Nghiên cứu ảnh hưởng của bài tập quyền dưỡng sinh với sức khoẻ người cao tuổi nữ
Trang 1VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
Trịnh Hữu Lộc
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG BÀI TẬP QUYỀN
DƯỠNG SINH VỚI SỨC KHOẺ NGƯỜI CAO TUỔI NỮ
Chuyên ngành: GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TOM TAT LUAN AN TIEN Si GIAO DUC HOC
HÀ NỘI - 2007
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Viện khoa học TD FT
Người hướng dẫn khoa học:
Hướng dẫn 1: PGS.TS Trịnh Trung Hiếu Hướng dẫn 2: GS.BS Đỗ Đình Hồ
Phản biện 1: GS.TS Lê Văn Lẫm
Trường Đại học TDTT 2 Phản biện 2: GS.TS Phạm Thị Minh Đức
Trường Đại học Y Hà Nội Phản biện 3: GS.TS Lưu Quang Hiệp
Trường Dai hoc TDTT 1
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà
nước tại: Viện Khoa hoc TDTT
vào hồi
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1 Thư viện Quốc gia Việt Nam
2 Thư viện Viện Khoa học TDTTT
ĐẾN LUẬN ÁN
1 Trịnh Hữu Lộc, Trịnh Trung Hiếu (2002),“ Khái quát quá trình hình
thành và phát triển phong trào thể dục dưỡng sinh thành phố
Hồ Chí Minh ”, tạp chí Khoa học Thể thao, thường kỳ số 2,
tr 33 — 34
2 Trịnh Hữu Lộc, Ngô Đức Nhuận (2004),“ Nghiên cứu chức năng tim
mạch, hô hấp trước và trong vận động Ở người tập Thái cực trường sinh ”, tạp chí Khoa học Thể thao, thường kỳ số I1,
tr 22 — 26
3 Trịnh Hữu Lộc, Trịnh Trung Hiếu (2006),“ Nghiên cứu dnh hudng
của bài tập Thái cực quyền đối với người cao tuổi ` Khoa học Thể thao, thường kỳ số 1, tr 22 - 25
', tạp chí
Trang 3dụng tốt đến chức năng sinh lý: Tần số thở giảm, thể tích khí lưu thông
và thông khí phút tăng; tần số tim hồi phục và chỉ số oxy mạch tăng:
thể tích oxy tiêu thụ tối đa và năng lượng tiêu thụ trong 1 phút tăng
Tập Thái cực trường sinh theo phương pháp cải tiến còn có tác
dụng với: tần số tim giảm, huyết áp ổn định và có hiệu quả rõ hơn ở
các chỉ số: tần số thở, thể tích khí lưu thông, thông khí phút; tần số tim
hồi phục, chỉ số oxy mạch; thể tích oxy tiêu thụ tối đa và năng lượng
tiêu thụ tối đa trong 1 phút
KIẾN NGHỊ:
1 Do tính phù hợp và hiệu quả của bài tập Thái cực quyền và
Thái cực trường sinh với sức khoẻ người cao tuổi nữ, ngành TDTT cần
kết hợp với Hội người cao tuổi phổ cập bài tập rộng rãi trên toàn quốc,
động viên người cao tuổi kiên trì tập luyện và kết hợp với ngành y tế
để tư vấn chế độ dinh dưỡng, chế độ tập luyện phù hợp với thể tạng và
sức khỏe của người cao tuổi nữ
2 Phổ cập phương pháp tập luyện cải tiến cho người cao tuổi nữ
tập Thái cực quyền và Thái cực trường sinh để người tập kết hợp luyện
động tác với luyện thở khi thực hiện bài tập
3 Ngành TDTT cần mở rộng các vấn đề nghiên cứu phạm vi
rộng với nhiều nhóm tuổi trung niên, người già, người cao tuổi nam và
tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chương trình, kế hoạch, nội dung,
phương pháp tập luyện cải tiến bài Thái cực quyền và Thái cực trường
sinh
PHẦN MỞ ĐẦU
Chăm sóc cho người cao tuổi (NCT) là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của toàn xã hội, là sự thể hiện đạo lý của người Việt Nam “kính già, yêu trẻ” Tuy nhiên dưới góc độ TDTT quan tâm đến việc nghiên cứu cho đối tượng này thì còn quá ít di Boi vay viéc
Nghiên cứu ảnh hưởng của bài tập quyền dưỡng sinh đối với sức khoẻ người cao tuổi” đã trở nên bức xúc, cần có minh chứng khoa học
để từ đó lôi cuốn càng đông người cao tuổi vào hoạt động chăm lo tuổi già, sống trường thọ, sống hữu ích cho xã hội
Mục đích chủ yếu của đề tài là xác định hiệu quả của bài tập và
phương pháp tập luyện Thái cực quyền (TCQ), Thái cực trường sinh
(TCTS) với sức khoẻ người cao tuổi nữ Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài giải quyết các mục tiêu sau:
I Đánh giá thực trạng phong trào tập luyện dưỡng sinh, tính
chất và thời gian tập luyện Thái cực quyền, Thái cực trường sinh
2 Xác định ảnh hưởng của bài tập Thái cực quyền và phương pháp tập luyện với sức khoẻ người cao tuổi nữ
3 Xác định ảnh hưởng của bài tập Thái cực trường sinh và phương pháp tập luyện với sức khoẻ người cao tuổi nữ
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN:
- Xây dựng phương pháp tập luyện cải tiến giúp người tập kết
hợp được luyện động tác với luyện thở, góp phần nâng cao hiệu quả của tập luyện TCQ và TCTS ở người cao tuổi nữ
- Xác định bài quyền dưỡng sinh là phương tiện tập luyện được người cao tuổi ưa thích; chứng minh bài tập thuộc miền ưa khí phù hợp
với người cao tuổi
- Xác định hiệu quả của bài tập với sức khoẻ người cao tuổi thông qua thời gian và phương pháp tập luyện Thời gian tập luyện TCQ và TCTS càng lâu năm càng có tác dụng với chức năng cơ thể;
nếu tập theo phương pháp cải tiến thì hiệu quả sẽ rõ rệt hơn.
Trang 4CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN:
Luận án được trình bày trong 147 trang bao gồm phần: Phần mở
đầu; Các nội dung chính của luận án: Chương I: Tổng quan vấn đề
nghiên cứu (36 trang), Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu
(12 trang), Chương 3: Kết quả nghiên cứu (62 trang), Chương 4: Bàn
luận kết quả nghiên cứu (23 trang); Phần kết luận và kiến nghị (2
trang) Trong đó luận án có 65 bảng và 17 biểu đồ Ngoài ra, luận án đã
sử dụng 102 tài liệu tham khảo trong đó có 96 tài liệu viết bằng tiếng
Việt, 6 tài liệu tiếng Trung và Phần phụ lục
Chương 1 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Phần tổng quan nghiên cứu đã tiếp cận một số vấn đề sau:
- Số lượng người cao tuổi ngày càng tăng, tuổi thọ ngày cang cao
Hoạt động chăm lo tuổi già, sống trường thọ, sống hữu ích là trách
nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của toàn xã hội, là sự thể hiện đạo lý
của người Việt Nam “ kính lão, đắc thọ”
- Đặc tính chung của sự hóa già là tính không đồng thời và không
đồng tốc, có người già sớm, có người già muộn, có người già về trí lực,
có người già về thể lực Tình trạng thiếu oxy là một đặc điểm quan
trọng của tuổi già Ngoài những biến đổi do sự hoá già, người cao tuổi
nữ còn có những biến đổi tâm sinh lý nặng nề hơn do tác động của hiện
tượng mãn kinh Để làm chậm quá trình lão hoá có nhiều phương pháp,
nhiều cách; trong đó tập luyện dưỡng sinh là hoạt động tích cực để duy
trì sức khoẻ làm cho cuộc sống vui tươi hạnh phúc Ở người cao tuổi cần
có sự kiên trì, vận động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ
và đảm bảo các nguyên tắc TDTT là quyết định cho sự kéo dài tuổi thọ,
phòng chống bệnh tật
- Qua nghiên cứu lý luận phương pháp dưỡng sinh cổ xưa và hiện
đại, có rất nhiều phương tiện tập luyện, nhưng được ưa thích và có hiệu
quả thực tiễn trong dân gian là các bài tập có tính chất nhu quyền như
bài TCQ, TCTS vì bài tập có những đặc điểm mang triết lý Phương
Về năng lượng tiêu thụ: Kết quả cho thấy giá trị trung bình
(EEmmax) cũng tăng theo thời gian tập luyện và khả năng phối hợp thở đúng khi thực hiện bài tập Điều này phù hợp, bởi vì năng lượng cung
cấp cho cơ thể vận động trong TCQ, TCTS được cung cấp chủ yếu từ
nguồn chuyển hoá năng lượng ưa khí nên năng lượng tiêu thụ phụ thuộc
vào thể tích oxy tiêu thụ
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN :
1 Qua phân tích đánh giá thực trạng tập luyện thể dục dưỡng
sinh; tính chất, thời gian tập luyện Thái cực quyền và Thái cực trường sinh rút ra một số kết luận sau:
- Bài Thái cực quyền và Thái cực trường sinh là phương tiện tập luyện dưỡng sinh phù hợp với người cao tuổi nỡ do bài tập ở miền ưa khí
- Thời gian tập luyện Thái cực quyền và Thái cực trường sinh càng lâu năm càng có tác dụng đối với chức năng cơ thể như : Độ dẻo
gập thân, độ dãn ngực; tần số thở, thể tích khí lưu thông, thông khí phút; tần số tim hồi phục, thể tích ôxy tiêu thụ tối đa và năng lượng tiêu thụ tối đa trong 1 phút
2 Tập luyện Thái cực quyền theo phương pháp phổ cập có tác
dụng duy trì tốt các chức năng sinh lý: Tần số thở giảm, thể tích khí lưu thông và thông khí phút tăng: tần số tim hồi phục và chỉ số oxy mạch tăng: thể tích oxy tiêu thụ tối đa và năng lượng tiêu thu tối đa trong 1
phút tăng
Tập thái cực quyền theo phương pháp cải tiến còn có tác dụng với chức năng tuần hoàn: tần số tim giảm, huyết áp ổn định và có hiệu quả rõ rệt hơn ở các chỉ số: tần số thở, thể tích khí lưu thông, thông khí phút; huyết áp, chỉ số oxy mạch; thể tích oxy tiêu thu tối đa và năng
lượng tiêu thụ trong 1 phút
3 Tập Thái cực trường sinh theo phương pháp phổ cập có tác
Trang 5trì sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ ở người cao tuổi
- Với chức năng tim mạch
Kết quả phân tích bằng phương pháp toán thống kê cho thấy chỉ
số VOz/HR tăng theo thời gian tập luyện và phương pháp tập luyện Vi
dụ: trong nhóm 2K, sau môt năm tập luyện bài TCQ tăng 0,35 ml/nh,
nhịp tăng trưởng 5,40%; ở nhóm 2H cũng sau một năm tập luyện tăng
1,27 ml/nh, nhịp tăng trưởng 16,84% Điều này chứng tỏ dưới tác động
của tập luyện TCQ và TCTS chức năng vận chuyển oxy của hệ tim
mạch được tăng cường Nếu biết phối hợp hít thở đúng với nhịp động tác
giúp cho khả năng trao đổi oxy ở phối tăng, dẫn tới lượng oxy từ môi
trường qua phế nang tăng, oxy theo tĩnh mạch phổi về tim và được tim
bơm vào động mạch chủ đi nuôi cơ thể Như vậy, chức năng vận chuyển
máu cung cấp oxy cho tế bào của hệ tim mạch tốt hơn
- Với chức năng chuyển hóa năng lượng:
Về thể tích oxy tiêu thụ: thể tích oxy tiêu thụ phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khác nhau, trong đó chủ yếu phụ thuộc vào chức năng của hệ hô
hấp tim mạch, máu tham gia vận chuyển oxy từ môi trường bên ngoài
tới tế bào và khả năng hấp thụ oxy của tế bào
Khả năng hấp thụ oxy của tế bào chủ yếu dựa vào thời gian tập
luyện và khả năng phối hợp thở đúng khi thực hiện bài tập Điều này thể
hiện thông qua chỉ số (VO;max) Ví dụ: giá trị VOsmax ở nhóm | tập
TCQ là 727,41 + 61,04 ml/ph; nhóm 2K (VO;max) là 788,52 + 39,41
ml/ph, sau một năm tập luyện tăng 33,05ml/ph; nhóm 2H biết phối hợp
nhịp nhàng giữa hít vào và thở ra phù hợp với từng động tác của bài tập
(VO;max) là 825,67 + 53,45 ml/ph sau một năm tập luyện tăng 941,27 +
69,07 ml/ph Tuy nhiên, ở người cao tuổi (VO;max) cũng chỉ tăng đến
mức giới hạn nào đó thì dừng, chứ không thể tăng tiếp theo thời gian và
trình độ tập luyện được Do đề tài chỉ tiến hành thực nghiệm một năm,
nên chưa thể xác định được mức độ tăng (VO; max) đến khi nào thì
dừng
đông sâu sắc và cần được chứng minh khoa học
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp
phân tích, tổng hợp tài liệu; phương pháp điều tra bằng phiếu; phương
pháp nhân trắc học; phương pháp trắc nghiệm tâm lý; phương pháp kiểm tra sư phạm; phương pháp thực nghiệm sư phạm (Nhóm tập theo phương pháp phổ cập: chủ yếu luyện kỹ thuật động tác, hít thở tự
nhiên Nhóm tập theo phương pháp cải tiến: chú ý kết hợp động tác với
nhịp thở trong lúc thực hiện bài tập) ; phương pháp kiểm tra y sinh học
(có sử dụng máy chẩn đoán chức năng Cosmcd của Italia, là thiết bị để
đo lường và theo dõi trực tiếp những biến đổi chức năng về hô hấp, tim
mạch và chuyển hóa năng lượng trong suốt quá trình vận động);
phương pháp toán thống kê
2.2 Tổ chức nghiên cứu:
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên
đối tượng là người cao tuổi nữ, tuổi từ 60 - 65 tuổi gồm:
- Các nhóm đối tượng nghiên cứu tập TCQ: nhóm I (nhóm tập từ
I - 3 năm) với số lượng 39 người; nhóm 2 (nhóm tập từ 3 năm trở lên)
øồm: nhóm đối chứng (2K), luyện tập thở tự nhiên tuỳ theo khả năng, với số lượng 21 người và nhóm thực nghiệm (2H), luyện động tác kết hợp với thở, với số lượng 15 người
- Các nhóm đối tượng nghiên cứu tập TCTS: nhóm I (nhóm tập
từ 1 - 3 năm) số lượng 37 người; nhóm 2 (nhóm tập từ 3 năm trở lên)
øồm: nhóm đối chứng (2Ð), luyện tập thở tự nhiên tuỳ theo khả năng, với số lượng 20 người và nhóm thực nghiệm (2T), luyện động tác kết hợp với thở, số lượng 17 người
2.2.2 Địa bàn nghiên cứu: Các Câu lạc bộ sức khoẻ người cao tuổi
ở thành phố Hồ Chí Minh
2.2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ 26/12/2002 — 26/12/2005
Trang 6CHƯƠNG 3: KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá thực trạng tập luyện thể dục dưỡng sinh , tinh chat va
thời gian tập luyện Thái cực quyền, Thái cực trường sinh:
3.1.1 Thực trạng phong trào tập luyện thể dục dưỡng sinh:
- Số lượng người tham gia tập luyện TCO và TCTS:
Người tập TCQ năm 2004 tăng 265 người so với năm 2003,
chiếm tỉ lệ 13,79%, người tập TCTS tăng 70 người, chiếm tỉ lệ 6,75%;
tập trung ở lứa tuổi 60 - 69; số lượng nỡ tham gia nhiều hơn nam ở các
lứa tuổi và người cao tuổi đến tập luyện với 2 mục đích vừa nâng cao
sức khoẻ vừa chữa bệnh (TCQ là 57,33% và TCTS là 63,51%)
- Đánh giá khả năng tập luyện của đối tượng nghiên cứu:
Kết quả khảo sát cho thấy: trong số 75 người tập TCQ, có 42
người thực hiện động tác thuần thục chiếm tỉ lệ 56%, chưa thuần thục
chiếm tỉ lệ 44% và trong 74 người tập luyện TCTS, có 40 người thực
hiện động tác thuần thục chiếm tỉ lệ 54,05%, chưa thuần thục chiếm tỉ
lệ 45,95% và không có người nào chú ý phối hợp thở đúng với qui định
của bài tập Số chưa thực hiện thuần thục động tác tập trung ở những
người có thời gian tập luyện từ I — 3 năm
3.1.2 Đánh giá tình trạng sức khoẻ người tập:
Đề tài lựa chọn các chỉ tiêu để đánh giá thực trạng sức khoẻ
người tập gồm: Chỉ số BMI, độ dãn ngực, test đứng cúi gập thân, tần số
tim, huyết áp, test trí nhớ thị giác Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Đối tượng nghiên cứu tập TCQ và TCTS ở cả 2 nhóm có thể
tạng ở mức béo (BMI > 23,6) và độ dãn lồng ngực kém hơn so với các
lứa tuổi (1,70cm — 1,89cm), điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng hô
hấp của người cao tuổi
- Huyết áp của 2 nhóm nghiên cứu tập luyện TCQ và TCTS ở
mức huyết áp cao giai đoạn I (huyết áp tối đa: 142,86mmHg -
144,59mmHg, huyết áp tối thiểu: 82,53mmHg - 83, 97mmHg)
- Độ dẻo gập thân tốt hơn người bình thường cùng lứa tuổi ( của
- Với năng lực trí nhớ:
Kết quả cho thấy, hiệu suất trí nhớ thị giác cao nhất trong các
nhóm thực nghiệm đạt dưới mức trung bình (37,38 + 12,81%) Sau một năm tập luyện hiệu suất trí nhớ là 38,41 + 13,52% (tăng 1,03%) và không có ý nghĩa thống kê Theo qui luật lão hóa trí nhớ người cao tuổi
kém đần và việc duy trì trí nhớ cho người cao tuổi là vấn đề khó khăn
Qua tập luyện giá trị năng lực trí nhớ ngắn hạn có chiều hướng tăng mặc dù mức độ tăng trưởng ít, nhưng đó là dấu hiệu tác động tích cực đến trí nhớ của người cao tuổi khi tập bài TCQ và TCTS
- Với các dấu hiệu chủ quan ăn uống, tỉnh thần, giấc ngủ và tiến
triển bệnh:
Tập TCQ, TCTS theo phương pháp cải tiến hay phương pháp
phổ cập đều cảm thấy ăn uống ngon miệng, tính thần sảng khoái, giấc
ngủ tốt hơn và bệnh tật thuyên giảm Tuy nhiên hai phương pháp không
có sự khác biệt rõ rệt để tăng cường cải thiện sức khoẻ tâm lý Có thể
do thời gian thực nghiệm chỉ tiến hành một năm nên sự tác động phương pháp tập luyện đến sức khoẻ tâm lý chưa có sự khác biệt rõ rệt 4.6 Tác động TCQ và TCTS với chức năng sỉnh lý của người cao
tuổi:
- Với chức năng hô hấp:
Về tần số thở, kết quả nghiên cứu cho thấy tần số thở của người
tập chậm đần theo thời gian tập luyện, thời gian tập luyện càng dài, trình độ tập luyện càng cao thì nhịp thở càng chậm Ví dụ: nhóm | tập
TCTS có tần số thở là 13,68 + 1,96 nh/ph; nhóm 2Ð có nhịp thở trung
bình chậm hon 9,75 + 1,02nh/ph, nhóm có trình độ tập luyện cao hơn là
nhóm biết phối hợp thở đúng, phù hợp với động tác (nhóm 2T) có tần
số thở rất chậm 9,06 + 0,83 nh/ph Nhịp thở chậm thể hiện thì hít vào
và và thở ra kéo dài, hơi thở sâu hơn, nhịp thở chậm phù hợp với phương pháp thở bằng cơ hoành trong tập luyện TCQ và TCTS Như
vậy, có thể kết luận tập TCQ, TCTS cải thiện nhịp thở, góp phần duy
Trang 7nguồn oxy hoá các chất hữu cơ như đường, mỡ Thông thường những
bài tập nhẹ, chỉ cần sử dụng nguồn năng lượng chuyển hóa ưa khí là
đủ Đối với những bài tập trung bình và nặng thì nhu cầu năng lượng
phải vừa nhanh vừa lớn, do đó cần phải sử dụng cả nguồn năng lượng
yếm khí và ưa khí Qua kiểm tra trên 100 người cao tuổi nữ thực hiện
bài TCQ và TCTS chúng tôi không thấy trường hợp nào phải sử dụng
năng lượng từ 2 nguồn ưa khí và yếm khí (thương số hô hấp R < 1) Từ
kết quả nghiên cứu trên có thể đi đến kết luận bài TCQ và bài TCTS là
loại bài tập nhẹ, phù hợp với sức khoẻ người cao tuổi
Về tình trạng huyết áp của các đối tượng nghiên cứu thì đa số có
chỉ số huyết áp cao giai đoạn I, tuy nhiên nhóm đối tượng này vẫn duy
trì tập TCQ, TCTS thường xuyên và chưa có trường hợp nào bị tai biến
trong tập luyện Có thể bài TCQ, TCTS là vừa sức với những người
cao tuổi có huyết áp cao giai đoạn 1
4.4 Tác động của tập luyện TCQ và TCTS với hệ cơ xương khớp
của người cao tuổi nữ:
Kết quả kiểm tra cho thấy giá trị trung bình thấp nhất của test
đứng cúi gập thân ở đối tượng nghiên cứu tập TCQ là 7,13 + 4,10em và
của đối tượng tập TCTS là 7,05 + 3,97cm Theo Nguyễn Toán (2000),
tiêu chuẩn đánh giá năng lực gập thân về trước sẽ giảm đần theo lứa
tuổi, đến lứa tuổi 50 đạt từ O cm trở xuống âm, so sánh với tiêu chuẩn
này thì độ dẻo gập thân của người cao tuổi nữ thường xuyên tập luyện
TCQ, TCTS tốt hơn so với người không tập Ngoài ra, chứng bệnh hay
gặp ở người cao tuổi như viêm đa khớp mạn tính, đau lưng, đau khớp
gối thông qua tập TCQ, TCTS đã có những dấu hiệu thuyên giảm,
giảm nhiều nhất là chứng đau lưng Như vậy, dưới tác động của tập
luyện TCQ, TCTS chức năng vận động cơ, xương khớp được cải thiện
hơn so với người không tập luyện
4.5 Tác động của tập luyện TCQ va TCTS với sức khỏe tâm lý người
we
cao tuổi nữ:
nhóm tập TCQ là 7,13 - 9,47cm và nhóm tập TCTS là 7,14 - 7,22cm)
- Nang lực trí nhớ của 2 nhóm nghiên cứu tập TCQ: là 30,85%
— 36,08% và ở nhóm tập TCTS là 27,61 - 32,53% (năng lực trí nhớ đạt dưới mức trung bình)
3.1.3 Xác định tính chất của bài tập TCQ và TCTS:
Thông qua thương số hô hấp (R = VCO;/ VO;) để xác định miền chuyển hoá (ưa khí hay yếm khí) của bài tập TCQ, TCTS Kết quả nghiên cứu cho thấy trong suốt thời gian thực hiện bài tập thương số hô hấp (R) của nhóm 1 và nhóm 2 đều nhỏ hơn 1, có nghĩa là thể tích tiêu
thụ oxy (VO;) lớn hơn thể tích cacbonic thở ra (VCO¿), chứng tổ bài tập được thực hiện trong điều kiện chuyển hóa ưa khí
3.1.4 Xác định sự ảnh hưởng của thời gian tập luyện Thái cực quyền
(TCQ) với sức khoẻ người cao tuổi nữ:
3.1.4.1 Ảnh hưởng của thời gian tập luyện TCQ với hình thái và năng
lực thể chất : Kết quả nghiên cứu cho thấy: giá trị của test đứng cúi gập thân
về trước ở nhóm 2 lớn hơn nhóm 1 là 2,34cm (P < 0,05) Các chỉ số như
BMI và độ dãn lồng ngực của 2 nhóm nghiên cứu, sự khác biệt không
có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)
3.1.4.2 Ảnh hưởng của thời gian tập luyện TCQ với chức năng sinh lý:
- Với chúc năng hô hấp:
Thông qua tác động của thời gian tập luyện, giá trị các chỉ số đánh giá chức năng hô hấp ở 2 nhóm nghiên cứu có sự khác biệt tích cực: tần số thở ở nhóm 2 chậm hơn nhóm I1 là 2,71 nh/ph; thể tích khí lưu thông lớn hơn 0,22 lít; thông khí phút lớn hơn 2,12 l/ph (P < 0,05)
- Với chúc năng tuần hoàn:
Giá trị các chỉ số đánh giá chức năng tuần hoàn của nhóm 1 và nhóm 2 có sự khác biệt tích cực theo thời gian tập luyện: tần số tim hồi
phục ở nhóm 2 lớn hơn nhóm 1 là 1,53 lần/ph; thể tích oxy tiêu thụ/
mạch lớn hơn 0,62 ml/nh (P < 0,05) Các chỉ số khác như: tần số tim,
Trang 8huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu, tần số tim tối đa cũng có sự khác
biệt theo hướng tích cực, nhưng không có ý nghĩa thống kê (P >0,05)
- Với chức năng trao đổi chất:
Các chỉ số sinh lý đánh giá chức năng trao đổi chất ở nhóm có
thời gian tập luyện lâu năm lớn hơn so với nhóm mới tập: thể tích tiêu
thụ oxy tối đa của nhóm 2 lớn hơn nhóm 1 là 76,59 ml/ph; năng lượng
tiêu thụ tối đa lớn hơn 0,51Kcal/ph (P < 0,05) Nhu vậy, người tập TCQ
lâu năm hơn thì chức năng trao đổi chất tốt hơn người mới tập
3.1.4.3 Ảnh hưởng của thời gian tập luyện TCQ với năng lực trí nhớ:
Năng lực trí nhớ ở nhóm có thời gian tập luyện lâu năm lớn hơn
5,22% so với nhóm mới tập nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống
kê (P < 0,05) Như vậy, năng lực trí nhớ không có sự khác biệt rõ rệt
theo thời gian tập luyện
3.1.5 Xác định sự ảnh hưởng của thời gian tập luyện Thái cực trường
sinh với sức khoẻ người cao tuổi nữ:
3.1.5.1 Ảnh hưởng của thời gian tập luyện TCTS với hình thái cơ thể và
năng lực thể chất:
Kết quả nghiên cứu cho thấy: giá trị trung bình các chỉ số hình
thái và test đứng cúi gập thân của 2 nhóm có sự khác biệt theo hướng
tích cực nhưng không có ý nghĩa thống kê (P < 0,05)
3.1.5.2 Ảnh hưởng của thời gian tập luyện TCTS với chức năng:
- Với chúc năng hô hấp:
Thông qua tác động của thời gian tập luyện, giá trị các chỉ số
đánh giá chức năng hô hấp ở 2 nhóm đối tượng nghiên cứu có sự khác
biệt theo hướng tích cực: tần số thở (Rf) ở nhóm 2 chậm hơn nhóm 1 là
2,63 nh/ph; thể tích khí lưu thông (VT) lớn hơn 0,35 lít; thông khí phút
(VE) lớn hon 1,74 I/ph (P < 0,05)
- Với chúc năng tuần hoàn:
Giá trị các chỉ số: tần số tim hồi phục (HRrec) ở nhóm 2 lớn hơn
nhóm 1 là 2,08 lần/ph; thể tích oxy tiêu thụ/ mạch (VOz/HR) lớn hơn
người cao tuổi phải luyện từ 3 năm trở lên và hầu hết không phối hợp
được thở đúng với nhịp động tác của bài tập Do đó cần xây dựng
phương pháp huấn luyện hợp lý dễ tiếp thu, có thể chỉ nên hướng dẫn
tập một phân đoạn hoặc nhiều phân đoạn của bài tập để giảm bớt thời
gian học động tác, chủ yếu tập trung vào hướng dẫn phối hợp thở đúng
theo nhịp động tác nhằm phát huy hiệu quả của bài tập
4.2 Tác động của tập TCQ và TCTS với hình thái cơ thể người cao
tuổi nữ:
- Chỉ số BMI của đối tượng nghiên cứu tập TCQ ở nhóm 2H và
2K có giá trị 23,55-23,89kg/m, sau một năm tập luyện giảm còn 23,48
- 23,69 kg/m” Nhóm 2T và 2Ð tập TCTS có giá trị 24.74- 25,74 kg/m, sau một năm tập luyện giảm còn 24,51 - 25,06 kg/m’ Ở giới tính nỡ nếu BMI>23,6 là thể tạng ở mức béo và tập luyện TCQ, TCTS cũng không cải thiện được cân nặng Với người cao tuổi sự tăng cân không giúp ích gì cho sức khoẻ mà thêm gánh nặng Béo bệu thường là bạn đường của tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, tiểu đường Do vậy,
song song với việc tập luyện cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý nhằm
tăng cường sức khoẻ và phòng bệnh tật
- Độ dãn lồng ngực của đối tượng nghiên cứu có giá trị trung bình
từ 1,70 — 1,88em Qua một năm tập luyện TCQ, TCTS độ dãn lồng ngực có sự biến đổi tích cực nhưng với mức không cao chỉ tăng 0,43 —
1,18cm Theo Phạm Đình Lựu (2004), nếu cơ hoành hạ xuống lcm thì
lượng khí hít vào sẽ tang 250ml Do vậy trong công tác huấn luyện cần
kết hợp động tác với nhịp thở, chủ yếu thở bằng cơ hoành nhằm tăng
cường khả năng hô hấp cho người cao tuổi nữ
4.3 Tính phù hợp của bài TCQ và TCTS với sức khoẻ người cao tuổi
nữ:
Kết quả cho thấy: quá trình trao đổi chất cung cấp năng lượng cho vận động tập luyện TCQ, TCTS đều được thực hiện trong miền
chuyển hoá ưa khí, nghĩa là năng lượng cung cấp cho vận động từ
Trang 9- Với chức năng trao đổi chất:
Sau thời gian thực nghiệm một năm chỉ số thể tích oxy tiêu thụ
tối đa và năng lượng tiêu thụ tối đa trong I phút ở nhóm 2T có nhịp tăng
trưởng cao hơn nhóm 2Ð và sự khác biệt trong tăng trưởng có ý nghĩa
thống kê (P < 0,05)
3.3.4.3 So sánh sự khác biệt giữa hai phương pháp tập luyện với sức
khoẻ tâm lý:
- Với năng lực trí nhớ:
Sau thời gian thực nghiệm một năm giá trị của test đánh giá năng
lực trí nhớ ở nhóm 2T có nhịp tăng trưởng cao hơn nhóm 2Ð Sự khác
biệt không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)
- Với các dấu liệu chủ quan về ăn uống, tỉnh thần và giấc ngủ:
Sau một năm tập luyện TCTS sự khác biệt giữa phương pháp cải
tiến và phương pháp phổ cập không có ý nghĩa thống kê trong việc cải
thiện các cảm giác ăn uống, tỉnh thần và giấc ngủ
-_ Với tiến triển các nhóm bệnh:
Sau một năm tập luyện TCTS, sự khác biệt giữa phương pháp cải
tiến và phương pháp phổ cập không có ý nghĩa thống kê với tiến triển
của các nhóm bệnh
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU
4.1 Thực trạng phong trào tập luyện dưỡng sinh ở Thành phố Hồ
Chí Minh:
Số lượng người tập TCQ và TCTS ngày càng tăng, trong đó số
Cụ bà tập nhiều hơn Cụ ông, đa số ở lứa tuổi 60 -65 Điều này chứng tỏ
tập luyện TCQ, TCTS có ảnh hưởng tốt cho sức khoẻ tính thần, đem lại
cho người tập cảm giác vui vẻ và có ý nghĩa trong cuộc sống nên nhiều
người rủ nhau cùng tham gia tập luyện Còn lý do tại sao Cụ ông
không đến với thể dục dưỡng sinh, theo chúng tôi có thể ở lứa tuổi này
còn đủ sức để tập luyện các môn thể thao khác
Qua kết quả điều tra, để thực hiện thuần thục bài tập TCQ,TCTS
nhóm I là 2,08 lần/ph; thể tích oxy tiêu thụ/ mạch(VO;/HR) lớn hơn
nhóm I1 là 1,04 ml/nh, có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) Các chỉ số khác như: tần số tim (HR), huyết áp tối đa (HAmax), huyết áp tối thiểu (HAmnn), tần số tim tối đa (HRmax) không có sự khác biệt rõ rệt theo
thời gian tập luyện (P > 0,05)
- Với chức năng trao đổi chất:
Giá trị trung bình các chỉ số: thể tích tiêu thụ oxy tốiđa (VO,
max) nhóm 2 lớn hơn nhóm I là 124,11 ml/ph; năng lượng tiêu thụ tối
đa (EEmmax) nhóm 2 lớn hơn nhóm 1 là 0,82Kcal/ph, có ý nghĩa thống
kê (P < 0,05) Như vậy, tập TCTS lâu năm hơn thì chức năng trao đổi
chất sẽ tốt hơn
3.1.5.3 Ảnh hưởng của thời gian tập luyện TCTS với năng lực trí nhớ: Giá trị năng lực trí nhớ ở nhóm tập luyện lâu năm lớn hơn 4,92%
so với nhóm mới tập, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>
0,05)
3.2 Xác định ảnh hưởng của tập luyện Thái cực quyền và phương
pháp tập luyện với sức khoẻ người cao tuổi nữ:
3.2.1 Xác định ảnh hưởng của tập luyện Thái cực quyền theo phương pháp cải tiến với sức khoẻ người cao tuổi nữ:
3.2.1.1 Với hình thái và năng lực thể chất:
Các chỉ số hình thái và năng lực thể chất của nhóm 2H sau một
năm tập TCQ có sự biến đổi tích cực: vòng ngực hít vào tang 0,93cm, nhịp tăng trưởng 1,16%; độ dãn ngực tăng 1,03cm, nhịp tăng trưởng 46,21%; độ dẻo gập thân về trước tăng 1,53cm, nhịp tăng trưởng
14,46% (P < 0,05) Riêng chỉ số BMI và vòng ngực thở ra cũng có dấu
hiệu cải thiện, nhưng không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)
3.2.1.2 Với chức năng sinh lý :
- Với chức năng hệ hô hấp: (bảng 3.25)
Trang 10Bang 3.25: So sánh sự biến đổi các chỉ số đánh giá chức năng hô hấp
của nhóm 2H sau một năm tập TCQ
CHỈ S Ố Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm d Wd P
x G E xX G €
Rf (nh/ph) 15,53 | 1,19 | 0,04 12,40 | 0,91 0,04 -3,13 22,36 | <0,05
VT (1) 1,40 |} 0,11 | 0,04 1,72 0,11 0,04 0,32 20,34 | <0,05
VE ( l/ph) 27,60 | 2,47 | 0,05 32,93 2,60 | 0,04 5,33 17,68 | <0,05
Sau một năm tập luyện bài TCQ theo phương pháp cải tiến, các
chỉ số đánh giá chức năng hô hấp của nhóm 2H có sự tăng trưởng rõ rệt
từ 17,68 - 22,36% (P< 0,05)
- Với chức năng hệ tuần hoàn: (bảng 3.26)
Bảng 3.26: So sánh sự biến đổi các chỉ số đánh giá chức năng tuần hoàn
của nhóm 2H sau một năm tập TCQ
CHỈ SỐ | Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm d W% P
(n = 15) (n = 15)
xX G 8 a G 6
HR 80,80 7,87 0,05 78,27 6,98 0,05 -2,53 3,12 < 0,05
(lần/ph)
HAmax 145,47 12,31 0,05 140,33 11,54 0,05 -5,13 3,57 < 0,05
(mmHg)
HAmin 83,00 7,05 0,05 79,47 6,09 0,04 -3,53 4,29 < 0,05
(mmHg)
HRmax 119,40 11,39 0,05 122,47 12,15 0,05 3,07 2,49 > 0,05
(lần/ph)
HRrec 16,33 1,05 0,04 17,07 0,88 0,03 0,73 4,45 < 0,05
(lần/ph)
VO;/HR 6,84 0,71 0,05 8,11 0,84 0,05 1,27 16,84 < 0,05
(ml/nh)
Các chỉ số đánh giá chức năng tuần hoàn của nhóm 2H sau một
năm tập luyện bài TCQ có sự biến đối tích cực: tần số co bóp của tim,
huyết áp tối đa tăng trưởng, huyết áp tối thiểu, tần số tim hồi phục,
chỉsố oxy/mạch tăng trưởng từ 3,12 - 16,84% (P < 0,05) Riêng tần số
tim tối đa sự khác biệt trong tăng tiến không ý nghĩa thống kê
(P>0,05)
và 15/20 người cảm thấy giấc ngủ tốt hơn chiếm tỉ lệ 75,00%
- Với sự tiến triển các nhóm bệnh:
Sau một năm tập TCTS với phương pháp phổ cập tiến triển các
nhóm bệnh của nhóm 2Ð như sau: nhóm bệnh thần kinh giảm tỉ lệ 58,33%, nhóm bệnh tim mạch giảm 62,50%, nhóm bệnh hô hấp giảm 44,44%, nhóm bệnh khớp giảm 53,33%, bệnh tiêu hóa giảm 55,55% 3.3.4 So sánh sự khác biệt giữa hai phương pháp tập luyện Thái cực trường sinh với sức khoẻ người cao tuổi nữ:
3.3.4.1 Với hình thái, năng lực thể chất:
Sau thời gian thực nghiệm một năm thì vòng ngực hít vào hết, độ dãn ngực ở nhóm 2T (nhóm thực nghiệm) có nhịp tăng trưởng cao hơn nhóm 2Ð (nhóm kiểm tra) và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(P< 0,05) Cồn các chỉ số khác như: chỉ số BMI, vòng ngực thở ra, test đứng cúi gập thân về trước, sự khác biệt trong tăng tiến không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)
3.3.4.2 Với chức năng sinh lý:
- Với chức năng hô hấp:
Sau thời gian thực nghiệm một năm các chỉ số của hệ hô hấp ở
nhóm 2T có nhịp tăng trưởng cao hơn so với nhóm 2Ð và sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) Điều này cho thấy nếu biết phối hợp
thở đúng với động tác của bài tập sẽ giúp cho chức năng hô hấp được tăng cường hơn
- Với chúc năng tuần hoàn:
Sau thời gian thực nghiệm một năm chỉ số tần số tim, huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu, tần số tim hồi phục, thể tích oxy tiêu thụ/
mạch ở nhóm 2T có nhịp tăng trưởng cao hơn nhóm 2Ð và có ý nghĩa
thống kê (P < 0,05) Riêng tần số tim tối đa sự khác biệt trong tăng trưởng không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05).