng quyền, lợi ích gì ở chính bản án, quyết định mà họ yêu cầu thi hành án Đối với các vụ

án phức tạp, có nhiều đương sự và có nhiều khoản phải thi hành án, cần phải đối chiếu, so sánh không chỉ quyền, lợi ích mà cả nghĩa vụ của từng người

để giải thích cho họ về quyền làm đơn yêu cầu thi hành án và đi đôi với các nội dung về quyền thì họ cũng phải có các nghĩa vụ phải thi hành, kể cả các khoản nghĩa vụ về án phí thuộc diện chủ động

Tiếp đến là xác định tư cách của người có yêu cầu thi hành án:

Cơ quan thi hành án dân sự cẩn đối chiếu với người đứng tên trong đơn yêu cầu thi hành án để xác định tư cách của người có yêu cầu thi hành án, cụ thể:

Thứ nhất, trường hợp người yêu cầu thi hành án là cá nhân: Trong trường hợp này, Thẩm tra viên hoặc công chức được phân công phụ trách tiếp nhận, thụ lý

Trang 29

cần xác định người làm đơn là đương sự hay người được đương sự ủy quyền

Khi chính đương sự làm đơn yêu cầu thi hành án thì cần xem người đứng tên trong đơn yêu cầu thi hành án có đúng là tên của người được thi hành án hay người phải thi hành án trong bản án, quyết định được yêu cầu thi hành án hay không bằng cách kiểm tra chứng minh thư nhân dân/căn cước nhân dân/hộ chiếu Lưu ý, cần kiếm tra cụ thể họ tên, năm sinh, số chứng minh thư nhân dân, cơ quan nào cấp và cấp năm nào? Đối chiếu với bản án, quyết định thì họ có quyền, nghĩa vụ cụ thể gì trong phần quyết định của bản án, quyết định, yêu cầu của họ có phù hợp với bản

án, quyết định không? Nếu yêu cầu thi hành án của họ chưa sát, chưa phù hợp hoặc thiếu nội dung hoặc không đúng phán quyết thì giải thích và hướng dẫn họ thực hiện lại

Nếu không đúng tên thì cần xem xét người yêu cầu thi hành án trong đơn có phải là người đại diện hợp pháp của người được thi hành án hay không? (người được ủy quyền hợp pháp, người đại diện theo pháp luật), cụ thể:

Trường hợp đương sự có uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án thì cần căn cứ quy định về ủy quyền để xem xét hình thức ủy quyền, đối chiếu thông tin cá nhân giữa người ủy quyền và người nhận ủy quyền, phạm vi nội dung ủy quyên có phù hợp với quyền nghĩa vụ của bên ủy quyền được ấn định trong bản án, quyết định hay không? Thời hạn ủy quyền?,

Trường hợp đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó thì Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người giám hộ Việc xác định người giám hộ cũng cần căn cứ các quy định liên quan của pháp luật dân sự để đảm bảo người yêu cầu là người có đủ quyền đề nghị thi hành án

Thứ hai, trường hợp người yêu cầu thi hành án là cơ quan, tổ chức: về nguyên tắc, đơn yêu cầu thi hành án của cơ quan, tố chức phải do người đại diện

Trang 30

theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó ký Chỉ có người đại diện theo quy định pháp luật của doanh nghiệp (được xác định trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) hoặc người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền mới là đương sự trong thi hành án dân sự (có thể là bên được thi hành án, bên phải thi hành án hoặc người có quyền nghĩa vụ liên quan)

Khi yêu cầu thi hành án, chỉ có người đại diện theo pháp luật mới có quyền yêu cầu thi hành án (nếu ủy quyền thì phải bằng văn bản); các trình tự thủ tục về thi hành án sau này các Chấp hành viên, Thẩm tra viên đều phải chú ý đến đối tượng này, có như vậy mới đảm bảo quá trình thi hành án dân sự phù hợp với pháp luật

Vì vậy cần đối chiếu xem người ký tên trong đơn yêu cầu thi hành án có là người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó không? Nếu không đúng thì cần xác định người đứng tên trong đơn có được người đại diện theo pháp luật của cơ quan,

tổ chức đó uỷ quyền không hoặc trong thời gian đó đên nay có sự thay đổi về người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tố chức đó không?

Để xác định được các nội dung nêu trên, cần thực hiện hai bước:

Bước 1, đó là xác định thông qua các quy định pháp luật;

Bước 2, yêu cầu cung cấp các tài liệu, giấy tờ chứng minh tư cách người đại diện theo pháp luật, người được người đại diện theo pháp luật của cơ quan đó ủy quyền như:

Đối với các cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các

tổ chức xã hội thì người đứng đầu (cấp trưởng) các cơ quan tố chức đó là người đại diện theo quy định pháp luật

Đối với các đơn vị kinh tế, doanh nghiệp: Theo Luật Doanh nghiệp có rất nhiều loại hình doanh nghiệp, hình thức góp vốn cũng rất khác nhau Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đều phải có người đại diện theo quy định pháp luật Người đại diện theo pháp luật chỉ là 1 cá nhân cụ thể được quy định tại Điều lệ công ty hoặc thông qua “Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” do cơ quan Nhà nước cấp cho doanh nghiệp (nay theo pháp luật dân sự thì một pháp nhân có thể có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật) Do đó, cần quan tâm các nội dung

Trang 31

trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp bởi mỗi doanh nghiệp chỉ có duy nhất một mã

số doanh nghiệp dùng để thực hiện các nghĩa vụ về thuế, thủ tục hành chính và quyền, nghĩa vụ khác Khi xác định được người đại diện, mã số doanh nghiệp thì phải đối chiếu với yêu cầu thi hành án, với bản án quyết định (họ tên người đại diện pháp luật và tên gọi đầy đủ của doanh nghiệp, trụ sở chính của doanh nghiệp)

Tình huống trong Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số

07/KDTM-PT ngày 10/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã tuyên: “Buộc Công

ty TNHH Làng du lịch sinh thái S phải thanh toán cho Công ty TNHH Xây dựng và thương mại S số tiền 8.485.070.000 đồng; trong đó tiền nợ chưa thanh toán 4.291.328.000 đồng và 4.193.742.000 đồng tiền lãi…”

Theo nội dung Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 07/KDTM-PT nêu trên thì bà Lê Chu Thùy Q là Giám đốc và đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S Tuy nhiên, tại Biên bản giải quyết việc thi hành án cho thấy ngày 04/7/2013 thì Công ty TNHH S có 04 cổ đông gồm: Lê Chu Thùy Q (có 50,60% phần vốn góp); Gur Jacquelin Elindha - Quốc tịch úc (có 39,40% phần vốn góp); Lê

Bá Q (có 5% phần vốn góp) và Nguyễn Danh K (có 5% phần vốn góp) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 11/6/2013) thì Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S là bà Huỳnh Thị Thu H (đây là người được thuê làm Giám đốc); bà Huỳnh Thị Thu H không có cổ phần trong công ty

Trong trường hợp trên, có ý kiến nêu rằng bà Huỳnh Thị Thu H hay là bà Lê Chu Thùy Q có quyền và trách nhiệm đại diện Công ty TNHH S làm việc với cơ quan thi hành án dân sự để yêu cầu việc thi hành bản án trên

Để xác định, cơ quan THADS cần căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 91, khoản 1 Điều 144 Bộ luật Dân sự năm 2005 và quy định tại Khoản 1 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2014 để xác định bà H có là người đại diện theo pháp luật của Công

ty TNHH S, có quyền và trách nhiệm đại diện cho Công ty làm việc với cơ quan thi hành án dân sự đế giải quyết việc yêu cầu thi hành Bản án kinh doanh thương mại

Trang 32

phúc thẩm số 07/KDTM - PT nêu trên hay không Trong trường hợp này, theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã đăng ký thay đối lần thứ 5 ngày 11/6/2013, theo đó, Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S tại thời điểm tổ chức thi hành án là bà Huỳnh Thị Thu H Do đó, bà Huỳnh Thị Thu H đại diện Công ty TNHH S làm việc với cơ quan thi hành án dân sự để giải quyết việc yêu cầu thi hành bản án là phù hợp với quy định của pháp luật

Xác định nội dung yêu cầu thi hành án

Được quy định tại Điều 31 Luật THADS Riêng đối với trường hợp đã trả đơn yêu cầu thi hành án trước ngày 01/7/2015 mà đương sự yêu cầu thi hành án trở lại theo quy định tại Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cần yêu cầu đương sự cung cấp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan và quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án (nếu có) Trường hợp không còn quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án, người được thi hành án có quyền đề nghị cơ quan THADS đã ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án xác nhận về việc đã trả đơn để ra quyết định thi hành án, đảm bảo quyền lợi của họ

Mặt khác, cơ quan THADS cần kiểm tra căn cứ từ chối nhận yêu cầu thi hành án Theo quy định tại Khoản 5 Điều 31 Luật THADS thì cơ quan THADS từ chối yêu cầu thi hành án trong 03 trường họp Đó là:

Thứ nhất, người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật THADS;

Thứ hai, cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án và THADS từ chối yêu cầu thi hành án trong trường hợp bản án, quyết định không xác định cụ thể người phải thi hành án và nghĩa vụ phải thi hành

Thứ ba, hết thời hiệu yêu cầu thi hành án

Về nguyên tắc, Thủ trưởng cơ quan THADS chỉ ra quyết định thi hành án theo yêu cầu thi hành án khi còn thời hiệu yêu cầu thi hành án

Trường hợp bản án, quyết định không xác định cụ thể người phải thi hành

Trang 33

án và nghĩa vụ phải thi hành

Bản án số 34/2015/DSST ngày 08/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, tuyên:“ Chia cho ông Đỗ Văn T quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 1, tại thôn 2, xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam; Chia cho ông Đỗ Văn M quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 3 tại thôn 2, xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam Ngày 15/4/2016, Ông Đỗ Văn T có đơn yêu cầu thi hành án được nhận quyền sử dụng đất theo bản án số 34/2015/DSST ngày 08/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Trong trường hợp này, về nguyên tắc, nội dung Bản án số 34/2015/DSST ngày 08/9/2015 khộng xác định cụ thể người phải thi hành án cho ông T và ông M nên căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 31 Luât THADS, Khoản 4 Điều 7 Nghị định 62/2015/NĐ-CP, cơ quan THADS có quyền từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án của ông T Tuy nhiên, tiếp cận từ góc độ mục đích của việc xét xử, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, về tổng thể, cần kiến nghị Tòa án cần tuyên rõ người được thi hành án, người phải thi hành án, nội dung thi hành án, quyền nghĩa vụ của các đương sự để thực hiện đúng quy định nêu trên Cơ quan THADS cũng có thể hướng dẫn đương sự yêu cầu Tòa án giải thích rõ hoặc làm rõ người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản, nhất là các trường hợp vụ án chia thừa kế (cũng như trường hợp vụ án hôn nhân và gia đình có nội dung giao con cho người khác nuôi dưỡng ) để có cơ sở tổ chức thi hành

Trong trường hợp tiếp nhận yêu cầu THADS bằng việc nhận đơn yêu cầu thi

hành án qua đường bưu điện hoặc nhận trực tiếp hoặc đương sự trực tiếp đến cơ quan thi hành án yêu cầu THADS thì cơ quan THADS từ chối yêu cầu thi hành án

và phải thông báo băng văn bản cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc,

kê từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án nêu thuộc một trong các trường hợp từ chối yêu cầu thi hành án

Trường hợp tiếp nhận yêu cầu thi hành án dân sự thông qua hỗ trợ trực tiếp THADS thì thực hiện theo Quy trình hỗ trợ trực tuyến thi hành án dân sự ban hành

Trang 34

kèm theo Quyết định số 536/QĐ-TCTHADS ngày 11/05/2017của Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS Công chức hỗ trợ trực tuyến kiểm tra về quyền của người yêu cầu thi hành án, nội dung yêu cầu thi hành án, thẩm quyền yêu cầu thi hành án, các giấy tờ kèm theo đúng quy định Quá trình này, công chức được giao nhiệm vụ tiếp nhận, hỗ trợ trực tuyến thi hành án thông tin cho đương sự bằng email phản hồi về quyền, nghĩa vụ thi hành án của họ theo nội dung bản án, quyết định một cách chính xác; trường hợp người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án thì thông báo rõ cho họ về việc từ chối tiếp nhận yêu cầu thi hành án; trường hợp cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận không có thẩm quyền thi hành án thì thông báo cho đương

sự là không có thẩm quyền và hướng dẫn họ yêu cầu thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết vụ việc của họ

Tuy nhiên, cần lưu ý quy định tại Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 62:

“Trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khỉ đã hết thời hiệu yêu câu thỉ hành án thì cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án Trường hợp này, cơ quan thi hành án dân

sự ra quyết định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp,

đồng thời lập biên bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do phạm nhân là người phải thi

hành án, người được ủy quyền hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thỉ hành án đến nhận Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày được thông báo hợp lệ

mà người được thi hành án không đến nhận tiền, tài sản thì cơ quan thi hành án dân

sự làm thủ tục sung công quỹ nhà nước, sau khi khấu trừ phải thi hành theo quyết định thi hành án khác, nếu có”

Xác định thời hạn ra quyết định thi hành án

Trường hợp Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án:

"1 Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này

Thời hạn ra quyết định thi hành án theo yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án

Trang 35

2 Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành đối với phần bản án, quyết định đó là: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định

về hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải

ra quyết định thi hành án

Đối với quyết định quy định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra ngay quyết định thi hành án Có nhiều cách hiểu khác nhau về cách hiểu và áp dụng

khái niệm “ra ngay”, có cơ quan thi hành án dân sự cho rằng, khi nhận được quyết

định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án ngay sau đó, tức là ngay trong ngày hôm đó Có cơ

quan thi hành án dân sự lại cho rằng, chỉ cần ra quyết định thi hành án “ngay khi có

thể” chứ không phải máy móc hiểu là “ngay sau đó” hay “ngay trong ngày”

Chính vì có các cách hiểu khác nhau mà đã có cơ quan thi hành án dân sự đã để hai,

ba ngày sau kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mới ra quyết định thi hành án nên không đảm bảo được tính khẩn cấp của loại quyết định này

Để tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng, trường hợp cơ quan cơ quan thi hành án dân sự nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vào buổi sáng ngày thứ sáu thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra ngay quyết định thi hành án và phân công Chấp hành

Trang 36

viên tổ chức thi hành để đảm bảo tính khẩn cấp khi thi hành quyết định này Trong trường hợp nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn câp tạm thời vào cuôi giờ chiều ngày thứ sáu thì tùy từng trường hợp để cơ quan thi hành án quyết định ra ngay trong ngày thứ 6 hay đến sáng thứ 2 mới ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành ngay Đặc biệt, nếu biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án áp dụng là biện pháp phong tỏa tài khoản tại Ngân hàng, tổ chức tín dụng thì cơ quan thi hành

án nên ra ngay quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành (vì tiền trong tài khoản là tài sản rất dễ tẩu tán, nếu không ra ngay quyết định

và thực hiện quyết định đó, có thể đương sự sẽ tẩu tán tài sản; mặt khác, Ngân hàng

và tồ chức tín dụng vẫn làm việc vào ngày thứ bảy nên cơ quan thi hành án vẫn tiến hành ra quyết định trong ngày thứ 6 để kịp thời tổ chức thi hành)

Đối với Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản thì phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định

Đối với phần bản án, quyết định về hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản, các khoản thu khác cho nhà nước; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản thuộc diện sung quỹ nhà nước thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định thi hành án

Để xác định được ngày nhận bản án, quyết định thì phải kiểm tra sổ nhận bản án, quyết định

3 Quyết định thi hành án phải ghi rõ họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; số, ngày, tháng, năm, tên cơ quan, tổ chức ban hành bản án, quyết định; tên, địa chỉ của người phải thi hành án, người được thi hành; phần nghĩa vụ phải thi hành án; thời hạn tự nguyện thi hành án

4 Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Việc chủ động ra quyết định thi hành án được quy định tại Điều 36 Luật thi hành án dân sự và Điều 6 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP So với Luật Thi hành án dân sự 2008 và Nghị định số 58/2009/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị

Trang 37

định số 125/2013/NĐ-CP) thì Nghị định 62/2015/NĐ-CP có một số quy định mới được bổ sung với những nội dung cụ thể như sau:

Ngoài phạm vi các nội dung mà Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự được quyền ra quyết định thi hành án chủ động theo quy định tại Điều 36 Luật Thi hành án dân

sự năm 2008, một số loại việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự được bổ sung quyền chủ động ra quyết định thi hành để đảm bảo lợi ích cho Nhà nước theo Luật sửa đổi, bổ

sung gồm: Lệ phí Tòa án (đây là một khoản thu cho ngân sách nhà nước tương tự như án phí để đảm bảo tránh gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước); Quyết định của Tòa án giải

quyết phá sản; các khoản thu khác cho Nhà nước (ngoài khoản tịch thu sung quỹ nhà

nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản mà Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định)

“Các khoản thu khác” theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 36 Luật sửa

đổi, bổ sung được Nghị định 62/2015/NĐ-CP nêu cụ thể, gồm các khoản: khoản truy

thu thuế; khoản viện trợ cho Nhà nước và các khoản bồi thường cho Nhà nước trong các

vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; các khoản thu khác nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước (khoản 3 Điều 6)

Đây là quy định mới của hệ thống pháp luật Thi hành án dân sự nhằm đảm bảo những khoản thu nộp ngân sách nhà nước được thu hồi kịp thời, tránh thất thoát cho ngân sách nhà nước

Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung về việc hướng dẫn việc ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu, cụ thể:

Thứ nhất, bổ sung trường hợp “nhiều người được nhận một tài sản cụ thể hoặc nhận chung một khoản tiền” theo bản án, quyết định, nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án” (khoản 1 Điều 7)

Trong trường hợp này, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với những người đã có yêu cầu, đồng thời thông báo cho những người được thi hành án khác theo bản án, quyết định đó biết để yêu cầu thi hành án trong

thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ Hết thời hạn trên, nếu người

được thông báo không yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên tổ chức giao tài sản,

Trang 38

khoản tiền đó cho người đã có yêu cầu hoặc người đại diện của những người đã có

yêu cầu để quản lý Quyền và lợi ích hợp pháp của những người được thi hành án đối

với tài sản đó được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật

Thứ hai, bỏ quy định “ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án”

(khoản 2 Điều 7)

Theo đó, trong trường hợp sau khi trừ đi thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu thi hành

án (không cần ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án) Trường hợp

đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự ra Thông báo theo mẫu để từ chối nhận yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điểm c Khoản 5 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự

Thứ ba, đã bổ sung quy định giải quyết trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án (khoản 6 Điều 4)

Nhằm tạo điều kiện cho người phải thi hành án là phạm nhân có thể được xem xét giảm chấp hành hình phạt, xem xét đặc xá theo quy định của pháp luật Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án mà chỉ ra quyết định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản

họ tự nguyện nộp, đồng thời lập biên bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do phạm nhân

là người phải thi hành án, người được ủy quyền hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thi hành án đến nhận.Trường hợp người được thi hành án không đến nhận tiền, tài sản khi đã hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày được thông báo hợp lệ thì cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước, sau khi khấu trừ tiền, tài sản mà họ phải thi hành theo quyết định thi hành án khác, nếu có

Thứ tư, bổ sung căn cứ cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án:

Ngoài các căn cứ từ chối yêu cầu thi hành án đã được quy định tại Khoản 5 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung căn cứ cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án trong trường hợp

Trang 39

“bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo

quy định của Luật này” Cụ thể hóa nội dung này, Khoản 4 Điều 7 Nghị định số

62/2015/NĐ-CP xác định đây là trường hợp “bản án, quyết định không xác định cụ thể người phải thi hành án và nghĩa vụ phải thi hành”

Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự:

Việc ra quyết định thi hành án theo Điều 1 Thông tư liên tịch số 11 về cơ bản

kế thừa các quy định của Điều 2 Thông tư liên tịch số TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 (các khoản 1,2,3,4,5), cụ thể là:

14/2010/TTLT-BTP-“1 Trường hợp vào cùng một thời điểm cơ quan thi hành án dân sự nhận

được nhiều yêu cầu thi hành án liên quan đến một quyết định, bản án thì tùy thuộc vào nội dung của bản án, quyết định của Tòa án, nội dung yêu cầu thi hành án, thời hạn ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc

ra một hay nhiều quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP

2 Trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với người đó

3 Trường hợp đương sự là pháp nhân hoặc là người chưa thành niên, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người đại diện theo pháp luật của đương sự

Trường hợp đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người giám hộ

Trường hợp đương sự có ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án thì

Trang 40

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người được uỷ quyền

4 Đối với bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án hành chính, Thủ trưởng

cơ quan thi hành án dân sự chỉ thụ lý và ra quyết định thi hành án đối với phần nghĩa vụ về tài sản như án phí, bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, giao lại đất đai được tuyên cụ thể trong quyết định, bản án của Tòa án Những nội dung khác của bản án, quyết định được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính

5 Đối với bản án, quyết định của Tòa án có tuyên tổng hợp hình phạt tiền của nhiều bản án mà việc tổng hợp hình phạt tiền không đúng quy định của Bộ luật hình sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định thi hành án

mà có văn bản kiến nghị người có thẩm quyền xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với quyết định, bản án đó”

Bổ sung quy định mới về cách thức ra quyết định thi hành án trong trường hợp có quy định thời hạn thực hiện (Khoản 6 Điều 1)

Pháp luật hiện hành chỉ mới quy định về cách tính thời hạn, thời hiệu thi hành án đối với bản án, quyết định có quy định các thời hạn, kỳ thực hiện nghĩa vụ thi hành án, chưa có quy định về cách thức ra quyết định thi hành án đối với những trường hợp này, do đó trong thực tế khá vướng, thực hiện không thống nhất Về nguyên tắc, nếu bản án, quyết định có tuyên nghĩa vụ của người phải thi hành án và

có xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì người đó chỉ phải thực hiện khi đã đến thời hạn Thông tư liên tịch số 11 đã quy định rõ việc ra quyết định thi hành án trong trường hợp bản án, quyết định có quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ thi hành án và việc ra quyết định thi hành án đối với nghĩa vụ được thực hiện theo nhiều thời hạn khác nhau Theo đó, người phải thi hành án chỉ có nghĩa vụ thi hành

đối với những nghĩa vụ đã đến hạn Cụ thể: Đối với bản án, quyết định có ấn định

một thời hạn cụ thể để thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành

án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án khi nghĩa vụ đã đến hạn, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác Đối với bản án, quyết định ấn định nghĩa vụ được thực hiện theo nhiều thời hạn khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự

Ngày đăng: 15/03/2023, 16:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định số 181/2003/QĐ - TTg về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “Một cửa” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cửa
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2003
1. Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin Khác
2. Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Thời Đại năm 2014; 3. Hiến pháp 2013 Khác
5. Đinh Duy Bằng, Những khó khăn trong xác minh thi hành án dân sự, tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề về Thi hành án dân sự tháng 3/2011, tr12,13 Khác
6. Nguyễn Công Bình, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, nxb Tư pháp, 2012 Khác
7. Bùi Thị Huyền, Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án dân sự, tạp chí Nghề luật, Học viện tư pháp, số 3/2013, tr 27- 31 Khác
8. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2003), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
9. Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 Khác
10. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự Khác
11. Nghị định 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 Khác
12. Thông tư liên tịch số 11/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thủ tục Thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong Thi hành án dân sự Khác
14. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
15. Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối Khác
16. Bộ tư pháp, Tài liệu phục vụ Hội thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2008 Khác
17. Bộ Tư pháp, Báo cáo sơ kết hai năm thực hiện Luật thi hành án dân sự năm 2008 (2010 và 2011), tháng 12/2011 Khác
18. Chính phủ (2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Báo cáo công tác thi hành án dân sự các năm (2013, 2014, 2015, 2016, 2017) Khác
19. Chính phủ (2017), Chỉ thị số 05/2017/CT-TTg ngày 06/02/2017 Chỉ thị về tăng cường công tác thi hành án dân sự Khác
20. Cục Thi hành án dân sự, Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân (2014), Quy chế số 230/2014/QCLN/CTHADS-CA-VKSND-TAND ngày 25/4/2014 Khác
21. Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam (2013, 2014, 2015, 2016, 2017), Báo cáo tổng kết công tác thi hành án dân sự các năm 2013, 2014, 2015, 2016, 2017 Khác
22. Cục Thi hành án dân sự, Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân (2014), Quy chế số 230/2014/QCLN/CTHADS-CA-VKSND-TAND ngày 25/4/2014 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w