Nghiên cứu văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích
Trang 1Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o viÖn khoa häc x∙ héi viÖt nam
ViÖn nghiªn cøu H¸n N«m
-
V−¬ng thÞ h−êng
Nghiªn cøu v¨n b¶n th¬ ch÷ h¸n
cña Ph¹m Quý ThÝch
Chuyªn ngμnh: H¸n N«m
M· sè: 62 22 40 01
TÓM TẮT LuËn ¸n tiÕn sÜ ngỮ VĂN
Hμ Néi - 2008
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trịnh Khắc Mạnh
Phản biện 1: PGS TS Phạm Văn Khoái
Phản biện 2: PGS TS Vũ Thanh
Phản biện 3: PGS TS Tạ Ngọc Liễn
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước
họp tại: Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Vào hồi giờ ngày tháng 5 năm 2008
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Quốc gia Hà Nội, Viện Nghiên
cứu Hán Nôm
công trình đ∙ công bố của tác giả
I Công trình liên quan trực tiếp đến luận án
1 Tâm sự Phạm Quý Thích qua các bài thơ về Thăng Long - Hà Nội
Tạp chí Hán Nôm số 6 (67) - 2004
2 Vài nét về tiểu sử Cao Bá Đạt và Cao Bá Đạt thi tập in trong Tạp
chí Hán Nôm số 3 (76) - 2006
II Các công trình đã công bố khác
3 Hán Nôm học và “Dã thảo” Tạp chí Hán Nôm số 4 (41) - 1999
4 Danh mục sách Hán Nôm in tại đền Ngọc Sơn - Hà Nội Tạp chí Hán Nôm số 1(42) - 2000
5 Cổ kim trùng danh trùng tính khảo Nxb Văn hóa - Trung tâm văn
hóa ngôn ngữ Đông Tây, H 2000
6 Thêm một tấm bia công giáo viết bằng chữ Hán Thông báo Hán
Nôm học năm 2000 Viện NCHN xuất bản, H 2001
7 Thư mục Nguyễn Tư Giản, in trong Hoàng giáp Tư Giản cuộc đời
và thơ văn Nxb Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây, H 2001
8 Bản tính trường sinh in trong Cội nguồn 4 Nxb Văn học dân tộc, H 2001
9 Phát hiện dị bản một bài thơ của vua Lê Thánh Tông đề ở núi
Chích Trợ Thông báo Hán Nôm học năm 2002 Viện NCHN
xuất bản, H 2003
10 Thành Tây - trăm năm bia đá Thông báo Hán Nôm học năm
2003 Viện NCHN xuất bản, H 2004
11 Vài nét về “Bảo anh lương phương” in trong Nguyễn Trực từ cội
nguồn tới ngôi sao rực sáng trên văn đàn Thăng Long Nxb
Văn hóa - Thông tin, H 2005
Trang 3mở đầu
nhiều kẻ sĩ Chứng kiến cuộc sống đau khổ của nhân dân, sự bất lực
của nhiều trí thức, sự rệu rã của tầng lớp thống trị khiến cho Phạm
Quý Thích không thể làm ngơ trước cuộc sống thực tại Và tất cả
những điều đó đều được ông thể hiện trong thơ của mình Đối tượng
được đề cập đến trong thơ như: cảnh sắc thiên nhiên bốn mùa, sự tròn
khuyết của vầng trăng, những bài thơ tâm sự thù tạc với bạn bè, sự
thay đổi cảnh sắc của kinh thành Thăng Long… đều được Hoa
Đường gửi gắm vào đó với bao tâm sự sâu kín, tâm trạng buồn bã, xót
xa đầy tiếc nuối
1 Lí do chọn đề tài
Chế độ xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX được đánh giá là một giai đoạn có nhiều biến động nhất trong lịch sử Việt Nam Giai cấp thống trị thời kì này đã tha hóa, đua nhau tranh giành quyền lực mà không vì lợi ích của dân tộc khiến nền kinh
tế đất nước bị sa sút trầm trọng Nông nghiệp đình đốn trì trệ, công thương nghiệp không phát triển, đời sống nhân dân lầm than, những cuộc khởi nghĩa bùng nổ khắp nơi, tầng lớp trí thức phân hóa…
Về nghệ thuật, để thể hiện được tình cảm đa chiều, phức tạp của
mình, Phạm Quý Thích đã sử dụng nhiều thể thơ Từ thể Cổ phong
đến thể loại Đường luật đều thấy trong sáng tác của ông Từ thể tứ
tuyệt, thất ngôn bát cú, đến các loại trường thiên như: ngũ ngôn
trường thiên, trường thiên đoản cú… đều được ông sử dụng nhuần
nhuyễn, mang dấu ấn cá nhân Khả năng sử dụng ngôn từ điêu luyện,
việc sử dụng thành công các cặp hình dung từ, cách ngắt câu, tạo
hình ảnh mới từ các điển tích điển cố … đã tạo ra một phong cách,
một đặc điểm nghệ thuật rất riêng của Phạm Quý Thích
Mặc dù chế độ phong kiến đang đi vào con đường khủng hoảng, bế tắc như vậy, nhưng văn học Việt Nam giai đoạn này lại được đánh giá
là đạt được nhiều thành tựu rực rỡ nhất trong thời kì phong kiến Ngoài tài năng vốn có của các nhà văn, yếu tố xã hội đã góp phần không nhỏ làm nên thành công rực rỡ này
Một trong số những tác gia tiêu biểu của giai đoạn văn học ở cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX phải kể đến là nhân sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo Phạm Quý Thích
Sự nghiệp văn chương của Phạm Quý Thích được các học giả
đánh giá rất cao Có thể nói, Phạm Quý Thích là một trong số ít tác gia thể hiện thành công ở nhiều phương diện văn học Tác phẩm của Phạm Quý Thích thuộc đủ các thể loại thơ, văn Nội dung phản ánh trong các sáng tác của Phạm Quý Thích cũng rất đa dạng phong phú
và đều được ông diễn đạt rất sâu sắc tinh tế
Tóm lại, Phạm Quý Thích là một vị Tiến sĩ có tài, tên tuổi của ông
sẽ mãi được lưu danh trong lịch sử khoa cử và lịch sử văn học Việt
Nam thời trung đại Số lượng lớn tác phẩm mà ông để lại và giá trị tinh
thần nhân văn sâu sắc trong những tác phẩm đó, sẽ luôn được các nhà
nghiên cứu khoa học quan tâm Luận án Nghiên cứu văn bản thơ chữ
Hán của Phạm Quý Thích mang tính chất mở đầu, và chúng tôi tin
rằng sau luận án này, những nghiên cứu về tác gia, tác phẩm Phạm
Quý Thích sẽ được tiếp tục
Phạm Quý Thích là một nhà văn nổi tiếng, nhưng đi sâu nghiên cứu toàn diện và có hệ thống các văn bản sáng tác của Phạm Quý Thích
thì đến nay vẫn chưa có Sách Từ điển văn học Việt Nam nhận xét:
“Trước thuật và sáng tác của Phạm Quý Thích hiện chưa được nghiên
cứu, dịch thuật Trong Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu có tới trên 60
tên sách có chép tác phẩm của ông, nhưng chưa nhà nghiên cứu nào
Trang 4khảo sát và hệ thống hóa các văn bản ấy” Do đó trước khi đi sâu nghiên
cứu về tác gia Phạm Quý Thích thì việc tập hợp, khảo cứu văn bản của
ông, là một việc làm cần thiết
2 văn bản VHv.146 và VHv.971 viết kiêng huý 2 chữ “thời” và “tông”, trong khi đó ở các văn bản khác không có hiện tượng này Văn bản
HV.113 phần thơ của Phạm Quý Thích chỉ ghi Lập Trai thi tuyển; chép
149 bài, thứ tự tương tự như ở 5 bản cùng loại, nhưng tên đầu bài có
một số chữ sai khác Cả 6 bản của loại khắc in, đều in 2 lần bài Phó
Kinh Bắc Khi so sánh năm khắc in bộ Danh thi hợp tuyển, năm mất
của Trần Công Hiến, chữ viết kiêng huý, sự sai khác về số lượng và tên bài của bản HV.113, cho biết loại khắc in đã được in nhiều lần với lần
đầu trong khoảng thời gian từ năm 1814 - 1816
Với dung lượng một luận án chúng tôi chọn mảng văn bản thơ chữ
Hán của Phạm Quý Thích, bắt đầu từ việc tìm hiểu về thời đại, thân
thế, sự nghiệp và trước tác của ông, tiến hành sưu tầm, tập hợp, thống
kê, đối chiếu, so sánh nhận xét về tình hình văn bản, thống kê số lượng
tác phẩm, và tìm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật…
2 Lịch sử vấn đề
Thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích từng được đề cập tới trong một
số công trình Trong Lược truyện các tác gia Hán Nôm, Trần Văn Giáp
nhắc đến các trước tác của Thảo Đường, trong đó, ông đặc biệt nhấn
mạnh đến hai văn bản Thảo Đường thi nguyên tập, Lập Trai di thi tục tập
Sau khi trừ đi những bài trùng nhau và bổ sung những bài khuyết thiếu, tổng cộng ở loại khắc in có 171 bài Trong đó trùng với nhóm
Thảo Đường 160 bài, 7 bài trùng với nhóm LTTT, 4 bài trùng với nhóm Nam hành
Trong Di sản Hán Nôm Việt Nam -Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa và
FranCois Gros chủ biên, cung cấp danh mục cùng kí hiệu thư viện các
trước tác của Phạm Quý Thích
Qua khảo sát 37 tên sách với 49 văn bản mà chúng tôi sưu tầm sau khi loại trừ những bài không phải và bài còn tồn nghi thì tổng số
thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích là 1029 bài Trong đó nhóm Thảo
Đường có 850 bài, bổ sung từ các bản khác là 179 bài
Với Tên tự hiệu các tác giả Hán Nôm, Trịnh Khắc Mạnh cung cấp
gần như đầy đủ danh mục tác phẩm (cả thơ và văn xuôi) của Phạm
Quý Thích Song do đặc thù của cuốn sách, soạn giả chưa đưa ra xuất
xứ cụ thể của những văn bản đó
Khi tìm hiểu giá trị nội dung thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích, người đọc thấy nổi lên ba mảng đề tài: phản ánh hiện thực xã hội và
đời sống của nhân dân, thể hiện tâm trạng kẻ sĩ và tình yêu thiên nhiên đất nước
Nguyễn Lộc trong công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ
XVIII - hết thế kỉ XIX nhận xét về nội dung các trước tác của Phạm
Quý Thích rằng: “Phạm Quý Thích… nói nhiều về cuộc sống của nhân
dân miền Bắc Nơi nào cũng đói khổ do chiến tranh tàn phá, do hạn
hán mất mùa, do tệ cường hào hoành hành trong thôn xóm”
Thông qua việc phản ánh hiện thực xã hội, Phạm Quý Thích đã miêu tả cho người đọc thấy, một bức tranh xã hội đầy biến động và cũng đầy đau thương của xã hội phong kiến Việt Nam ở giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX Đại diện cho bộ phận nhà Nho truyền thống, Phạm Lập Trai đã trải qua sự đấu tranh nội tâm rất quyết liệt Những suy nghĩ “hành tàng” trên con đường hoạn lộ, chí khí làm trai thời loạn, trách nhiệm đối với những người dân đói khổ… trong con người Phạm Quý Thích cũng là điều trăn trở của
Trong lĩnh vực dịch thuật, trên tạp chí Nam Phong rải rác trong 12
số từ năm 1917 đến 1932, đã dịch và đăng tải 59 bài thơ và 2 bài văn, 1
truyện ngắn của Phạm Quý Thích Hà Ngọc Xuyền dựa vào bản Lập
Trai tiên sinh hành trạng do Chu (Doãn) Trí soạn đã dịch giới thiệu
hành trạng của Lập Trai Phạm Quý Thích Sau đó, phải kể đến công
Trang 5trình của Nguyễn Đức Vân tuyển dịch 264 bài thơ của Phạm Quý
Thích trích trong tập Thảo Đường thi tập, tiếc rằng bản dịch còn dưới
dạng viết tay chưa được xuất bản, hiện bản dịch đang lưu trữ ở Viện Văn học, kí hiệu DH 281-284
của nhóm này là 592 bài, số bài trùng là 547, bổ sung cho nhóm Thảo
Đường là 45 bài Có 2 văn bản ghi niên đại sao chép là A.3036/1-2
(năm Tự Đức ất Mão 1855) và HN.14 (năm 1842)
+ Nhóm có chung chủ đề về Nam hành, là những bài thơ làm trên
đường vào Huế, gồm 4 văn bản: Hoa Đường Nam hành tập A.3146;
Lập Trai Phạm Tiên sinh thi tập A.400 (tuy tên bìa 1 là Lập Trai
Phạm tiên sinh thi tập nhưng ở tờ 2a, trước khi chép nội dung, sách lại
ghi Nam hành tập, vì thế chúng tôi gọi đây là tập Nam hành); Nam
hành tập A.2803; Chiếu biểu sắc dụ tạp lục A.2158 (chiếu, biểu, dụ,
thơ… của nhiều người nhưng ở đầu phần thơ của Phạm Quý Thích ghi
Nam hành thi tập) Ngoài ra ở bản Hoa Đường An Thích hầu Lập Trai
thi tập R.1711 cũng có một chùm bài là Nam hành tạp vịnh (66 bài
nhỏ, nhưng văn bản chỉ coi đây là một chùm bài nên chúng tôi không
xếp bản R.1711 vào nhóm Nam hành) Sau khi trừ những bài trùng và
bổ sung bài khuyết thiếu trong từng văn bản của nhóm, tổng số thơ của
nhóm Nam hành là 263 bài, trong đó 245 bài trùng với nhóm Thảo Đường, 1
bài trùng với nhóm LTTT, bổ sung cho nhóm Thảo Đường 17 bài Thời
gian viết của nhóm Nam hành trong khoảng từ năm 1811- đến 1821
Trong bộ Tổng tập văn học Việt Nam do Đinh Gia Khánh làm
Chủ tịch Hội đồng biên tập, ở Tập 14, ngoài giới thiệu thân thế sự nghiệp của Phạm Quý Thích còn tuyển dịch 55 bài thơ trích trong tập
Thảo Đường thi nguyên tập
Ngoài ra, trong lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam cũng có một số công trình nhắc đến Phạm Quý Thích với tư cách là một nhân
sĩ, một người thầy có nhiều ảnh hưởng tới tư tưởng của các nhà sáng tác, như các công trình nghiên cứu về Nguyễn Văn Lý, Vũ Tông Phan, Chu Doãn Trí, Nguyễn Văn Siêu, Phạm Đình Hổ, Cao Bá Đạt, các công trình
nghiên cứu về Truyện Kiều…
Qua một số công trình kể trên cho thấy, văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm toàn diện về văn bản học và giá trị tác phẩm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
+ Nhóm LTTSHT, gồm 2 văn bản A.775 và HN.333, đều có 11
bài, trong đó 3 bài trùng với nhóm Thảo Đường và bổ sung 8 bài mới Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là toàn bộ văn bản
chép thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích Do đó, phạm vi nghiên cứu của luận án là cuộc đời và sự nghiệp, các vấn đề văn bản học, tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán của ông
+ Nhóm Các văn bản độc lập, gồm 22 bản, là những văn bản
chép tản mạn tác phẩm thơ của Phạm Quý Thích, bổ sung cho
nhóm Thảo Đường tổng số là 109 bài
4 Phạm vi sử dụng tư liệu
- Loại khắc in, gồm 6 văn bản: VH.148, R.1948, A.1455,
VHv.146, VHv.971 và HV.113 Trong đó, 5 bản VH.148, R.1948,
A.1455, VHv.146 và VHv.971 lề sách đều ghi Danh thi hợp tuyển do
Trần Công Hiến đứng ra in Trước phần thơ của Phạm Quý Thích cả 5
văn bản này đều ghi Lập Trai thi tuyển quyển chi bát, và đều có 165
bài thơ, thứ tự, tên bài hoàn toàn giống nhau Điểm khác biệt cơ bản là
Phạm vi sử dụng tư liệu là các văn bản thơ chữ Hán của Phạm
Quý Thích Đồng thời để rút ra những nhận định mang tính khách quan, luận án sẽ mở rộng nghiên cứu đến một số tác phẩm, văn bản thuộc các thể loại khác của Phạm Quý Thích và tác phẩm của người
khác nghiên cứu về thơ chữ Hán của ông
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu chấn hưng văn hóa” do nhóm Vũ Tông Phan và Nguyễn Văn Siêu
khởi xướng vào giữa thế kỉ XIX
Để thực hiện đề tài, luận án vận dụng các phương pháp: Phương
pháp nghiên cứu sử học, phương pháp nghiên cứu văn bản học, phương
pháp nghiên cứu văn học và phương pháp nghiên cứu liên ngành
Về sự nghiệp sáng tác, không kể văn xuôi và các thể loại khác, chỉ tính riêng mảng thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích cũng xứng đáng
để cho người đời khâm phục Qua 4 thư viện lớn ở Hà Nội (Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện Viện Sử học, Thư viện Viện Văn học, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm) chúng tôi đã sưu tầm được 37 tên sách với 49 văn bản chép thơ ông
6 Những đóng góp của luận án
Luận án đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề:
1 Nghiên cứu thời đại, thân thế, sự nghiệp và trước tác của tác
gia Phạm Quý Thích; 2 Khảo sát hệ thống văn bản thơ chữ Hán của
Phạm Quý Thích và xác lập danh mục thơ chữ Hán của ông; 3 Khai
thác giá trị nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán Phạm Quý Thích; 4 Tuyển
dịch, chú thích 50 bài thơ của Phạm Quý Thích…
Trong quá trình nghiên cứu văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích, để thuận lợi cho việc khảo sát, chúng tôi dựa vào hình thức văn bản chia 49 văn bản thành hai loại: viết tay và khắc in
vào đặc điểm như: có chung tiêu đề, chung chủ đề hoặc chép tản mạn, chúng tôi chia thành 5 nhóm văn bản
Luận án gồm 4 phần chính: Mở đầu, Nội dung, Kết luận và Phụ lục
Phần nội dung của luận án được chia làm 3 chương: Chương 1: Thời
đại, thân thế và trước tác của Phạm Quý Thích Chương 2: Khảo sát văn
bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích Chương 3: Tìm hiểu giá trị nội dung
và nghệ thuật thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích
+ Nhóm có chung tiêu đề Thảo Đường thi nguyên tập (nhóm Thảo
Đường) gồm 9 văn bản: A.298, HN.315-318, VHv.76/1-3, VHv.152,
VHv.145/3-4, VHv.145/2, VHv.1465, VHv.1637, HV.231, sau khi trừ những bài trùng và bổ sung bài khuyết thiếu của từng văn bản thì tổng số bài thơ của nhóm là 850 bài Về văn bản, qua khảo sát chúng tôi cho rằng bản HN.315-318 do Chu Doãn Trí sơ biên, sau đó
được Ngô Thế Vinh trùng biên, Nguyễn Văn Siêu hiệu san vào tháng 8 năm Quí Sửu Tự Đức thứ 6 (1853) gồm 583 bài là bản đáng tin cậy nhất,
được chọn dịch giới thiệu; bản A.298 là bản chép được nhiều thơ hơn cả (828 bài), nhưng được sao chép sau này có thể nói là muộn nhất Nhóm
Thảo Đường được chọn làm nhóm cơ sở để so sánh với các loại và các
nhóm văn bản khác
Chương 1: Thời đại, thân thế vμ trước tác của Phạm Quý Thích
1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu
thế kỉ XIX
Tình hình chính trị xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ
XIX luôn biến động Sự thay vua đổi chúa, tranh giành quyền lực diễn
ra liên miên Vai trò độc tôn quyền lực của vua không còn, bên cạnh
ngôi vua còn có ngôi chúa Đời sống chính trị phức tạp và biến loạn,
việc chăm lo phát triển kinh tế và chăm lo đến cuộc sống của nhân dân
bị bỏ rơi Người dân vừa chịu cảnh đói kém do mất mùa, vỡ đê… lại
vừa khổ đau bởi nạn phu phen tạp dịch Nỗi khổ ấy bị dồn đến cùng
cực khi người dân còn là nạn nhân của các cuộc nội chiến
+ Nhóm có chung tiêu đề Lập Trai thi tập gồm 6 văn bản
VHv.1462/1-2; A.3036/1-2, A.1558/1-2, A.2881, HN.14, VHv.2244, sau khi trừ những bài trùng và bổ sung bài khuyết thiếu, tổng số bài
Trang 7Bằng sự tài hoa của mình, Phạm Quý Thích đã gặt hái được thành
công trong các thể loại: từ thể loại tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, đến các
loại trường thiên như: ngũ ngôn trường thiên, trường thiên đoản cú…
Đứng trước hoàn cảnh đa chiều, nhiều sự lựa chọn, tuỳ theo nhận thức của mỗi kẻ sĩ về thời cuộc mà họ tự chọn con đường đi cho riêng mình, nhưng cũng không ít kẻ sĩ bị lúng túng trước thời cuộc
1.2 Thân thế, hành trạng và sự nghiệp của Phạm Quý Thích
Bằng tình yêu cuộc sống, sự phản ánh nội tâm đa chiều sâu sắc và
tài năng văn chương xuất sắc, thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích luôn
có chỗ đứng trong lòng độc giả nhiều thế hệ
1.2.1 Thân thế, hành trạng của Phạm Quý Thích Phạm Quý Thích, tự là Dữ Đạo, hiệu là Lập Trai, biệt hiệu là Thảo
Đường cư sĩ Ông sinh ngày 19 tháng 11 năm Canh Thìn niên hiệu Cảnh Hưng (1760), người xã Hoa Đường, huyện Đường An (nay thuộc xã
Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) Theo Lập Trai tiên
sinh hành trạng của Chu Doãn Trí cho biết, gia đình Phạm Quý Thích
được người đương thời nhận xét “gia đình nghiêm chỉnh mà thuận hòa, giữ gìn tiết kiệm, vẫn còn cái gia phong ngày trước”
Kết luận
Bối cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ
XIX có những thay đổi lớn về mặt chính trị Các thế lực phong kiến
không ngừng tranh giành quyền lực, cuộc chiến Đàng Trong - Đàng
Ngoài kéo dài nhiều năm, rồi những cuộc nội chiến nổ ra khắp nơi
Không những thế việc cầu viện ngoại binh Mãn Thanh của Lê Chiêu
Thống lại tiếp tục đẩy đất nước vào một cuộc chiến ngoại xâm Tháng 10 năm Cảnh Hưng thứ 40 (1779), Phạm Quý Thích thi đỗ
Tiến sĩ, sau đó được bổ Hiệu thảo Viện Hàn lâm kiêm chức Giám sát Ngự
sử đạo Kinh Bắc Sau khi thi đỗ, Phạm Quý Thích quen biết với nhiều văn
sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ như Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Hàn, Bùi Huy Bích, Chu Nguyên Mại… Phạm Quý Thích từng làm quan với nhà Lê, nhà Nguyễn, nhưng không cộng tác với nhà Tây Sơn, là con đường hoạn lộ mà
ông không mong muốn
Trong hoàn cảnh ý thức hệ phong kiến Nho giáo không giữ được
vai trò, bên cạnh ngôi vua còn có ngôi chúa, tầng lớp trí thức ngày
càng bị phân hóa Nhập thế trong bối cảnh xã hội như vậy, nhà Nho
Phạm Quý Thích đứng trước nhiều lựa chọn Sự đấu tranh nội tâm diễn
ra gay gắt trong ông Cuối cùng với tinh thần của một nhà Nho truyền
thống, Phạm Quý Thích quyết giữ lòng trung trinh, một lòng thờ vua
Lê Nhưng triều Lê đang trên con đường suy thoái và sụp đổ, đã không
cho Phạm Quý Thích cơ hội để thực hiện hoài bão lớn lao cứu dân giúp
nước như ông hằng mong muốn
Vào giờ Mùi ngày 29 tháng 3 năm Minh Mạng ất Dậu (1825) Phạm Quý Thích lên cơn trọng bệnh, rồi qua đời, hưởng thọ 66 tuổi 1.2.2 Sự nghiệp giáo dục của Phạm Quý Thích
Sự nghiệp giáo dục và những đóng góp về văn hóa là thành công lớn nhất trong cuộc đời Phạm Quý Thích “Tiến vi quan, thoái vi sư”, không có cơ hội cống hiến sức lực trong công cuộc trị quốc, Phạm Quý Thích dồn hết tâm sức vào sự nghiệp giáo dục Giảng đàn của Lập Trai tiên sinh tập hợp những Nho sinh ưu tú khắp Bắc Hà, cả một nhóm thanh niên “đồng anh tuấn”, nhiều người trở thành danh thần, danh sĩ dưới triều Nguyễn như Hà Tông Quyền, Bùi Quỹ, Ngô Thế Vinh,
Nếu sự nghiệp quan trường của Phạm Quý Thích không như ý,
thì sự nghiệp sáng tác và sự nghiệp giáo dục của ông lại có được
nhiều thành công Về giáo dục, ông đã đào tạo được một đội ngũ trí
thức kế tục có trình độ học vấn cao Trong số học trò của Phạm Quý
Thích có những tấm gương tiêu biểu như Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông
Phan, Nguyễn Văn Lý,… và những đóng góp về mặt văn hóa của họ
đối với thế kỉ sau là vô cùng to lớn Nhất là công cuộc “khôi phục và
Trang 8Nguyễn Văn Lý, Lê Duy Trung, Nguyễn Văn Siêu, Trần Văn Vi, Lê
Hoàng Diễm (tức Nguyễn Đình Dao), Chu Doãn Trí… Vua Minh
Mạng coi Phạm Quý Thích như một hiền tài, một mẫu mực về tiết
tháo Quốc sử quán triều Nguyễn ghi nhận về ông “… thơ văn nổi
tiếng, học giả suy tôn”
3.2.1 Thể loại thơ
Cả thể thơ Cổ phong và thơ Đường luật, Phạm Quý Thích đều
có những bài xuất sắc Hình thức thể hiện đa dạng và phong phú, cách vận dụng thể thơ đầy cá tính sáng tạo góp phần không nhỏ trong việc giúp Phạm Quý Thích diễn tả tình cảm vô cùng tinh tế của mình
và việc nghiên cứu thể loại thơ trung đại Việt Nam Và theo thống kê phân loại của chúng tôi, trong số 1029 bài thơ của Phạm Quý Thích thì ở thể thơ cổ phong Phạm Quý Thích có 19 bài; số còn lại (1010 bài) thuộc thể thơ Đường luật, trong đó có 643 bài thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt, chiếm ~ 63,66%, 367 bài thuộc các thể khác như thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn trường thiên…
1.2.3 Sự nghiệp trước thuật của Phạm Quý Thích
1.2.3.1 Các trước thuật văn xuôi, phú, câu đối, truyện…
Phạm Quý Thích sáng tác rất nhiều và hầu như ở thể loại nào
ông cũng gặt hái được thành công: Về văn, ông có các tác phẩm nổi
tiếng như: Lập Trai Tiên sinh di văn chính bút tập, Hoa Đường văn
sách, Lập Trai văn tập, Lập Trai văn sách Đề cập đến những vấn đề
kinh điển có Chu Dịch vấn giải toát yếu, Dịch Kinh đại toàn tiết yếu
diễn nghĩa… Thể loại phú có Vệ Linh sơn phú được coi là mẫu mực
Đề tài lịch sử ông có sách Việt sử tiệp kính; còn Thiên Nam Long thủ
lục lại chép tiểu truyện những người đỗ Trạng nguyên ở Việt Nam từ
thời Lý đến cuối triều Lê Viết về địa lí ông có Hải Dương phong tục kí
Bình điểm và nhuận chính cho các sách Nam Trực thập lục vịnh, Lữ trung
ngâm… Viết tựa cho rất nhiều sách như Đản Trai công thi tập, Chu Dịch
quốc âm ca Trong lĩnh vực câu đối Phạm Quý Thích để lại trong rất
nhiều sách như Dụ tế huân thần, Khải tự trướng tế văn sao tập, Bạch Mã
từ tam giáp hương lệ, Phạm Lập Trai liên văn… Còn về thể loại truyện,
ông được Nguyễn Văn Huyền nhận xét thể tài “truyện” của như sau: “…
Tân truyền kì lục của Phạm Quý Thích đã thổi một luồng sinh khí mới vào
thể loại “truyện”, đem đến cho độc giả một dấu ấn khó phai”
3.2.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ Những hình dung từ và những từ láy được ông sử dụng hết sức uyển chuyển và đều mang lại hiệu quả làm tăng sức biểu cảm của câu thơ Cách thường xuyên sử dụng những từ láy, hình dung từ là đặc
điểm tiêu biểu trong thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích Với lời lẽ ngôn từ bình dị, hình ảnh gần gũi thân thuộc nhưng thơ Phạm Quý Thích vẫn toát lên sự cao quý bác học
3.2.3 Bút pháp miêu tả
Thơ Phạm Quý Thích vẫn theo phong cách truyền thống, nhưng lại mang đậm dấu ấn cá nhân Với bút pháp nghệ thuật của mình, Phạm Quý Thích cho chúng ta thấy sức cuốn hút của thế giới tâm hồn và một thế giới thiên nhiên đầy màu sắc
3.3 Tiểu kết chương 3
Nhưng thành công nhất trong cuộc đời trước tác của Phạm Quý
Thích là mảng thơ chữ Hán
Bằng tư duy của mình, cho dù đối tượng được miêu tả là cảnh hay tình thì thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích luôn có ba nội dung chính là phản ánh hiện thực xã hội và đời sống của nhân dân; phản ánh sự đấu tranh nội tâm kẻ sĩ và tình yêu thiên nhiên đất nước
1.2.3.2 Các trước tác thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích
Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu thơ văn Phạm
Quý Thích cũng được lưu trữ tại Cộng hòa Pháp, tiếc rằng chúng tôi
Trang 9tình cảm với nhân dân 59 bài, thể hiện tâm sự kẻ sĩ 212 bài, hiện
thực xã hội 49 bài, 140 bài còn lại là những bài ngẫu hứng miêu tả
hoa sen, cây cỏ, tùng cúc, trúc, mai…
chưa có điều kiện để tiếp xúc với những văn bản này Những văn bản
chúng tôi hiện biết ở 4 thư viện lớn tại Hà Nội, đó là: Viện Sử học gồm
4 văn bản (kí hiệu HV), nhưng bản kí hiệu HV.542 đã bị cơ quan lưu trữ làm mất Tại Viện Văn học gồm 3 văn bản (kí hiệu HN), nhưng bản mang kí hiệu HN.13 cũng bị cơ quan lưu trữ làm mất Tại Thư viện Quốc gia Hà Nội có 2 văn bản (kí hiệu R) Tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm có 41 văn bản (kí hiệu A, AB, VHv, VHb) Trừ 2 bản đã
bị mất, số văn bản chép thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích mà chúng
tôi thống kê được là 37 tên sách gồm 49 văn bản
3.1.1 Thơ Phạm Quý Thích phản ánh hiện thực xã hội và đời sống
của nhân dân
Dù trực tiếp hay gián tiếp, chiến tranh và sự khốn cùng của người
dân luôn hiện hữu trong thơ Hoa Đường Qua thơ, Hoa Đường cho
chúng ta thấy hình ảnh đất nước chìm trong chiến tranh Những cuộc
nội chiến triền miên, lại thêm nạn ngoại xâm dày xéo Hậu quả do
những cuộc chiến đem lại là sự đổ nát, là sự đói kém, là sự bần cùng hóa,
là sự suy đồi đạo đức Nho giáo…
1.3 Tìm hiểu quan điểm chính trị của Phạm Quý Thích Nhà Nho Phạm Quý Thích sống trải qua nhiều đời vua chúa của ba triều đại (Lê - Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn) với những sự kiện và vai trò lịch sử khác nhau Nhập cuộc khi còn rất trẻ, mới 21 tuổi, Phạm Quý Thích hăm hở nhận chức Ông nghĩ “Phàm là kẻ sĩ trung thành không vì thế cùng, mà đổi thay chí khí” Và không ngừng kì vọng: “Nếu như
ông chủ tôi xuân thu thịnh vượng, hạnh nghĩa được thời, thì với đầu óc cao rộng, trí lự thông minh, đem đạo lớn uẩn súc ra thi hành, ắt nên giàu có, đâu mãi chịu nghèo hèn ” Thế mà chỉ trong một năm làm quan, Phạm Quý Thích đã có ý định xin về Ba năm sau thì ông kiên quyết xin cáo quan Nguyên nhân sâu sa là do ông chán ghét cảnh gianh trành của tầng lớp thống trị Vì giữ mình trong sạch, nêu cao đạo
đức Nho giáo, nên ông đành cáo quan ở ẩn Song trong nội tâm ông vẫn luôn day dứt về nỗi hành tàng
Những gì Phạm Quý Thích nêu ra cho thấy, ông đứng về phía người
dân, đứng về phía những số phận khổ đau, song có điều ông chưa thoát
khỏi tư tưởng của một nhà nho truyền thống, tận trung với vua Điều này
tựu trung do hệ tư tưởng Nho giáo chi phối
3.1.2 Thơ chữ Hán Phạm Quý Thích phản ánh sự đấu tranh nội
tâm kẻ sĩ
Trong thơ Phạm Quý Thích ta luôn bắt gặp sự đấu tranh bản thân
Một bên là trách nhiệm với xã hội, một bên là thói an phận lánh đời
giữ mình Hai con người ấy luôn hiện hữu trong Phạm Quý Thích
Qua sự đấu tranh nội tâm ấy người đọc thấy được tâm sự của cả một
lớp nhà Nho trong buổi giao thời
3.1.3 Thiên nhiên trong thơ Phạm Quý Thích
1.4 Tiểu kết chương 1
Đối với Phạm Quý Thích yêu quê hương đất nước cũng chính là
yêu những cảnh sắc thiên nhiên, yêu những người dân lam lũ xung
quanh mình Những bài thơ tả cảnh của ông bình dị, trong sáng, mượt
mà êm ái Song, sau những câu thơ là một miền tâm trạng, một tâm
hồn nhạy cảm luôn nặng lòng với non sông, trắc ẩn với cuộc sống
Thời đại mà Phạm Quý Thích sống được coi là một giai đoạn có nhiều biến động Phạm Quý Thích sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng Năm 1779, Phạm Quý Thích thi đỗ Tiến sĩ Sau một thời gian ngắn làm quan, chứng kiến hiện thực chốn quan trường, ông đã nhiều lần cáo quan, song tấm lòng vẫn không nguôi hoài niệm nhà Lê
3.2 Giá trị nghệ thuật trong thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích
Trang 10Với sự nghiệp giáo dục, Phạm Quý Thích đã góp phần đào tạo được
nhiều học trò xuất sắc và họ đã có đóng góp rất lớn cho văn hóa nước nhà
VHv.146, VHv.971 có thể được khắc in khoảng sau năm Tự Đức 1848, còn bản HV.113 chưa biết cụ thể in năm nào Năm bản HV.148, R.1948, A.1455, VHv.146, VHv.971 đều có số bài là 165 bài (trừ bài
Phó Kinh Bắc chép 2 lần còn 164 bài); riêng bản HV.113 có 149 Loại
khắc in có tổng cộng 171 bài, không bổ sung cho nhóm Thảo Đường
Trong sự nghiệp sáng tác, Phạm Quý Thích đạt được nhiều thành
công, các sáng tác của ông thuộc nhiều thể loại văn học và đặc biệt là
mảng thơ chữ Hán đã được giới nghiên cứu đánh giá cao
b Về số lượng thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích
chương 2: Khảo sát văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích
2.1 Khái quát đặc điểm văn bản và nhóm văn bản Nhóm Thảo Đường, có tổng số bài lớn nhất, (gồm 850 bài), được
chọn làm nhóm cơ sở để đối chiếu Sau khi khảo sát, thống kê, so sánh,
kết quả bổ sung cho nhóm Thảo Đường là: Nhóm LTTT bổ sung 45 bài Nhóm Nam hành bổ sung 17 bài Nhóm LTTSHT bổ sung 8 bài Các bản độc lập bổ sung 109 bài cho nhóm Thảo Đường
Theo phương thức định hình văn bản, chúng tôi đã chia 49 văn bản
này thành hai loại: viết tay (43 bản) và khắc in (6 bản) ở loại viết tay
chúng tôi lại chia thành 5 nhóm văn bản
2.2 Khảo sát văn bản
Loại khắc in không bổ sung mới cho nhóm Thảo Đường
1 Nhóm Thảo Đường: gồm 9 văn bản là: A.298; HN.315-318,
Hv.76/1-3; HV.231; VHv.152; VHv.145/2; VHv.145/3-4; VHv.1465; VHv.1637 Như vậy, qua 49 văn bản mà chúng tôi đã sưu tầm và khảo sát, sau
khi loại trừ những bài không phải và bài còn tồn nghi thì tổng số thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích hiện xác định là 1029 bài
- Văn bản A.298: là bản có số lượng bài lớn nhất, tập hợp thơ của
Phạm Quý Thích qua nhiều thời kì nhất, do người đời sau sao chép
Sách do Chu Doãn Trí ở xã Dục Tú, huyện Đông Ngàn sơ biên, Ngô
Thế Vinh ở xã Bái Dương, huyện Nam Trực trùng biên, Nguyễn Văn
Siêu ở phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương hiệu san vào tháng 8 năm
Quí Sửu niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853) Văn bản A.298 chép 882 bài
Trong đó có 4 bài chép lặp 2 lần và 1 bài chép lặp 3 lần Đồng thời sau
khi khảo sát chúng tôi thấy, văn bản A.298 chép lẫn cả thơ mà người
khác viết cho Phạm Quý Thích (43 bài) Như vậy, tổng số bài của bản
A.298 là 828 bài Đây là văn bản có niên đại sao chép muộn nhất vì
chúng sưu tầm thơ của Phạm Quý Thích qua nhiều thời kì nhất
Chương 3: Tìm hiểu giá trị nội dung vμ nghệ thuật thơ
chữ hán của Phạm Quý Thích
3.1 Giá trị nội dung trong thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích
Qua thống kê số lượng tác phẩm thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích theo chủ đề và giai đoạn sáng tác, chúng tôi thấy nội dung chủ yếu mà Phạm Quý Thích muốn đề cập xoay quanh ba nội dung chính,
đó là, phản ánh hiện thực xã hội và đời sống của nhân dân, phản ánh
sự đấu tranh nội tâm của kẻ sĩ và tình yêu thiên nhiên đất nước Theo thống kê phân loại của chúng tôi cho thấy, trong 1029 bài thơ của Phạm Quý Thích có 164 bài thù đáp với bạn bè, nói về cảnh sắc bốn mùa thay đổi và các tiết trong năm có 52 bài, thơ về cảnh sắc Thăng Long 63 bài, cảnh sắc đình đền chùa miếu mạo 86 bài, thơ vịnh sử 31 bài, hình ảnh trăng trong thơ có 173 bài, thơ thể hiện
- Văn bản HN.315-318: sách do Chu Doãn Trí ở xã Dục Tú,
huyện Đông Ngàn sơ biên, Ngô Thế Vinh ở xã Bái Dương, huyện Nam
Trực trùng biên, Nguyễn Văn Siêu ở phường Dũng Thọ, huyện Thọ
Xương hiệu san vào tháng 8 năm Quí Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 6