1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học thể phú (qua Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu) theo đặc trưng thi pháp phú trung đại

25 987 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 224,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học thể phú (qua Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu) theo đặc trưng thi pháp phú trung đại

Trang 1

phạm thị thu hương

Những biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học thể phú

(Qua Bạch Đằng giang phú của trương hán siêu) Theo đặc trưng thi pháp phú trung đại

Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn

Trang 2

mở đầu

1.Lý do chọn đề tμi

1.1 Phú là thể loại được du nhập từ Trung Quốc Thời trung đại,

truyền thống thi phú, hình thức “dĩ phú cử sĩ” cùng với lịch sử thi cử

mấy trăm năm của chế độ phong kiến để lại một dung lượng lớn tác phẩm Phú đã trở thành một thể quan trọng, mang vẻ đẹp rực rỡ, tiềm

ẩn nhiều giá trị lớn, góp phần định hình và duy trì những nét truyền thống của văn học dân tộc

1.2 Nằm giữa văn xuôi và thơ, câu văn trong thể phú được đánh giá là cơ sở cho sự hình thành câu văn xuôi Việt Nam thời trung đại Nhìn lại vận động của lịch sử văn học Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã rút ra quy luật phát triển nhạt dần tính văn sử triết bất phân để đậm dần lên yếu tố văn chương Tính chất duy mỹ của thể phú nhìn ở góc độ này lại là một yếu tố tích cực trong bảng pha màu giữa văn học chức năng

và văn học thuần tuý của các sáng tác thời trung đại

1.3 Giá trị cổ điển của thể loại và những sáng tác kết tinh cao độ vẻ

đẹp văn chương đã đưa phú vào nhà trường ngay từ khi cuốn sách giáo khoa đầu tiên được biên soạn

1.4 Thế nhưng phú dường như là một thể đã “xong xuôi”, có “khoảng

cách sử thi” khá lớn với độc giả hôm nay- những con người ở vào một

bối cảnh văn hoá khác, một “thời đại thi ca” khác Điều đó lí giải

nguyên nhân của những khó khăn khi tổ chức dạy học thể loại hiện

nay Chuyện phải khắc phục “khoảng cách tiếp nhận” để làm sống dậy tác phẩm thuộc thể loại gần như đã “ngủ yên” trong quá khứ, thảng hoặc có xuất hiện đây đó trong văn học hiện đại lại “thay hình

đổi dạng” với chức năng khác thể phú truyền thống là thực tế hiển

nhiên

Đặt sự quan tâm chú ý vào học trò, với định hướng phấn đấu sách giáo khoa sẽ là sách dạy tự học, việc hình thành và rèn luyện năng lực

đọc hiểu tác phẩm theo đúng đặc trưng thi pháp thể loại đã được chú ý

Do vậy con đường tìm đến tính nội dung của hình thức nghệ thuật là một hướng khám phá tích cực trong việc đi sâu vào TPVC

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu về thể phú

2.1.1 Khuynh hướng nghiên cứu lí luận chung về thể loại

- Lê Thánh Tông (1442- 1497) là một trong những người đầu tiên đặt

nền móng cho việc nghiên cứu thể phú ở Việt Nam với phần “Nguyên

tựa”trong “Lam Sơn Lương Thuỷ phú” Các bài tựa của Nguyễn Thiên

Túng, Nguyễn Công Cơ trong cuốn “Quần hiền phú tập”, những nhận

Trang 3

xét của Lê Quí Đôn , Nguyễn Đức Đạt,… tiêu biểu cho kiểu tìm hiểu thiên về ngâm vịnh thù tạc thời trung đại

- Một số công trình xuất bản từ đầu thế kỉ XX cho đến những năm 80

như : “Văn chương thi phú An Nam” (Đỗ Ngọc Cẩn), “Việt Hán văn

khảo”(Phan Kế Bính), “Phú Nôm” (Vũ Khắc Tiệp), “Quốc văn cụ thể” (Bùi Kỉ), “Việt Nam văn học sử yếu” (Dương Quảng Hàm), “Thơ

ca Việt Nam, hình thức và thể loại” (Bùi Văn Nguyên và Hà Minh

Đức),…đều thiên về khái quát “thủ thuật”, “kĩ xảo” của việc làm phú

- Khoảng từ những năm 90 việc nghiên cứu thể loại đạt được nhiều thành tựu mới Có thể kể một số tác giả có đóng góp quan trọng như các bài viết của Bùi Duy Tân, Trần Đình Sử, Nguyễn Đình Phức, luận

án “Thể phú trong văn học Việt Nam trung đại” của Phạm Tuấn Vũ

1.1.2.Khuynh hướng nghiên cứu lí luận dạy học thể phú

Phú từng có mặt trong cuốn sách giáo khoa đầu tiên của Dương

Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) Thạch Trung Giả vào những năm 70 đã tiếp cận thể loại theo mô hình phân tích tác phẩm : Sơ bộ-

Thâm nhập- Viên thành Cuốn “Giảng dạy văn học theo loại thể” do

Trần Thanh Đạm chủ biên đề cập đến một số cách thức học tập thể phú Các bài viết của Bùi Văn Nguyên, Trần Thị Băng Thanh, Lê Bảo,… đã bước đầu gắn việc tìm hiểu thể loại với thực tiễn dạy học ở phổ thông

Việt Nam ở phương diện hình thức Có lẽ tiêu chuẩn “y như Trung

Quốc”, “sánh ngang Trung Quốc” trong quan niệm của người trung

đại đã chi phối sự ảnh hưởng này Nhận xét về phú đời Trần, Lê Quí

Đôn cho là “Văn thể kì khôi hùng vĩ lưu loát đẹp đẽ, âm vận cách điệu

giống như thể văn nhà Tống” Nguyễn Thiên Túng khẳng định: “Nước

ta từ đời Trần đến nay, nhiều vị có tài hoa văn chương đều qua phú để gửi gắm chí khí, bắt vẻ đẹp và bước lên đỉnh cao khoa cử, rạng rỡ tên tuổi Phú của họ làm tuy khác với phong cách của Li tao song về nhập

đề, thể dụng, nghị luận, kết thúc thì hoàn toàn giống” Nguyễn Văn

Phú và Phong Châu khi giới thiệu về thể loại đã cho “phú Việt Nam

rập khuôn theo phú Trung Quốc” Bùi Duy Tân nhận xét về tiến trình

Việt hoá của các thể loại ngoại nhập, trong đó có phú, cũng cho rằng

“một bài thơ, một bài phú, một bài hịch, một bài cáo,… dầu là viết bằng chữ Nôm, vẫn hầu như giữ nguyên quan niệm thẩm mĩ về thể loại, khuôn khổ, niêm luật, hình tượng, mỹ từ pháp,… hệt như nó có,

Trang 4

khi ra đời ở Trung Quốc” Điểm khác biệt chủ yếu được các tác giả

đồng tình là ở phương diện nội dung dân tộc của thể loại Bài nghiên

cứu của Trần Lê Sáng chỉ ra “phú đời Trần có phần khác phú Trung

Quốc ở chỗ tả thực” Lê Trí Viễn khẳng định “Phú nước người phong cách trang trọng Vào Việt Nam phú chấp nhận mọi đề tài kể cả thông tục hoạt kê” Bùi Duy Tân cũng chia sẻ quan niệm này: “Một là phú ở

ta có nhiều bài chấp nhận những đề tài thông tục của đời thường của sinh hoạt và tâm thế của nho sỹ, giàu chất hoạt kê trào lộng (…) Nó không theo đuổi cái đẹp trang trọng khoa trương, hoành tráng Hai là, phú ở ta, chủ yếu là phú chữ Hán có một số bài miêu tả quang cảnh thiên nhiên vốn là những di tích lịch sử trong các cuộc chiến tranh vệ quốc (…) ông cha ta đã thêm cho thể phú phẩm chất thẩm mỹ mới, để

đặc tả cảm hứng mới của tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc, mà phú ở chính quốc hầu như là yếu” Đây cũng là tư tưởng trong các bài

viết của Nguyễn Phạm Hùng, Trần Đình Sử,

- Nghiên cứu phú trong tương quan so sánh với thơ Các nhà nghiên

cứu đồng nhất quan điểm cho phú là loại thể trung gian giữa thơ và văn xuôi nhưng nghiêng sang khía cạnh trữ tình Tuy vậy phú và thơ

vẫn có những điểm khác nhau Nguyễn Đức Đạt trong “Nam Ông

tùng thoại” cho “thơ là tình cảm, phú là sự việc Tình cảm thì dễ thấy

mà sự việc thì khó chu toàn Phú sở dĩ là để phụ trợ cho thơ vậy Chán ghét cái dài của nó, vậy anh muốn chặt chân hạc để biến nó thành le

le chăng?” Phan Kế Bính nói “cách làm phú cũng giống như cách làm thơ, cũng có khai, thừa, có tả thực, có nghị luận, có kết” Vũ Khắc

Tiệp trong Phú Nôm cũng cho là như vậy Xét về căn nguyên của sự khác biệt Bùi Kỉ và Bùi Văn Nguyên lí giải : “thơ thiên về tả tình thì

phú thiên về tả cảnh nhưng vì cách đặt câu trong phú khác với thơ nên thành ra một thể riêng”

- Nghiên cứu thi pháp phú Tìm hiểu thi pháp phú trung đại các tác giả thường thiên về “cách làm” “phép tắc” hay những đặc điểm hình

thức thể loại như dùng từ, đặt câu, bố cục, Xu hướng nghiên cứu trong thời gian gần đây đã chú ý đến phương diện tính nội dung của

hình thức nghệ thuật Trần Đình Sử chỉ ra “Đặc trưng thi pháp của

phú là tập trung miêu tả từng sự vật, hiện tượng, xoáy vào đủ các khía cạnh, nói sao cho hết, cho cùng, gây ấn tượng mạnh mẽ khó quên”

Phạm Tuấn Vũ đi sâu tìm hiểu thi pháp biểu hiện của phú Phú phô bày sự vật, sự việc, cảm xúc; Chiếm lĩnh đối tượng bằng cái nhìn đại quan song hành với cái nhìn cận cảnh tỉ mỉ; Hình tượng nghệ thuật

mang tính tượng trưng cao độ và tính chất triết lí nghị luận cao xa 2.2.2 Hướng mở từ vấn đề nghiên cứu

- Xác định vị trí của thể loại trong lịch sử phát triển văn học dân tộc

Trang 5

- Nghiên cứu phú Việt Nam trong mối liên hệ với văn học của các nước cùng chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa

- Nghiên cứu lí luận dạy học thể loại phú đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn

3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng:

- Tìm hiểu các biện pháp tác động nhằm nâng cao chất lượng (CL), hiệu quả (HQ) dạy học thể phú trung đại Việt Nam theo đặc trưng thi pháp thể loại

3.2 Nhiệm vụ:

- Khái quát và hệ thống đặc trưng thi pháp phú trung đại Việt Nam

- Nghiên cứu giá trị đặc sắc của Bạch Đằng giang phú (BĐGP) -

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp điều tra giáo dục

5 Giả thuyết khoa học

Nếu khám phá được các đặc trưng thi pháp thể phú trung đại Việt

Nam đã chi phối và tạo nên nét đặc sắc thi pháp tác phẩm BĐGP của

THS để đề xuất những biện pháp phù hợp với giá trị tác phẩm, với năng lực tiếp nhận của học sinh (HS) thì việc dạy học văn học trung

đại và phú sông Bạch Đằng sẽ có CL, HQ tốt hơn

6 Đóng góp mới của luận án

- Tiếp tục quá trình nghiên cứu về thể loại, hệ thống hoá và khái quát những đặc điểm thi pháp của thể phú

- Tập trung tìm hiểu sâu giá trị của “BĐGP”, một đỉnh cao sáng tạo

của phú chữ Hán Việt Nam thời trung đại

- Đề xuất những biện pháp dạy học thể phú trong nhà trường Trung học phổ thông (THPT) đáp ứng thực tiễn dạy học hiện nay

- Bổ sung vào việc hoàn thiện hệ thống lí luận phương pháp dạy học văn theo đặc trưng loại thể

- Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường THPT

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 3 chương

Chương 1: Thi pháp phú trung đại Việt Nam và giá trị đặc sắc của BĐGP (THS)

Trang 6

Chương 2: Những biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học BĐGP (THS) theo đặc trưng thi pháp thể loại

Chương 3: Thực nghiệm dạy học BĐGP (THS) theo đặc trưng thi pháp thể loại

Chương 1

Thi pháp phú trung đại Việt Nam vμ Giá trị

đặc sắc của BĐGP (THS)

1.1 Khái quát chung về thể loại vμ những đặc

điểm thi pháp của phú trung đại Việt Nam

1.1.1 Khái quát chung về thể loại phú

1.1.1.1 Nguồn gốc, phân loại, những đặc điểm cơ bản về văn thể

- Nguồn gốc: Phú bắt nguồn từ cổ thi (bao gồm “Sở từ” và “Kinh thi”, những “hòn đá tảng” của văn học Trung Quốc) Truy tìm nguồn gốc phú, các nhà nghiên cứu thường ngược lên thời Tiên Tần Lối “ẩn

ngữ” của các sáng tác, hình thức đối thoại phổ biến trong trước tác của

các chư tử đã trở thành kiểu vấn đáp khách- chủ và những phong cách

đa dạng trong văn xuôi Tiên Tần đều có ảnh hưởng đến các nhà làm

phú đời sau Nguồn gốc thể loại đã chỉ ra tính chất “lưỡng thể” của

phú Phú là thể loại không nhập nhạc Về thời gian, phú bắt đầu hình thành từ cuối thời Xuân Thu

- Phân loại: Có nhiều hệ thống phân loại khác nhau Nói chung phú

được các nhà nghiên cứu chia làm 5 tiểu loại, bao gồm: phú tao thể,

đã đạt đến sự phát triển rực rỡ có đỉnh cao “có nhiều bài phú kỳ khôi,

hùng vĩ, lưu loát đẹp đẽ” Sách “Quần hiền phú tập” còn ghi lại được

13 bài phú chữ Hán của thời kỳ này Đời Lê, truyền thống phú càng khởi sắc Những năm đầu thế kỷ XX, các bài phú chữ Hán của Trần Quí Cáp, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,… có tác dụng cổ vũ, phê bình, đả kích, khơi gợi lòng tự hào dân tộc Nói chung phú chữ Hán khi du nhập vào Việt Nam đã nhanh chóng phát

Trang 7

triển thành một dòng với những chức năng quen thuộc của thể loại Phú thiên về phô trương, ca ngợi triều đại, nói lên nguyện vọng của kẻ

sỹ

1.1.1.2.2 Phú chữ Nôm

Đời Trần đã xuất hiện phú bằng chữ Nôm, nay còn truyền lại: “Cư trần lạc đạo ” (Trần Nhân Tông), “Đắc thú lâm tuyền thành đạo”,

“Vịnh Hoa Yên tự” (Huyền Quang) và “Giáo tử phú” (Mạc Đĩnh Chi)

Từ thế kỷ XV trở đi, phú chữ Nôm càng ngày càng phát triển với tên tuổi của Nguyễn Hàng, Nguyễn Giản Thanh,… Sang thế kỉ thứ XIX, phú chữ Nôm tiếp tục vận động theo hai hướng : giáo huấn và ngợi ca,

tỏ chí, phát triển thành phú tuyên truyền yêu nước về sau này Như thế phú từ thể cao siêu bác học, dần đậm chất trữ tình, tính hiện thực, sắc thái trào phúng

1.1.2 Thi pháp thể loại phú truyền thống và cách nhìn hiện đại

1.1.2.1 Thi pháp thể loại phú truyền thống

Thi pháp học truyền thống thường được đúc kết theo phương thức

“diễn dịch” do vậy chủ yếu nêu lên các thủ pháp, kĩ xảo dùng từ, đặt

câu, lời văn, của phú, định nghĩa và dạy cách làm phú Những phép

tắc được xem là “kim chỉ nam” một mặt có ý nghĩa rất lớn trong việc lí

giải các vấn đề của văn học đương thời, mặt khác lại có xu hướng trở thành một quy phạm dường như không chấp nhận sự sáng tạo đổi mới

từ bên trong của phương thức trình bày nghệ thuật

1.1.2.2 Cách nhìn hiện đại

Nếu thi pháp phú truyền thống là Thi pháp học sáng tác thì thi pháp học hiện đại là Thi pháp học tiếp nhận - nhìn thể loại trong đời sống

văn học sinh động đa dạng và tiếp biến của nó Thi pháp học tiếp nhận

đã mở ra góc nhìn mới, khám phá sự vận động, biến chuyển của thi pháp phú truyền thống trong quá trình phát triển

1.1.3 Một số đặc điểm thi pháp phú trung đại Việt Nam

1.1.3.1 Phú – Thể tài ngợi ca tán tụng, ngôn chí và phúng gián

Chức năng thể tài này điển hình đến mức trong tiêu đề chương viết về

phú, Lixêvic định danh đây là “thơ ca ngợi” và theo thời gian người ta

có khuynh hướng liệt những tác phẩm ngợi ca vào thể từ phú, đến mức phân biệt tụng và phú là một việc hầu như không thể làm được Phú trước hết là những bài tụng ca lịch sử, ở đó nổi bật lên vai trò của con

người trong mối quan hệ địa linh- nhân kiệt Thích hợp với tư tưởng

cao cả, sang trọng, phú là áng văn chương ngợi ca triều đại thái bình

thịnh trị, ân đức nhà vua toả sáng muôn đời Để “nhuận sắc hồng

nghiệp”(điểm tô nghiệp lớn), phú thường vào bài bằng những lời tán

tụng trực tiếp Truyền thống này ngày càng thịnh đạt ở thời bình dựng xây đất nước với công cuộc phục hưng của các triều đại phong kiến kế

Trang 8

tiếp nhau trong lịch sử (Phụng thành xuân sắc phú - Nguyễn Giản Thanh, Đại Đồng phong cảnh phú - Nguyễn Hàng, Tụng Tây hồ phú - Nguyễn Huy Lượng, Phú đài xuân -Nguyễn Trực, ) Bằng gấm vóc lời văn, phú trung đại dệt nên vẻ đẹp của giang sơn cẩm tú (Thiên

Hưng trấn phú- Nguyễn Bá Thông, Đại Đồng phong cảnh phú-

Nguyễn Hàng, Phụng thành xuân sắc phú- Nguyễn Giản Thanh, Ngã

ba Hạc phú- Nguyễn Bá Lân, Tụng Tây hồ phú- Nguyễn Huy Lượng, Tuyết nguyệt nghi phú, Mộng Thiên Thai phú- Ngô Thì Chí, ) Bên

cạnh thiên nhiên kỳ tích như là yếu tố “địa linh” giúp cho “nhân kiệt” phụng sự việc dựng xây, bảo vệ đất nước (BĐGP-THS, Xương Giang

phú- Lý Tử Tấn, Chí Linh sơn phú- Nguyễn Trãi, Chí Linh sơn phú-

Nguyễn Mộng Tuân, Lam Sơn Lương Thuỷ phú- Lê Thánh Tông, )

còn có một thiên nhiên được miêu tả như là những thắng tích tự nhiên

mà con người yêu mến ngợi ca Phú trung đại miêu tả cái “lạ” của ngã

ba Hạc (Ngã ba Hạc phú), vẻ đẹp của núi Thiên Thai (Mộng Thiên

Thai phú), của phong cảnh trù mật chốn Đại Đồng (Đại Đồng phong cảnh phú), tất cả đều là những bức tranh cuộn khổ lớn trải rộng ra

trước mắt người xem, phô bày hết cái xinh, vẻ lạ, cái đẹp, vẻ đáng yêu, dáng độc đáo của thiên nhiên kỳ thú

Nhưng không ở đâu ca ngợi tán tụng, điểm tô lại gắn liền với việc bộc lộ trực tiếp chí hướng, khát vọng của kẻ sỹ như trong thể loại này Phú là công cụ để kẻ có học bước lên bậc thang danh vọng trong xã hội, để kẻ sỹ tỏ chí, tự tiến Qua đề tài về các nhân vật, điển tích trong sách vở Trung Quốc, các loại cây cối, vật lạ, người làm phú tỏ chí cao

khiết của loài sen giếng ngọc (Ngọc tỉnh liên phú), khí tiết cứng cỏi của tùng bách vượt qua mùa đông sương tuyết (Phú tùng bách rụng

sau), khát vọng được là bề tôi hiền giúp vua giúp nước (Trương Lưu Hầu phú, Khổng Tử mộng Chu Công phú, Lượng như long phú, ) Phú

“Ngọc lành đợi giá” (Mỹ ngọc đãi giá- Phan Phu Tiên), phú gà gáy sáng (Kê minh phú- Nguyễn Thiên Túng) khuyên những người hiền tài nên ra giúp nước, giúp dân, không nên bo bo chỉ nghĩ đến mình “Mỹ

thành một “thi pháp phúng gián” của thể loại Theo đó, phú sử dụng

lối nói bóng gió để khuyên răn chủ yếu bằng cách nêu những tấm gương tốt, ngụ ý kín đáo mong nhà vua trau dồi đạo đức, tu dưỡng bản

thân, chăm chỉ học tập (Trảm xà kiếm phú- Sử Hy Nhan, Cần Chính

Trang 9

lâu- Nguyễn Pháp, Quan Chu nhạc phú- Nguyễn Nhữ Bật, Thang bàn phú, Cảnh Tinh phú- Đào Sư Tích, )

1.1.3.2 Phú- Lối triết lý “cao đàm khoát luận”

Phú thường đề cập đến những vấn đề lớn lao không phụ thuộc vào việc viết về đề tài, hiện tượng gì Nhìn chung các tác phẩm viết về chiến thắng ca tụng võ công của dân tộc thì hướng rẽ của nghị luận thường là bàn về nguyên nhân của những thắng lợi diệu kỳ đó Đặt

trong mối quan hệ : Thiên thời- Địa lợi- Nhân hoà của binh pháp cổ

thấy nổi bật lên vai trò của nhân tố con người Để mở rộng dung lượng, tăng nội dung triết lý nghị luận, các bài phú thường tạo ra cặp

hình tượng khách- chủ phú ở đó những luồng tư tưởng va chạm để rồi

quy thuận hoặc tương hỗ nhau, đẩy vấn đề nghị luận lên cao hơn

1.1.3.3 Phú- Thi pháp miêu tả phô bày, tỉ mỉ, khoa trương, hình

tượng nghệ thuật tượng trưng cao độ

Tính chất này bắt nguồn từ chính quan niệm của người xưa về thể loại Sở trường về việc mở rộng dung lượng và phạm vi phản ánh, phú

có lối miêu tả sự vật, sự việc tỉ mỉ, xoay nhìn để quan sát dưới mọi góc

độ khác nhau, phát hiện và điểm tô vẻ đẹp Phú thường bắt đầu từ cội nguồn của sự vật, hiện tượng mà nó nói đến, chú ý tới quá trình phát triển của sự vật ấy Trong thể loại này thịnh hành kiểu chiếm lĩnh sự vật ở mọi góc độ: cận, viễn, đại quan, tỉ mỉ, nguồn gốc, quá trình, trong, ngoài, trên, dưới, công dụng,…của sự vật đó

Bên cạnh lối tả cụ thể, tỉ mỉ, thi pháp nổi bật của của phú là tán dương bằng khoa trương phóng đại ở đó là một sự say mê vô bờ bến với thế giới được dệt bằng lụa là gấm vóc của ngôn từ (kiếm Lưu Bang, lầu Cần Chính, chậu Vua Thang,…) Lối khoa trương ở đây là thậm xưng, so sánh với những gì tuyệt đối theo nguyên tắc độc tôn

“không gì bằng”

Hình tượng nghệ thuật trong phú còn mang tính tượng trưng cao độ

Đặc điểm này phần nào thủ tiêu đi tiểu loại phú chỉ vịnh vật thuần tuý Bởi lẽ cả người làm lẫn người đọc đều hướng tới một ý nghĩa tượng

trưng được gợi ra từ đối tượng miêu tả Lầu Cần Chính là tấm gương cho việc vun đắp nền móng triều đại Chậu vua Thang là biểu tượng cho sự sửa đức trau mình Kiếm Lưu Bang gợi đến khát vọng về hoà bình lấy đức trị làm gốc Những Bạch Đằng, Lam Sơn, Lương Thuỷ,

Chí Linh, đều mang ý nghĩa ca ngợi võ công dân tộc trong lịch sử

chống ngoại xâm Sau này trong phú chữ Nôm chúng ta còn bắt gặp

những hình tượng đậm chất đời thường như “gái nhỡ thì phú”, “lắm

mối tối nằm không phú”, nhưng không ai hiểu ý nghĩa tác phẩm chỉ

dừng lại ở đề tài Đó là biểu tượng cho một lớp nhà nho mà con đường công danh trắc trở trong một bối cảnh xã hội mới Nội dung phúng

Trang 10

gián càng kín đáo thì tính chất tượng trưng càng đậm hơn Lối tượng trưng tập trung của hình tượng nghệ thuật trong phú phải chăng có

mầm mống từ những sách “ẩn thư” Tiên Tần- một nguồn phát sinh thể

loại Thêm nữa việc lấy đề tài từ sách vở cũng là một cách giải thích

Đặc biệt tính chất này của thể phú thích hợp với chức năng tụng ca, phúng gián và tính bác học của thể tài

1.1.3.4 Từ ngôn ngữ cung đình bác học đến việc dẫn nhập ngôn

ngữ đời thường, con đường “bình dân hoá” của phú trung đại Việt Nam

Là thể văn chương bác học, cung đình, phú sử dụng lớp ngôn từ trang

trọng Mỗi bài phú giống như một tấm thảm lộng lẫy hoa mỹ, một chuỗi ngôn ngữ được xâu bằng sợi chỉ tưởng tượng lấp lánh Chồng chất trong các tác phẩm là các điển tích, điển cố Song, hàm chứa thế năng thay đổi lớn, phú đã từ thế giới của vua quan và kẻ sỹ có học

được bình dân hoá theo bước phát triển vượt bậc của chữ Nôm trong

đời sống văn hoá dân tộc Có thể nói lần đầu tiên trong phú thấy xuất hiện thứ ngôn ngữ sống động khi miêu tả chuyện ăn, mặc, chơi của kẻ

sỹ “tịch cư ninh thể” (Tịch cư ninh thể phú- Nguyễn Hàng) Thể loại này đã được “văn xuôi hoá”, đảm nhiệm chức năng của văn xuôi trong

buổi ban đầu Từ đây dường như phú đề cập đến những nội dung vượt khỏi chức năng đề tài thường gặp Không chỉ là truyền thống tán dương, tụng ca, phúng gián, tỏ chí, tỏ lòng, phú còn có thể viết về thói

đời (Răn đời phú, Thế tục phú, ), chế giễu những hủ tục cần xoá bỏ (Tài bàn phú, Thuốc phiện phú, Tổ tôm phú, ), viết về những nỗi niềm thầm kín chưa từng thấy phô bày “trực trần kỳ sự” bao giờ (Quá

xuân phú, Lẳng lơ phú, Mẹ ơi con muốn lấy chồng phú, Gào chồng phú, ) Con đường bình dân hoá đã đưa phú trở về gần với cuộc sống

hơn, chứng tỏ nhiều khả năng còn tiềm ẩn của nó

1.2 “BĐGP”, một thμnh tựu đặc sắc của phú trung

đại Việt Nam

1.2.1 BĐGP, một bài phú giàu chất thơ

Xét từ phía là một dòng của thơ, phú được xếp vào các tác phẩm trữ tình đặc biệt, bởi lẽ nó không chỉ được đặt nền móng từ thi ca mà còn

thoát thai từ văn xuôi “ẩn ngữ” Tiên Tần Đằm sâu trong mạch tự sự của BĐGP là những “hỉ, nộ, ái, ố”, nỗi buồn, niềm vui, niềm tự hào,

kiêu hãnh, sự ngậm ngùi, thán tiếc, niềm hi vọng, tin tưởng, của nhân vật trữ tình Chất thơ còn hiện ra từ nhạc điệu, nhịp điệu mang

dấu ấn trữ tình nồng đượm tha thiết trong thơ “Ly tao” (Khuất

Nguyên), dấu vết xa xưa của tao thể phú

Trang 11

1.2.2 BĐGP, một hiện thực lịch sử được tái tạo

Cảm thức tự hào và nghệ thuật biểu hiện của thể phú đã làm sống dậy những ấn tượng vẹn nguyên về không khí chiến trường, cục diện phân tranh, khí thế xông trận, diễn biến tình hình,…của cuộc chiến trên sông Bạch Đằng Song phải thấy là hiện thực lịch sử được tái tạo trong tác phẩm đã tự tước đi cái ồn ào thời sự của buổi khải hoàn ca để lắng vào chiều sâu thêm tôn vinh tư thế, tầm vóc vững vàng anh hùng của dân tộc Đó là hiện thực về thế sự, một cảm thức lịch sử hướng nội

ẩn sau bức tranh có bố cục, tạo hình, đường nét, màu sắc, âm thanh,

ánh sáng rất ấn tượng về chiến cuộc kia BĐGP cũng bàng bạc sắc thái

triết luận Chất triết lý thâm trầm hiện ra từ những suy tư về cuộc sống chảy trôi vô thuỷ vô chung, về giá trị của những gì con người làm

được trong cuộc biến ảo vần xoay tang thương dâu bể ấy BĐGP ở vào

thời điểm ra đời của nó còn đón bắt được, dự cảm thấy luồng tư tưởng nghệ thuật của thời đại Vãn Trần, đó là những cảm xúc hướng nội khi xã hội đã bắt đầu xuất hiện mâu thuẫn, rạn nứt

1.2.3.BĐGP, một bài tụng ca chứa chan cảm thức tự hào về lịch

sử dân tộc

Bạch Đằng của chiến trường, Bạch Đằng của sự đấu trí so tài sống dậy hào hùng qua lời phú khoa trương phóng đại như đang diễn ra trước mắt người đọc Đó là bài tụng ca thật sảng khoái khi kể lại những chiến công lớn từng xảy ra Các sự kiện thắng lợi được đặt bên nhau để cùng tôn vinh sự anh hùng của nhân dân, võ công thâm hậu của dân tộc Chiến công nối tiếp chiến công như một dòng chảy không ngừng Dường như đoạn nào, khúc nào trên dòng sông lịch sử cũng ghi dấu tích anh hùng Hồi tưởng quá khứ để tôn thêm hiện tại Người viết phú tụng đã chọn hai điển tích về những chiến trận nổi danh trong lịch

sử Trung Quốc mà đối sánh chồng chất, để đo sự vĩ đại của chiến cuộc Bạch Đằng Dưới cái nhìn của THS, thắng lợi Bạch Đằng như một

cuộc “sinh nở” vĩ đại của lịch sử lần thứ hai để tạo ra dải đất Việt

thiêng liêng này

1.2.4 BĐGP – Một phương thức trình bày nghệ thuật đậm chất sử

thi

1.2.4.1 Một không gian nghệ thuật bốn phương và một thời gian

nghệ thuật vũ trụ tạo nên vẻ đẹp hùng vĩ cho tác phẩm

Không gian nghệ thuật bốn phương trong BĐGP với biển rộng (giương buồm, giong gió, lướt bể, chơi trăng), sông hồ (Ngũ Hồ,

Nguyên Tương), những thắng cảnh nổi tiếng (Tam Ngô, Bách Việt,

đầm Vân Mộng) đã góp phần tạo nên vẻ đẹp rộng lớn hoành tráng của

bức tranh thiên nhiên được miêu tả Cùng với không gian nghệ thuật

Trang 12

bốn phương, trong phần đầu bài phú sự hùng vĩ hoành tráng còn hiện

ra ở thời gian nghệ thuật thiên nhiên vũ trụ

1.2.4.2 Một hình tượng dòng sông lịch sử

Viết phú từ đề tài BĐG, THS đã gợi mở trường liên tưởng rộng lớn của người thưởng thức về dòng sông Bạch Đằng Bạch Đằng trong phú

có cái vang vọng của cõi chiến trường đồng nghĩa với tử địa, cũng lại

là một dòng sông thi ca in dấu ấn đậm nét trong tâm hồn người Việt Những khoảnh khắc phải đối diện với kẻ thù, Bạch Đằng còn trở thành

biểu tượng cho tinh thần quật khởi của dân tộc (câu chuyện về vị sứ bộ

Giang Văn Minh) Hình tượng Bạch Đằng khi êm ả thơ mộng, khi tiêu

sắt đìu hiu, khi cuộn xiết dữ dội, khi cuồn cuộn chảy ra biển như biểu tượng dòng thời gian lịch sử ở đó, có những chặng thanh bình thơ mộng Có những chặng căng thẳng, cái êm ả ngầm chứa sóng thác sôi trào Có những lúc cuồn cuộn đổ về bể Đông như sự sống đêm ngày

không ngừng không nghỉ (Sông Đằng một dải dài ghê/ Sóng hồng cuồn

cuộn tuôn về bể Đông)

1.2.4.3 Một bức tranh chiến trận hoành tráng

BĐGP mở màn đã là thế căng thẳng Mở màn đã là những giây phút

cao điểm gay cấn nhất Độ căng của thế trận “nghìn cân treo sợi tóc”

đã đặt người kể, người nghe vào trạng thái hồi hộp chờ đợi, cả tin tưởng lẫn âu lo Thủ pháp đối lập được sử dụng triệt để như những mảng màu sáng tối đậm nét trong bức tranh chiến trận Sở trường không chú trọng tả thực mà thiên về việc gây không khí tưng bừng là chính, bài phú của THS như dẫn người đọc ngược thời gian, vượt qua

sự ước lệ cao độ của ngôn ngữ để tưởng như thấy trước mắt mình không gian của chiến trường trong cuộc giao tranh Sự khoa trương

được đẩy đến cực độ trong miêu tả

1.2.4.4 Một tầm vóc con người lớn lao

Song song với sự đối lập chiến tuyến Ta>< Địch, bao trùm lên bài phú là một đối lập nghệ thuật thứ hai: Đối lập giữa cái Động và cái

Tĩnh Thế Động hung hãn như trứng để đầu đẳng và khoảnh khắc hiểm

nghèo hiện ra trong bài phú như một hình khối tương phản để làm bật nổi ở cực kia thái độ ung dung bình tĩnh của người làm chủ chiến cuộc, quyết tâm trở thế cờ trong tay mình Cái tĩnh ở đây là kết quả của những suy tư vận động, của cuộc đấu trí đấu lực lớn Biểu hiện tập

trung cao độ nhất cho phạm trù Tĩnh là thái độ an nhiên tự tại, biết

nhìn xa trông rộng, trí tuệ siêu phàm của vị quốc công tiết chế Hưng

Đạo Đại vương

1.2.5 BĐGP, một cái nhìn dân chủ về lịch sử hào hùng, bi tráng

của dân tộc, một khẳng định về sự trường tồn của đất nước và con người Việt Nam

Ngày đăng: 04/04/2014, 17:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w