1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề tài thuyết trình thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại việt nam

46 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam
Tác giả Lê Văn Lâm
Người hướng dẫn GV. Lê Văn Lâm
Trường học Trường đại học Kinh Tế TP HCM
Chuyên ngành Thị trường Tài chính
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP HCM
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 456,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC GVHD GV Lê Văn Lâm Sinh viên thực hiện Lớp TC11 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCMTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP �{� MÔN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN GVHD GV Lê[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

—{–

MÔN: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:

GVHD :GV.Lê Văn Lâm Sinh viên thực hiện: LỚP TC11

TP.HCM, tháng 5/ 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu 2

I.Tổng quan về trái phiếu 2

1.Khái niệm, đặc điểm, đặc trưng 2

2.Phân loại trái phiếu 4

2.1.Trái phiếu chính phủ 4

2.2.Trái phiếu doanh nghiệp 5

3.Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu 5

4.Định giá trái phiếu 7

II.Trái phiếu doanh nghiệp 8

1.Khái niệm 8

2.Đặc điểm trái phiếu doanh nghiệp 8

3.Phân loại trái phiếu doanh nghiệp 8

4.Vai trò của TPDN đối với sự phát triển của chủ thể và nền kinh tế 10

III.Thị trường TPDN ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 14

1.Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Mỹ 14

2.Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Hàn Quốc 14

3.Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Malaysia 15

4.Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 16

IV.Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 16

1.Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 16

1.1.Thực trạng trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam 17

1.2.Nhược điểm của thi trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam 26

2.Cơ hội và thách thức để phát triển trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam 26

2.2.Thách thức cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam 28

3.Giải pháp phát triển cho thị trường trái phiếu ở Việt Nam 40

3.1.Về phía nhà nước 40

3.2.Về phía doanh nghiệp 42

Trang 3

Tài liệu tham khảo 43

Lời mở đầu

Thị trường trái phiếu là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, có chứcnăng thu hút nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, đáp ứng các nhu cầu về vốn để pháttriển kinh tế và là công cụ hữu hiệu của chính phủ để điều tiết nền kinh tế vĩ mô Trảiqua bao nhiêu năm phát triển thị trường trái phiếu đã khẳng định được vai trò và vị tríquan trọng trong việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển,kiểm soát lạm phát và thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Cùng với thịtrường chứng khoán nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng thị trường trái phiếu giúphoàn thiện thị trường tài chính

Hơn nữa,hiện nay quá trình toàn cầu hóa diễn ra vô cùng mạnh mẽ, hội nhập kinh

tế đã trở thành xu thế khách quan Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chungcủa thế giới, trong quá trình hội nhập nhu cầu về vốn đã trở thành nhu cầu bức thiết đượcđặt lên hàng đầu Tuy nhiên việc huy động vốn của nước ta vẫn chưa được hiệu quả Do

đó, chính phủ rất quan tâm đến việc thu hút vốn đầu tư, trong đó phát triển thị trườngvốn mà thị trường chứng khoán đóng vai trò chủ đạo Hơn mười năm phát triển thitrường chứng khoán có những bước phát triển cả chất và lượng Tuy nhiên, bên cạnh cổphiếu phát triển sôi nổi thì thi trường trái phiếu vẫn còn bị bỏ ngỏ

Với thực trạng đó, nhóm em trình bày một số lý luận cơ bản, tổng quan về tráiphiếu Trình bày thực trạng của thị trường trong thời gian vừa qua cùng với một số kinh nghiệm của những nước phát triển từ đó đưa ra một số giải pháp cho thị trường trái

phiếu để thị trường trái phiếu phát huy vai trò là kênh huy động vốn tối ưu

Trang 4

I Tổng quan về trái phiếu

1 Khái niệm, đặc điểm , đặc trưng

 Khái niệm

Trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn được kí kết giữa chủ thể phát hành (chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kì và hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn

 Đặc điểm

Tỷ suất lãi trái phiếu xác định trước và tính lãi trên mệnh giá Tỷ suất lãi này là lãi coupon hay lãi cuống phiếu ( Coupon Interest Rates) có ý nghĩa là lợi suất danh nghĩacủa trái phiếu mà nhà đầu tư được hưởng hàng năm Tùy theo loại trái phiếu mà tỷ suất này là cố định hay thả nổi hoặc có thể bằng không

Khi công ty bị giải thể thanh lí tài sản, người cầm trái phiếu được ưu tiên trả nợ trước cổ đông

MG: Mệnh giá trái phiếu

VHĐ: số vốn huy động

SPH: số trái phiếu phát hành

Trang 5

- Tỷ suất lãi trái phiếu là lãi suất danh nghĩa (Coupon interest Rates) của trái phiếu quy định mức lãi mà nhà đầu tư được hưởng hàng năm Thông thường có 2

phương thức trả lãi: 6 tháng/lần và 1 năm/lần

Mỗi trái phiếu có ghi lãi suất của tổ chức phát hành cam kết sẽ thanh toán cho chủ

sở hữu trái phiếu một số tiền lãi vào một ngày nhất định và có thể theo định kì Trái phiếu phát hành với môt tỷ lệ lãi suất danh nghĩa được xác định bởi các điều kiện thi trường tại thời điểm chào bán trái phiếu Lãi suất thường được công bố theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá của trái phiếu Lãi trái phiếu có thể được quy định trả hàng năm, hay thanh toán nữa năm 1 lần

Số tiền lãi nhà đầu tư được nhận hàng năm bằng lãi suất coupon hay còn gọi là lãisuất cuống phiếu (×) với mệnh giá trái phiếu

- Giá mua: Giá mua trái phiếu là khoản tiền thực tế mà người mua bỏ ra để có quyền sở hữu trái phiếu Giá mua có thể bằng mệnh giá ( Par value), có thể cao hơn mệnh giá ( Premium) hoặc thấp hơn mệnh giá ( Discount) Tuy nhiên, dù giá mua là loại giá nào thì tiền lãi luôn được xác định theo mệnh giá trái phiếu Và đến ngày đáo hạn, người nắm giữ trái phiếu sẽ được trả lại vốn gốc bằng mệnh giá trái phiếu

- Thời hạn: Thời hạn của trái phiếu là số năm mà theo đó người phát hành hứa hẹn đáp ứng những điều kiện của nghĩa vụ Thời hạn của trái phiếu là ngày chấm dứt sự tồn tại của khoản nợ, người phát hành sẽ thu hồi trái phiếu bằng hoàn trả khoản vay gốc

- Quyền mua lại: đối với loại trái phiếu có điều khoản chuộc lại (Callable Bonds) cho phép tổ chức phát hành trái phiếu thu hồi trái phiếu và hoàn trả vốn gốc với mức giá dự kiến trước thời hạn thanh toán Tổ chức phát hành sử dụng quyền này để bảo

vệ họ không phải trả lãi suất cao hơn đối với số tiền mà họ đã vay Tổ chức phát hành thu hồi trái phiếu khi tỷ lệ lãi suất trên thị trường thấp hơn lãi suất của trái phiếu của tổ chức phát hành đã phát hành trước đó và có thể phát hành trái phiếu mới với tỷ lệ lãi suấtthấp hơn

2 Phân loại trái phiếu

Căn cứ vào chủ thể phát hành: 2 loại

Trang 6

2.1 Trái phiếu Chính phủ (Government Bonds)

Do ngân sách chính quyền Trung ương hay địa phương phát hành nhằm mục đích

bù đắp các khoản chi đầu tư của Ngân sách Nhà nước, quản lí lạm phát, hoặc tài trợ cho các công trình, các dự án của Nhà nước

Trái phiếu chính phủ là công cụ đặc biệt quan trọng và có hiệu quả để huy động vốn cho ngân sách Nhà nước, góp phần tạo thế chủ động trong công tác quản lí và điều hành ngân sách Nhà nước, hạn chế và đi đến chấm dứt việc phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước Ngoài bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước, trái phiếu chính phủ còn được sử dụng để huy động vốn cho các công trình kinh tế - xã hội của trung ương và địa phương và các công trình cơ sở hạ tầng

Trái phiếu chính quyền địa phương: là loại trái phiếu có kì hạn từ 1 năm trở lên,

do chính quyền địa phương ủy quyền cho Kho bạc hoặc các pháp nhân do chính quyền địa phương lập ra , phát hành với mục đích huy động vốn để đầu tư xây dựng các công trình mang tính công cộng như đường xá, bến cảng, trường học , bệnh viện…

2.2 Trái phiếu doanh nghiệp (Corporate Bonds)

Do các doanh nghiệp phát hành (có đủ điều kiện của UBCK) nhằm mục đích đầu

tư dài hạn cho doanh nghiệp, mở rộng qui mô phát triển sản xuất kinh doanh Trái phiếu của công ty cổ phần rất đa dạng và phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của nhà đầu tư , là nguồn vốn vay chủ yếu cho các công ty cổ phần ở các nước phát triển

Sau đây là một số loại trái phiếu chủ yếu:

- Trái phiếu thu nhập

- Trái phiếu có thể chấp

- Trái phiếu không có thế chấp

- Trái phiếu có thể chuyển đổi

- Trái phiếu có thể chuộc lại

- Trái phiếu có lãi suất ổn định

- Trái phiếu có lãi suất thả nổi

- Trái phiếu chiết khấu

Trang 7

- Trái phiếu quốc tế.

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu

Nói chung, giá thi trường của bất kì loại chứng khoán nào cũng phụ thuộc vào cung và cầu, vì thế khi muốn biết điều gì quyết định giá trái phiếu, chúng ta chỉ cần tìm hiểu nhân tố nào đứng sau cung và cầu

 Khả năng tài chính của người cung cấp trái phiếu:

Cung cấp trái phiếu là một chức năng của người đi vay nhằm giải quyết vấn đề vốn Do đó, nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán lãi và vốn gốc của người cung cấp trái phiếu

Nếu có những biến động bất lợi về khả năng tài chính của chủ thể phát hành, thì lập tức giá trái phiếu đó sẽ tụt giảm trên TTCK Mặc dù lãi suất trái phiếu có vẻ hứa hẹn nhưng độ rủi ro hàm chứa lại cao hơn

 Thời gian đáo hạn:

Một trái phiếu có thời hạn đáo hạn càng gần thì giá của nó càng tăng trên thị trường bởi vì độ rủi ro càng thấp Ví dụ 1 trái phiếu sẽ được thanh toán theo đúng mệnh giá vào cuối năm thứ 10 kể từ ngày phát hành, nếu không có biến động xấu về khả năng tài chính của đơn vị phát hành và lãi suất thị trường bình ổn, thì giá trái phiếu kể từ năm thứ 5 trở đi sẽ có xu hướng ngày càng cao so với giá của các năm đầu tiên Trên thực tế người ta gọi hiện tượng này là “kéo giá tới thời hạn”

 Dự kiến về lạm phát:

Nếu lạm phát có dự kiến tăng thì các chứng khoán có lãi suất cố định trả theo lãi trái phiếu chỉ được thanh toán theo danh nghĩa, và như vậy sẽ kém hấp dẫn hơn các tài sản khác có khả năng loại trừ yếu tố lạm phát Dẫn đến kết quả là giá thị trường của các chứng khoán có lãi suất cố định bị giảm và điều này cũng buộc phải tăng lãi cho các chứng khoán đó, phần lãi tăng này sẽ đền bù thiệt hại của những người giữ trái phiếu trong tương lai bị ảnh hưởng của lạm phát

Trang 8

Sự vận động của giá trái phiếu với các thời hạn khác nhau sẽ vẽ nên một phác thảo về thị trường trái phiếu và khả năng diễn biến của lạm phát.

 Biến động lãi suất thị trường:

Lãi suất thị trường là một yếu tố cực kì quan trọng trong việc định giá của các chứng khoán có lãi suất cố định Nếu lãi suất bắt đầu tăng thì lợi tức đối với các trái phiếu đang tồn tại chắc chắn sẽ thay đổi Trong trường hợp này, vốn sẽ chảy vào thị trường nào hứa hẹn lợi nhuận cao hơn Như vậy giá của trái phiếu có lợi tức cố định sẽ giảm, nhìn ở khía cạnh khác, nếu giá trái phiếu giảm do người ta dự đoán lạm phát tăng, thì biệc tăng lãi suất( chính việc này làm giảm giá trái phiếu) có thể được coi là dấu hiệu của Chính phủ quyết định đẩy lùi lạm phát Ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng lãi suất được đền bù bởi tác động tích cực của triển vọng lạm phát được cải thiện

 Thay đổi tỷ giá hối đoái:

Yếu tố này ảnh hưởng đến các loại trái phiếu được thanh toán bằng nội tệ hoặc bằng đồng ngoại tệ Ví dụ, đồng Dollar Mỹ có giá trị tăng cao hơn so với dồng Bảng Anh thì sã làm tăng giá trị của loại trái phiếu được thanh toán bằng Dollar Mỹ

4 Định giá trái phiếu

Ở dạng thông thường, trái phiếu có mệnh giá, thời hạn và lãi suất cuống phiếuxác định, không kèm các điều kiện có thể chuyển đổi, có thể mua lại hay bán lại Khi đó giá trị trái phiếu được tính bằng tổng giá trị hiện tại của toàn bộ các khoản tiền người phát hành phải thanh toán cho người sở hữu trái phiếu, bao gồm tiền lãi định kỳ và tiền gốc trả tại ngày đáo hạn Để xác định được giá trái phiếu tại thời điểm hiện tại, chúng ta cần thực hiện chiết khấu toàn bộ dòng tiền sẽ thanh toán cho người sở hữu trái phiếu trong tương lai với lãi suất hiện tại Lãi suất chiết khấu trái phiếu chính là lãi suất tới hạn của trái phiếu hay lãi suất vay vốn bình quân của thị trường

PV = + + …+ +

Trong đó:

PV: Hiện giá giá trái phiếu

Trang 9

n: Số kỳ.

C1.Cn: Lãi cuống phiếu

r: Lãi chiết khấu, lãi suất thị trường

M: Mệnh giá trái phiếu

II Trái phiếu doanh nghiệp (TPDN)

1 Khái niệm

TPDN là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn trung và dài hạn trên thị trường, quy định nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của doanh nghiệp trong khoảng thời gian xác định cho người nắm giữ trái phiếu (nhà đầu tư)

 Khi doanh nghiệp giải thể hoặc thanh lý,trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước cổ phiếu;có những điều kiện cụ thể kèm theo,hoăc nhiều hình thức đảm bảo cho khoản vay

 TPDN rất đa dạng và phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của nhà đầu tư,là nguồn vốn vay chủ yếu của các doanh nghiệp ở các nước phát triển

3 Phân loại TPDN

Căn cứ theo hình thức phát hành:

- TP được phát hành theo mệnh giá

- TP được phát hành theo hình thức chiết khấu (discount)

Căn cứ theo phạm vi lưu thông

- TP quốc nội

- TP quốc tế

Theo thời gian đáo hạn:

Trang 10

- TP ngắn hạn

- TP trung hạn

- TP dài hạn

- TP vĩnh viễn …

Cơ bản thì TPDN bao gồm những loại sau:

- Trái phiếu thu nhập (Income Bonds): là trái phiếu mà việc thanh toán lãi phụ

thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp Loại trái phiếu này thường được phát hành khi doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính hoặc cần huy động vốn vào dự án.Trái phiếu này giống với cổ phiếu ưu đãi nhưng lãi trả cho trái chủ được chiết khấu thuế thu nhập doanh nghiệp (trả trước thuế) còn cổ phiếu thì lãi trả cho trái chủ không được chiết khấu thuế thu nhập doanh nghiệp (trả sau thuế)

- Trái phiếu có đảm bảo (Mortgage Bonds): là trái phiếu được đảm bảo bằng

những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể

- Trái phiếu không bảo đảm (Debenture): Trái phiếu tín chấp không được đảm

bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ đông Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định

- Trái phiếu có thể chuyển đổi (Convertible Bonds): là trái phiếu có thể chuyển

đổi thành cổ phiếu thường với giá cổ phiếu được ấn định trước gọi là giá chuyển đổi Đây là loại trái phiếu được ưa chuộng vì khi giá cổ phiếu lên cao, người nắm giữ loại tráiphiếu này sẽ thực hiện chuyển đổi và hưởng chênh lệch giá

- Trái phiếu chuộc lại (Callable Bonds): Trái phiếu này kèm với điều khoản

doanh nghiệp sẽ mua lại sau một thời gian với giá chuộc lại thường cao hơn mệnh giá Nhà đầu tư có thể chọn lựa có chấp nhận sự chuộc lại hay không

Trang 11

- Trái phiếu có lãi suất cố định (Straight Bonds): là loại trái phiếu truyền thống

phát hành ở hầu hết các thị trường chứng khoán thế giới Với đặc điểm trả lãi suất ổn định định kỳ 6 tháng hoặc 1 một lần Nó ràng buộc nghĩa vụ phải trả lãi trong suốt thời gian trái phiếu lưu hành

- Trái phiếu có lãi suất thả nổi (Floating Rate Bonds): Là loại trái phiếu mà lãi

suất của nó được điều chỉnh theo sự thay đổi của lãi suất thị trường Đặc điểm này đã đảm bảo được quyền lợi của nhà đầu tư và doanh nghiệp trong điều kiện thị trường không ổn định Thông thường cứ 6 tháng một lần căn cứ vào lãi suất tiền gửi ngắn hạn

để điều chỉnh lãi suất trái phiếu cho phù hợp

- Trái phiếu chiết khấu (Coupon Bonds): là loại trái phiếu không trả lãi định kỳ.

Căn cứ vào lãi suất thị trường lúc phát hành để định ra giá của trái phiếu Giá này thấp hơn mệnh giá gọi là giá chiết khấu Khi đáo hạn, trái chủ được hoàn lại đúng bằng với mệnh giá của trái phiếu

4 Vai trò của TPDN đối với sự phát triển của các chủ thể và toàn nền kinh tế.

 Cung cấp công cụ huy động vốn khác cho doanh nghiệp

Vốn là một yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh, nếu thiếu vốn thì các doanh nghiệp không thể thực hiện được những kế hoạch như đã định

Sự phát triển của thị trường tài chính đã đem lại cho các doanh nghiệp ngày càng nhiều

cơ hội tiếp cận với những nguồn tài trợ vốn đa dạng, đáp ứng được mọi nhu cầu về khối lượng, thời hạn cũng như các đòi hỏi khác mang tính đặc thù đặt ra cho từng doanh nghiệp cụ thể Khác với những kênh huy động vốn truyền thống là phụ thuộc rất nhiều vào những xét duyệt mang tính áp đặt, chủ quan của tổ chức cho vay, việc phát hành trái phiếu sẽ cho phép doanh nghiệp chủ động trong kế hoạch sản xuất kinh doanh,phương thức và thời gian trả nợ

Để giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng và nguồn vốn từ bên ngoài, tránh

sự pha loãng của việc phát hành cổ phiếu, và được phép của Chính phủ, một số loại trái phiếu doanh nghiệp cũng được phát hành để huy động vốn trong xã hội, như : trái phiếu của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, trái phiếu của Tổng công ty Dầu khí Tính đến nay, số vốn trái phiếu doanh nghiệp phát hành cũng lên tới vài nghìn tỷ đồng Mặc dù

Trang 12

hiện nay, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp vẫn còn hạn chế và tập trung ở các doanh nghiệp nhà nước lớn nhưng rõ ràng trái phiếu doanh nghiệp đã là một kênh huy động vốn mới và hiệu quả cho doanh nghiệp.

 Tạo hàng hoá cho thị trường trái phiếu

Trái phiếu doanh nghiệp ra đời đã làm đa dạng thêm hàng hoá trên thị trường trái phiếu Nhà đầu tư ngoài việc lựa chọn trái phiếu chính phủ có độ rủi ro hầu như bằng không nhưng lãi suất thấp, cổ phiếu có thể có lãi suất cao hơn nhưng dễ biến động trên thị trường, có thể lựa chọn trái phiếu doanh nghiệp có lãi suất và mức độ rủi ro phù hợp

Tuy đã có những bước phát triển nhanh từ năm 2006 đến nay nhưng hiện nay quy

mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khá nhỏ với tổng giá trị khoảng 16 ngàn tỷ đồng, tương đương với 20% tổng giá trị trái phiếu, 1,5% GDP, chưa tương xứng với nhu cầu vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Hiện nay, Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp trên thị trường chứng khoán, hạnchế sự phụ thuộc quá mức vào cấp vốn qua kênh tín dụng và phát hành trái phiếu là một hình thức nhiều tiềm năng

 Tạo ra hình thức đầu tư mới hiệu quả, giảm thiểu rủi ro

Sự tăng trưởng của nền kinh tế đã thể hiện phần nào hiệu quả của việc phát hành

và sử dụng TPDN đi kèm theo là sự giảm thiểu rủi ro:

- Đối với ngành ngân hàng và thị trường tài chính: Nền kinh tế chỉ dựa vào hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra sai lệch kép, đó là sai lệch kỳ hạn (dùng vốn ngắn hạn tài trợ cho dài hạn) và sai lệch đồng tiền (vay nước ngoài nhiều dẫn đến bị ảnh hưởng khi bị tácđộng bởi tỷ giá)

- Đối với nhà đầu tư: Trái phiếu doanh nghiệp ra đời không chỉ là một kênh huyđộng vốn mới cho doanh nghiệp mà còn là một hình thức đầu tư mới cho các nhà đầu tư,

đa dạng hoá danh mục đầu tư ngoài chọn lựa cổ phiếu, gửi tiết kiệm ngân hàng Việc phát hành cổ phiếu ồ ạt để huy động vốn của các công ty cổ phần thời gian qua đã làm cho nhà đầu tư nhận thấy quyền lợi của họ đang bị pha loãng, cung cổ phiếu tăng cao so

Trang 13

với cầu nên thị trường chứng khoán Việt Nam tăng nóng vào cuối năm 2006 đầu năm

2007 và đang bắt đầu tuột dốc Đến 23/5/2008 chỉ số VNINDEX chỉ còn 428,17 điểm Trong tình hình thị trường như vậy thì trái phiếu doanh nghiệp, thường có độ an toàn caohơn cổ phiếu vì có sự biến động về giá hơn cổ phiếu nhưng vẫn đảm bảo một mức lợi nhuận hợp lý và được ưu tiên nhận lại vốn nếu công ty bị phá sản, dường như là nơi trú

ẩn khá an toàn

 Đa dạng hoá sản phẩm tài chính

Như theo phân loại trái phiếu doanh nghiệp ở phần trên chúng ta có thể thấy trái phiếu doanh nghiệp khá đa dạng, linh hoạt, đáp ứng các nhu cầu cụ thể của nhà đầu tư, người đi vay và góp phần tái phân phối vốn một cách hiệu quả hơn Nhà đầu tư có thể cho vay trong hiện tại để trở thành chủ sở hữu trong tương lai thì có thể lựa chọn đầu tư vào trái phiếu chuyển đổi Hoặc người đi vay cũng có thể tránh sự ràng buộc cứng nhắc của các hợp đồng vay bằng cách phát hành cho phép họ quyền mua lại trước hạn trái phiếu để tránh những biến động lãi suất

 Thúc đẩy phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ra đời và phát triển, đặc biệt là khi thị trường trường thứ cấp phát triển tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của phân phối và tái phân phối nguồn lực tài chính trong nền kinh tế Do đó, sẽ góp phần hoàn thiện thị trường tài chính

Nhận dạng các rủi ro khi đầu tư giao dịch trên thị trường trái phiếu cũng như tất

cả các loại chứng khoán nói chung, trái phiếu cũng ẩn chứa hailoại rủi ro chung là rủi ro

hệ thống và rủi ro phi hệ thống Đối với trái phiếu có một số loại rủi ro đặc thù sau đây:

 Rủi ro lãi suất

Giá của một trái phiếu điển hình sẽ thay đổi ngược chiều với sự thay đổi của lãi suất: khi lãi suất tăng thì giá trái phiếu sẽ giảm, khi lãi suất giảm thì giá trái phiếu sẽ tăng Nếu người đầu tư phải bán trái phiếu trước khi nó đáo hạn trong điều kiện lãi suất tăng lên thì người đầu tư sẽ bị lỗ vốn, tức là bán trái phiếu dưới giá mua Rủi ro này gọi

là rủi ro lãi suất Tất cả các loại trái phiếu, trừ trái phiếu có lãi suất thả nổi, đều phải chịurủi ro lãi suất

Trang 14

Mức độ nhạy cảm của giá trái phiếu trước những thay đổi trong lãi suất thị trườngphụ thuộc vào những đặc tính khác nhau của đợt phát hành, như lãi cuống phiếu và thời gian đáo hạn Nó cũng phụ thuộc vào những lựa chọn kèm theo đợt phát hành (điều khoản mua lại và bán lại).

 Rủi ro tái đầu tư

Khoản thu nhập bổ sung từ việc tái đầu tư đó, còn gọi là lãi của lãi, phụ thuộc vàomức lãi suất hiện hành tại thời điểm tái đầu tư, cũng như vào chiến lược tái đầu tư Khả năng thay đổi của lãi suất tái đầu tư của một chiến lược xác định do sự thay đổi của lãi suất thị trường, từ đó dẫn tới tính không chắc chắn của lợi tức dự kiến nhận được từ trái phiếu, được gọi là rủi ro tái đầu tư Đó là rủi ro khi lãi suất để tái đầu tư các dòng tiền giữa kỳ bị giảm xuống

Rủi ro lãi suất và rủi ro tái đầu tư có những hiệu ứng triệt tiêu nhau Rủi ro lãi suất là rủi ro lãi suất tăng làm giảm giá trái phiếu, còn rủi ro đầu tư là rủi ro lãi suất giảm

 Rủi ro thanh toán

Rủi ro thanh toán còn gọi là rủi ro tín dụng, là rủi ro mà người phát hành một trái phiếu có thể vỡ nợ, tức là mất khả năng thanh toán đúng hạn các khoản lãi và gốc của đợt phát hành Trái phiếu chính phủ được coi là không có rủi ro thanh toán.Trái phiếu doanh nghiệp khác nhau sẽ có mức độ rủi ro khác nhau Rủi ro thanhtoán được xác định bằng mức xếp hạng tín dụng do các công ty định mức tín nhiệm ấn định căn cứ vào khả năng thu nhập, khả năng thanh toán, trình độ quản lý

 Rủi ro lạm phát

Rủi ro lạm phát phát sinh do sự biến đổi trong giá trị của các dòng tiền mà một chứng khoán đem lại do lạm phát Ví dụ nếu như các nhà đầu tư mua trái phiếu có lãi suất 8% nhưng tỷ lệ lạm phát là 9% thì sức mua của dòng tiền này thực sự đã giảm sút Chỉ trừ trái phiếu có lãi suất thả nổi có thể không chịu ảnh hưởng của lạm phát hoặc ảnh hưởng ít hơn, các trái phiếu khác có lãi suất cố định đều có nguy cơ phải chịu rủi ro này Trong tình hình Việt Nam hiện nay, khi lãi suất 6 tháng đầu năm 2008 ước tính là

Trang 15

khoảng trên dưới 12% thì những trái phiếu có lãi suất cố định thấp hơn mức này đều bị tác động của rủi ro lạm phát.

 Rủi ro tỷ giá hối đoái

Nếu nhà đầu tư nước ngoài mua trái phiếu Việt Nam nhưng được thanh toán bằngtiền đồng thì khi đồng Việt Nam giảm giá so với đôla Mỹ thì nhà đầu tư sẽ bị thiệt và họ

sẽ có lợi trong trường hợp đồng Việt Nam tăng giá so với đôla Mỹ

 Rủi ro thanh khoản

Là rủi ro liệu trái phiếu có bán được hay không khi nhà đầu tư cần vốn và muốn chuyển sang tiền mặt Nếu nhà đầu tư dự định nắm giữ trái phiếu cho tới khi đáo hạn thì rủi ro ngày không quan trọng lắm

III Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Mỹ

Kể từ những năm 1920, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Mỹ đã trở thành thị trường phát hành trái phiếu phi chính phủ lớn nhất thế giới Phần lớn các công ty này đều áp dụng phương thức phát hành trái phiếu này để huy động vốn, chủ yếu là các trái phiếu có thời gian đáo hạn từ 2-50 năm

Ngày nay, dù thị trường chứng khoán Mỹ rất phát triển nhưng giá trị trái phiếu chiếm đến 80%GDP Gần đây, những tháng đầu năm 2011 có sự bùng nổ doanh số bán trái phiếu doanh nghiệp Mỹ do các công ty tận dụng lợi thế của nợ rẻ sau khi lãi suất đi vay giảm xuống Chẳng hạn, Google đã huy động được 36,7 tỷ USD tiền mặt vào cuối tháng 3/2011 sau đợt bán trái phiếu đầu tiên Trái phiếu của Google và Johnson &

Johnson đều được đánh giá ở mức AAA, đạt được mức lãi suất thấp nhất trong tuần này.Trái phiếu của Chrysler, xếp hạng dưới mức đầu tư, cũng đạt doanh số bán là 3,2 tỷ USD

Trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp Mỹ có một khu vực thị trường đặc biệt dành cho các công ty nước ngoài phát hành trái phiếu bằng đồng USD là thị trường trái phiếu Yankee

Trang 16

2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Hàn Quốc

Thị trường trái phiếu Hàn Quốc là thị trường lớn thứ hai ở châu Á sau Nhật Tínhtới cuối năm 2007, tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành lên tới 1.313,81 tỷ USD

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Hàn Quốc đã bắt đầu khơi nguồn từ đầu những năm 1970 với hầu hết được bảo lãnh bởi ngân hàng, công ty chứng khoán và quỹ bảo lãnh.

Trước năm 1997, thị trường trái phiếu Hàn Quốc phát triển còn nhiều bất cập Các cuộc cải tổ sau khủng hoảng tài chính năm 1997 đã đưa thị trường trái phiếu Hàn Quốc lên một bước phát triển mới Các cải cách của Hàn Quốc là bài học quí báu cho các nước đang phát triển trong khu vực cũng như các nước có điều kiện phát triển tương đồng học tập để cải cách hệ thống thị trường của mình

Hàn Quốc sau năm 1997, việc bùng nổ việc sử dụng trái phiếu doanh nghiệp để huy động vốn cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công ty tín thác đầu tư Hàn Quốc

đã có những thay đổi mang tính cách mạng trên thị trường trái phiếu chính phủ để tạo chuẩn cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp như:

- Thủ tục phát hành mới (thiết lập hệ thống đấu giá mới thay thế cho hệ thống cũ,

xóa bỏ thông lệ thỏa thuận thông tin về thời hạn phát hành.)

- Tính đều đặn trong phát hành (trái phiếu chính phủ được phát hành đều đặn hàng

tháng)

3 Thị trường trái phiếu Malaysia

Thị trường trái phiếu Malaysia bắt đầu phát triển từ thập niên 70 khi mà Chính phủ nước này bắt đầu phát hành trái phiếu để đáp ứng nhu cầu tài trợ rất lớn cho sự phát triển của đất nước.Vào giữa những năm 1980,khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế của Malaysia.Trong thời gian này,khu vực tư nhân được sự tín nhiệm lớn từ ngân hàng Điều này đã làm cho việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp trở thành một chiến lược quan trọng của Chính phủ.Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 cũng do việc dựa quá mức vào các khoản vay ngân hàng.Bài học từ cuộc khủng hoảng khiến cho Chính phủ phải nỗ lực phát triển thị trường

Trang 17

trái phiếu để cung cấp nguồn tài chính thay thế cho khu vực tư nhân.Các nỗ lực của Chính phủ đã mang lại kết quả tốt.

4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 đã mang lại những bài học kinh nghiệm quí báu cho các nước Châu Á trong tiến trình pháy triển và hội nhập.Nó đem lai cái nhìn mới,suy nghĩ mới về vai trò của thi trường trái phiếu doanh nghiệp và mối liên

hệ giữa 2 nguồn tài trợ vốn nợ cho cac doanh nghiệp là hệ thống ngân hàng và thị trườngtrái phiếu Để giảm bớt áp lực quá tải cho hệ thông ngân hàng,thị trường trái phiếu cần đạt được một mức độ phát triển nhất định.Bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện đường cong lãi suất chuẩn từ trái phiếu Chính phủ,việc cải thiện cơ sở hạ tầng của thị trường cũng là một điều kiện quan trọng cho sự phát triển của thị trường:

 Hệ thống thông tin và công bố thông tin

 Hệ thồng lưu kí và thanh toán bù trừ

 Hệ thống xếp hạng tín nhiệm

 Hệ thống giao dịch

 Các tổ chức trung gian thị trường

IV THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

1 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam

1.1 Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam

Phát hành trái phiếu được xem là một trong những công cụ hút tiền từ lưu thông

về khá hữu hiệu để kiềm chế lạm phát, đồng thời, là một kênh huy động vốn trung và dàihạn hiệu quả đối với Chính phủ và doanh nghiệp Thực tế, khi một doanh nghiệp có nhucầu đầu tư, huy động vốn để triển khai các dự án hoặc thậm chí, để trả các khoản nợ, lúc

đó họ có thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp Tuy nhiên, việc huy động vốn bằng cáchphát hành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường Việt Nam có thật sự dễ dàng như vậykhông ? Và tình hình huy động thời gian qua như thế nào?

Trang 18

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu hoạt động từ năm 1994,song phải đến năm 2006, khi Chính phủ ban hành Nghị định 52/CP cho phép doanhnghiệp phát hành trái phiếu theo hình thức riêng lẻ, thị trường mới thực sự phát triển.Theo đó, các chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ là các doanh nghiệp Nhà nước nhưtrước đây, mà còn có các công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn nhiềuhạn chế số lượng còn ít, chưa khai thác được hết các tiềm năng của thị trường

Bảng : Tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam

STT Tổ chức phát hành Giá trị

pháthành

Thờihạn

Trang 21

Giai đoạn 1- Trước năm 2006

Trước 2006, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp được thực hiện theo Nghịđịnh số 120/CP ngày17/9/1994 của Chính Phủ về phát hành cổ phiếu, trái phiếu củadoanh nghiệp Nhà nước Khi đó, thị trường này chưa phát triển, chỉ có các tổ chức tàichính tín dụng phát hành trái phiếu, còn trái phiếu doanh nghiệp thì có rất ít các doanhnghiệp phát hành, chính xác thì chỉ có 5 doanh nghiệp là: Công ty Cơ điện lạnh REEphát hành 5 triệu USD (năm 1996), Tổng công ty Dầu khí phát hành 300 tỷ (năm 2003),Tổng công ty Điện lực (EVN) phát hành 300 tỷ, Tổng công ty Xi măng 200 tỷ và EIS 10

tỷ (năm 1998) Một sự kiện đáng chú ý trong giai đoạn này là tháng 12 năm 2005,Vietcombank phát hành thành công 1.365 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi với lãi suất bìnhquân 6%/ năm Tháng 7 năm 2006, số trái phiếu chuyển đổi này được niêm yết tại SởGiao dịch Chứng khoán Tp.HCM Mục tiêu của đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi nàychủ yếu nhằm tăng cường nguồn vốn cấp 2 để đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theoQuyết định 457/2005 của Ngân hàng Nhà nước Trong khi trên thế giới, doanh nghiệpchỉ được phép phát hành trái phiếu chuyển đổi sau khi phát hành cổ phiếu làm cơ sở xácđịnh tỷ lệ chuyển đổi thì Vietcombank đã làm được điều ngược lại Rất có thể áp lựctăng vốn đáp ứng các tỷ lệ an toàn trong khi chưa thể tiến hành cổ phần hóa đã giúpVietcombank thực hiện được điều “kỳ diệu” này Trong thực tế trước đây Vietcombank

đã có những cách thức khác như Bộ Tài chính phát hành trái phiếu đặc biệt tăng vốnnhưng bản chất chỉ là một tờ giấy trao cho Vietcombank Chính vì điều này mà trái

Trang 22

phiếu chuyển đổi Vietcombank không có tỷ lệ chuyển đổi cố định trước Hơn nữa thờihạn chuyển đổi cũng không được xác định cụ thể Do đó, nhà đầu tư không thể xác địnhđược giá trị nội tại hay giá trị thời gian của quyền mua Phải chăng điều đó xảy ra do sựlỏng lẻo trong quản lý thị trường ở thời điểm này???

Giai đoạn 2- từ năm 2006 đến 2007:

Trong giai đoạn này, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã có bước phát triển tíchcực, đặc biệt là sau khi có Nghị định 52/CP về việc cho phép các doanh nghiệp pháthành trái phiếu theo hình thức riêng lẻ

Hiện nay, chủ thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp không chỉ là doanh nghiệpNhà nước như trước đây mà còn có các công ty TNHH, công ty cổ phần và doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ngay cả nguyên tắc phát hành cũng thông thoáng hơnrất nhiều Các doanh nghiệp có quyền tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm và công khaiminh bạch thông tin Điều này có nghĩa là Nhà nước không còn can thiệp quá sâu vàoviệc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp

Riêng năm 2006, các doanh nghiệp trong nước đã huy động được trên 8.000 tỷđồng bằng hình thức phát hành trái phiếu Trong đó, nhiều doanh nghiệp phát hànhlượng lớn trái phiếu như Tổng Công ty Điện lực Việt Nam 5.000 tỷ đồng, Tập đoànCông nghiệp tàu thuỷ Việt Nam 800 tỷ đồng và Tổng Công ty Sông Đà 260 tỷ đồng

Năm 2007, có 7 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp với tổng lượng tiền 13

nghìn tỷ đồng Cụ thể, ngày 19/6: PVFC phát hành 1.000 tỷ (kỳ hạn 5 năm), lãi suất

8,6%/năm; ngày 23/7: BIDV phát hành 3.000 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm, lãi suất8,15%/năm; ngày 31/8: Techcombank phát hành 1.750 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm, lãi suất8,60%/năm; ngày 19/9: Vinaconex phát hành 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 3 năm, lãi suất 3%kèm chứng quyền; ngày 20/9: Vinashin phát hành 3.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10 năm, lãi suất9,40%/năm; ngày 25/9: ACB phát hành 2.250 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm, lãi suất8,60%/năm và ngày 22/10: Vincom phát hành 1.000 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm, lãi suất lêntới 10,30%/năm Cho tới nay năm 2007, mới chỉ có 10 doanh nghiệp phát hành tráiphiếu, Tất cả các công ty này đều là những đơn vị đầu ngành hoặc các doanh nghiệp nhànước đã cổ phần hóa

Trang 23

Doanh số từ phát hành trái phiếu qua hai giai đoạn này có sự tăng trưởng mạnh

mẽ Từ 300 tỷ VND do Tổng công ty Dầu khí phát hành năm 2003 đã lên đến hơn 6.600

tỷ VND tháng 3 năm 2007, đặc biệt năm 2006 đạt hơn 8.800 tỷ VND, trong đó EVNphát hành 6 đợt với tổng doanh số là 6.000 tỷ VND Tổng doanh số phát hành trái phiếu

từ năm 2003 đến tháng 3 năm 2007 đạt 16.768 tỷ VND Trong đó, Vinashin và EVN làhai doanh nghiệp phát hành nhiều nhất, chiếm 41% và 36% tương ứng

Hầu hết các trái phiếu được phát hành đều có kỳ hạn dài, ngắn nhất là 2 năm, dàinhất là 10 năm Trái phiếu EVN hầu hết đều có kỳ hạn 10 năm, đầu tư vào các côngtrình thuỷ điện, cải tạo mạng lưới điện quốc gia Trái phiếu Vinaconex và Lilama pháthành thường có kỳ hạn 5 năm Để khuyến khích các nhà đầu tư, Vinanconex phát hànhtrái phiếu kèm theo chứng quyền (warrant) là quyền mua cổ phiếu của Nhà máy xi măngCẩm Phả với mức giá ưu đãi Trong một thị trường tài chính phát triển, trái phiếu thường

có thời hạn từ trên 20 năm cho đến 30 năm

Tất cả các trái phiếu đều trả lãi sau, với phương thức trả lãi hàng năm (coupon),lãi suất cố định Riêng Tổng công ty Sông Đà và EVN phát hành trái phiếu có lãi suấtthả nổi, được điều chỉnh căn cứ vào lãi suất Trái phiếu Chính Phủ hoặc lãi suất trên thịtrường tiền tệ liên ngân hàng Về cơ bản, lãi suất trái phiếu doanh nghiệp đều cao hơn lãisuất đấu thấu trái phiếu chính phủ So sánh với lãi vay ngân hàng, có thể thấy lãi suấtnày vẫn thấp hơn so với lãi suất vay ngân hàng ( trung bình 10%-12%/năm đối với dự ánvay trung dài hạn) Thực ra, đây chỉ là lãi suất danh nghĩa, không phải lãi suất thực,trong bối cảnh lạm phát tăng, lãi suất thực có xu hướng xuống dưới mức 0% Điều này

có thể giải thích tại sao các nhà đầu tư tỏ ra thờ ơ với việc đầu tư vào trái phiếu

Có thông tin là đến hết tháng 7, giá trị trái phiếu và trái phiếu chuyển đổi pháthành ở thị trường trong nước ước tính khoảng 20.000 tỉ đồng Còn ông Đỗ Ngọc Quỳnh,Tổng thư ký Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam, nói rằng hiệp hội chưa có con số thống kêchính thức

Giai đoạn 3 từ năm 2008 đến nay:

Ngày đăng: 15/03/2023, 16:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w