1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)

14 966 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 352,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)

Trang 1

Đại học quốc gia hμ Nội - Trường Đại học khoa học tự nhiên

Ngô Trà Mai

Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho

quy hoạch bảo vệ môi trường một số

lμng nghề ở tỉnh Hμ tây (cũ)

Chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường

Mã số: 62 85 15 01

tóm tắt luận án tiến sỹ địa lý

Hà Nội - 2009

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học

Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Lê Vân Trình

2 GS.TS Trương Quang Hải

Phản biện 1: PGS.TS Đặng Duy Lợi

Phản biện 2: TSKH Phạm Hoàng Hải

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Thế Chinh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Nhà nước chấm luận án tiến sĩ họp tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội vào hồi giờ ngày tháng năm

2009

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 2

Danh mục công trình khoa học

Của tác giả liên quan đến luận án

1 Lê Vân Trình, Ngô Trà Mai, Nguyễn Đắc Dương (2009), “Quy hoạch bảo vệ môi trường, một hướng đi của sự phát triển bền

vững làng nghề“, Tạp chí Bảo hộ lao động, số 1/2009, tr 13-16

2 Trương Quang Hải, Ngô Trà Mai, Nguyễn Đức Tuệ, Nguyễn Thị Diệu Hồng (2009), “Kiểm toán môi trường cho phát triển làng

nghề'', Tạp chí Kinh tế môi trường, số 7 (6/2009), tr 94 - 104

3 Trương Quang Hải, Ngô Trà Mai, Đỗ Thị Phương Thảo, Nguyễn

Thị Diệu Hồng (2008), “Quy hoạch môi trường làng nghề”, Hội

nghị khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ 3, Hà Nội 12/2008, tr

61-70

4 Ngô Trà Mai, Nguyễn Thị Diệu Hồng (2008), “Dùng phương pháp phân tích chi phí lợi ích so sánh hiệu quả đầu tư giữa hai loại hình sản xuất: tập trung tại điểm công nghiệp và phân tán

trong làng nghề”, Hội nghị khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ 3,

Hà Nội 12/2008, tr 942-949

5 Lê Vân Trình, Ngô Trà Mai (2008), “Tiếp cận kiểm toán môi trường trong nghiên cứu tại doanh nghiệp sản xuất sơn mài Minh Phong, làng nghề Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín,

tỉnh Hà Tây”, Tạp chí Bảo hộ lao động, số 5/2008, Hà Nội, tr

11-16

6 Lê Vân Trình, Ngô Trà Mai (2008), “Phân tích chi phí lợi ích của việc chuyển địa điểm sản xuất từ làng nghề đến cụm công nghiệp

tập trung nhằm bảo vệ môi trường”, Tạp chí An toàn sức khoẻ và

Môi trường lao động, số 2/2008, Hà Nội, tr 45-50

7 Trương Quang Hải, Ngô Trà Mai, Nguyễn Hồng Trang (2004),

“Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất gốm sứ đến môi

trường làng nghề’’, Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà

Nội, số 4PT/2004, tr 34-43

8 Trương Quang Hải, Ngô Trà Mai, Nguyễn Hồng Trang, (2005)

“Phân tích lợi ích - chi phí khi sử dụng lò nung hộp cải tiến trong

làng nghề sản xuất gốm sứ’’, Hội nghị môi trường toàn quốc

2005, Hà Nội, 2005, tr 1715-1720

9 Lê Vân Trình, Ngô Trà Mai (2004) “Giới thiệu áp dụng thử nghiệm phương pháp phân tích chi phí - lợi ích trong đánh giá tác

động môi trường cho các làng nghề’’, Tạp chí Bảo hộ Lao động,

số 7/2004, tr 22-25

Trang 3

Mở đầu

Làng nghề là đơn vị cư trú, hoạt động sản xuất và sinh hoạt văn

hóa cộng đồng đặc thù ở nước ta Năm 2008, Việt Nam có khoảng

1.450 làng nghề, phân bố tập trung tại vùng châu thổ sông Hồng Hà

Tây là nơi phát triển mạnh nghề thủ công với 116 làng nghề truyền

thống Hoạt động kinh tế của các làng nghề đã đóng góp vào thành

tựu phát triển kinh tế chung, đồng thời cũng là nguyên nhân gây ô

nhiễm môi trường và làm suy giảm sức khỏe cộng đồng Hiện nay,

vấn đề quy hoạch bảo vệ môi trường (QHBVMT) với xử lý nước thải,

khí thải, thu gom rác thải của các làng nghề Hà Tây vẫn chưa được

quan tâm đúng mức

QHBVMT là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm cải thiện

chất lượng môi trường, phát triển bền vững (PTBV) các làng nghề ở

Hà Tây Đây chính là hướng nghiên cứu của đề tài luận án “Nghiên

cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một

số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)”

Mục tiêu của luận án là: “Xác lập căn cứ khoa học cho

QHBVMT và đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm, cải

thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ở Hà Tây”

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, bốn nhiệm vụ được đặt ra:

1 Xác lập cơ sở lý luận về QHBVMT làng nghề;

2 Đánh giá hiện trạng môi trường và ảnh hưởng từ hoạt động sản

xuất của các làng nghề đến môi trường;

3 Dự báo xu thế phát triển kinh tế - xã hội và diễn biến môi trường

khu vực nghiên cứu;

4 Đề xuất phương án QHBVMT và các giải pháp thực hiện

Những luận điểm bảo vệ

Luận điểm 1: Hoạt động sản xuất phân tán, công nghệ thủ công

lạc hậu, quản lý thiếu chặt chẽ, không xử lý chất thải trong suốt quá trình phát triển sản xuất là những nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng ở làng nghề tái chế kim loại Phùng Xá và làng nghề sơn mài Duyên Thái

Luận điểm 2: QHBVMT làng nghề với hai loại hình: quy hoạch

điểm công nghiệp và quy hoạch phân tán được nghiên cứu điển hình

ở Phùng Xá và Duyên Thái, là công cụ hữu hiệu góp phần đẩy mạnh sản xuất và BVMT làng nghề

Những điểm mới của luận án

- Xác lập được cơ sở khoa học cho việc QHBVMT làng nghề gia công kim loại Phùng Xá và sơn mài Duyên Thái

- Mô hình QHBVMT làng nghề được đề xuất là một giải pháp mang tính tổng hợp để giải quyết những vấn đề về phát triển kinh

tế và BVMT Đây là đóng góp có ý nghĩa vào sự phát triển hướng nghiên cứu (phương pháp luận, nội dung, quy trình) QHBVMT còn rất mới ở Việt Nam

- Phát triển hướng tiếp cận địa lý định lượng qua công cụ kinh tế để

so sánh hai hình thức: sản xuất phân tán tại hộ gia đình và sản xuất tập trung tại điểm công nghiệp

Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào ranh giới lãnh thổ làng nghề gia

công kim loại Phùng Xá, huyện Thạch Thất và làng nghề sơn mài Duyên Thái, huyện Thường Tín

ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1 Lý luận về quy trình, nội dung QHBVMT làng nghề có thể được vận dụng như một giải pháp quan trọng đảm bảo phát triển kinh

tế có gắn với khống chế ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường làng nghề

Trang 4

2 Phương pháp phân tích chi phí lợi ích có thể được vận dụng trong

nghiên cứu khía cạnh kinh tế và môi trường làng nghề

3 Kết quả phân tích hiện trạng và QHBVMT ở Phùng Xá và Duyên

Thái là tài liệu hữu ích đối với công tác quản lý môi trường và

PTBV ở khu vực nghiên cứu

Cơ sở tài liệu thực hiện luận án là các chương trình- dự án mà tác

giả trực tiếp tham gia: Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp xử lý môi

trường một số làng nghề thủ công mỹ nghệ tỉnh Hà Tây (2003-2005);

Ô nhiễm môi trường sông Nhuệ, sông Đáy, nguyên nhân, thực trạng

và giải pháp (2005-2007); Nghiên cứu, chuyển giao công nghệ xử lý

khí thải tại các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ (2007-2009),

của Trung tâm Công nghệ Môi trường - Viện Vật lý

Bổ sung vào nguồn dữ liệu là các đề tài cấp nhà nước, cấp bộ và

tương đương như: An toàn và vệ sinh lao động tại các làng nghề thủ

công vùng đồng bằng sông Hồng, thực trạng và giải pháp

(2004-2006); Môi trường lao động - bệnh nghề nghiệp và biện pháp phòng

tránh tại các làng nghề truyền thống tỉnh Hà Tây (2006-2008);

Nghiên cứu điều kiện làm việc trong các cơ sở sản xuất làng nghề và

đề xuất biện pháp cho PTBV, do Viện Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao

động chủ trì mà tác giả là thành viên

Kết hợp với những đợt thực địa kéo dài, liên tục trong những năm

2006, 2007, 2008, lấy mẫu và phân tích gần 100 mẫu môi trường (đất,

nước, không khí, chất thải rắn) ở hai làng nghề Phùng Xá và Duyên

Thái để đánh giá tác động môi trường, kiểm chứng và dự báo diễn

biến môi trường khu vực

Trên 10 bài báo, công trình khoa học của tác giả được công bố

những năm 2004 - 2009, là những nghiên cứu tập trung vào các vấn

đề: ô nhiễm môi trường làng nghề, làng nghề và sức khỏe người lao

động, công nghệ xử lý chất thải, QHBVMT, kiểm toán môi trường

được đưa vào sử dụng trong luận án

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập thông tin, khảo sát

thực địa, bản đồ, toán học, hồi cứu quá khứ - dự báo tương lai, dự báo nguồn thải theo hệ số ô nhiễm, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê

Quá trình nghiên cứu của luận án: gồm 2 bước chính

Bước 1: Khảo sát, đánh giá, phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế -

xã hội, thực trạng hoạt động sản xuất và những hệ quả về ô nhiễm môi trường và sức khoẻ cộng đồng ở các làng nghề, phân loại hiện trạng chất lượng môi trường

Bước 2: Dự báo sự phát triển làng nghề và mức độ ô nhiễm môi

trường; Đề xuất phương án QHBVMT; Kiến nghị các giải pháp thực hiện

Cấu trúc của luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, cấu

trúc luận án gồm 3 chương được trình bày trên 149 trang với 47 bảng biểu, 39 hình vẽ và bản đồ minh họa

Chương 1 Cơ sở lý luận cho nghiên cứu quy hoạch môi trường lμng nghề 1.1 Khái quát về làng nghề

Trên thế giới, từ những năm 20 của thế kỷ XX, đã có các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực “làng nghề” Tiêu biểu như

Bành Tử với “Nhà máy làng xã” (1922), N.H Noace với “Mô hình

sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa nghề thủ công” (1928) Năm 1964,

tổ chức WCCI (World Crafts Council International) được thành lập,

hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống Từ đây, một số mô hình tổ chức sản xuất đã được

Trang 5

đề xuất và triển khai có hiệu quả như: “Hợp tác xã”(1970) ở Triều

Tiên; “mô hình sản xuất thu nhỏ” (1974) ở Na uy; “Một làng một sản

phẩm” (OVOP - 1970) ở Nhật Bản; “Một triệu Bạt cho một làng” và

“Mỗi làng có một sản phẩm ” (1984) ở Thái Lan

ở Việt Nam, trước năm 1954, nghiên cứu sự phân bố, phong tục,

tập quán, dân cư và điều kiện địa lý tự nhiên của các làng nghề chủ

yếu do các nhà địa lý và xã hội học Pháp thực hiện (Roland Bulteau,

D.V Foune Deprat, Pierre Gourou ) Sau năm 1954, các nhà khoa

học Việt Nam (Nguyễn Mạnh Chu, Lê Thạc Cán, Phí Văn Ba, Toàn

ánh ) và nhiều nhà khoa học Liên Xô đã nghiên cứu về làng nghề

Một số hướng nghiên cứu đáng quan tâm trong thời gian gần đây như:

Làng nghề Việt và môi trường (Đặng Kim Chi, 1998); Hiện trạng và

giải pháp cải thiện môi trường một số làng nghề Bắc bộ (Đăng Kim

Chi và nnk 2000); Kinh tế làng nghề (Hoàng Hải, 1996); Mô hình

làng nghề nông thôn (Hoàng Kim Giao, 1996); Công nghệ xử lý nước

thải làng nghề (Trần Hiếu Nhuệ, 1998); Quy hoạch môi trường vùng

ven đô Hà Nội trên cơ sở tiếp cận sinh thái (Vũ Quyết Thắng, 2000)

Làng nghề Hà Tây hình thành và phân bố tập trung hai bên tả và

hữu ngạn sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ với 282 làng/324 xã được

phân chia làm 03 cụm: Cụm làng nghề lớn nhất ở phía Tây của tỉnh,

trong phạm vi huyện Phú Xuyên Cụm làng nghề thứ 2 ở Chương Mỹ

trên quốc lộ 6 gần tỉnh Hoà Bình Cụm làng nghề thứ 3 gồm một số

làng nghề nằm ở phía Bắc của tỉnh, đó là các xã Minh Khai, Dương

Liễu, Cát Quế

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu quy hoạch bảo vệ môi

trường

a Tình hình nghiên cứu quy hoạch môi trường trên thế giới: Thuật

ngữ “Environmental planning” (QHMT) ra đời vào đầu những năm

70 và phổ biến vào những năm 90 của thế kỉ XX Đây có thể xem như

một ngành khoa học mới và hiện nay còn nhiều quan điểm về tên gọi cũng như nội dung quy hoạch

Theo Susan Buckingham - Hatfield và Bob Evans (1962), QHMT

là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện chính sách môi trường

Baldwin (1984) chỉ ra rằng QHMT là “việc khởi thảo và điều hành

các hoạt động nhằm hướng dẫn, kiểm soát việc thu thập, biến đổi, phân bố và đổ thải một cách phù hợp” Ortolano (1984) quan niệm:

“QHMT bao gồm sử dụng đất, quản lý chất tồn dư và kỹ thuật đánh

giá tác động môi trường” Từ điển Môi trường và Phát triển bền vững,

Alan Gilpin (1996) cho rằng: QHMT là sự xác định các mục tiêu

mong muốn về KT - XH đối với môi trường tự nhiên và tạo ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó

b Tình hình nghiên cứu QHMT và QHBVMT ở Việt Nam: Trong

Luật Bảo vệ Môi trường (2005) không đưa ra khái niệm và phân biệt giữa QHBVMT và QHMT Tuy nhiên trong điều 3, chương I và điều

50 chương VI của Luật sử dụng thuật ngữ “QHBVMT” để chỉ ra các hành động quy hoạch hướng tới mục tiêu BVMT cho các vùng đô thị

và nông thôn

Trong Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam, QHBVMT được

quan niệm "là những quy định về mục tiêu và biện pháp BVMT trong

thời gian nhất định nhằm duy trì cân bằng sinh thái và đồng thời vẫn

đảm bảo mục tiêu phát triển”

Theo Nguyễn Thế Thôn (1998) “QHMT là xác định chức năng

môi trường cho các phạm vi lãnh thổ khác nhau, hài hòa với sự phát triển kinh tế, nhằm làm cho môi trường không bị suy thoái”; Theo

Nguyễn Cao Huần (2002) “QHBVMT là một vấn đề quan trọng đối

với phát triển bền vững, là một phần của chiến lược phát triển KT -

Trang 6

XH QHBVMT nhằm mục đích giải quyết mâu thuẫn giữa bảo vệ môi

trường và phát triển vùng lãnh thổ’’

Như vậy, cho đến nay ở Việt Nam “Environmental planning”

được hiểu theo nhiều cách khác nhau và cùng song song tồn tại các

thuật ngữ: QHMT, hoạch định môi trường và QHBVMT Dù hiểu

theo cách nào thì QHMT - QHBVMT vẫn có nhiều điểm chung:

Trong quy hoạch phát triển KT - XH phải xem xét các yếu tố tài

nguyên và môi trường, các mục tiêu phát triển phải gắn với mục tiêu

BVMT; QHBVMT là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển

KT - XH được xây dựng theo hướng PTBV QHBVMT không thể tách

rời quy hoạch phát triển kinh tế; QHBVMT là dạng quy hoạch mang

tính liên ngành; QHBVMT phải tôn trọng các quyền và giải quyết

giả luận án và được vận dụng trong QHBVMT một số làng nghề ở Hà

Tây

1.3 Quan điểm và tiếp cận nghiên cứu:

Các quan điểm nghiên cứu: Quan điểm hệ thống; Quan điểm lãnh

thổ; Quan điểm tiếp cận đa thời gian; Quan điểm phát triển bền vững

Tiếp cận địa lý theo: không gian, thời gian, tổng hợp và cụ thể

Chương 2 Hoạt động sản xuất lμng nghề

vμ những ảnh hưởng của nó đến môi trường

2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

Điều kiện tự nhiên: Hà Tây thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông

Hồng, vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, có mức tăng trưởng kinh

tế 12- 16% năm (giai đoạn 2000 - 2005) Địa hình khu vực tương đối

bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang

Đông, cấu trúc địa chất thuộc vùng trũng sông Hồng

Xã Phùng Xá và Duyên Thái nằm ở hai huyện Thạch Thất và Thường Tín nơi có truyền thống tiểu thủ công nghiệp, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 25km về phía Tây Nam và Đông Nam, có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế như vị trí địa lý, địa hình, giao thông đường bộ - đường thuỷ và thế mạnh nghề truyền thống

Khí hậu của Phùng Xá và Duyên Thái được quy định bởi những

đặc trưng khí hậu của vùng đồng bằng Bắc Bộ: nhiệt đới gió mùa nóng ẩm có mùa đông lạnh

Chế độ thuỷ văn của Phùng Xá chịu ảnh hưởng chính của chế độ

thuỷ văn sông Đáy và sông Tích; Duyên Thái là sông Tô Lịch chảy qua, có tác dụng lớn trong việc tiêu nước

Địa hình Phùng Xá và Duyên Thái khá bằng phẳng, không có đồi

núi, độ cao tuyệt đối từ 4,7 - 5,6m Địa hình không trũng nên chất gây

ô nhiễm không bị tích tụ ở một chỗ mà dễ bị phát tán

Điều kiện kinh tế-xã hội: Theo báo cáo về hiện trạng kinh tế xã

hội của hai xã năm 2008 thủ công nghiệp là ngành thu hút số hộ tham gia đông nhất và cũng là ngành có doanh thu cao nhất: (1) Phùng Xá hiện có 61 công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân, 652 cơ sở sản xuất, 530 hộ gia đình tham gia nghề gia công kim khí, giá trị thu nhập ước tính đạt xấp xỉ 50 tỷ đồng, tăng 15,2% so với năm

2007 và đạt 105,6% kế hoạch; (2) Duyên Thái có khoảng trên 10 công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân, 798 hộ tham gia sản xuất sơn mài Năm 1996 tổng thu nhập là 5,1 tỷ đồng, năm

2001 là 16,7 tỷ đồng, năm 2008 đạt 36,7 tỷ đồng

2.2 Qui trình sản xuất thủ công nghiệp và các nguồn gây ô nhiễm 2.2.1 Sản xuất gia công kim loại làng nghề Phùng Xá

Nghề cơ kim khí Phùng Xá có lịch sử phát triển cách đây trên

300 năm Sản phẩm của làng nghề là các công cụ sản xuất; sắt - thép

Trang 7

xây dựng; các sản phẩm: bản lề, của hoa, cửa sắt, vành xe Quy trình

sản xuất gồm 07 công đoạn chính: Sắt thép phế liệu -> Nung -> Cán

phôi -> Bán sản phẩm -> Mạ -> Chế tác, gia công -> Thị trường

2.2.2 Sản xuất sơn mài làng nghề Duyên Thái

Các sản phẩm sản xuất sơn mài rất phong phú và đa dạng từ

các nguyên liệu đầu vào dùng để tạo ra sản phẩm cho đến các mẫu

mã kiểu loại sản phẩm đầu ra Trước các mặt hàng tiêu thụ trong

nước đơn thuần có: tranh vẽ, bàn thờ, cháp, hộp, khay , nhưng từ

những năm 1990 trở lại đây do yêu cầu của thị trường đòi hỏi các

sản phẩm phải đa đạng, có giá trị nghệ thuật cao như: tranh khảm

trai, tranh rán bạc, bình và lọ hoa

Quy trình sản xuất gồm 08 công đoạn: Gỗ, tre, nứa -> Làm nhẵn

-> Đánh vải -> Mài -> Vẽ -> Đánh bóng -> Lau xi -> Thành phẩm

2.3 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động gia công kim loại và sơn

mài đến môi trường tự nhiên

Cơ sở đánh giá hiện trạng môi trường: khảo sát, đo đạc, phân tích

chất lượng môi trường theo hai mùa: mùa mưa và mùa khô kết hợp

hồi cứu số liệu nghiên cứu, thống kê trên địa bàn khu vực

Tại Phùng Xá đặc trưng của ô nhiễm không khí là bụi (vượt

TCCP 5-12 lần), các khí độc hại CO, SO2, NOx (vượt TCCP 3-5 lần);

đặc trưng của ô nhiễm nước thải là hàm lượng kim loại nặng: Fe, Cu,

Zn (vượt TCCP 3-5 lần), độ đục (vượt TCCP 5-7 lần), chất rắn lơ lửng

(vượt TCCP 3-6) lần; đặc trưng của ô nhiễm đất là: độ mùn trong đất

giảm 4 lần trong vòng 10 năm từ 1997-2007; axit hoá: độ pH liên tục

giảm theo từng năm; lượng kim loại tích trữ trong đất ngày càng lớn

(vượt TCCP 2-3 lần)

Tại Duyên Thái đặc trưng của ô nhiễm không khí là bụi (vượt

TCCP 2-3 lần), các khí độc hại và hơi dung môi vượt TCCP 4-8 lần;

đặc trưng của ô nhiễm nước thải là hàm lượng dầu, mỡ (vượt TCCP

3-5 lần), độ màu cao, độ đục (vượt TCCP 3-3-5 lần), chất rắn lơ lửng (vượt TCCP 4-6) lần; đặc trưng của ô nhiễm đất là: độ phì giảm, đất

bị nhiễm dầu mỡ

Các chỉ tiêu về chất lượng nước ngầm cũng đều vượt qua TCVS nước uống, đặc biệt đối với nước giếng khoan; hàm lượng độ đục gấp

11 - 14 lần TCCP tại Phùng Xá; độ cứng vượt gần 3 lần TCCP tại Duyên Thái; tổng chất rắn hoà tan cũng vượt gần 3 lần TCCP; asen gấp 2 lần TCCP; coliform vượt từ 78 đến 124 lần TCCP

Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt và thủ công nghiệp lớn khoảng >80000 tấn/năm tại Phùng Xá và khoảng 20.000 tấn/năm tại xã Duyên Thái, phần lớn không được thu gom, chuyển đến nơi quy

định nên thường được đổ ra ao, hồ, kênh mương, ven sông và lề

đường làm giảm chất lượng đường giao thông và mỹ quan làng xã

2.4 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động gia công kim loại và sơn mài đến môi trường kinh tế - xã hội

Hoạt động tiểu thủ công nghiệp là nhân tố chính ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội của hai làng nghề nghiên cứu Sản xuất tại làng nghề đã giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động, ngoài ra còn thu hút một lực lượng lớn lao động mùa vụ, lao

động dịch vụ cung ứng vật tư, tiếp thị góp phần từng bước giải quyết

việc làm, tăng thu nhập, đẩy lùi tệ nạn xã hội

Sức khỏe cộng đồng: Chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất ở

Phùng Xá và Duyên Thái đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng

đến môi trường, làm suy thoái chất lượng sống

- Đối với các bệnh liên quan đến xương - tỷ lệ ở Phùng Xá (22%) cao hơn hẳn so với ở Duyên Thái (16%), do đặc thù việc tái chế kim loại thuộc lĩnh vực lao động nặng

Trang 8

- Đối với các bệnh ngoài da tại Phùng Xá tỷ lệ này là 10% nhưng

tại xã Duyên Thái là 16%, do việc sản xuất sơn mài thường xuyên

phải tiếp xúc với các loại hoá chất độc hại

2.5 Phân loại hiện trạng chất lượng môi trường làng nghề Phùng

Xá và Duyên Thái

Cơ sở phân loại hiện trạng chất lượng môi trường là: (i) Phân tích

hiện trạng sản xuất gia công tái chế kim loại và sơn mài (ii) Đặc điểm

tự nhiên, kinh tế, xã hội; (iii) Số liệu khảo sát thực địa và kết quả

phân tích môi trường

Hiện trạng chất lượng môi trường phân theo chỉ số EQI

(Environmental Quality Index) có số đo từ 0 - 10 Kết quả tính toán thể

hiện theo hai mùa và phân theo 4 cấp độ: Vùng ô nhiễm nặng có EQI<

3,5 nằm chủ yếu trong ranh giới hành chính thôn Vĩnh Lộc xã Phùng Xá;

vùng ô nhiễm trung bình là khu vực quanh thôn Vĩnh Lộc và làng Hạ

Thái có EQI 3 - 5; khu vực được quy hoạch Điểm công nghiệp, hành

chính của hai xã mức ô nhiễm nhẹ có EQI 5 - 7; khu vực tiếp giáp với

sản xuất nông nghiệp môi trường tương đối sạch có trọng số < 7

Chương 3

Xu thế phát triển kinh tế - x∙ hội, diễn biến môi

Trường vμ quy hoạch bảo vệ môi trường lμng nghề

3.1 Dự báo xu thế phát triển kinh tế - xã hội và diễn biến môi

trường

Luận án sử dụng nhiều phương pháp dự báo, trong đó chủ yếu sử

dụng phương pháp “Dự báo nguồn thải theo hệ số ô nhiễm”, tiến hành

theo 4 bước:

Bước 1: Nghiên cứu, phân tích các dự án quy hoạch và kế hoạch

phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 và 2020 để xác định áp lực

môi trường Bước 2: Nghiên cứu, phân tích, xác định hiệu quả của các

dự án "đáp ứng", xử lý ô nhiễm, BVMT của khu vực nghiên cứu đến

năm 2010 và 2020 Bước 3: áp dụng phương pháp "Hệ số ô nhiễm" để

dự báo các nguồn thải ô nhiễm môi trường đến năm 2010 ở Phùng Xá

và Duyên Thái Bước 4: Thừa nhận quy luật biến đổi ô nhiễm môi

trường tỷ lệ thuận với lượng chất thải ô nhiễm để dự đoán mức độ ô nhiễm môi trường tương lai

Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu diễn biến môi trường 3.1.1 Xu hướng phát triển kinh tế - xã hội

Tổng giá trị sản xuất khu vực nghiên cứu tăng bình quân 13 -16% năm (giai đoạn 2005 - 2010) và 10 - 11% năm (giai đoạn 2011 - 2020)

Nghiên cứu diễn biến môi trường

Phát triển KT

- XH đa ngành Năm thứ n

Dân số Không khí Nước Rừng Sinh thái

Hệ thống MTA

Dân số Không khí Nước Rừng Sinh thái

Hệ thống MTA

Phát triển KT

- XH đa ngành Năm thứ n

Biến

đổi số lượng

Biến đổi chất lượng

Bộ chỉ thị

Quan trắc

Đánh giá

* Hiệu quả kinh tế

So sánh

* Chất lượng môi trường

* Nguyên nhân Xác định

* Giải pháp đáp ứng

A’ ≠ A

* Xấu hơn

* Tương tự

Trang 9

Bảng 3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế từ năm 2010 - 2020

I Phùng Xá

Tổng giá trị sản lượng Tỷ đồng 76 116 175

Tổng sản lượng Triệu tấn 36 52 74

II Duyên Thái

Tổng giá trị sản lượng Tỷ đồng 56 85 125

Tổng sản lượng Triệu cái 3 4,2 5.1

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: công nghiệp - tiểu thủ

công nghiệp, dịch vụ - du lịch, nông - lâm nghiệp nhằm phát huy lợi

thế các tiểu vùng, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp cho toàn khu vực

3.1.2 Dự báo diễn biến môi trường

a Dự báo diễn biến môi trường khí

Bảng 3.2 Dự báo tải lượng bụi và khí thải tại khu vực nghiên cứu

khi có biện pháp xử lý và không xử lý đến năm 2020 (đv: tấn)

Thông số

Phùng Xá

Tổng chưa xử lý 786,2 96,8 1286 13964 8,5

Đã xử lý mức cao nhất 80 9 120 1400 0,9

Duyên Thái

Tổng chưa xử lý 646,54 104,1 1497,7 15202 10,3

Khoảng 600-700 100-110 1500 15000-16000 10-11

Đã xử lý mức cao nhất 65 11 150 1600 1,1

Tải lượng các chất gây ô nhiễm không khí của vùng nghiên cứu

sẽ có biến động theo hướng gia tăng của sản lượng sản xuất So sánh

kết quả đo đạc môi trường khí năm 2006-2007, cho thấy nếu không

thực hiện các biện pháp hạn chế ô nhiễm trong vòng 15 năm tới lượng bụi và khí thải sẽ tăng lên từ 1,2 - 1,6 lần so với hiện nay

b Dự báo diễn biến môi trường nước

Bảng 3.3 Dự báo tải lượng ô nhiễm nước Phùng Xá và

Duyên Thái đến năm 2020 (Đv: tấn)

ước tính tải lượng ô nhiễm

Các loại

I Phùng Xá

Sinh hoạt 1100 400 1170 700 1,2 0,8 360 100 40 12

II Duyên Thái

Sinh hoạt 900 300 975 400 1,2 700 300 70 50 18

(1) KXL: Không xử lý, SXL: sau xử lý

Theo dự báo, trong trường hợp triển khai không tốt các biện pháp

xử lý nước thải, thuỷ vực tại đơn vị nghiên cứu sẽ tiếp nhận khối lượng nước thải 8 -10 triệu m3 năm 2020 với tải lượng ô nhiễm lớn:

kim loại ở Phùng Xá, mầu và dung môi ở Duyên Thái, hữu cơ trong nước thải sinh hoạt

c Dự báo diễn biến chất thải rắn: Theo dự báo, lượng rác sinh hoạt,

rác công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đến năm 2020 khoảng trên

10000 tấn/năm ở Phùng Xá và 52000 tấn/năm ở Duyên Thái, sẽ được thu gom khoảng 95% Tuy nhiên, tỷ lệ thu gom này còn phụ thuộc vào năng lực quản lý và việc cấp kinh phí cho Công ty vệ sinh môi trường của từng địa phương

3.2 Quy hoạch bảo vệ môi trường làng nghề

Trang 10

Định hướng phát triển cho các làng nghề khu vực nghiên cứu: (i)

Giữ vững và phát triển làng nghề truyền thống (ii) Bảo vệ, duy trì và

tiếp tục phát huy thế mạnh trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp (iii)

Không ngừng nâng cao mức sống người dân (iv) Cải thiện và tiến tới

đảm bảo môi trường sống trong sạch Tiến hành QHBVMT theo hai

hướng không gian chính: Quy hoạch sản xuất tập trung theo cụm

công nghiệp nhỏ và quy hoạch sản xuất phân tán trong làng nghề

3.2.1 Quy hoạch điểm công nghiệp Phùng Xá và Duyên Thái

Điểm công nghiệp được quy hoạch để tập trung các cơ sở sản

xuất nghề, nhằm phát triển sản xuất, hợp lý hoá kinh doanh, thu hút

nguồn nhân lực, khắc phục ô nhiễm môi trường do sản xuất nhỏ lẻ

Bảng 3.4 Cơ cấu sử dụng đất trong quy hoạch

TT Hạng mục sử dụng đất Diện tích (ha) Tỷ lệ %

1 Đất xây dựng cơ sở sản xuất, điều

hành, kho bãi, xử lý chất thải 3,590

47

2 Đất làm đường giao thông, hàng rào 3,136 40

3 Đất cây xanh, ngoại cảnh 1,020 13

Quy hoạch điểm công nghiệp Phùng Xá với diện tích 7,25 ha

được chia làm 285 ô đất với diện tích mỗi ô là 175 - 200m2 cho thuê

để sản xuất; Toàn bộ diện tích điểm công nghiệp Duyên Thái chia

thành 11 lô trong đó: Đất cho thuê sản xuất: 81.901 m2 chiếm 69,9%;

Đất giao thông nội bộ, cây xanh: 35.286 m2 chiếm 30,1%

3.2.2 Quy hoạch công nghệ xử lý chất thải làng nghề

Xử lý chất thải tại Phùng Xá: Khí thải là nguồn gây ô nhiễm chính tại

làng nghề tái chế kim loại Nguồn phát thải chủ yếu từ lò luyện kim

loại; các hơi dung môi và khí từ quá trình gia công cơ khí khác

Đối với các cơ sở sản xuất lớn bắt buộc phải di chuyển vào khu công nghiệp, lượng khí thải lớn, nhiều thành phần độc hại như hơi chì, nhôm, đồng… cần lắp đặt hệ thống Xyclon tách bụi và bố trí các tháp rửa có dung dịch hấp thụ là nước hoặc các dung môi hoá học để

đảm bảo chất lượng không khí

Nước thải tái chế kim loại có hai loại hình chính:

Nước thải mạ điện: đặc điểm chính của dòng thải mạ là lượng nước

thải không lớn, nguồn thải không tập trung và chế độ thải gián đoạn

Để đạt được hiệu quả trong việc xử lý, cần tiến hành tách dòng thải cơ

sở mạ điện xử lý riêng, tránh lan truyền ô nhiễm cho các nguồn thải khác Nước thải mạ cần tách Zn2+ bằng sữa vôi Ca(OH)2 hay xút (NaOH)

để trung hoà và phản ứng tạo kết tủa Hoá chất dùng để trung hoà là CaO hoạt tính đi từ nguyên liệu chính là vôi tôi Sự trung hoà nước thải diễn ra đồng thời với sự lắng xuống của kết tủa các ion kim loại Nước thải sau khi lắng có pH ổn định và hàm lượng các kim loại đạt tiêu chuẩn cho phép được thải ra nguồn tiếp nhận

Nước thải xưởng cán: Việc xử lý nước thải này là tách dầu và chất lơ

lửng, do vậy áp dụng phương pháp xử lý cơ học là đơn giản và kinh

tế Nước thải từ quá trình sản xuất được đưa qua song chắn rác để loại

bỏ các tạp chất thô và rác có trong dòng chảy Tại bể tách dầu do có

tỷ trọng nhẹ hơn nên dầu mỡ trong nước thải được tách ra Đồng thời

do thời gian lưu tương đối lớn nên các chất lơ lửng có trong nước sẽ

được lắng và giữ lại trong bể

Xử lý chất thải tại Hạ Thái:

Khí thải: Giảm bớt lượng sơn và dung môi sử dụng bằng kỹ thuật gia công sơn, thay đổi dung môi sơn bằng chất pha loãng

Đối với nước thải sản xuất sơn mài: Khống chế ô nhiễm tại các nguồn thải, xây bể hoặc hố thu tại các công đoạn có nước thải sản

Ngày đăng: 04/04/2014, 17:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Mô hình nghiên cứu diễn biến môi tr−ờng  3.1.1. Xu h−ớng phát triển kinh tế - xã  hội - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)
Hình 3.1. Mô hình nghiên cứu diễn biến môi tr−ờng 3.1.1. Xu h−ớng phát triển kinh tế - xã hội (Trang 8)
Bảng 3.2. Dự báo tải l−ợng bụi và khí thải tại khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)
Bảng 3.2. Dự báo tải l−ợng bụi và khí thải tại khu vực nghiên cứu (Trang 9)
Bảng 3.3. Dự báo tải l−ợng ô nhiễm n−ớc Phùng Xá và - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)
Bảng 3.3. Dự báo tải l−ợng ô nhiễm n−ớc Phùng Xá và (Trang 9)
Hình 3.3. Mô hình đơn vị ở cấp xã Phùng Xá - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)
Hình 3.3. Mô hình đơn vị ở cấp xã Phùng Xá (Trang 11)
Hình 3.2. Mô hình đơn vị ở cấp xã Duyên Thái - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)
Hình 3.2. Mô hình đơn vị ở cấp xã Duyên Thái (Trang 11)
Bảng 3.5. Tổng hợp kết quả tính toán chi phí lợi ích - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)
Bảng 3.5. Tổng hợp kết quả tính toán chi phí lợi ích (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w