1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích

14 683 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích
Tác giả Vương Thị Hường
Người hướng dẫn PGS. TS. Trịnh Khắc Mạnh
Trường học Viện Nghiên Cứu Hán Nôm
Chuyên ngành Hán Nôm
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 293,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích

Trang 1

Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o viÖn khoa häc x∙ héi viÖt nam

ViÖn nghiªn cøu H¸n N«m

-

V−¬ng thÞ h−êng

Nghiªn cøu v¨n b¶n th¬ ch÷ h¸n

cña Ph¹m Quý ThÝch

Chuyªn ngμnh: H¸n N«m

M· sè: 62 22 40 01

TÓM TẮT LuËn ¸n tiÕn sÜ ngỮ VĂN

Hμ Néi - 2008

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trịnh Khắc Mạnh

Phản biện 1: PGS TS Phạm Văn Khoái

Phản biện 2: PGS TS Vũ Thanh

Phản biện 3: PGS TS Tạ Ngọc Liễn

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước

họp tại: Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Vào hồi giờ ngày tháng 5 năm 2008

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Quốc gia Hà Nội, Viện Nghiên

cứu Hán Nôm

công trình đ∙ công bố của tác giả

I Công trình liên quan trực tiếp đến luận án

1 Tâm sự Phạm Quý Thích qua các bài thơ về Thăng Long - Hà Nội

Tạp chí Hán Nôm số 6 (67) - 2004

2 Vài nét về tiểu sử Cao Bá Đạt và Cao Bá Đạt thi tập in trong Tạp

chí Hán Nôm số 3 (76) - 2006

II Các công trình đã công bố khác

3 Hán Nôm học và “Dã thảo” Tạp chí Hán Nôm số 4 (41) - 1999

4 Danh mục sách Hán Nôm in tại đền Ngọc Sơn - Hà Nội Tạp chí Hán Nôm số 1(42) - 2000

5 Cổ kim trùng danh trùng tính khảo Nxb Văn hóa - Trung tâm văn

hóa ngôn ngữ Đông Tây, H 2000

6 Thêm một tấm bia công giáo viết bằng chữ Hán Thông báo Hán

Nôm học năm 2000 Viện NCHN xuất bản, H 2001

7 Thư mục Nguyễn Tư Giản, in trong Hoàng giáp Tư Giản cuộc đời

và thơ văn Nxb Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây, H 2001

8 Bản tính trường sinh in trong Cội nguồn 4 Nxb Văn học dân tộc, H 2001

9 Phát hiện dị bản một bài thơ của vua Lê Thánh Tông đề ở núi

Chích Trợ Thông báo Hán Nôm học năm 2002 Viện NCHN

xuất bản, H 2003

10 Thành Tây - trăm năm bia đá Thông báo Hán Nôm học năm

2003 Viện NCHN xuất bản, H 2004

11 Vài nét về “Bảo anh lương phương” in trong Nguyễn Trực từ cội

nguồn tới ngôi sao rực sáng trên văn đàn Thăng Long Nxb

Văn hóa - Thông tin, H 2005

Trang 3

mở đầu

nhiều kẻ sĩ Chứng kiến cuộc sống đau khổ của nhân dân, sự bất lực

của nhiều trí thức, sự rệu rã của tầng lớp thống trị khiến cho Phạm

Quý Thích không thể làm ngơ trước cuộc sống thực tại Và tất cả

những điều đó đều được ông thể hiện trong thơ của mình Đối tượng

được đề cập đến trong thơ như: cảnh sắc thiên nhiên bốn mùa, sự tròn

khuyết của vầng trăng, những bài thơ tâm sự thù tạc với bạn bè, sự

thay đổi cảnh sắc của kinh thành Thăng Long… đều được Hoa

Đường gửi gắm vào đó với bao tâm sự sâu kín, tâm trạng buồn bã, xót

xa đầy tiếc nuối

1 Lí do chọn đề tài

Chế độ xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX được đánh giá là một giai đoạn có nhiều biến động nhất trong lịch sử Việt Nam Giai cấp thống trị thời kì này đã tha hóa, đua nhau tranh giành quyền lực mà không vì lợi ích của dân tộc khiến nền kinh

tế đất nước bị sa sút trầm trọng Nông nghiệp đình đốn trì trệ, công thương nghiệp không phát triển, đời sống nhân dân lầm than, những cuộc khởi nghĩa bùng nổ khắp nơi, tầng lớp trí thức phân hóa…

Về nghệ thuật, để thể hiện được tình cảm đa chiều, phức tạp của

mình, Phạm Quý Thích đã sử dụng nhiều thể thơ Từ thể Cổ phong

đến thể loại Đường luật đều thấy trong sáng tác của ông Từ thể tứ

tuyệt, thất ngôn bát cú, đến các loại trường thiên như: ngũ ngôn

trường thiên, trường thiên đoản cú… đều được ông sử dụng nhuần

nhuyễn, mang dấu ấn cá nhân Khả năng sử dụng ngôn từ điêu luyện,

việc sử dụng thành công các cặp hình dung từ, cách ngắt câu, tạo

hình ảnh mới từ các điển tích điển cố … đã tạo ra một phong cách,

một đặc điểm nghệ thuật rất riêng của Phạm Quý Thích

Mặc dù chế độ phong kiến đang đi vào con đường khủng hoảng, bế tắc như vậy, nhưng văn học Việt Nam giai đoạn này lại được đánh giá

là đạt được nhiều thành tựu rực rỡ nhất trong thời kì phong kiến Ngoài tài năng vốn có của các nhà văn, yếu tố xã hội đã góp phần không nhỏ làm nên thành công rực rỡ này

Một trong số những tác gia tiêu biểu của giai đoạn văn học ở cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX phải kể đến là nhân sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo Phạm Quý Thích

Sự nghiệp văn chương của Phạm Quý Thích được các học giả

đánh giá rất cao Có thể nói, Phạm Quý Thích là một trong số ít tác gia thể hiện thành công ở nhiều phương diện văn học Tác phẩm của Phạm Quý Thích thuộc đủ các thể loại thơ, văn Nội dung phản ánh trong các sáng tác của Phạm Quý Thích cũng rất đa dạng phong phú

và đều được ông diễn đạt rất sâu sắc tinh tế

Tóm lại, Phạm Quý Thích là một vị Tiến sĩ có tài, tên tuổi của ông

sẽ mãi được lưu danh trong lịch sử khoa cử và lịch sử văn học Việt

Nam thời trung đại Số lượng lớn tác phẩm mà ông để lại và giá trị tinh

thần nhân văn sâu sắc trong những tác phẩm đó, sẽ luôn được các nhà

nghiên cứu khoa học quan tâm Luận án Nghiên cứu văn bản thơ chữ

Hán của Phạm Quý Thích mang tính chất mở đầu, và chúng tôi tin

rằng sau luận án này, những nghiên cứu về tác gia, tác phẩm Phạm

Quý Thích sẽ được tiếp tục

Phạm Quý Thích là một nhà văn nổi tiếng, nhưng đi sâu nghiên cứu toàn diện và có hệ thống các văn bản sáng tác của Phạm Quý Thích

thì đến nay vẫn chưa có Sách Từ điển văn học Việt Nam nhận xét:

“Trước thuật và sáng tác của Phạm Quý Thích hiện chưa được nghiên

cứu, dịch thuật Trong Di sản Hán Nôm - Thư mục đề yếu có tới trên 60

tên sách có chép tác phẩm của ông, nhưng chưa nhà nghiên cứu nào

Trang 4

khảo sát và hệ thống hóa các văn bản ấy” Do đó trước khi đi sâu nghiên

cứu về tác gia Phạm Quý Thích thì việc tập hợp, khảo cứu văn bản của

ông, là một việc làm cần thiết

2 văn bản VHv.146 và VHv.971 viết kiêng huý 2 chữ “thời” và “tông”, trong khi đó ở các văn bản khác không có hiện tượng này Văn bản

HV.113 phần thơ của Phạm Quý Thích chỉ ghi Lập Trai thi tuyển; chép

149 bài, thứ tự tương tự như ở 5 bản cùng loại, nhưng tên đầu bài có

một số chữ sai khác Cả 6 bản của loại khắc in, đều in 2 lần bài Phó

Kinh Bắc Khi so sánh năm khắc in bộ Danh thi hợp tuyển, năm mất

của Trần Công Hiến, chữ viết kiêng huý, sự sai khác về số lượng và tên bài của bản HV.113, cho biết loại khắc in đã được in nhiều lần với lần

đầu trong khoảng thời gian từ năm 1814 - 1816

Với dung lượng một luận án chúng tôi chọn mảng văn bản thơ chữ

Hán của Phạm Quý Thích, bắt đầu từ việc tìm hiểu về thời đại, thân

thế, sự nghiệp và trước tác của ông, tiến hành sưu tầm, tập hợp, thống

kê, đối chiếu, so sánh nhận xét về tình hình văn bản, thống kê số lượng

tác phẩm, và tìm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật…

2 Lịch sử vấn đề

Thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích từng được đề cập tới trong một

số công trình Trong Lược truyện các tác gia Hán Nôm, Trần Văn Giáp

nhắc đến các trước tác của Thảo Đường, trong đó, ông đặc biệt nhấn

mạnh đến hai văn bản Thảo Đường thi nguyên tập, Lập Trai di thi tục tập

Sau khi trừ đi những bài trùng nhau và bổ sung những bài khuyết thiếu, tổng cộng ở loại khắc in có 171 bài Trong đó trùng với nhóm

Thảo Đường 160 bài, 7 bài trùng với nhóm LTTT, 4 bài trùng với nhóm Nam hành

Trong Di sản Hán Nôm Việt Nam -Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa và

FranCois Gros chủ biên, cung cấp danh mục cùng kí hiệu thư viện các

trước tác của Phạm Quý Thích

Qua khảo sát 37 tên sách với 49 văn bản mà chúng tôi sưu tầm sau khi loại trừ những bài không phải và bài còn tồn nghi thì tổng số

thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích là 1029 bài Trong đó nhóm Thảo

Đường có 850 bài, bổ sung từ các bản khác là 179 bài

Với Tên tự hiệu các tác giả Hán Nôm, Trịnh Khắc Mạnh cung cấp

gần như đầy đủ danh mục tác phẩm (cả thơ và văn xuôi) của Phạm

Quý Thích Song do đặc thù của cuốn sách, soạn giả chưa đưa ra xuất

xứ cụ thể của những văn bản đó

Khi tìm hiểu giá trị nội dung thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích, người đọc thấy nổi lên ba mảng đề tài: phản ánh hiện thực xã hội và

đời sống của nhân dân, thể hiện tâm trạng kẻ sĩ và tình yêu thiên nhiên đất nước

Nguyễn Lộc trong công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ

XVIII - hết thế kỉ XIX nhận xét về nội dung các trước tác của Phạm

Quý Thích rằng: “Phạm Quý Thích… nói nhiều về cuộc sống của nhân

dân miền Bắc Nơi nào cũng đói khổ do chiến tranh tàn phá, do hạn

hán mất mùa, do tệ cường hào hoành hành trong thôn xóm”

Thông qua việc phản ánh hiện thực xã hội, Phạm Quý Thích đã miêu tả cho người đọc thấy, một bức tranh xã hội đầy biến động và cũng đầy đau thương của xã hội phong kiến Việt Nam ở giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX Đại diện cho bộ phận nhà Nho truyền thống, Phạm Lập Trai đã trải qua sự đấu tranh nội tâm rất quyết liệt Những suy nghĩ “hành tàng” trên con đường hoạn lộ, chí khí làm trai thời loạn, trách nhiệm đối với những người dân đói khổ… trong con người Phạm Quý Thích cũng là điều trăn trở của

Trong lĩnh vực dịch thuật, trên tạp chí Nam Phong rải rác trong 12

số từ năm 1917 đến 1932, đã dịch và đăng tải 59 bài thơ và 2 bài văn, 1

truyện ngắn của Phạm Quý Thích Hà Ngọc Xuyền dựa vào bản Lập

Trai tiên sinh hành trạng do Chu (Doãn) Trí soạn đã dịch giới thiệu

hành trạng của Lập Trai Phạm Quý Thích Sau đó, phải kể đến công

Trang 5

trình của Nguyễn Đức Vân tuyển dịch 264 bài thơ của Phạm Quý

Thích trích trong tập Thảo Đường thi tập, tiếc rằng bản dịch còn dưới

dạng viết tay chưa được xuất bản, hiện bản dịch đang lưu trữ ở Viện Văn học, kí hiệu DH 281-284

của nhóm này là 592 bài, số bài trùng là 547, bổ sung cho nhóm Thảo

Đường là 45 bài Có 2 văn bản ghi niên đại sao chép là A.3036/1-2

(năm Tự Đức ất Mão 1855) và HN.14 (năm 1842)

+ Nhóm có chung chủ đề về Nam hành, là những bài thơ làm trên

đường vào Huế, gồm 4 văn bản: Hoa Đường Nam hành tập A.3146;

Lập Trai Phạm Tiên sinh thi tập A.400 (tuy tên bìa 1 là Lập Trai

Phạm tiên sinh thi tập nhưng ở tờ 2a, trước khi chép nội dung, sách lại

ghi Nam hành tập, vì thế chúng tôi gọi đây là tập Nam hành); Nam

hành tập A.2803; Chiếu biểu sắc dụ tạp lục A.2158 (chiếu, biểu, dụ,

thơ… của nhiều người nhưng ở đầu phần thơ của Phạm Quý Thích ghi

Nam hành thi tập) Ngoài ra ở bản Hoa Đường An Thích hầu Lập Trai

thi tập R.1711 cũng có một chùm bài là Nam hành tạp vịnh (66 bài

nhỏ, nhưng văn bản chỉ coi đây là một chùm bài nên chúng tôi không

xếp bản R.1711 vào nhóm Nam hành) Sau khi trừ những bài trùng và

bổ sung bài khuyết thiếu trong từng văn bản của nhóm, tổng số thơ của

nhóm Nam hành là 263 bài, trong đó 245 bài trùng với nhóm Thảo Đường, 1

bài trùng với nhóm LTTT, bổ sung cho nhóm Thảo Đường 17 bài Thời

gian viết của nhóm Nam hành trong khoảng từ năm 1811- đến 1821

Trong bộ Tổng tập văn học Việt Nam do Đinh Gia Khánh làm

Chủ tịch Hội đồng biên tập, ở Tập 14, ngoài giới thiệu thân thế sự nghiệp của Phạm Quý Thích còn tuyển dịch 55 bài thơ trích trong tập

Thảo Đường thi nguyên tập

Ngoài ra, trong lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam cũng có một số công trình nhắc đến Phạm Quý Thích với tư cách là một nhân

sĩ, một người thầy có nhiều ảnh hưởng tới tư tưởng của các nhà sáng tác, như các công trình nghiên cứu về Nguyễn Văn Lý, Vũ Tông Phan, Chu Doãn Trí, Nguyễn Văn Siêu, Phạm Đình Hổ, Cao Bá Đạt, các công trình

nghiên cứu về Truyện Kiều…

Qua một số công trình kể trên cho thấy, văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm toàn diện về văn bản học và giá trị tác phẩm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

+ Nhóm LTTSHT, gồm 2 văn bản A.775 và HN.333, đều có 11

bài, trong đó 3 bài trùng với nhóm Thảo Đường và bổ sung 8 bài mới Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là toàn bộ văn bản

chép thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích Do đó, phạm vi nghiên cứu của luận án là cuộc đời và sự nghiệp, các vấn đề văn bản học, tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán của ông

+ Nhóm Các văn bản độc lập, gồm 22 bản, là những văn bản

chép tản mạn tác phẩm thơ của Phạm Quý Thích, bổ sung cho

nhóm Thảo Đường tổng số là 109 bài

4 Phạm vi sử dụng tư liệu

- Loại khắc in, gồm 6 văn bản: VH.148, R.1948, A.1455,

VHv.146, VHv.971 và HV.113 Trong đó, 5 bản VH.148, R.1948,

A.1455, VHv.146 và VHv.971 lề sách đều ghi Danh thi hợp tuyển do

Trần Công Hiến đứng ra in Trước phần thơ của Phạm Quý Thích cả 5

văn bản này đều ghi Lập Trai thi tuyển quyển chi bát, và đều có 165

bài thơ, thứ tự, tên bài hoàn toàn giống nhau Điểm khác biệt cơ bản là

Phạm vi sử dụng tư liệu là các văn bản thơ chữ Hán của Phạm

Quý Thích Đồng thời để rút ra những nhận định mang tính khách quan, luận án sẽ mở rộng nghiên cứu đến một số tác phẩm, văn bản thuộc các thể loại khác của Phạm Quý Thích và tác phẩm của người

khác nghiên cứu về thơ chữ Hán của ông

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu chấn hưng văn hóa” do nhóm Vũ Tông Phan và Nguyễn Văn Siêu

khởi xướng vào giữa thế kỉ XIX

Để thực hiện đề tài, luận án vận dụng các phương pháp: Phương

pháp nghiên cứu sử học, phương pháp nghiên cứu văn bản học, phương

pháp nghiên cứu văn học và phương pháp nghiên cứu liên ngành

Về sự nghiệp sáng tác, không kể văn xuôi và các thể loại khác, chỉ tính riêng mảng thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích cũng xứng đáng

để cho người đời khâm phục Qua 4 thư viện lớn ở Hà Nội (Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện Viện Sử học, Thư viện Viện Văn học, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm) chúng tôi đã sưu tầm được 37 tên sách với 49 văn bản chép thơ ông

6 Những đóng góp của luận án

Luận án đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề:

1 Nghiên cứu thời đại, thân thế, sự nghiệp và trước tác của tác

gia Phạm Quý Thích; 2 Khảo sát hệ thống văn bản thơ chữ Hán của

Phạm Quý Thích và xác lập danh mục thơ chữ Hán của ông; 3 Khai

thác giá trị nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán Phạm Quý Thích; 4 Tuyển

dịch, chú thích 50 bài thơ của Phạm Quý Thích…

Trong quá trình nghiên cứu văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích, để thuận lợi cho việc khảo sát, chúng tôi dựa vào hình thức văn bản chia 49 văn bản thành hai loại: viết tay và khắc in

vào đặc điểm như: có chung tiêu đề, chung chủ đề hoặc chép tản mạn, chúng tôi chia thành 5 nhóm văn bản

Luận án gồm 4 phần chính: Mở đầu, Nội dung, Kết luận và Phụ lục

Phần nội dung của luận án được chia làm 3 chương: Chương 1: Thời

đại, thân thế và trước tác của Phạm Quý Thích Chương 2: Khảo sát văn

bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích Chương 3: Tìm hiểu giá trị nội dung

và nghệ thuật thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích

+ Nhóm có chung tiêu đề Thảo Đường thi nguyên tập (nhóm Thảo

Đường) gồm 9 văn bản: A.298, HN.315-318, VHv.76/1-3, VHv.152,

VHv.145/3-4, VHv.145/2, VHv.1465, VHv.1637, HV.231, sau khi trừ những bài trùng và bổ sung bài khuyết thiếu của từng văn bản thì tổng số bài thơ của nhóm là 850 bài Về văn bản, qua khảo sát chúng tôi cho rằng bản HN.315-318 do Chu Doãn Trí sơ biên, sau đó

được Ngô Thế Vinh trùng biên, Nguyễn Văn Siêu hiệu san vào tháng 8 năm Quí Sửu Tự Đức thứ 6 (1853) gồm 583 bài là bản đáng tin cậy nhất,

được chọn dịch giới thiệu; bản A.298 là bản chép được nhiều thơ hơn cả (828 bài), nhưng được sao chép sau này có thể nói là muộn nhất Nhóm

Thảo Đường được chọn làm nhóm cơ sở để so sánh với các loại và các

nhóm văn bản khác

Chương 1: Thời đại, thân thế vμ trước tác của Phạm Quý Thích

1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu

thế kỉ XIX

Tình hình chính trị xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ

XIX luôn biến động Sự thay vua đổi chúa, tranh giành quyền lực diễn

ra liên miên Vai trò độc tôn quyền lực của vua không còn, bên cạnh

ngôi vua còn có ngôi chúa Đời sống chính trị phức tạp và biến loạn,

việc chăm lo phát triển kinh tế và chăm lo đến cuộc sống của nhân dân

bị bỏ rơi Người dân vừa chịu cảnh đói kém do mất mùa, vỡ đê… lại

vừa khổ đau bởi nạn phu phen tạp dịch Nỗi khổ ấy bị dồn đến cùng

cực khi người dân còn là nạn nhân của các cuộc nội chiến

+ Nhóm có chung tiêu đề Lập Trai thi tập gồm 6 văn bản

VHv.1462/1-2; A.3036/1-2, A.1558/1-2, A.2881, HN.14, VHv.2244, sau khi trừ những bài trùng và bổ sung bài khuyết thiếu, tổng số bài

Trang 7

Bằng sự tài hoa của mình, Phạm Quý Thích đã gặt hái được thành

công trong các thể loại: từ thể loại tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, đến các

loại trường thiên như: ngũ ngôn trường thiên, trường thiên đoản cú…

Đứng trước hoàn cảnh đa chiều, nhiều sự lựa chọn, tuỳ theo nhận thức của mỗi kẻ sĩ về thời cuộc mà họ tự chọn con đường đi cho riêng mình, nhưng cũng không ít kẻ sĩ bị lúng túng trước thời cuộc

1.2 Thân thế, hành trạng và sự nghiệp của Phạm Quý Thích

Bằng tình yêu cuộc sống, sự phản ánh nội tâm đa chiều sâu sắc và

tài năng văn chương xuất sắc, thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích luôn

có chỗ đứng trong lòng độc giả nhiều thế hệ

1.2.1 Thân thế, hành trạng của Phạm Quý Thích Phạm Quý Thích, tự là Dữ Đạo, hiệu là Lập Trai, biệt hiệu là Thảo

Đường cư sĩ Ông sinh ngày 19 tháng 11 năm Canh Thìn niên hiệu Cảnh Hưng (1760), người xã Hoa Đường, huyện Đường An (nay thuộc xã

Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) Theo Lập Trai tiên

sinh hành trạng của Chu Doãn Trí cho biết, gia đình Phạm Quý Thích

được người đương thời nhận xét “gia đình nghiêm chỉnh mà thuận hòa, giữ gìn tiết kiệm, vẫn còn cái gia phong ngày trước”

Kết luận

Bối cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ

XIX có những thay đổi lớn về mặt chính trị Các thế lực phong kiến

không ngừng tranh giành quyền lực, cuộc chiến Đàng Trong - Đàng

Ngoài kéo dài nhiều năm, rồi những cuộc nội chiến nổ ra khắp nơi

Không những thế việc cầu viện ngoại binh Mãn Thanh của Lê Chiêu

Thống lại tiếp tục đẩy đất nước vào một cuộc chiến ngoại xâm Tháng 10 năm Cảnh Hưng thứ 40 (1779), Phạm Quý Thích thi đỗ

Tiến sĩ, sau đó được bổ Hiệu thảo Viện Hàn lâm kiêm chức Giám sát Ngự

sử đạo Kinh Bắc Sau khi thi đỗ, Phạm Quý Thích quen biết với nhiều văn

sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ như Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Hàn, Bùi Huy Bích, Chu Nguyên Mại… Phạm Quý Thích từng làm quan với nhà Lê, nhà Nguyễn, nhưng không cộng tác với nhà Tây Sơn, là con đường hoạn lộ mà

ông không mong muốn

Trong hoàn cảnh ý thức hệ phong kiến Nho giáo không giữ được

vai trò, bên cạnh ngôi vua còn có ngôi chúa, tầng lớp trí thức ngày

càng bị phân hóa Nhập thế trong bối cảnh xã hội như vậy, nhà Nho

Phạm Quý Thích đứng trước nhiều lựa chọn Sự đấu tranh nội tâm diễn

ra gay gắt trong ông Cuối cùng với tinh thần của một nhà Nho truyền

thống, Phạm Quý Thích quyết giữ lòng trung trinh, một lòng thờ vua

Lê Nhưng triều Lê đang trên con đường suy thoái và sụp đổ, đã không

cho Phạm Quý Thích cơ hội để thực hiện hoài bão lớn lao cứu dân giúp

nước như ông hằng mong muốn

Vào giờ Mùi ngày 29 tháng 3 năm Minh Mạng ất Dậu (1825) Phạm Quý Thích lên cơn trọng bệnh, rồi qua đời, hưởng thọ 66 tuổi 1.2.2 Sự nghiệp giáo dục của Phạm Quý Thích

Sự nghiệp giáo dục và những đóng góp về văn hóa là thành công lớn nhất trong cuộc đời Phạm Quý Thích “Tiến vi quan, thoái vi sư”, không có cơ hội cống hiến sức lực trong công cuộc trị quốc, Phạm Quý Thích dồn hết tâm sức vào sự nghiệp giáo dục Giảng đàn của Lập Trai tiên sinh tập hợp những Nho sinh ưu tú khắp Bắc Hà, cả một nhóm thanh niên “đồng anh tuấn”, nhiều người trở thành danh thần, danh sĩ dưới triều Nguyễn như Hà Tông Quyền, Bùi Quỹ, Ngô Thế Vinh,

Nếu sự nghiệp quan trường của Phạm Quý Thích không như ý,

thì sự nghiệp sáng tác và sự nghiệp giáo dục của ông lại có được

nhiều thành công Về giáo dục, ông đã đào tạo được một đội ngũ trí

thức kế tục có trình độ học vấn cao Trong số học trò của Phạm Quý

Thích có những tấm gương tiêu biểu như Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông

Phan, Nguyễn Văn Lý,… và những đóng góp về mặt văn hóa của họ

đối với thế kỉ sau là vô cùng to lớn Nhất là công cuộc “khôi phục và

Trang 8

Nguyễn Văn Lý, Lê Duy Trung, Nguyễn Văn Siêu, Trần Văn Vi, Lê

Hoàng Diễm (tức Nguyễn Đình Dao), Chu Doãn Trí… Vua Minh

Mạng coi Phạm Quý Thích như một hiền tài, một mẫu mực về tiết

tháo Quốc sử quán triều Nguyễn ghi nhận về ông “… thơ văn nổi

tiếng, học giả suy tôn”

3.2.1 Thể loại thơ

Cả thể thơ Cổ phong và thơ Đường luật, Phạm Quý Thích đều

có những bài xuất sắc Hình thức thể hiện đa dạng và phong phú, cách vận dụng thể thơ đầy cá tính sáng tạo góp phần không nhỏ trong việc giúp Phạm Quý Thích diễn tả tình cảm vô cùng tinh tế của mình

và việc nghiên cứu thể loại thơ trung đại Việt Nam Và theo thống kê phân loại của chúng tôi, trong số 1029 bài thơ của Phạm Quý Thích thì ở thể thơ cổ phong Phạm Quý Thích có 19 bài; số còn lại (1010 bài) thuộc thể thơ Đường luật, trong đó có 643 bài thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt, chiếm ~ 63,66%, 367 bài thuộc các thể khác như thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn trường thiên…

1.2.3 Sự nghiệp trước thuật của Phạm Quý Thích

1.2.3.1 Các trước thuật văn xuôi, phú, câu đối, truyện…

Phạm Quý Thích sáng tác rất nhiều và hầu như ở thể loại nào

ông cũng gặt hái được thành công: Về văn, ông có các tác phẩm nổi

tiếng như: Lập Trai Tiên sinh di văn chính bút tập, Hoa Đường văn

sách, Lập Trai văn tập, Lập Trai văn sách Đề cập đến những vấn đề

kinh điển có Chu Dịch vấn giải toát yếu, Dịch Kinh đại toàn tiết yếu

diễn nghĩa… Thể loại phú có Vệ Linh sơn phú được coi là mẫu mực

Đề tài lịch sử ông có sách Việt sử tiệp kính; còn Thiên Nam Long thủ

lục lại chép tiểu truyện những người đỗ Trạng nguyên ở Việt Nam từ

thời Lý đến cuối triều Lê Viết về địa lí ông có Hải Dương phong tục kí

Bình điểm và nhuận chính cho các sách Nam Trực thập lục vịnh, Lữ trung

ngâm… Viết tựa cho rất nhiều sách như Đản Trai công thi tập, Chu Dịch

quốc âm ca Trong lĩnh vực câu đối Phạm Quý Thích để lại trong rất

nhiều sách như Dụ tế huân thần, Khải tự trướng tế văn sao tập, Bạch Mã

từ tam giáp hương lệ, Phạm Lập Trai liên văn… Còn về thể loại truyện,

ông được Nguyễn Văn Huyền nhận xét thể tài “truyện” của như sau: “…

Tân truyền kì lục của Phạm Quý Thích đã thổi một luồng sinh khí mới vào

thể loại “truyện”, đem đến cho độc giả một dấu ấn khó phai”

3.2.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ Những hình dung từ và những từ láy được ông sử dụng hết sức uyển chuyển và đều mang lại hiệu quả làm tăng sức biểu cảm của câu thơ Cách thường xuyên sử dụng những từ láy, hình dung từ là đặc

điểm tiêu biểu trong thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích Với lời lẽ ngôn từ bình dị, hình ảnh gần gũi thân thuộc nhưng thơ Phạm Quý Thích vẫn toát lên sự cao quý bác học

3.2.3 Bút pháp miêu tả

Thơ Phạm Quý Thích vẫn theo phong cách truyền thống, nhưng lại mang đậm dấu ấn cá nhân Với bút pháp nghệ thuật của mình, Phạm Quý Thích cho chúng ta thấy sức cuốn hút của thế giới tâm hồn và một thế giới thiên nhiên đầy màu sắc

3.3 Tiểu kết chương 3

Nhưng thành công nhất trong cuộc đời trước tác của Phạm Quý

Thích là mảng thơ chữ Hán

Bằng tư duy của mình, cho dù đối tượng được miêu tả là cảnh hay tình thì thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích luôn có ba nội dung chính là phản ánh hiện thực xã hội và đời sống của nhân dân; phản ánh sự đấu tranh nội tâm kẻ sĩ và tình yêu thiên nhiên đất nước

1.2.3.2 Các trước tác thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích

Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu thơ văn Phạm

Quý Thích cũng được lưu trữ tại Cộng hòa Pháp, tiếc rằng chúng tôi

Trang 9

tình cảm với nhân dân 59 bài, thể hiện tâm sự kẻ sĩ 212 bài, hiện

thực xã hội 49 bài, 140 bài còn lại là những bài ngẫu hứng miêu tả

hoa sen, cây cỏ, tùng cúc, trúc, mai…

chưa có điều kiện để tiếp xúc với những văn bản này Những văn bản

chúng tôi hiện biết ở 4 thư viện lớn tại Hà Nội, đó là: Viện Sử học gồm

4 văn bản (kí hiệu HV), nhưng bản kí hiệu HV.542 đã bị cơ quan lưu trữ làm mất Tại Viện Văn học gồm 3 văn bản (kí hiệu HN), nhưng bản mang kí hiệu HN.13 cũng bị cơ quan lưu trữ làm mất Tại Thư viện Quốc gia Hà Nội có 2 văn bản (kí hiệu R) Tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm có 41 văn bản (kí hiệu A, AB, VHv, VHb) Trừ 2 bản đã

bị mất, số văn bản chép thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích mà chúng

tôi thống kê được là 37 tên sách gồm 49 văn bản

3.1.1 Thơ Phạm Quý Thích phản ánh hiện thực xã hội và đời sống

của nhân dân

Dù trực tiếp hay gián tiếp, chiến tranh và sự khốn cùng của người

dân luôn hiện hữu trong thơ Hoa Đường Qua thơ, Hoa Đường cho

chúng ta thấy hình ảnh đất nước chìm trong chiến tranh Những cuộc

nội chiến triền miên, lại thêm nạn ngoại xâm dày xéo Hậu quả do

những cuộc chiến đem lại là sự đổ nát, là sự đói kém, là sự bần cùng hóa,

là sự suy đồi đạo đức Nho giáo…

1.3 Tìm hiểu quan điểm chính trị của Phạm Quý Thích Nhà Nho Phạm Quý Thích sống trải qua nhiều đời vua chúa của ba triều đại (Lê - Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn) với những sự kiện và vai trò lịch sử khác nhau Nhập cuộc khi còn rất trẻ, mới 21 tuổi, Phạm Quý Thích hăm hở nhận chức Ông nghĩ “Phàm là kẻ sĩ trung thành không vì thế cùng, mà đổi thay chí khí” Và không ngừng kì vọng: “Nếu như

ông chủ tôi xuân thu thịnh vượng, hạnh nghĩa được thời, thì với đầu óc cao rộng, trí lự thông minh, đem đạo lớn uẩn súc ra thi hành, ắt nên giàu có, đâu mãi chịu nghèo hèn ” Thế mà chỉ trong một năm làm quan, Phạm Quý Thích đã có ý định xin về Ba năm sau thì ông kiên quyết xin cáo quan Nguyên nhân sâu sa là do ông chán ghét cảnh gianh trành của tầng lớp thống trị Vì giữ mình trong sạch, nêu cao đạo

đức Nho giáo, nên ông đành cáo quan ở ẩn Song trong nội tâm ông vẫn luôn day dứt về nỗi hành tàng

Những gì Phạm Quý Thích nêu ra cho thấy, ông đứng về phía người

dân, đứng về phía những số phận khổ đau, song có điều ông chưa thoát

khỏi tư tưởng của một nhà nho truyền thống, tận trung với vua Điều này

tựu trung do hệ tư tưởng Nho giáo chi phối

3.1.2 Thơ chữ Hán Phạm Quý Thích phản ánh sự đấu tranh nội

tâm kẻ sĩ

Trong thơ Phạm Quý Thích ta luôn bắt gặp sự đấu tranh bản thân

Một bên là trách nhiệm với xã hội, một bên là thói an phận lánh đời

giữ mình Hai con người ấy luôn hiện hữu trong Phạm Quý Thích

Qua sự đấu tranh nội tâm ấy người đọc thấy được tâm sự của cả một

lớp nhà Nho trong buổi giao thời

3.1.3 Thiên nhiên trong thơ Phạm Quý Thích

1.4 Tiểu kết chương 1

Đối với Phạm Quý Thích yêu quê hương đất nước cũng chính là

yêu những cảnh sắc thiên nhiên, yêu những người dân lam lũ xung

quanh mình Những bài thơ tả cảnh của ông bình dị, trong sáng, mượt

mà êm ái Song, sau những câu thơ là một miền tâm trạng, một tâm

hồn nhạy cảm luôn nặng lòng với non sông, trắc ẩn với cuộc sống

Thời đại mà Phạm Quý Thích sống được coi là một giai đoạn có nhiều biến động Phạm Quý Thích sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng Năm 1779, Phạm Quý Thích thi đỗ Tiến sĩ Sau một thời gian ngắn làm quan, chứng kiến hiện thực chốn quan trường, ông đã nhiều lần cáo quan, song tấm lòng vẫn không nguôi hoài niệm nhà Lê

3.2 Giá trị nghệ thuật trong thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích

Trang 10

Với sự nghiệp giáo dục, Phạm Quý Thích đã góp phần đào tạo được

nhiều học trò xuất sắc và họ đã có đóng góp rất lớn cho văn hóa nước nhà

VHv.146, VHv.971 có thể được khắc in khoảng sau năm Tự Đức 1848, còn bản HV.113 chưa biết cụ thể in năm nào Năm bản HV.148, R.1948, A.1455, VHv.146, VHv.971 đều có số bài là 165 bài (trừ bài

Phó Kinh Bắc chép 2 lần còn 164 bài); riêng bản HV.113 có 149 Loại

khắc in có tổng cộng 171 bài, không bổ sung cho nhóm Thảo Đường

Trong sự nghiệp sáng tác, Phạm Quý Thích đạt được nhiều thành

công, các sáng tác của ông thuộc nhiều thể loại văn học và đặc biệt là

mảng thơ chữ Hán đã được giới nghiên cứu đánh giá cao

b Về số lượng thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích

chương 2: Khảo sát văn bản thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích

2.1 Khái quát đặc điểm văn bản và nhóm văn bản Nhóm Thảo Đường, có tổng số bài lớn nhất, (gồm 850 bài), được

chọn làm nhóm cơ sở để đối chiếu Sau khi khảo sát, thống kê, so sánh,

kết quả bổ sung cho nhóm Thảo Đường là: Nhóm LTTT bổ sung 45 bài Nhóm Nam hành bổ sung 17 bài Nhóm LTTSHT bổ sung 8 bài Các bản độc lập bổ sung 109 bài cho nhóm Thảo Đường

Theo phương thức định hình văn bản, chúng tôi đã chia 49 văn bản

này thành hai loại: viết tay (43 bản) và khắc in (6 bản) ở loại viết tay

chúng tôi lại chia thành 5 nhóm văn bản

2.2 Khảo sát văn bản

Loại khắc in không bổ sung mới cho nhóm Thảo Đường

1 Nhóm Thảo Đường: gồm 9 văn bản là: A.298; HN.315-318,

Hv.76/1-3; HV.231; VHv.152; VHv.145/2; VHv.145/3-4; VHv.1465; VHv.1637 Như vậy, qua 49 văn bản mà chúng tôi đã sưu tầm và khảo sát, sau

khi loại trừ những bài không phải và bài còn tồn nghi thì tổng số thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích hiện xác định là 1029 bài

- Văn bản A.298: là bản có số lượng bài lớn nhất, tập hợp thơ của

Phạm Quý Thích qua nhiều thời kì nhất, do người đời sau sao chép

Sách do Chu Doãn Trí ở xã Dục Tú, huyện Đông Ngàn sơ biên, Ngô

Thế Vinh ở xã Bái Dương, huyện Nam Trực trùng biên, Nguyễn Văn

Siêu ở phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương hiệu san vào tháng 8 năm

Quí Sửu niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853) Văn bản A.298 chép 882 bài

Trong đó có 4 bài chép lặp 2 lần và 1 bài chép lặp 3 lần Đồng thời sau

khi khảo sát chúng tôi thấy, văn bản A.298 chép lẫn cả thơ mà người

khác viết cho Phạm Quý Thích (43 bài) Như vậy, tổng số bài của bản

A.298 là 828 bài Đây là văn bản có niên đại sao chép muộn nhất vì

chúng sưu tầm thơ của Phạm Quý Thích qua nhiều thời kì nhất

Chương 3: Tìm hiểu giá trị nội dung vμ nghệ thuật thơ

chữ hán của Phạm Quý Thích

3.1 Giá trị nội dung trong thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích

Qua thống kê số lượng tác phẩm thơ chữ Hán của Phạm Quý Thích theo chủ đề và giai đoạn sáng tác, chúng tôi thấy nội dung chủ yếu mà Phạm Quý Thích muốn đề cập xoay quanh ba nội dung chính,

đó là, phản ánh hiện thực xã hội và đời sống của nhân dân, phản ánh

sự đấu tranh nội tâm của kẻ sĩ và tình yêu thiên nhiên đất nước Theo thống kê phân loại của chúng tôi cho thấy, trong 1029 bài thơ của Phạm Quý Thích có 164 bài thù đáp với bạn bè, nói về cảnh sắc bốn mùa thay đổi và các tiết trong năm có 52 bài, thơ về cảnh sắc Thăng Long 63 bài, cảnh sắc đình đền chùa miếu mạo 86 bài, thơ vịnh sử 31 bài, hình ảnh trăng trong thơ có 173 bài, thơ thể hiện

- Văn bản HN.315-318: sách do Chu Doãn Trí ở xã Dục Tú,

huyện Đông Ngàn sơ biên, Ngô Thế Vinh ở xã Bái Dương, huyện Nam

Trực trùng biên, Nguyễn Văn Siêu ở phường Dũng Thọ, huyện Thọ

Xương hiệu san vào tháng 8 năm Quí Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 6

Ngày đăng: 04/04/2014, 17:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w