TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SAU ĐẠI HỌC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH VĨNH LONG HIỆN NAY
Đối tượng nghiên cứ u
Đề tài này tập trung làm rõ vấn đề:
“Tưtưởng triết học của Phật giáovà sựảnh hưởng của nóđến đời sống vănhóa tinh thần của người dân tỉnh Vĩnh Long hiện nay”.
Phương pháp nghiên cứ u
Để thực hiện tiểu luận, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, logic - lịch sử
K ế t c ấ u c ủ a ti ể u lu ậ n
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm có 2 chương và 6 tiết
KHÁI QUÁT VỀ NGU Ồ N G ỐC RA ĐỜI VÀ N ỘI DUNG CƠ BẢ N C Ủ A TƯ TƯỞ NG TRI Ế T H Ọ C PH ẬT GIÁO
Khái quát về điề u ki ệ n kinh t ế - xã hộ i c ủ a Ấn Độ c ổ đại hình thành Phật giáo 3
Ấn Độ cổ đại là một lục địa lớn ở phía Nam châu á, có những yếu tố địa lý rất trái ngược nhau: Vừa cónúi cao, lại vừa có biển rộng; vừa cósôngẤn chảy vềphíaTây, lại vừa có sông Hằng chảy về phía Đông; vừa có đồng bằng phì nhiêu, lại có sa mạc khô cằn; vừa có tuyết rơi giá lạnh, lại có nắng cháy, nóng bức… (Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Nền văn minhẤn Độ cổ đại ra đời sớm Vào khoảng thế kỷ XXV trước Công nguyên tr.CN, nền văn minh sông Ấn đã xuất hiện rồi sau đó suy tàn Từ thế kỷ XV tr.CN các bộ lạc du mục Arya từ Trung Á xâm nhập vào ấn Độ, định cư rồi đồng hóa với người bản địa Dravida tạo cơ sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thứ hai trên đất Ấn Độ Từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên đến thế kỷ XVI, đất nước Ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triều và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022) Đặc điểm nổi bật của điều kiện kinh tế – xã hội của xã hội Ấn Độ cổ, trung đại là sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế – xã hội theo mô hình “công xã nông thôn”, trong đó, chế độ quốc hữu về ruộng đất là cơ sở quan trọng nhất (C.Mác) Xã hội Ấn độ cổ đại phân hóa sâu sắc và đã tồn tại bốn đẳng cấp lớn: tăng lữ (Brahman), quý tộc (Ksatriya), bình dân tự do (Vaisya) và tiện nô (Ksudra) Cùng với sự phân biệt sâu sắc về chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, chế độ đẳng cấp Ấn Độ cổ đại cũng đã ghi đậm dấu ấn trong đời sống tinh thần - vănhóa (BộGiáo dục và Đào tạo, 2022)
Về văn hóa, Ấn Độ cổ đại có nền văn hóa phát triển rực rỡ Người Ấn Độ cổ đại đã đạt tới đỉnh cao trí tuệ về thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực… Toán học cổ đại Ấn Độ đã phát minh ra số thập phân, tính được trị số π, biết về đại số, lượng giác, phép khai căn, giải phương trình bậc 2, 3 Y học cổ đại Ấn Độ đã xuất hiện những danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng thuốc thảo mộc (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022)
Nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo.Vănhóa Ấn Độ cổ, trung đại được chia làm ba giai đoạn: Khoảng từ thế kỷ XXV
– XV tr.CN gọi là nền văn minh sông Ấn Từ thế kỷ XV – VII tr.CN gọi là nền văn minh Vêda Từ thế kỷ VI – I tr.CN là thời kỳ hình thành các trường phái triết học tôn giáo lớn gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống và không chính thống (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022)
Hệ thống chính thống bao gồm các trường phái thừa nhận uy thế tối cao của Kinh Vêda Hệ thống này gồm sáu trường phái triết học điển hình là Samkhya, Mimansa, Vedanta, Yoga, Nyaya, Vaisesika Hệ thống triết học không chính thống phủ nhận, bác bỏ uy thế của kinh Vêda và đạo Bàlamôn Hệ thống này gồm ba trường phái là Jaina, Lokayata và Buddha (Phật giáo) (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022) Đạo Phật mang tên người sáng lập Buddha Buddha vốn là một thái tử tên Tất Đạt Đa
(Siddhatha), con trai vua nước Trịnh Phạn phía Bắc Ấn Độ (nay là nước Nepal) Vào năm 29 tuổi, Ngài nhận thức rằng tiện nghi vật chất và an ninh trong thế gian không bảo đảm hạnh phúc; vì thế, Ngài đi tìm học các lời dạy, tôn giáo và triết học thời đó, để tìm kiếm chìakhóađưađến hạnh phúc Sau sáunăm học tập và hành thiền, Ngàitìm ra con đường “Trung Đạo” và giác ngộ Sau khi chứng đắc, Ngài dùng quãng đời còn lại tại thế gian để truyền giảng các nguyên lý trong đạo Phật – gọi là Pháp, hay Chân lý, cho đến khi Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi (Bùi Văn Mưa và Nguyễn Ngọc Thu, 2003)
Và sự phát triển của đạo Phật có thể được chia làm bốn giai đoạn:
1 Giữa thế kỷ thứ VI đến giữa thế kỷ thứ V trước Công nguyên: Giai đoạn nguyên thủy, do đức Phật giáo hóa và các đệ tử của Phật truyền bá
2 Kể từ thế kỷ thứ IV trước Công nguyên: Giai đoạn bắt đầu phân hóa ra nhiều trường phái qua các lần kết tập về giáo pháp
3 Kể từ thế kỷ thứ I: Xuất hiện giáo phái Đại thừa với hai tông phái quan trọng là Trung quán tông và Duy thức tông
4 Kể từ thế kỷ thứ VII: Xuất hiện Phật giáo Mật tông (Phật giáoTây Tạng, Kim cương thừa)
Sau thế kỷ thứ XIII, Phật giáo được xem là bị tiêu diệt tại Ấn Độ, nơi sản sinh đạo Phật Từ thế kỷ thứ III, đạo Phật được truyền đi các nước khác ngoài Ấn Độ và mang nặng bản sắc của các nước đó Ngày nay, phái Tiểu thừa với quan điểm của Thượng tọa bộ được truyền bá rộng rãi tại Tích Lan (Sri Lanka), Thái Lan, Miến Điện
(Myanma), Campuchia Đại thừa được truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam Giáo pháp Kim cương thừa – cũng được xếp vào Đại thừa – phát triển mạnh tại Tây Tạng, Mông Cổ.
Nh ững tư tưởng cơ bả n c ủ a Ph ật Giáo
Tư tưởng triết học Phật giáo chủ yếu nói về thế giới quan và nhân sinh quan
1.2.1 Thế giới của quan Phật giáo
Thế giới quan Phật giáo chịu ảnh hưởng của hai luận điểm, thể hiện qua 4 luận thuyết cơ bản: thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết nhân duyên khởi (Walpola Rahula, 2009)
Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là thường trụ, bất biến Với ngũ quan thô thiển của ta, ta lầm tưởng sự vật là yên tĩnh, là bất động nhưng thật ra là nó luôn luôn ở thể động, nó chuyển biến không ngừng Sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức: a) Một là Sátna (Kshana) vô thường: là sự chuyển biến rất nhanh, trong một thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một sự chuyển biến vừa khởi lênđã chấm dứt b) Hai là Nhất kỳ vô thường: là sự chuyển biến trong từng giai đoạn Sự vô thường thứ nhất là trạng thái chuyển biến nhanh chóng, liên tiếp, ngắn ngủi, thường là ta không nhận ra mà kết quả là gây ra sự vô thường thứ hai Nhất kỳ vô thường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ, chuyển sang một trạng thái mới Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo luật: Thành – Trụ – Hoại – Không
Vạn vật được cấu thành, trụ một thời gian, sau đó chuyển đến diệt, thành, hoại, không. Các sinh vật đều tuân theo luật: Sinh, trụ, di, diệt
Không những thân ta chuyển biến không ngừng mà tâm ta cũng không ngừng chuyển biến Như dòng nước thác, như bọt bể, trong Satna này, trong tâm ta nổi lên một ý niệm thiện, chỉ trong Satna sau, trong tâm ta đã có thể khơi lên một ý niệm ác
Các hình thái xã hội theo thời gian cũng chuyển biến: Xã hội công xã nguyên thủy →
Xã hội chiếm hữu nô lệ → Xã hội phong kiến → Xã hội tư bản → Xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa Đó là quy luật xã hội và cũng phù hợp với thuyết vô thường của Đạo Phật
Trong thế gian có những người không biết lý vô thường của Phật, có những nhận thức sai lầm về sự vật là thường còn, là không thay đổi, không chuyển biến Vì nhận thức thân ta là thường còn nên nảy ra ảo giác muốn kéo dài sự sống để hưởng thụ, để thỏa mãn mọi dục vọng Khi luật vô thường tác động đến bản thân thì sinh ra phiền não đau khổ (HT.K.Sri Drammananda, 2006)
Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là cơ sở của lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những con người tu dưỡng theo giáo lý Phật
Từ thuyết vô thường, Phật nói sang vô ngã Vô ngã là không có cái ta Thực ra làm gì cũngcó cái ta trường tồn, vĩnh cữu vì cái ta nó biến đổi không ngừng, biến chuyển từng phút, từng giờ, từng Satna (HT.K.Sri Drammananda, 2006)
Một câu hỏi được đặt ra là cái ta ở giây phút nào là cái ta chân thực, cái ta bất biến? Cái ta mà Phật nói trong thuyết vô ngã gồm có hai phần: Cái ta sinh lý tức thân và cái ta tâm lý tức tâm
Theo kinh Trung Quốc Ahàm, cái ta sinh lý chỉ là kết hợp của bốn yếu tố của bốn đại là: địa, thủy, hỏa, phong Những thứ đó không phải là ta, ta không phải là những thứ đó, những thứ đó không thuộc về ta
Còn cái ta tâm lý gồm: thụ, tưởng, hành, thức Bốn ấm này cùng với sắc ấm che lấp trí tuệ làm cho ta không nhận thấy được cái ta chân thực cái ta Phật tính, cái chân ngã của chúng ta Cái chân lý gồm những nhận thức, cảm giác, suy tưởng, là sự kết hợp của thất tỉnh: hỷ, nộ, ai, lạc, ái, nỗ, dục
Thuyết vô ngã làm cho người ta không còn ai tin là có một linh hồn vĩnh cửu, tồn tại kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác Sự tin có một linh hồn dẫn đến sự cúng tế linh hồn làhànhđộng của sựmêtín
7 Đối với những người bị hà hiếp, bị bóc lột thì sự mê tín có cái ta vĩnh cửu dẫn đến tư tưởng tiêu cực, chán đời phó mặc cho số mệnh, hy vọng làm lại cuộc đời ở kiếp sau Quan niệm có một linh hồn bất tử, một cái ta vĩnh cửu là nguồn gốc sinh ra những tình cảm, những tư tưởng ích kỷ, những tham dục vô bờ của những kẻ dựa vào sức mạnh phi nghĩa để làm lợi cho mình, tức là cho cái ta mà họ coi là thường còn, bất biến
Căn cứ trên hai thuyết vô thường và vô ngã Phật đã xây dựng cho đệ tử một phương thức sống, một triết lý sống lấy vị tha làm lý tưởng cao cả cho cuộc sống của mình, hay nói một cách khác một cuộc sống một người vì mọi người, mọi người vì một người
Với lý nhân duyên sinh Phật muốn nói tới một định lý Theo định lý ấy sự vật vạn vật phát triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sự vật, vạn pháp sẽ kiến diệt khi nhân duyên tan rã (HT.K.Sri Drammananda, 2006)
Nhân là năng lực phát sinh, duyên là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh Như cây lúa thì hạt lúalànhân,nước, ánh sáng mặt trời, côngcày bừa gieo trồng làduyên
THỰ C TR Ạ NG ẢNH HƯỞ NG C Ủ A PH ẬT GIÁO ĐẾN ĐỜ I S ỐNG VĂN HÓA TINH THẦ N C ỦA NGƯỜI DÂN TỈNH VĨNH LONG HIỆ N NAY
Khái quát vài nét về đặc điểm văn hóa – xã hộ i c ủ a t ỉnh Vĩnh Long
2.1.1 kháiquát vềđặc điểm tựnhiên của tỉnh Vĩnh Long
Tỉnh Vĩnh Long có dạng địa hìnhkhá bằng phẳng với độ dốc nhỏhơn2°,có cao trình khá thấp so với mực nước biển, Với dạng địa hình đồng bằng ngập lụt cửa sông, tiểu địa hình của tỉnh có dạng lòng chảo ở giữa trung tâm tỉnh và cao dần về 2 hướng bờ sông
Tiền, sông Hậu, sông Mang Thítvà ven cácsông rạch lớn Tỉnh Vĩnh Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.400 - 1.450 mm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, chiếm 85% lượng mưa cả năm, nhiệt độ tương đối cao, ổn định, nhiệt độ trung bình là 27°C, biên độ nhiệt trung bình năm nhỏ, độ ẩm trung bình 79,8%, số giờ nắng trung bình năm lên tới 2.400 giờ Vĩnh Long có cấu trúc địa chất tương đồng với khu vực, chủ yếu là trầm tích biển của kỉ Đệ Tứ trong Đại Tân sinh Vĩnh Long tuy có diện tích đất phèn lớn, tầng sinh phèn ở rất sâu, tỉ lệ phèn ít, song đất có chất lượng cao, màu mỡ vào bậc nhất so với các tỉnh trong vùng (Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long, 2022)
(Ngu ồ n: C ổ ng thông tin điệ n t ử t ỉ nh Vĩnh Long, 2022)
Hình 2.1 Bản đồhành chính Tỉnh Vĩnh Long
19 Đặc biệt tỉnh có hàng vạn ha đất phù sa ngọt ven sông Tiền và sông Hậu (lượng phù sa trung bình là 374g/m³ nước sông vào mùa lũ), đất tốt, độ phì nhiêu cao, trồng được hai vụ lúa trở lên, cho năng suất cao, sinh khối lớn lại thuận lợi về giao thông kể cả thủy và bộ Vĩnh Long còn có lượng cát sông và đất sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào Cát sông với trữ lượng khoảng 100 - 150 triệu m³, được sử dụng chủ yếu cho san lấp và đất sét với trữ lượng khoảng 200 triệu m³, là nguyên liệu sản xuất gạch và làm gốm Vĩnh Long là tỉnh đặc biệt nghèo về tài nguyên khoáng sản, cả về số lượng lẫn chất lượng Tỉnh chỉ có nguồn cát và đất sét làm vật liệu xây dựng, đây là nguồn thu có ưu thế lớn nhất của tỉnh Vĩnh Long so với các tỉnh trong vùng về giao lưu kinh tế và phát triển thương mại - du lịch Tỉnh Vĩnh Long nằm giữa hai con sông lớn nhất của đồng bằng sông Cửu Long, nêncó nguồn nước ngọt quanh năm,đó là tài nguyên vô giámà thiên nhiên ban tặng Vĩnh Long có mạng lưới sông ngòi chằng chịt, hình thành hệ thống phân phối nước tự nhiên khá hoàn chỉnh, cùng với lượng mưa trung bình năm lớn đã tạo điều kiện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân (Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long, 2022)
Vĩnh Long là tỉnh có vị trí địa lý nằm giữa sông Tiền và sông Hậu vốn thuộc trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long (Đồng bằng sông Cửu Long) Địa hình tỉnh tương đối phẳng, hình lòng chảo, được cấu thành bởi một hệ thống sông ngòi khá dày đặc Gia Định thành thông chí đã từng nhận định, địa hình vùng đất Vĩnh Long “thế đất chia xẻ từng mảnh, sông ngòi chằng chịt như mắc cửi, không có thuyền bè không thể đi được” (Trịnh Hoài Đức và ctv, 1998, tr.150)
Vĩnh Long là một trong 13 tỉnh của đồng bằng Châu thổ sông Cửu Long Nhìn bao quát trên bản đồ Vĩnh Long nay như một hình thoi nằm ở giữa hạ lưu sông Tiền và sông Hậu, ở vĩ tuyến bắc 9 0 52’40’’ đến 10 0 19’48’’ kinh tuyến đông 105 0 41’18’’ đến
Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang có ranh giới là sông Tiền
Phía Đông giáp tỉnh Bến Tre;
PhíaĐông Nam giáp tỉnh Trà Vinh;
Phía Tây giáp Thành phố Cần Thơ có ranh giới là sông Hậu
Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp
Vĩnh Long là một trong 63 tỉnh thành gồm của cả nước toàn tỉnh được phân chia thành 8 đơn vị hành chính, gồm 6 huyện đó là các huyện Long Hồ, Mang Thít, Vũng Liêm, Tam Bình, Trà Ôn, Bình Tân, thị xã Bình Minh và Thành phố Vĩnh Long, 107 xã phường 864 ấp khóm
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Vĩnh Long
Năm 2018, Vĩnh Long là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 41 về số dân, xếp thứ
42 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 35 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 62 về tốc độ tăng trưởng GRDP Với 1.051.800 người dân, GRDP đạt 47.121 tỉ Đồng (tương ứng với 2,0465 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 44,8 triệu đồng (tương ứng với 1.946 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 6,17% (Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long, 2022)
Năm 2011, GRDP tỉnh Vĩnh Long tăng trưởng hơn 10% và cao hơn bình quân cả nước, GDP bình quân đầu người của tỉnh đạt gần 24 triệu đồng Lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt mức cao nhất từtrước đến nay với gần 390 triệu USD, tăng 50% so kế hoạch năm Các ngành hàng nông sản tiếp tục khẳng định là thế mạnh chủ lực của tỉnh như: nấm rơm, trứng vịt muối, thủy sản đông lạnh, v.v… Trong đó lúa gạo là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu Lần đầu tiên sau nhiều năm Vĩnh
Long có sản lúa vượt trên 1 triệu tấn Năng suất lúa bình quân 5,6 tấn/ha, theo định hướng của chính phủ và đưa Vĩnh Long trở thành một trong những tỉnh xuất khẩu gạo lớn của cả nước với sản lượng xuất khẩu đạt gần 438.000 tấn (Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long, 2022)
Năm 2019, nền kinh tế của tỉnh Vĩnh Long duy trì đà tăng trưởng, tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) tăng 6,22% Các mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm
2019 của tỉnh Vĩnh Long cơ bản được hoàn thành, ước có 20/22 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch đề ra, trong đó có 7 chỉ tiêu vượt kế hoạch Cụ thể, tổng thu ngânsách nhà nước cả năm ước đạt 6.794 tỷ đồng, đạt 110,1% dự toán và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 14.117 tỷ đồng, đạt 102,29% kế hoạch và tăng 8,46% so với năm 2018 (Cổng thông tin điện tử tỉnh VĩnhLong, 2022)
Th ự c tr ạ ng ảnh hưở ng c ủ a Ph ật giáo đến đờ i s ố ng tinh th ầ n c ủa người dân t ỉ nh Vĩnh Long
và phát triển quê hương, đất nước
Do địa thế và lịch sử hình thành, từ ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa cùng sinh sống lâu đời ở đây đã hòa quyện và tạo nên một nền văn hóa đặc trưng cho vùng đất này Vĩnh Long có khá nhiều loại hình văn học dân gian như: nói thơ Vân Tiên, nói tuồng, nói vè, hát Huê Tình, cải lương Vĩnh Long cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa như: thành Long Hồ, Công Thần Miếu Vĩnh Long, đìnhTân Giai, đìnhTân Hoa, VănThánh Miếu Vĩnh Long, Khu tưởng niệm cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng (Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long, 2022)
Phần lớn dâncưVĩnh Long làngười Việt (Kinh) chiếm 65,40%, người Khmer chiếm 1,43% tập trung ở Thành phố Vĩnh Long và Thị xã Bình Minh, người Hoa chiếm 3,27%
Là vùng đất trù phú thịnh vượng, người dân Vĩnh Long hiền hoà, hiếu khách, có phong cách sống phóng khoáng đặc trưng của vùng Nam Bộ
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, Toàn tỉnh Vĩnh Long có 11 tôn giáo khác nhau chiếm 262.280 người, nhiều nhất là Phật giáo có 77.660 người, Phật giáo Hòa Hảo có 66.269 người, Công giáo có 66.220 người, đạo Cao Đài có 46.226 người, các tôn giáo khác như Tin Lành có 3.641 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1.842 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 327 người, Hồi giáo 56 người, Minh Sư Đạo có 22 người, Bửu Sơn Kỳ Hương có 16 người, còn lại là đạo Bà-la-môn chỉ có một người (Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Long, 2022)
2.2 Thực trạng ảnh hưởng của Phật giáođến đời sống tinh thần của người dân tỉnh Vĩnh Long
2.2.1 Phật giáotácđộng đến suy nghĩ,hànhđộng của người dân tỉnh Vĩnh Long
Hành vi đạo đức của những người dân có tín ngưỡng tôngiáo bị chi phối bởi niềm tin tôn giáo, khiến con người Vĩnh Long có thái độ thành kính, thực hiện một cách tự giác, nghiêm túc những điều Phật dạy trong đời sống Hiện nay, ở nhiều nơi, đặc biệt ở
Vĩnh Long, trong các lễ của Phật giáo, người dân đi chùa rất đỏng Những người đến chùa thuộc đủ mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không chỉ các cụ già mà còn cỏ đông đảo những thanh thiếu niên, sinh viên, tri thức, những người buôn bán và cả cán bộ, công nhân, viên chức Đa số người dân hiện nay tùy mức độ khác nhau nhưng đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Những triết lý cao siêu, bác học của Phật giáo hầu như chỉ ảnh hưởng tới tầng lớp trí thức Phật giáo, những nhà tu hành, còn với phần lớn dân chúng, họ đi chùa chủ yếu dựa trên tâm thức “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”
Dù mức độ tác động của giáo lý Phật giáo đối với xã hội rất khác nhau, vừa tích cực, vừa tiêu cực, nhưng rõ ràng thông qua việc lễ bái, sinh hoạt tôn giáo, người ta muốn pháixét lại bản thân theo các chuẩn mực của đạo đức Phật giáo.Đâychínhlà dịp để con người của tỉnh Vĩnh Long tịnh tâm, chấn chỉnh lại mình, hoàn thiện bản thân sau những lo loan, tính toán đời thường Đồng thời, cũngkhông thể phủ nhận, hàngnăm,các lễ hội Phật giáo thu hútkhông chỉ Phật tử mà cả những người ngoại đạo Điều này cũng có tác dụng tăng cường sự hiểu biết và quan hệ lương - giáo, thắt chặt tình cảm cộng đồng, bồi đắp tình yêu quê hương của tỉnh, niềm tự hào của người dân địa phương ở đây
Sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo không chỉ dừng lại ở giáo lý, kinh kệ mà đã góp phần hình thành phong tục nếp sống của các gia đình Vĩnh Long Với tư tưởng hướng thiện, đạo đức Phật giáo đả cỏ nhiều ảnh hưởng tích cực trong xây dựng và giáo dục đạo đức cho con người Vĩnh Long hiện nay
2.2.2 Phật giáotácđộng đến đạo đức con người của người dân tỉnh Vĩnh Long
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa) “Luân lý” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ HyLạp là Ethicos nghĩa là lề lối, tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hằng ngày
Khái niệm đạo đức xuất hiện đầu tiên trong kinh văn đời nhà Chu Đức dùng nói đến nhânđức, đức tínhvà nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, lànguyên tắc luân lý Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau:
23 Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Đạo đức thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần Vì đạo đực là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nên đạo đức không thể tồn tại một cách biệt lập mà nó có quan hệ chặt chẽ với các hình thái ý thức xã hội khác của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo Tôn giáo và đạo đức đều là những hình thái ý thức xã hội Tôn giáo và đạo đức đều hướng con người tới những lí tưởng sống thiện, nhân đạo, tránh cái ác, đè cập đến những vần đề hạnh phúc, số phận con người Những nhu cầu đạo đức của con người ít nhiều được phản ánh trong các giáo lí của tôn giáo nói chung và tư tưởng triết học Phật giáo nói riêng
Tư tưởng triết học Phật giáo có sức lan toả rộng rãi, đặc biệt ở các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam nói chung và người dân tỉnh Vĩnh Long nói riêng cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm về văn hoá, lối sống và đạo đức Phật giáo Triết lí Phật giáo đã khơi dậy sự khát khao của con người muốn giải thoát trước những mâu thuẫn, bế tắc do chính con người tạo ra Bởi vậy đạo Phật xét về mặt tích cực, thực sự là chỗ dựa tinh thần cho một bộ phận đông đảo quần chúng trong xã hội Đặc biệt với một bộ phận quần chúng dân cư dân cư đến sinh cơ lập nghiệp trên đất Vĩnh Long, là một một vùng đất mới, dân cư, văn hoá, phong tục đều xa lạ, đầy sự huyền bí và đe doạ, những người dân lúc này phải giữ sự bình an của tâm hồn bằng chính những ngôi chùa Phật trên mảnh đất này, những ngồi chùa quê vị tha, hướng thiện, bỏ cái ác đến từ bi của Đức Phật là nơi an ủi tâm hồn, giúp chính bản thân họ vượt qua khổ nạn Cũng chính vì vậy mà đạo Phật đã bám sâu vào lối sống tư tưởng đạo đức của người dân nơi đây, có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Vĩnh Long
Những tư tưởng Phật giáo đã tác động khá rõ nét trong đạo đức, lối sống của người dânVĩnh Long Cách sống bìnhtĩnh, dung dị, sâu lắng, thuỷ chung, giản dị, mộc mạc của người dân Vĩnh Long có một phần bồi đắp từ tư tưởng Phật giáo Tính cách, đạo đức, lối sống của người dân Vĩnh Long thể hiện rõ sự độc đáo, phong phú và đa dạng Nền tảng của tính cách, lối sống của người dân nơi đây là văn hoá cư dân Vĩnh Long
24 được dung hòa với văn hoá bản địa ở vùng đất mới vừa tiếp nhận dưới ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo Những người đầu tiên có mặt tại Vĩnh Long vùng đất mới với bao gian khó ban đầu để lập nghiệp, thì Phật giáo là chỗ dựa tinh thần, là sự chở che, giúp đỡ, rối sau đó lâu dần những tư tưởng Phật giáo thấm sâu vào tâm hồn trở thành tính cách, lối sống của người dân ở địa phương này Chùa có mặt ở khắp nơi, được sống trong không gian với cảnh chùa thanh tịnh, tiếng chuông chùa hôm sớm, tư tưởng Phật giáo cứ thế mà thấm dần vào tâm can trong lòng của mọi người
Những ngôi chùa ở Vĩnh Long không đơn thuần là cơ sở thờ tự mà là nơi thể hiện tư tưởng, tình cảm, thể hiện lòng tôn kính của người dân ở đây, từ lâu đã chi phối cách ăn ở và ứng xử của mọi người, tạo thành phong tục thói quen của người dân nơi đây Đến chùa không chỉ giúp cho người ta tìm được sự thư thái, bình an, hướng thiện mà còn giúp họ quên đi những khó khăn, những việc làm chưa đẹp trong cuộc sống để hướng về những điều thanh cao Do vậy, đi chùa lễ Phật vào những ngày Phật đản, Vu lan, Tết Nguyên Đán hay những ngày rằm, mồng một hàng tháng đã trở thành nếp sống bình thường không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân Họ đến chùa với tấm lòng thành kính, thân tâm trong sáng cầu mong sự bình an, tốt đẹp cho mình và cho mọi người
Tập tục ăn chay của Phật giáo xuất phát từ lòng từ bi, Phật giáo không muốn các sinh vật bị giết hại Tập tục đó ngày nay không chỉ có ở một số vùng ở Đồng Bằng Nam Bộ, đặc biệt ở Vĩnh Long Ăn chay hay ăn lạt xuất phát từ quan niệm từ bi của Phật giáo, vì khi đã trở về với phật pháp, mỗi người phật tử phải thọ giới và trì giới, trong đó giới là không sát sanh hại vật, mà trái lại phải thương yêu mọi loài Trong hành động lời nói và ý nghĩa, người phật tử phải thể hiện lòng từ bi Điều không thể có được khi con người còn ăn thịt, uống máu chúng sanh Để đạt được mục đích đó người phật tử phải dùng đến phươngphápăn chay Đối với người dân, ăn chay hàng tháng hay trường chay cũng thể hiện sự mộ đạo và lối sống đạo của người dân Tuy nhiên không phải chỉ Phật tử mới ăn chay mà cả những người không theo đạo Phật cũng ăn chay một tháng từ 2 đến 4 ngày, bởi đa phần mọi người đều muốn thông qua việc này để gửi gắm tâm nguyện của mình Như quan niệm ăn chay của Phật giáo là để nuôi dưỡng pháp thiện, tăng trưởng căn lành, phát triển tình thương rộng lớn đối với mọi người và mọi loài Chính điều đó đã có tác dụng ngăn ngừa
25 con người ta làm điều bất chính, tạo thân tâm nhẹ nhàng, thanh khiết làm nên tính chất trầm tĩnh có chiều sâu tư duy và tính nhân ái, an nhiên của người dân Với tính cách này người dân thường chế ngự được nhiều điều, thắng không kiêu, bại không nản, loại bỏ được tham, sân, si, giữ được sự an bình trong quan hệ với người xung quanh, cuộc sống nhờ đó mà tốt đẹp hơn
M ộ t s ố gi ải pháp phát huy những giá trị tích cực và hạ n ch ế m ặt tiêu cự c c ủ a
Phật giáo trong đời sống tinh thần của người dânở tỉnh Vĩnh Long hiện nay
Kế thừa tưtưởng phật giáo trong phát huy đạo lý của người dânVĩnh Long
Trải qua nhiều thế hệ, người Vĩnh Long ý thức: đạo đức vừa là nội dung vừa làthước đo danh dự và nhân phẩm, cũng chính là điều kiện cơ bản hạnh phúc con người Hoặc như một triết gia đã nói: đạo đức là đặc trưng của bản tính con người (khác với con vật) Cũng với ý nghĩa đó, khi nói về “tính người”, trước hết nhấn mạnh ý thức về lòng vị tha (thương người như thể thương thân)
Hạnh phúc chân chính theo đạo lý Việt Nam không chỉ nhằm đạt những ham muốn cụ thể Trái lại, hạnh phúc đích thực, hạnh phúc lâu bền của cuộc sống con người chính là đạo đức Điều này thật gần gũi với đạo lý nhà Phật: “một đời sống có đạo đức là một cuộc sống hạnh phúc”, hoặc “đạo đức và hạnh phúc hoà với nhau như nước với sữa” Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bị, tinh thần hòa hiếu, hiếu sinh của Phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt Tinh thần thương người như thểthương thân này đã biến thành ca dao, tục ngữ rất phổ biến trong quần chúng Việt Nam như “lá lành đùm lá rách”, hay
Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Thờ cúng tổ tiên nó còn là sợi dây liên kết giữa con người trong cuộc sống hiện tại
“anh em như thể tay chân”, bà con hàng xóm “tắt lửa tối đèn có nhau”, tình làng nghĩa xóm như “bầu với bí”, tương thân tương ái giúp đỡ nhau trong cuộc sống Từ đó lòng nhân ái, tính cộng đồng được xây dựng củng cố cũng là những giá trị đạo đức quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội con người
Như vậy tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Vĩnh Long trong quá trình hình thành tồn tại của nó đã góp phần tạo ra những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp như lòng hiếu thảo, lòng nhân ái, tính cộng đồng, chuẩn mực của xã hội Đó là những giá trị hết sức quý báu mà chúng ta cần nghiên cứu, khai thác để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới
Kế thừa tư tưởng Phật giáo trong xây dựng đời sống văn minh, gia đình hạnh phúc của người dân tỉnh Vĩnh Long
Bàn về một xã hội tốt đẹp, hòa thượng Thích Minh Châu nêu lên 5 điểm nổi bật: nhân bản, pháp luật, công bằng, văn hoá,không tệ nạn Trong ngần ấy yếu tố, công bằng xã hội là rất quan trọng, thậm chí quyết định, vì nó vừa là mục tiêu vừa là cơ sở để tạo lập các yếu tố khác
Nhiều triết gia phương Đông cũng như phương Tây đều ghi nhận sự công bằng là hình thức lịch sử đầu tiên và sơ đẳng của đạo đức con người Hơn thế, toàn bộ đạo đức con người xét cho cùng là những mức độ khác nhau về sự phát triển đa dạng của lẽ công bằng “Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng” Câu nói này không chỉ bó hẹp trong việc phân phối phúc lợi xã hội mà trước hết là một yêu cầu nghiêm khắc về đạo đức Thật đúng như vậy, muốn xây dựng đời sống văn minh thì tất nhiên trước tiên phải có lẽ công bằng
Bên cạnh đó, trong một xã hội tốt đẹp, quan hệ giữa người với người cũng phải tốt đẹp, giàu tình người Đây là lời của Đức Phật trong một bộ kinh, nhấn mạnh các mối quan hệ xã hội cần phải có, trong đó mối quan hệ cha mẹ - con được đặt lên hàng đầu Đều này cũng dễ hiểu, hay như một triết gia phương Tây cũng đã từng viết “thời cổ đại, người ta dạy nhau phải biết tônkính cha mẹ, vì nhờ cha mẹmà ta được diễm phúc cao nhất, đó là sự sống” Theo kinh Phật, cha mẹ có 5 bổn phận đối với con cái, mà hệ trọng
38 nhất là phải dạy con làm điều thiện Đạo lý Việt Nam cũng đề cao trách nhiệm những người làm cha mẹ Đặc biệt là trách nhiệm của người mẹ: “con dại cái mang” Ngược lại — vẫn theo kinh Phật – con cái có 5 bổn phận đối với cha mẹ, mà quan trọng hơn cả là lòng biết ơn và trách nhiệm nuôi dưỡng khi cha mẹ về già Hẳn rằng khi đạo Phật chưa du nhập vào Việt Nam – từ thời các vua Hùng – người Việt Nam đã căn dặn nhau: “lên non mới biết non cao, nuôi con mới biết công lao mẹ hiền” Phải nhận rằng ý thức về công cha nghĩa mẹ đã hoà vào máu thịt ở con người Việt Nam từ thuở sơ khai
Khi đó đạo đức Phật giáo hoà nhập vào dân gian, người ta cầu mong đức Phật cứu hộ cha mẹ: Đêmđêm con thắp đèn trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con Đạo đức nhà Phật nhiều khi hấp dẫn, thuyết phục người ta muốn xuất gia tu hành, nhưngcũng rất nhiều trường hợp động lực níukéo họ lại vẫn làý thức đápđền côngơn cha mẹ:
Lên chùa thấy Phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền
Tu đâu cho bằng tu nhà Thờ cha kính mẹ cũng là đi tu
Trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ già, nhất là mẹ già, thể hiện thật trong sáng trong đạo lý dân gian Việt Nam:
Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già Hay Đói lòng ăn hột chà là Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng
Mẹ già ở túp lều tranh Sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con
Những tư tưởng tích cực của đạo đức phật giáo có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công cuộc đổi mới ở tỉnh Vĩnh Long nhằm xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc của người dân ở đây mà trong đó người nhân là nguyên nhân cơ bản để xây dựng nên tư tưởng, văn minh của xã hội, đem lại hoà bình cho toàn thể người dân trên mảnh đất này Đạo phật cho rằng mọi chúng sanh sinh ra đều bìnhđẳng với nhau, bởi họđều mang trong mình dòng máu đỏ như nhau và nước mắt họ đều có vị mặn như nhau Họ chỉ khác nhau ở vẻ bề ngoài, ở cách ăn mặc chính cái tham sân si là ngọn nguồn của mọi sai lầm bìnhđẳng
Chẳng hạn như trong xã hội mà thân phận người phụ nữ hết sức thấp kém, bị khinh rẻ, bị ruồng bỏ, cưỡng ép để giáo dục và kêu gọi bình đẳng, đấu tranh chống sự bất công đạo phật đã đề ra vai trò của người phụ nữ đó là vai trò làm mẹ Trình tư tưởng bình đẳng mà phật giáo khuyến khích mọi chúng sanh trên con đường giải thoát Dân tộc Việt Nam chúng ta rất đa dạng hơn 54 dân tộc anh em, vì thế việc giáo dục con người sống bình đẳng với nhau đó là điều đáng quan tâm Chính những chính sách tôn giáo, chính sách hòa bình đã giúp tỉnh nhà Vĩnh Long chúng ta đi lên và phát triển Đặc biệt, hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa, vấn đề này cần phải được quan tâm giáo dục, mà nhất là đối với thế hệ trẻ của chúng ta ngày nay
Phật giáo còn cho rằng: gia đình có vị trí rất quan trọng trong sự ổn định xã hội Vì vậy những hành vi ứng xử của mỗi thành viên trong gia đìnhđược quy định khá chặt chẽ Trong kinh thiện sinh (trường bộ kinh- Chữ bali- kinh thứ 31) phật đưa ra những quy định về bổn phận làm cha mẹ đối với con cái: “ngăn chặn con cái làm điều ác; khuyến khích con cáilàmđiều thiện; dạy con nghề nghiệp; cưới vợ xứng đáng cho con Đồng thời trao của thờ tự cho con”; hay bổn phận của người con đối với cha mẹ “cung phụng nuôi dưỡng cha mẹ; làm tròn bổn phận đối với cha mẹ; giữ gìn thanh danh và
40 truyền thống gia đình; bảo vệ tài sản thừa tự; làm tang lễ và thờ khi cha mẹ đã qua đời”
Do đó, kế thừa những tư tưởng tích cực của Phật giáo về gia đình mới ở Vĩnh Long hiện nay
Theo tiến trình của sự nghiệp đổi mới và phát triển thiết chế gia đình Việt Nam hiện nay nói chung và Vĩnh Long nói riêng có sự chuyển tiếp từ truyền thống sang hiện đại Nhìn chung, nếp sống văn hoá trong gia đình Vĩnh Long vẫn giữ được sự ổn định của nó và được cả cộng đồng xã hội tôn trọng Sống gắn bó với gia đình và với những mối quan hệ đạo đức đã trở thành chuẩn mực xã hội và lối sống được nhiều người tán đồng, khẳng định và coi đó là giáo lý Phải thừa nhận rằng những giá trị cao đẹp đã từng tồn tại trong lịch sử như nhân nghĩa, tình nghĩa anh em, gia đình êm ấm hòa thuận vẫn được đại đa sốtôn trọng và giữgìn Mặc dù đất nước có nhiều thay đổi, nội dung giáo dục gia đình có sự biến đổi, song đạo hiếu- mà hạt nhân là tình thương, lòng kính trọng và sự phụng dưỡng ông bà cha mẹ vẫn được coi là một nội dung quan trọng trong giáo dục đạo đức
Bên cạnh những tác động tích cực, Phật giáo cũng có những tác động tiêu cực không nhỏ tới đời sống của người dân trên mảnh đất này Với cách nhìn cuộc đời là bể khổ không bờ bến, thoát khổ bằng tu tâm, dưỡng tính để diệt trừ vô minh đạt giác ngộ, Phật giáo đưa lại quan niệm sống bi quan, yếm thế, coi cuộc đời chỉ là phù hoa, thoáng qua, là sống gửi, thác về Nhìn cuộc đời một cách bi quan, thụ động nên không ít người dân Vĩnh Long dễ chùn bước khi gặp khó khăn, sống buông trôi cho qua ngày, đoạn tháng với niềm tin chỉ lo tu tâm, dưỡng tính là đủ Khi gặp trắc trở một số người dân thường nghĩ đến số phận, nghiệp chướng, nhân quả, khiến con người hình thành tính cách bị động, ít chịu vươn lên, hạn chế năng lực đấu tranh xã hội của những con người hiện thực, thậm chí thờ ơ, do dự đối với cái tiêu cực, cái ác đang gây bất bình trong xã hội; không tin tưởng vào hoạt động đấu tranh tích cực cải tạo, chống tiêu cực trong xã hội, mà chờ đợi, tin vào nhân quả tự đến
Như vậy, từ đánh giá sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến giá trị truyền thống của người Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay, cần phải có quan điểm duy vật biện chứng cũng như nhận thức và vận dụng đúng quan điểm của triết học Mác - Lênin về tính hai mặt của tôn giáo Các nhà kinh điển của chủ ngĩa Mác - Lênin khi bàn về tôn giáo đã đề cập đến vấn đề đạo đức tôn giáo không những phê phán mặt tiêu cực mà còn
Giá trị c ủ a tri ết lý Phật giáo đố i v ớ i b ản thân
Trong giai đoạn hiện nay cần có sự đánh giá đầy đủ những giá trị và ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với con người Vĩnh Long hiện nay, từ đó kế thừa, phát huy những giá trị của tư tưởng Phật giáo
Tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, ngoài mặt tiêu cực còn có những “hạt nhân hợp lý” hiện vẫn còn phù hợp với xã hội Đólà mặt vănhóa,đạo đức vàđápứng được yêu cầu đời sống tâm linh của con người Đảng ta đã khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo” Trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Phật giáo vẫn giữ khảnăng tự biến đổi vàthích nghi theo xu hướng đicùng với dân tộc, sống “tốt đời đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc”, “Đạo pháp - dân tộc - xã hội chủ nghĩa” Quan điểm này của Đảng và Nhà nước ta cần phải được phát huy thành các định hướng cụ thể trên tinh thần khai thác các yếu tố văn hóa, đạo đức, tinh thần tích cực của Phật giáo Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay, tư tưởng Phật giáo đang góp phần cùng pháp luật chống lại những biểu hiện tiêu cực, phi nhân tính trong sản xuất, kinh doanh, phai nhạt bản sắc dân tộc trong đời sống xã hội, góp phần phát huy những nét đẹp trong quan hệ giữa con người với con người; xây dựng và điều chỉnh nhân cách con người Vĩnh Long trong thời đại mới vừa hiện đại vừa giàu bản sắc dân tộc
Những điều kiện về kinh tế, xã hội, nhận thức, lý luận là cơ sở cho Phật giáo phát triển vẫn còn tồn tại trong xã hội hiện đại Hơn nữa, bản thân của chínhmìnhcũngkhông ngừng tự vận động biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện mới Vì vậy, cần phải có quan điểm khoa học để nghiên cứu một cách toàn diện những cơ duyên tồn tại và phát triển của Phật giáo.Đâycũnglàcơ sởđể tiếp tục kháiquát,tìm ra những ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo, từ đó có quan điểm, biện pháp phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của tư tưởng Phật giáo đến suy nghĩ, lối sống, văn hóa, đạo đức của người dân Vĩnh Long hiện nay
Du nhập vào Vĩnh Long từ rất sớm, Phật giáo đã thích ứng khá nhuần nhuyễn với tín ngưỡng, phong tục, tập quán bản địa và nhờ đó, những tinh hoa của giáo lý Phật giáo đã tìm được môi trường thích hợp để nở hoa, kết trái Một đặc thù của Phật giáo là khả năng “gắn đạo với đời” và “đồng hành cùng dân tộc” tạo nhiều cơ hội để Phật giáo đóng góp thiết thực cho phát triển một xã hội, kinh tế của tỉnh Vĩnh Long ngày càng vững mạnh và phát triển hơn
Trước một bối cảnh toàn cầu hóa đầy năng động và lạc quan ai cũng tin là phát triển kinh tế, tôn trọng nhân quyền, phát huy dân chủ, bảo đảm bình đẳng về an sinh phúc lợi, nâng cao văn hóa, trau dồi đạo đức cho mọi người là một khả năng hiện thực và thế giới đang tiến dần về một nền văn minh đại đồng và hòa bình vĩnh cửu nhưng thực tế thì những xung đột địa phương và bạo lực giữa các sắc tộc lan rộng, khủng bốnhân danh tôn giáo đe dọa an ninh toàn cầu đến mức độ đáng ngại, kinh tế tại các quốc gia công nghiệp suy thoái nghiêm trọng, giá trị của mô hình kinh tế thị trường bị nghi ngờ và không ai còn tin vàocác giải pháp kinh tếxã hội hiện nay sẽ mang phép lạlàm biến đổi được tình hình ngày càng nguy kịch
Trong viễn cảnh đó, những người ưu tư và đặc biệt là các bậc thiện trí thức luôn muốn tìm hiểu ứng dụng quan điểm của Phật giáo trước các vấn đề nóng bỏng hiện nay của thế giới vào thực tế cuộc sống trong tỉnh Vĩnh Long
Phật giáo cũng như các tôn giáo khác, không chỉ là những quan niệm triết học, mà chính thông qua kinh điển, nghi lễ, chùa chiền, các hình tượng thờ cúng, chế độ tổ chức tạo thành một lối sống đa dạng, phong phú để lại những ảnh hưởng sâu sắc trong đạo đức, tư tưởng, văn học, nghệ thuật
Dùcòn những khuyết điểm, hạn chế song chúng ta không thể phủ nhận những giá trị đạo đức to lớn mà Phật giáo đã mang lại Đặc trưng hướng nội của Phật giáo giúp con người tự suy ngẫm về bản thân, cân nhắc các hành động của mình để không gây ra đau khổ bất hạnh cho người khác Nó giúp con người sống thân ái, yêu thương nhau, xã hội yên bình Tuy nhiên, để giáo dục nhân cách đạo đức của thế hệ trẻ thì như thế vẫn chưa đủ Bước sang thế kỷ XXI, chuẩn mực nhân cách mà một người dân Vĩnh Long cần có đòi hỏi phải hoàn thiện cả về mặt thể xác lẫn tinh thần, phải có đủ khả năng chinh phục cả thế giới khách quan lẫn thế giới nội tâm của tâm hồn của họ Đạo đức thế kỷ XXI do vậy có thể khai thác sựđónggóp tích cực của Phật giáo để xây dựng đạo đức nhân văn toàn thiện hơn, tự giác cao hơn vì sang thế kỷ XXI, bên cạnh sự phát triển kỳ diệu của khoa học, những mâu thuẫn, chiến tranh giành quyền lực rất có thể sẽ nổ ra và dưới sự hậu thuẫn của khoa học, các loại vũkhí sẽ được chế tạo hiện đại, tàn nhẫn hơn, dễ dàng thoả mãn cái ác của vài cá nhân và nguy cơ gây ra sự huỷ diệt sẽ khủng khiếp hơn Khi đó đòi hỏi con người phải có đạo đức, nhân cách cao hơnđể nhận ra được cáiácdưới một lớp vỏ tinh vi hơn,“sạch sẽ”hơn
Tiểu luận được thực hiện với mong muốn khái quát tư tưởng triết học của Phật giáo, và đưa những ảnh hưởng của nó đến lối sống văn hóa tinh thần của người dân Vĩnh Long hiện nay Theo đó chúng ta, những người dân Vĩnh Long của thời đại trong thời kỳ hiện nay, luôn tiếp thu những và ứng dụng những mặt tích cực trong tư tưởng đạo Phật như lòng bác ái, sự yêu thương đùm bọc, lòng vị tha, cũng như sự đấu tranh vì một tương lai tươi sáng của con người Vĩnh Long hiền hòa vốn chất phát và cần cù.