1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp tính các chỉ tiêu trong hạch toán nội bộ doanh nghiệp vận tải

27 635 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 470,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp tính các chỉ tiêu trong hạch toán nội bộ doanh nghiệp vận tải

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

LÊ ĐĂNG BẮC

Đề tài:

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG

HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH

CÁC CHỈ TIÊU TRONG HẠCH TOÁN NỘI BỘ

DOANH NGHIỆP VẬN TẢI

Chuyên ngành: Tổ chức và quản lý vận tải

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

NGƯT PGS TS Nguyễn Văn Thụ

Hà Nội - 2009

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Đại học Giao thông vận tải Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: NGƯT.PGS.TS Nguyễn Văn Thụ

vào hồi giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện

Trang 3

1 Tính cấp thiết của của đề tài Luận án

Hạch toán nội bộ là phương thức quản lý doanh nghiệp, xét trên quan điểm lý luận chung, hạch toán nội bộ chính là sự vận dụng các quy luật kinh tế khách quan theo những phương pháp và hình thức thích hợp để điều chỉnh các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc và giữa các đơn vị trực thuộc đó với nhau Trong khi đó phương thức quản lý doanh nghiệp lại phụ thuộc chủ yếu vào cơ chế quản lý của doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế đất nước nói chung Việc thay đổi cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi về phương thức quản lý doanh nghiệp Ngược lại sự thay đổi cơ chế quản lý của doanh nghiệp cũng cần phải thay đổi phương thức quản lý doanh nghiệp đó cho phù hợp Phương thức hạch toán nội bộ đã được biết đến và được áp dụng vào Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ trước khi nền kinh tế Việt Nam còn hoạt động theo cơ chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Việc áp dụng này đã đem lại hiệu quả rõ rệt tại các doanh nghiệp tiến hành hạch toán nội bộ như: Doanh nghiệp liên hợp giấy Vĩnh Phú; Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Doanh nghiệp sửa chữa động cơ Hà Nam Ninh Với các nghiên cứu đã được công bố, kết quả áp dụng thực tế này tại doanh nghiệp trên đã khẳng định sự tất yếu khách quan, sự cần thiết phải áp dụng phương thức hạch toán nội bộ vào trong quản lý doanh nghiệp

Công cuộc đổi mới của đất nước ta đã tiến hành từ những năm đầu của thập niên cuối thế kỷ 20, cho tới nay, sự nghiệp đổi mới này vẫn đang có những chuyển biến tích cực, thúc đẩy sự thay đổi về chất trong việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Cơ chế quản lý nền kinh tế thay đổi kéo theo sự thay đổi cơ chế quản lý tại từng doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp Nhà nước được thành lập từ những năm trước khi đổi mới đang được chuyển đổi thành các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần theo định hướng chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước của Đảng, Chính phủ và theo các văn bản Luật do Quốc hội ban hành Việc thay đổi cơ chế quản lý này kéo theo sự thay đổi về phương thức quản lý doanh nghiệp Với cơ chế của nền kinh tế thị trường, với sự hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới bằng việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam trong thời gian qua, thị trường hoạt động của các doanh nghiệp được mở rộng, cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp muốn hoạt động hiệu quả, đạt được lợi nhuận cao cần phải củng cố, hoàn thiện cơ chế quản lý trong nội bộ doanh nghiệp mình Đây là nguyên nhân khách quan buộc các doanh nghiệp phải thực hiện Để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, buộc các các bộ phận thuộc doanh nghiệp phải hoạt động hiệu quả trong mối quan hệ chung toàn doanh nghiệp, tính tự chủ, năng động của từng đơn vị, bộ phận doanh nghiệp phải được phát huy tối đa, sự phối hợp giữa các đơn vị, bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp phải chặt chẽ Phương thức hạch toán nội

bộ sẽ đáp ứng đầy đủ yêu cầu đó với sự phân cấp, phân quyền hợp lý, tổ chức, quản

lý chặt chẽ, điều hành một cách năng động và áp dụng biện pháp khuyến khích vật chất kịp thời dựa trên quy chế chung của toàn doanh nghiệp và của từng bộ phận doanh nghiệp Với mục đích này, sự cần thiết của phương thức hạch toán nội bộ lại càng được củng cố trong nền kinh tế thị trường hiện nay Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp tính các chỉ tiêu hạch toán nội bộ các doanh nghiệp vận tải” nhằm mục đích hoàn thiện lý luận về hạch toán nội bộ trong bối cảnh

Trang 4

nền kinh tế thị trường, nghiên cứu xây dựng các phương án và hệ thống chỉ tiêu, cách xác định các chỉ tiêu hạch toán nội bộ cho các doanh nghiệp vận tải nói chung và cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam nói riêng

Tổng công ty hàng không Việt nam là một trong những tổng công ty nhà nước chủ chốt, nắm nguồn vốn lớn của nền kinh tế Theo cơ chế quản lý mới, Tổng công ty Hàng không Việt Nam đang bắt đầu tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp Mô hình quản lý doanh nghiệp được thay đổi đòi hỏi sự thay đổi trong phương thức quản lý doanh nghiệp Hạch toán nội bộ là một phương thức quản lý hiệu quả đã được chứng minh trong suốt thời gian qua, việc áp dụng hạch toán nội bộ vào quản lý Tổng công

ty Hàng không Việt Nam sẽ đem lại hiệu quả lớn cho doanh nghiệp

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

2.1) Các nghiên cứu đã công bố

Những nghiên cứu về hạch toán nội bộ được đưa ra từ khá sớm, nhưng việc áp dụng vào thực tế thì lại rất hạn chế và lý luận này phát triển chủ yếu ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây Để đánh giá một cách chi tiết hơn về vấn đề này, tác giả xin nêu

ba nghiên cứu điển hình về hạch toán nội bộ tại Việt Nam như sau:

- Nghiên cứu của tác giả Lê Như Bách 1979,

- Nghiên cứu của tác giả Phan Văn Thuận, Đại học bách khoa năm 1992,

- Đề tài nghiên cứu khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Thụ, Trường Đại học Giao thông vận tải về hạch toán nội bộ xí nghiệp vận tải ô tô

Hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu của các nhà quản lý kinh tế liên quan đến quản trị doanh nghiệp bằng nhiều các quy trình, quy chuẩn khác nhau nhưng lại rất ít các nghiên cứu về hạch toán nội bộ doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nhất là tại các nước đang phát triển như ở Việt Nam

2.2 Những quan điểm về hạch toán kinh tế nội bộ

- Hạch toán nội bộ là cần thiết đối với các doanh nghiệp trong việc tổ chức, quản lý và điều hành

- Về hình thức hạch toán nội bộ, một số tác giả cho rằng việc hạch toán nội bộ phân xưởng, công đoạn sản xuất và tổ đội sản xuất là những hình thức hạch toán nội

bộ chủ yếu, một số tác giả khác lại chia hạch toán nội bộ theo hình thức hạch toán nội

bộ nhiệm vụ sản xuất chính và nhiệm vụ sản xuất phụ

- Hầu hết các tác giả đều đề cập đến vai trò quan trọng của hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật, coi đó là cơ sở để tính toán và giao chỉ tiêu hạch toán nội bộ

- Về vấn đề xây dựng hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ có các quan điểm khác nhau:

+ Quan điểm thứ nhất: Hệ thống chỉ tiêu phải trùng khớp và cụ thể hóa từng phần hoặc toàn phần các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh

+ Quan điểm thứ hai: Hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ được nghiên cứu xây dựng phù hợp với đơn vị được chọn để tiến hành hạch toán nội bộ

2.3 Một số tồn tại trong các nghiên cứu về hạch toán nội bộ và hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ doanh nghiệp

- Các tài liệu nghiên cứu đều chủ yếu tập trung vào những lĩnh vực hẹp của từng ngành cụ thể và mới chỉ đề cập tới việc hạch toán nội bộ trong các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế cũ, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa

Trang 5

- Nghiên cứu về hạch toán nội bộ của Tác giả Lê Như Bách đưa ra từ rất lâu từ những năm 1979, những lý luận này đưa ra khi nền kinh tế của Việt Nam vẫn đang trong nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa, cho đến nay lý luận và tài liệu này đã lạc hậu và nhiều lý luận không còn tính thực tiễn

- Tài liệu nghiên cứu của Tác giả Phan Văn Thuận có những nghiên cứu khá sâu về hạch toán nội bộ các xí nghiệp công nghiệp, tuy nhiên nghiên cứu này được nghiên cứu từ năm 1988 - 1992, tại thời điểm này, sự thay đổi về nhận thức, quản lý, kinh doanh theo quy luật của nền kinh tế thị trường chưa nhiều, do vậy các đánh giá, quan điểm và nội dung nghiên cứu không tránh khỏi ảnh hưởng của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Trong nghiên cứu cũng không đề cập đến phương án hạch toán nội bộ đối với từng đơn vị hạch toán nội bộ lựa chọn

- Hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ cũng đã được đưa ra tại các tài liệu của Tác giả Lê Như Bách và Tác giả Phan Văn Thuận Tuy nhiên, hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ ở các tài liệu này chỉ đề cập đến việc hạch toán các xí nghiệp công nghiệp

và vẫn còn một số tồn tại:

+ Hệ thống các chỉ tiêu hạch toán nội bộ chỉ phù hợp với các xí nghiệp trong

mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp

+ Việc vận dụng các chỉ tiêu hạch toán nội bộ, mối tương quan giữa chúng với

phương thức hạch toán nội bộ cho từng đơn vị HTNB chưa được nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

- Hệ thống hóa, hoàn thiện lý luận về hạch toán nội bộ phù hợp với nền kinh tế chế thị trường hiện nay

- Nghiên cứu xây dựng phương án hạch toán nội bộ, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu, quy chế hạch toán nội bộ cho các doanh nghiệp vận tải hàng không nói chung và cho Tổng công ty hàng không nói riêng

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Luận án nghiên cứu, hệ thống hóa, hoàn thiện lý luận về hạch toán nội bộ, từ

đó áp dụng lý luận này vào tiến hành lập phương án, nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu HTNB cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam

5 Phương pháp, đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài

Kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận với thực tiễn SXKD cộng với học tập kinh nghiệm quản lý từ nước ngoài, tác giả sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp như: tiếp cận hệ thống, phân tích thống kê, so sánh, đánh giá, phương pháp chuyên gia… làm cơ sở phân tích, đánh giá và đề xuất các vấn đề nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giải quyết các mối quan hệ về nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, vốn, lao động, chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh giữa doanh nghiệp với các đơn vị, bộ phận của doanh nghiệp và giữa các bộ phận, đơn vị của doanh nghiệp với nhau

6 Những đóng góp của luận án

Một số kết quả đạt được và những đóng góp khoa học của luận án được thể hiện ở những vấn đề:

Trang 6

a) Hệ thống hóa, hoàn thiện lý luận về hạch toán nội bộ doanh nghiệp, bổ sung các nguyên tắc, phương pháp, quy trình hạch toán nội bộ doanh nghiệp phù hợp cơ chế thị trường hiện nay

b) Nghiên cứu xây dựng phương thức hạch toán nội bộ Tổng công ty hàng không Việt Nam phù hợp với đặc điểm, điều kiện sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật cho phép

c) Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam nói riêng và cho các doanh nghiệp vận chuyển hàng không nói chung với các căn cứ khoa học, phương pháp tính toán rõ ràng, khả năng áp dụng cao

7 Kết cấu Luận án

Luận văn được trình bày trong 168 trang, với 7 bảng, 14 sơ đồ, đồ thị, 60 tài liệu tham khảo, gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận hạch tóan nội bộ doanh nghiệp

Chương 2: Phân tích tình hình, hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ của Tổng công ty Hàng không Việt Nam

Chương 3: Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu hạch tóan nội bộ Tổng công

ty hàng không Việt Nam

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN HẠCH TOÁN NỘI BỘ DOANH NGHIỆP 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN NỘI BỘ DOANH NGHIỆP 1.1.1 Khái niệm hạch toán nội bộ doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm, bản chất kinh tế của hạch toán nội bộ doanh nghiệp

Trong một số các khái niệm khác nhau đưa ra trong từ điển Bách khoa toàn thư, trong nghiên cứu của tác giả Phan Văn Thuận tuy khác nhau về cách hành văn nhưng đều thống nhất về nội dung là phương thức để quản lý nội bộ doanh nghiệp

Đồng quan điểm với PGS TS Nguyễn Văn Thụ, tác giả cho rằng: nếu hạch toán kinh tế được xem là một phương thức tổ chức quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp thì hạch toán nội bộ là phương thức quản lý điều hành của doanh nghiệp đối với các bộ phận trực thuộc doanh nghiệp Nói khác đi hạch toán nội bộ là một phương thức tổ chức quản lý điều hành sản xuất kinh doanh trong nội bộ mỗi doanh nghiệp (26,tr.5)

Theo tác giả khái niệm hạch toán nội bộ được đưa ra như sau:

“Hạch toán nội bộ là phương thức quản lý điều hành của doanh nghiệp đối với

các bộ phận trực thuộc doanh nghiệp Xét trên quan điểm lý luận chung, hạch toán nội bộ chính là sự vận dụng các quy luật kinh tế khách quan theo những phương pháp và hình thức thích hợp Xét trên quan điểm quản lý thì thực chất của hạch toán nội bộ là sự phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý”

1.1.1.2 Sự khác nhau giữa hạch toán kinh tế và hạch toán nội bộ

- Sự khác nhau cơ bản giữa hạch toán kinh tế và hạch toán nội bộ được thể hiện

ở phạm vi, tác dụng của mỗi loại hình hạch toán

Trang 7

HẠCH TOÁN KINH TẾ HẠCH TOÁN NỘI BỘ

+ Các mối quan hệ rộng hơn

+ Hạch toán kinh tế giải quyết mối

quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau,

giữa doanh nghiệp với nhà nước

+ Các mối quan hệ trong hạch toán

kinh tế doanh nghiệp được thống nhất

bằng luật định của nhà nước

+ Mức độ: Hạch toán kinh tế rộng hơn

+ Các mối quan hệ hẹp hơn + Hạch toán nội bộ giải quyết mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các bộ phận của doanh nghiệp và giữa các bộ phận trong doanh nghiệp với nhau

+ Các mối quan hệ trong hạch toán nội bộ được thể hiện dưới dạng khác tuỳ theo từng điều kiện cụ thể cũng như phương thức hạch toán nội bộ của từng doanh nghiệp

+ Mức độ: hạch toán nội bộ sâu, triệt để hơn hạch toán kinh tế

1.1.1.3 Phân loại hạch toán nội bộ

a) Phân loại hạch toán nội bộ theo lĩnh vực quản lý

- Hạch toán nội bộ theo sản xuất

- Hạch toán nội bộ theo chi phí

b) Phân loại hạch toán nội bộ theo cấp độ hạch toán

- Đối với tổng công ty có 4 cấp hạch toán nội bộ từ tổng công ty tới người lao động

- Đối với công ty có 3 cấp từ cấp công ty tới người lao động

Ngoài ra hạch toán còn được phân loại thành hạch toán nội bộ từng phần hoặc hạch toàn nội bộ toàn phần

1.1.2 Sự cần thiết phải hạch toán nội bộ doanh nghiệp

1.1.2.1 Đối với doanh nghiệp nói chung

Trong nền kinh tế thị trường với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay, các doanh nghiệp luôn hướng tới mục tiêu là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng cách vừa phải nhanh chóng thích ứng với những vấn đề toàn cầu vừa phải tự mình hợp lý hoá sản xuất, áp dụng các biện pháp quản lý hữu hiệu mới có thể đem lại hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh

1.1.2.2 Đối với doanh nghiệp vận tải

Đối với doanh nghiệp vận tải, việc hạch toán nội bộ đặc biệt phát huy tác dụng

vì chính những đặc thù riêng của nó: sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng cụ thể nào, nên việc xác định chất lượng sản phẩm rất khó khăn vì khó lượng hóa; ngành dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động sống, do vậy năng suất lao động tăng chậm hơn so với các ngành sản xuất có điều kiện sử dụng máy móc và kỹ thuật tiến bộ thay cho lao động thủ công; sản phẩm dịch vụ có tính thay thế thấp, một dịch

vụ này thường là không thay thế cho dịch vụ khác được…

1.1.3 Các nội dung cơ bản của hạch toán nội bộ doanh nghiệp

1.1.3.1 Điều kiện hạch toán nội bộ doanh nghiệp

- Điều kiện về tổ chức

Trang 8

- Điều kiện về kỹ thuật

- Điều kiện về kinh tế

1.1.3.2 Quy trình, nội dung hạch toán nội bộ

a) Phân tích đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

b) Xây dựng mục tiêu HTNB DN

c) Phân loại, lựa chọn đơn vị hạch toán và xác lập cấp HTNB DN

d) Xác định sản phẩm và giá hạch toán nội bộ

e) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật

k) Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện, chế độ thưởng phạt vật chất cho các đơn

vị, điều chỉnh và bổ sung phương án HTNB cho kỳ HT tiếp theo

1.1.3.3 Mục tiêu hạch toán nội bộ

- Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh với chất lượng cao

- Giảm chi phí sản xuất trên cơ sở tiết kiệm và sử dụng hợp lý các yếu tố sản xuất trong đơn vị hạch toán

- Tăng lợi nhuận cho đơn vị hạch toán và doanh nghiệp trên cơ sở khai thác tốt năng lực sản xuất, vận dụng tổng hợp các yếu tố sản xuất vật chất, khai thác tiềm năng lao động để hạ giá thành sản phẩm

1.1.3.4 Chức năng cơ bản của hạch toán nội bộ doanh nghiệp

- Hạch toán nội bộ mang chức năng tính toán phản ảnh

- Chức năng thứ hai của hạch toán nội bộ đó là chức năng tìm các giải pháp kinh

tế - kỹ thuật, công nghệ, tổ chức để điều hành quá trình sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao

1.1.3.5 Nguyên tắc hạch toán nội bộ

a) Nguyên tắc 1: Hạch toán nội bộ phải đảm bảo tính hệ thống trong quy trình sản

xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

b) Nguyên tắc 2: Hạch toán nội bộ phải đảm bảo tính khoa học

c) Nguyên tắc 3: Đảm bảo nguyên tắc phân cấp hợp lý và áp dụng phương án hạch toán nội bộ hiệu quả

d) Nguyên tắc 4 Đảm bảo tính chịu trách nhiệm của từng đơn vị hạch toán trên

cơ sở hiệu quả kèm theo khuyến khích vật chất

đ) Nguyên tắc 5 Đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, công bằng trong quá trình thực hiện HTNB

e) Nguyên tắc 6: Đảm bảo nguyên tắc hợp lý, hợp pháp trong hạch toán nội bộ

1.1.3.6 Phương pháp hạch toán nội bộ

- Hạch toán nội bộ theo tiêu chuẩn - định mức kinh tế kỹ thuật

- Hạch toán nội bộ theo phương cách khoán

- Hạch toán nội bộ theo đơn đặt hàng

Trang 9

1.1.3.7 Xác định giá hạch toán nội bộ

- Theo cơ chế giá kế hoạch

GHTNB = Sbq + Lđm (1.2) Trong đó GHTNB: Giá hạch toán nội bộ; Sbq: Giá thành bình quân hợp lý; Lđm: Lãi định mức

- Cơ chế giá thị trường

+ Trường hợp 1: Sản phẩm của bộ phận hạch toán nội bộ là sản phẩm hàng hoá (sản phẩm đó có thể trao đổi trên thị trường được)

GHTNBi = Gtt - Kđc x Cthuếi (1.4) + Trường hợp 2: Sản phẩm của bộ phận hạch toán nội bộ mới chỉ là dạng bán thành phẩm Nói khác đi sản phẩm đầu ra của bộ phận này là yếu tố đầu vào của sản xuất đối với đối với bộ phận khác

1.1.4 Mối liên quan giữa HTNB, kế toán quản trị và kiểm toán nội bộ

- Kế toán quản trị là hệ thống thông tin kinh tế đã được đo lường xử lý và cung cấp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Kiểm toán nội bộ là hoạt động đảm bảo và tư vấn độc lập, khách quan được thiết lập nhằm tăng thêm giá trị và cải tiến hoạt động của một tổ chức Kiểm toán nội

bộ hỗ trợ tổ chức đạt được những mục tiêu thông qua sự tiếp cận một cách có nguyên tắc, có hệ thống nhằm đánh giá và cải tiến hiệu quả quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát và quản trị doanh nghiệp

HTNB, kế toán quản trị và kiểm toán nội bộ đều là những giải pháp quản lý nội bộ trong doanh nghiệp, nó bổ sung cho nhau nhằm đạt hiệu quả quản lý cao nhất Hạch toán nội bộ tiến hành phân cấp, phân quyền cho từng bộ phận doanh nghiệp, kế toán quản trị cung cấp cho nhà quản lý DN tình hình triển khai HTNB bằng hệ thống thông tin đã được đo lường và xử lý và kiểm toán nội bộ là công cụ kiểm soát hữu hiệu sự tuân thủ, hoạt động và tài chính của doanh nghiệp trong quá trình HTNB

1.2 Chỉ tiêu hạch toán nội bộ doanh nghiệp

1.2.1 Điều kiện, mục đích, căn cứ, yêu cầu, nhân tố ảnh hưởng khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu HTNB

- Điều kiện: Phương pháp tính toán các chỉ tiêu chính xác, rõ ràng, đơn giản, các định mức kinh tế kỹ thuật hợp lý và phải hình thành các nhóm chỉ tiêu để quản lý

- Yêu cầu: Việc lựa chọn chỉ tiêu, xây dựng, tính toán, đo lường phải đơn giản, dễ định lượng và quán triệt đầy đủ các nguyên tắc hạch toán nội bộ Hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ phải phù hợp với các đặc điểm sản xuất kinh doanh, phù hợp với trình độ quản lý doanh nghiệp, phù hợp với đơn vị hạch toán, phù hợp với quy trình công nghệ

- Căn cứ: Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu HTNB phải căn cứ vào mục tiêu sản xuất kinh doanh, trong đó có mục tiêu của hạch toán nội bộ, căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, phương thức hạch toán nội bộ, hệ thống các tiêu chuẩn định mức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp và trình độ và năng lực của cán bộ quản lý doanh nghiệp

Trang 10

- Nhân tố ảnh hưởng: Cơ chế quản lý của doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, trình độ quản lý doanh nghiệp là những nhân tố chính ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ doanh nghiệp

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ doanh nghiệp công nghiệp

Trong các nghiên cứu trước đây, rất ít các nghiên cứu đưa ra hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ một cách đầy đủ Theo tác giả được biết cho đến nay mới chỉ có 3 nghiên cứu đưa ra các chỉ tiêu hạch toán nội bộ, trong đó hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ của tác giả Phan Văn Thuận đưa ra khá đầy đủ đối với các doanh nghiệp công nghiệp Hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ tại nghiên cứu này không có các chỉ tiêu

về vốn, tài sản doanh nghiệp, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, các chỉ tiêu cực kỳ quan trọng phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh bằng đồng tiền trong nền kinh tế thị trường hiện nay Tuy nhiên, nguyên tắc xây dựng, phương pháp xây dựng

và nguyên lý tính toán các chỉ tiêu này khá chặt chẽ và khoa học có thể tham khảo để nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ trong đề tài này

1.3 Kinh nghiệm hạch toán nội bộ của các tập đoàn hàng không trên thế giới

Nghiên cứu kinh nghiệm hạch toán nội bộ của một số Tập đoàn hàng không lớn trên thế giới như United Airlines của Mỹ, Air France của Pháp, China Southern Airlines của Trung Quốc cho thấy:

- Các Tập đoàn này đều là tập hợp các doanh nghiệp thành viên với nhiều hình thức sở hữu khác nhau với cùng một mục đích kinh doanh là kinh doanh vận chuyển hàng không

- Các Tập đoàn này đều tiến hành hạch toán nội bộ từ rất sớm dưới hình thức này hoặc hình thức khác bằng việc phân cấp, phân quyền triệt để cho từng đơn vị,

bộ phận, thể hiện bằng việc thành lập các ủy ban chuyên ngành khác nhau, ban hành các quy chế nội bộ rất chặt chẽ trên từng lĩnh vực quản lý đối với từng đơn vị quản

Tóm tắt nội dung Chương I

Hạch toán nội bộ là một phương thức quản lý đã được đưa vào áp dụng khá lâu tại Việt Nam, tuy nhiên việc nghiên cứu sâu về vấn đề này và việc áp dụng vào thực tiễn quản lý vẫn chưa được quan tâm đúng mức Sự cần thiết đưa hạch toán nội

bộ vào quản lý doanh nghiệp được tất cả các nghiên cứu về vấn đề này đều có cùng quan điểm Việc nghiên cứu, áp dụng hạch toán nội bộ vào quản lý các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay là việc làm cần thiết Với quan điểm đó, sau khi làm

rõ khái niệm về hạch toán nội bộ, hoàn thiện các lý luận về hạch toán nội bộ liên quan đến chức năng, điều kiện, quy trình hạch toán nội bộ…, bổ sung các nguyên tắc, phương pháp hạch toán nội bộ, tác giả đưa ra kiến nghị quan trọng đó là hạch toán nội bộ cần được tiến hành song song với kế toán quản trị và kiểm toán nội bộ doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả quản lý Một phần nội dung nữa trong Chương I này đó

là việc nghiên cứu các điều kiện, mục đích, căn cứ, yêu cầu, nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ tại làm cơ sở nghiên cứu phần nội dung tiếp theo Những kinh nghiệm quản lý của các Tập đoàn kinh tế hàng không và

hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ doanh nghiệp công nghiệp cũng được đề cập đến trong chương này để làm cơ sở so sánh, vận dụng vào việc nghiên cứu xây dựng phương án hạch toán nội của Tổng công ty Hàng không Việt Nam

Trang 11

Chương II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH, HỆ THỐNG CHỈ TIÊU HẠCH TOÁN NỘI BỘ

CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 2.1 Mô hình và cơ chế quản lý của Tổng công ty hàng không Việt Nam 2.1.1 Mô hình tổ chức, hoạt động kinh doanh của TCTHKVN

Hãng hàng không quốc gia Việt Nam - Vietnam Airlines, tiền thân của Tổng công ty Hàng không Việt Nam chính thức được thành lập vào 3/1993 Ngày 27/5/1996, Tổng công ty Hàng không Việt Nam - Vietnam Airlines Corporation được thành lập trên cơ sở liên kết 20 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng không lấy Vietnam Airlines làm nòng cốt Năm 2003, TCTHKVN có Quyết định của Chính phủ cho phép thực hiện thí điểm mô hình Công ty mẹ - Công ty con

Sau 15 năm xây dựng và phát triển, Tổng công ty hàng không Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ về mọi mặt, là thành viên chính thức của IATA, được IATA cấp chứng chỉ theo tiêu chuẩn IOSA áp dụng cho các hãng hàng không trên toàn cầu

2.1.2 Cơ chế quản lý của Tổng công ty Hàng không Việt Nam

2.1.2.1 Cơ chế quản lý xét theo lĩnh vực quản lý

- Khối kinh doanh vận tải hàng không

- Khối doanh nghiệp dịch vụ hàng không

- Ngoài ra còn có các đơn vị thuộc khối hành chính sự nghiệp và khối các công

ty liên doanh

2.1.2.2 Cơ chế quản lý các DN thành viên theo đối tượng quản lý

Sơ đồ 2.2: Các đối tượng quản lý của Tổng công ty

2.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới cơ chế quản lý của TCTHKVN

a) Đặc điểm ngành vận tải hàng không

- Sản phẩm hàng không mang tính đồng nhất cao, mang đầy đủ hai thuộc tính của hàng hoá thông thường

- Dịch vụ vận chuyển hàng không có một số tính chất đặc biệt như khách hàng không thể tách rời khỏi dịch vụ, hành khách tác động qua lại với hãng hàng không và trở thành một phần của sản phẩm

TỔNG CÔNG TY

Công

ty thành viên hạch toán độc lập

Công

ty thành viên hạch toán phụ thuộc

Đơn vị

sự nghiệp

Công

ty tài chính

Công ty TNHH một thành viên do TCT làm chủ

sở hữu

Công ty

có cổ phần vốn góp chi phối của TCT

Công

ty liên kết

Trang 12

- Tốc độ đổi mới công nghệ rất cao, ứng dụng tất cả những thành tựu khoa học, công nghệ mới nhất trên thế giới

- VTHK có tính chất quốc tế cao, đòi hỏi một cơ chế quản lý đặc biệt

b) Chế độ sở hữu

c) Chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước:

d) Mô hình quản lý của doanh nghiệp

2.1.2.4 Những bất cập trong cơ chế quản lý TCTHKVN hiện nay

- Lãnh đạo tập thể, trách nhiệm tập thể, không gắn với trách nhiệm và quyền lợi

cá nhân

- Cơ chế kiểm soát vốn, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao

- Cơ cấu tổ chức chưa thật hợp lý, cồng kềnh, kém hiệu quả

- Việc bổ nhiệm cán bộ quản lý theo sự tin tưởng không qua sự tuyển chọn công khai, minh bạch

- Phương thức quản lý trực tiếp theo cách thức của cơ quan hành chính

2.2 Phân tích, đánh giá tình hình hạch toán nội bộ của TCTHKVN

2.2.1 Quy trình quản lý, sản xuất kinh doanh của TCTHKVN

Với sản phẩm chính là dịch vụ vận tải hàng không, Tổng công ty hàng không Việt Nam có quy trình sản xuất kinh doanh khép kín, đồng bộ với nhiều dịch vụ khác nhau Mỗi dịch vụ đều đảm nhận một vai trò, một nhiệm vụ trong dây chuyền sản xuất chung để tạo ra sản phẩm cuối cùng Mô hình quản lý sản xuất kinh doanh của Tổng công ty hàng không Việt Nam theo mô hình hỗn hợp, tức là kết hợp của cả hai mô hình nối tiếp và mô hình song song

Sơ đồ 2.4 Quy trình sản xuất kinh doanh của TCTHKVN

2.2.2 Phân tích, đánh giá tình hình HTNB của TCTHKVN đối với các

đơn vị thành viên hiện nay

Đoàn bay và

Đoàn tiếp viên Dịch vụ phục vụ mặt đất Dịch vụ suất ăn hàng không Dịch vụ xăng dầu HK DVụ bảo dưỡng SC tàu bay Dịch vụ điều hành bay

Các bộ phận quản lý chức năng của

VASCO

SẢN PHẨM VẬN CHUYỀN HÀNG KHÔNG

Văn phòng khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam Văn phòng chi nhánh nước ngoài

ĐỐI TƯỢNG VẬN CHUYỂN

Hệ thống bán SP V/C của VASCO

Trang 13

- Việc nâng cấp bộ máy quản lý của Hãng HKQG trước đây thành bộ máy quản

lý của TCT cũng còn nhiều bất cập Hiện nay Tổng công ty Hàng không Việt Nam đang hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau dẫn đến sự quản lý cũng sẽ đa dạng hơn, yêu cầu cải tiến cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý để phù hợp với sự đa dạng ngành nghề này là yêu cầu cần thiết

- Về công tác hạch toán nội bộ: Nhiều đơn vị trực thuộc chưa hoàn thiện việc xây dựng một hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuật hoàn chỉnh, đồng bộ và khoa học

+ Việc định giá nội bộ liên quan đến các dịch vụ hàng không bổ trợ cho dịch vụ chính là vận tải như giá phục vụ mặt đất cho mỗi chuyến bay, giá bảo dưỡng tàu bay… không được tính toán cụ thể, chính xác

+ Hệ thống chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật: Hiện tại Hãng hàng không quốc gia đã có ban hành hệ thống các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, nhưng không bao quát, chủ yếu là các chỉ tiêu về vận tải liên quan đến nhiệm vụ sản xuất kinh doanh mà không có các chỉ tiêu liên quan đến các lĩnh vực quản lý khác về vốn, tài sản, lao động, chi phí, kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Kế toán quản trị chưa được triển khai áp dụng một cách có hệ thống

- Về quản lý tài chính: Việc phân loại chi phí quản lý sản xuất kinh doanh không theo khoản mục giá thành và một số khoản mục chi phí cũng chưa thật hợp lý Công tác hạch toán chi phí tại đơn vị trực thuộc không được thực hiện triệt để

+ Việc định giá nội bộ liên quan đến các dịch vụ hàng không bổ trợ cho dịch

vụ chính là vận tải như giá phục vụ mặt đất cho mỗi chuyến bay, giá bảo dưỡng các cấp độ của tàu bay… không có

2.2.2.2 Đối với các công ty hạch toán độc lập

TCTHKVN không can thiệp vào công tác tổ chức, quản lý và điều hành doanh nghiệp một cách trực tiếp mà bằng việc điều hành gián tiếp thông qua người đại diện của mình tại doanh nghiệp Quan hệ kinh tế giữa Tổng công ty với các doanh nghiệp hạch toán độc lập này dựa trên quan hệ hợp đồng

2.2.2.3 Đối với các đơn vị phụ thuộc Tổng công ty

Đối với các đơn vị phụ thuộc này, Tổng công ty Hàng không Việt Nam đang quản lý toàn bộ mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cả 5 lĩnh vực chính: nhiệm vụ SXKD, vốn, lao động, chi phí kết quả và hiệu quả sản xuất

2.2.2.4 Đối với các công ty liên doanh, liên kết,

TCT quan hệ kinh tế với các công ty này theo hợp đồng hợp tác, quyền lợi và nghĩa vụ của TCT được phân theo tỷ lệ vốn góp trong các công ty này

2.3 Hệ thống chỉ tiêu hạch toán nội bộ của TCTHKVN

Hiện nay Tổng công ty hàng không Việt Nam đang thực hiện tổ chức, quản lý, điều hành doanh nghiệp theo hệ thống chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam tại quyết định số 1401/HKVN từ năm 1996 Đây là văn bản được ban hành từ cách đây 13 năm và chỉ của riêng hãng hàng không quốc gia Việt Nam Các chỉ tiêu trong Quyết định này chủ yếu thuộc lĩnh vực vận chuyển liên quan đến tổng

Ngày đăng: 04/04/2014, 17:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.2: Các đối tượng quản lý của Tổng công ty - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp tính các chỉ tiêu trong hạch toán nội bộ doanh nghiệp vận tải
Sơ đồ 2.2 Các đối tượng quản lý của Tổng công ty (Trang 11)
Sơ đồ 2.4. Quy trình sản xuất kinh doanh của TCTHKVN - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp tính các chỉ tiêu trong hạch toán nội bộ doanh nghiệp vận tải
Sơ đồ 2.4. Quy trình sản xuất kinh doanh của TCTHKVN (Trang 12)
Sơ đồ 3.1. Thứ tự các bước lập kế hoạch tài chính doanh nghiệp - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp tính các chỉ tiêu trong hạch toán nội bộ doanh nghiệp vận tải
Sơ đồ 3.1. Thứ tự các bước lập kế hoạch tài chính doanh nghiệp (Trang 19)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w