Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN)
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi
phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật (PL) nói chung và PL về thi hành án dân sự
(THADS) nói riêng Có PL thì phải có cơ quan nhà nước duy trì PL đó vào
trong đời sống xã hội Thực tiễn cho thấy, từ PL đến pháp chế là quá trình phát
triển thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể Vì
thế pháp chế XHCN có vai trò quyết định hiệu lực, hiệu quả của PL trong tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả lĩnh vực THADS
Về phương diện lý luận, pháp chế XHCN, một phạm trù pháp lý cơ bản
của học thuyết nhà nước và PL của chủ nghĩa Mác-Lênin cần được nghiên
cứu, kế thừa, phát triển trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam, nhất là pháp chế
XHCN trong từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội Pháp chế XHCN trong
hoạt động THADS là một bộ phận của pháp chế XHCN cần được luận chứng
không chỉ khái niệm, đặc trưng mà còn phải xác định phương hướng, giải pháp
bảo đảm nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Về PL, ở Việt Nam, kể từ năm 1945 cho đến nay, PL THADS không
ngừng được bổ sung, hoàn thiện Tuy nhiên, trong thực tế tình trạng coi thường
PL, không coi trọng các phán quyết của Toà án hoặc dây dưa, trây ì trong thi
hành án còn diễn ra phổ biến Mặt khác, tình trạng các cơ quan THADS chưa
kiên quyết tổ chức thi hành án theo yêu cầu của các bên là một trong những
nguyên nhân dẫn đến pháp chế XHCN trong hoạt động THADS chưa nghiêm
minh, thống nhất Biểu hiện rõ nhất của tình trạng này là số lượng bản án,
quyết định của Toà án còn tồn đọng chưa được thi hành vẫn chiếm tỷ lệ đáng
kể và chưa có xu hướng giảm Việc vi phạm PL trong quá trình thi hành án vẫn
diễn ra phổ biến
Những hiện tượng trên cho thấy kỷ cương của Nhà nước đang bị xem nhẹ,
pháp chế XHCN trong hoạt động THADS chưa được bảo đảm Vì vậy, vấn đề
cấp bách đặt ra đó là phải nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về pháp chế
XHCN trong hoạt động THADS để đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm từng
bước hạn chế tình trạng vi phạm pháp chế, bảo đảm việc tuân thủ triệt để pháp
chế XHCN trong hoạt động thi hành án Vì lẽ đó, bảo đảm pháp chế XHCN
trong hoạt động THADS được xem là phương thức tổ chức và hoạt động của
cơ quan, tổ chức THADS, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cũng như xây
dựng nền pháp chế XHCN nói chung Với những đòi hỏi cả về lý luận và thực
tiễn đặt ra cho thấy tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài: “Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” và nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề này làm đề tài cho luận án Tiến sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trong thời gian gần đây liên quan đến đề tài luận án “pháp chế XHCN trong hoạt động THADS ở Việt Nam” có thể chia thành ba nhóm cơ bản như sau: Nhóm thứ nhất - các công trình nghiên cứu về pháp chế XHCN nói chung
có các công trình như: Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê nin; GS.TS Trần Ngọc Đường – Nghĩ về một trong những luận điểm của V.I Lê nin/ Dân chủ và PL 11 –H., 1997 tr 2 – 3; Hồ Chủ Tịch và pháp chế - Tp.Hồ Chí Minh : Nxb Hội luật gia Việt Nam, 1985 – 266 tr; Đảng cộng sản Việt Nam – Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, IV, V, VI, VII, VII, IX,
X và Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng gần đây luân thể hiện tính nhất quán, liên tục và có sự phát triển cụ thể hoá trong điều kiện đổi mới; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Viện thông tin khoa học – Năm vấn đề đưong đại (tài liệu tham khảo nội bộ) Hà Nội năm 2003 Đây là tài liệu dịch từ cuốn sách “Năm vấn đề đương đại” của Trung Quốc Trong đó vấn đề “PL thế giới đương đại và công cuộc xây dựng pháp chế của Trung Quốc” (từ trang 295 đến 406); Triệu Tử Bình – Học tập quán triệt Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XVI “Nghiên cứu sâu sắc luật học, Đẩy mạnh xây dựng nền pháp chế toàn diện” - Tạp chí Luật học Trung Quốc số 1/2006 Bắc Kinh Nxb Tạp chí Luật học Trung Quốc 2006 tr.3-6
Nhóm thứ hai - các công trình nghiên cứu về pháp chế XHCN trên từng lĩnh vực cụ thể của các tác giả trong và ngoài nước như: Tăng cường pháp chế XHCN trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe nhân dân ở nước ta hiện nay: Luận án phó tiến sĩ khoa học luật học / Nguyễn Nhật Hùng, 1996; Tăng cường pháp chế XHCN về kinh tế trong quản lý nhà nước nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ỏ nước ta hiện nay: Luận án Phó Tiến sĩ Luật học của tác giả Quách SÜ Hùng, 1996; Tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động lập pháp, lập quy ở Việt Nam: Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Đỗ Ngọc Hải, 2004; Tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam: Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Trần Văn Sơn, 2006; v.v Nhóm thứ ba - các công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động
THADS như: Đề tài cấp Nhà nước “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mớí” do TS.Nguyễn
Trang 2Đình Lộc làm chủ nhiệm được xem là công trình nghiên cứu lớn có liên quan
đến thi hành án nói chung và THADS nói riêng Tuy nhiên, qua nghiên cứu
cho thấy, đề tài này tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu để đưa ra các luận
giải khoa học nhằm đổi mới công tác quản lý thi hành án (kể cả dân sự và hình
sự) theo hướng gọn đầu mối đã được đề ra trong các nghị quyết của Đảng cộng
sản Việt Nam và định hướng cải cách tư pháp ở nước ta Hơn nữa việc nghiên
cứu của đề tài được thực hiện trong bối cảnh Uỷ ban thường vụ Quốc hội chưa
thông qua Pháp lệnh THADS năm 2004; Đề tài cấp Nhà nước KX 04-06 về
"Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng
cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của toà án trong nhà nước pháp quyền XHCN
của dân, do dân, vì dân" do TS Uông Chu Lưu làm chủ nhiệm Đây là đề tài đi
sâu vào nghiên cứu các yêu cầu của cải cách tư pháp, hệ thống các thủ tục tư
pháp như điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nhưng với mục tiêu chung nhất là
để nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của toà án trong nhà nước pháp quyền
XHCN của dân, do dân, vì dân
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay việc tích cực xây dựng và hoàn thiện dự
thảo Bộ luật thi hành án nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết 48 và Nghị
quyết 49 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trên các diễn đàn
nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế cũng đã có rất nhiều các công trình
nghiên cứu, bài viết bình luận, đánh giá về lĩnh vực thi hành án nói chung,
THADS nói riêng, tiêu biểu như: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc
lựa chọn mô hình tổ chức thi hành án phù hợp với mỗi Quốc gia của Claude
Brenner, Giáo sư trường đại học Panthéon - Assas Cộng hòa Pháp; THADS ở
Cộng hòa Pháp - Nguyên tắc chung nhìn từ góc độ lý luận của Claude
Brenner, Giáo sư trường đại học Panthéon - Assas Cộng hòa Pháp; Báo cáo và
các đề xuất của STAR Việt Nam về dự thảo Bộ luật thi hành án của nước cộng
hòa XHCN Việt Nam, tháng 3 năm 2005 của James F Harrigan – Chuyên gia
tư vấn pháp lý cho cơ quan Thi hành án San Francisco, California, Hoa Kỳ
Tóm lại, thực tế đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến
công tác THADS, song chưa có công trình nào nghiên cứu về pháp chế XHCN
trong hoạt động THADS ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
3.1 Mục đích
Làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản có tính lý luận về pháp chế XHCN trong
hoạt động THADS; đánh giá thực và xác định phương hướng, giải pháp bảo
đảm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
(i) Làm rõ cơ sở lý luận về THADS, pháp chế XHCN nói chung và pháp chế XHCN trong hoạt động THADS; (ii) Xác định những yếu tố đảm bảo pháp chế XHCN trong hoạt động THADS; (iii) Đánh giá thực trạng về pháp chế trong hoạt động THADS ở Việt Nam hiện nay; (iv) Tìm ra các nguyên nhân hạn chế của pháp chế XHCN trong hoạt động THADS ở Việt Nam hiện nay; (v) Xác định phương hướng, giải pháp bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận án
Luận án tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng qua đó đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS ở Việt Nam Tuy nhiên, những vấn đề liên quan cũng được tác giả nghiên cứu ở những chừng mực cần thiết nhằm phục vụ có hiệu quả cho đối tượng nghiên cứu chính như: THADS, hoạt động THADS và khái niệm về pháp chế nói chung; pháp chế trong THADS ở một số nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin Ngoài ra, tác giả luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như:
- Phương pháp lịch sử: Thực tiễn cho thấy, hoạt động tư pháp nói chung và
THADS nói riêng là một lĩnh vực có bề dày lịch sử Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tập trung nghiên cứu cả những vấn đề đã làm được, thậm chí có những kinh nghiệm quý báu của cha ông ta đã được luật hoá có giá trị pháp lý, nhưng nay không còn được áp dụng để làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp phân tích: Phân tích các định hướng phát triển nhất là định
hướng cải cách tư pháp, các điều kiện khách quan, chủ quan, vấn đề kinh tế, xã hội của Việt nam; phân tích thực trạng đội ngũ Chấp hành viên (CHV) và phân tích các quy định PL có liên quan để làm rõ cơ sở thực tiễn và khoa học lý luận
về phát triển đội ngũ CHV mà cụ thể là vấn đề đào tạo đội ngũ CHV
- Phương pháp so sánh: Để việc nghiên cứu thực sự có hiệu quả, mỗi vấn
đề được đưa ra đều có sự so sánh, đối chiếu, kể cả so sánh đối chiếu, làm cơ sở cho việc vận dụng linh hoạt những nội dung đã được kiểm nghiệm có hiệu quả của nước ngoài phù hợp với tình hình của nước ta
- Phương pháp xã hội học: khảo sát và nghiên cứu tình hình thực tiễn
Trang 3- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở những nghiên cứu lý luận và thực tế,
tổng hợp các kết quả thu được, đưa ra phương hướng, giải pháp về bảo đảm
pháp chế XHCN trong hoạt động THADS ở Việt Nam
6 Những điểm mới và ý nghĩa của luận án
6.1 Những điểm mới của luận án:
Thứ nhất, những kết quả mới và những đề xuất mới có tác dụng bổ sung,
phát triển và làm phong phú thêm vốn kiến thức đã có của chuyên ngành: (i)
Đưa ra các cơ sở khoa học và thực tiễn để minh chứng làm rõ tính chất của
THADS, bảo vệ quan điểm hoạt động THADS là hoạt động tư pháp Ngoài ra,
Luận án còn phân tích, đánh giá và đưa ra khái niệm và các đặc trưng cơ bản
của hoạt động THADS đó là: quyền cưỡng chế THADS chỉ do Nhà nước tổ
chức thực hiện; bảo đảm sự độc lập tương đối cho CHV khi thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn được giao; (ii) Làm phong phú thêm khái niệm về pháp chế
XHCN; (iii) xác định rõ nội dung cơ bản của bốn yếu tố bảo đảm pháp chế
XHCN trong hoạt động THADS thể hiện trên các mặt đó là pháp lý, chính trị,
kinh tế và xã hội; (iv) phân tích đánh giá dựa trên cơ sở lý luận khoa học và
thực tiễn để chỉ ra những hạn chế của pháp chế XHCN
Thứ hai, luận án xác định một số các giải pháp thiết thực như: (i) nâng
cao chất lượng hệ thống PL THADS theo hướng quy định các thủ tục đặc thù
đối với hoạt động THADS; tạo sự đồng bộ của PL THADS với các văn bản
PL khác có liên quan như sửa đổi quy định về tội không chấp hành án; sửa
đổi các quy định về ra quyết định thi hành án ; (ii) Xác định rõ cơ chế và mô
hình tổ chức cơ quan THADS theo ngành dọc, giảm đầu mối, tổ chức lại cơ
quan thi hành án theo mô hình khu vực; (iii) Phát huy hơn nữa vai trò của
Tòa án đối với hoạt động THADS; (v) Đảm bảo thực hiện có hiệu quả sự
phân công, phối hợp giữa các cơ quan của Nhà nước với cơ quan THADS
trong việc thi hành án
6.2 Ý nghĩa của luận án
Đây là công trình nghiên cứu sâu, toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận và
thực tiễn về pháp chế trong hoạt động THADS ở Việt Nam; luận án có thể
được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những nhà nghiên cứu PL và những
người làm công tác thực tiễn
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án
được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG
HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm thi hành án dân sự và hoạt động thi hành án dân sự
1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự
Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, có rất nhiều cách quan niệm khác nhau về THADS (có quan niệm cho rằng THADS là một hoạt động tố tụng, song lại có quan điểm khác cho rằng THADS dân sự mang tính chất của hoạt động hành chính tư pháp ) Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, THADS là hoạt động tư pháp Bởi vì, trong lĩnh vực tư pháp, để thực hiện quyền tư pháp, Toà án nhân dân là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp Bên cạnh Tòa án còn có các cơ quan tư pháp khác, trong đó "các cơ quan THADS và thi hành
án hình sự thực hiện chức năng chuyên trách bảo vệ PL phải thuộc vào hệ thống các cơ quan tư pháp, dưới sự quản lý thống nhất của Chính phủ về công tác thi hành án" Hơn nữa: (i) Hoạt động THADS phần lớn thông qua vai trò của các cá nhân những người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Toà án Mỗi cơ quan thi hành án có thẩm quyền riêng
và tương đối độc lập Cơ quan thi hành án cấp trên không thể sử dụng mệnh lệnh hành chính để buộc cơ quan thi hành án cấp dưới phải thực hiện các mệnh lệnh của mình; (ii) Các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ ban đầu hoặc cuối cùng để tạo điều kiện cho các cơ quan xét xử hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, kết quả xét xử được thi hành trên thực tế; (iii) Chức năng của cơ quan thi hành án là hiện thực hóa bản án, quyết định của Toà án Các hoạt động có tính chất hành chính như phối hợp, hoạt động quản lý cán bộ, tổ chức nhân sự… là hoạt động có mục đích phục vụ để thực hiện có hiệu quả chức năng chính của các cơ quan thi hành án; (iv) Nếu cho rằng thi hành án là hoạt động hành chính
- tư pháp vì hoạt động thi hành án được thực hiện bởi cơ quan thuộc hệ thống
Bộ Tư pháp (cơ quan hành chính) sẽ không có cơ sở thuyết phục vì một hoạt động mang bản chất như thế nào không phụ thuộc nhiều vào chủ thể thực hiện
nó Thực tế chứng minh không có sự tranh luận nhiều về vị trí của các cơ quan tiến hành tố tụng của cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hay hành vi tố tụng của một số cơ quan khác như Hải quan, Kiểm lâm; (v) Hoạt động thi hành án dựa trên kết quả của hoạt động xét xử, song đó cũng chỉ mới
là điều kiện cần để bảo vệ quyền lợi của đương sự còn muốn để quyền lợi đó
Trang 4được thực hiện thì phải có thêm một điều kiện đủ - đó là bản án phải được thi
hành trên thực tế thông qua hoạt động thi hành án
1.1.2 Khái niệm hoạt động THADS
Khái niệm hoạt động THADS: hoạt động THADS là việc các cá nhân, cơ
quan nhà nước, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ của mình
để thi hành các bản án, quyết định dân sự theo quy định của PL
Đặc trưng cơ bản của hoạt động THADS: Qua nghiên cứu cho thấy, hoạt
động THADS có các đặc trưng cơ bản như sau:
- Quyền cưỡng chế THADS chỉ do Nhà nước tổ chức thực hiện Đặc
trưng này xuất phát từ chức năng của Nhà nước đó là duy trì và bảo đảm
trật tự xã hội
- Bảo đảm sự độc lập trong việc đưa ra các quyết định của CHV khi thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao: mỗi quyết định của CHV tác động trực
tiếp đến quyền và lợi ích của các bên có liên quan, đồng thời liên quan trực tiếp
đến hiệu lực của bản án, quyết định của Toà án Vì vậy, để đảm bảo công bằng
trong hoạt động THADS, khi thực thi nhiệm vụ, quyền hạn CHV dựa trên
niềm tin nội tâm của mình, độc lập, tuân theo bản án, quyết định của Toà án và
theo quy định của PL
- Tôn trọng quyền tự định đoạt của người được thi hành án trong quá trình
thi hành án Đặc trưng này xuất phát từ nguyên tắc công nhận quyền tự định
đoạt về tài sản của chủ sở hữu Nhà nước chỉ can thiệp vào quá trình thi hành
án khi các bên không thể tự thoả thuận và có đơn yêu cầu cơ quan thi hành án
tổ chức thi hành
- Hoạt động THADS liên quan trực tiếp đến quyền con người Mục đích
chính của hoạt động THADS đó là bảo vệ quyền lợi Trong khi đó quyền lợi
này có liên quan trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người như quyền về
tài sản và các quyền nhân thân khác Vì vậy, hoạt động THADS liên quan trực
tiếp đến quyền con người
- Tính xung đột về quyền lợi giữa người được THADS và người phải
THADS, các bên có liên quan trong hoạt động THADS thể rất gay gắt
- Hoạt động THADS có đặc thù riêng so với hoạt động thi hành án hình sự
Trong hoạt động THADS quyền tự định đoạt của bên được THADS đặt lên
hàng đầu Nhà nước chỉ can thiệp vào quá trình thi hành án khi có Đơn yêu cầu
của người được thi hành án, người phải thi hành án
Căn cứ phát sinh quan hệ hoạt động THADS:
- Bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành của Toà án và cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
- Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án có thẩm quyền
- Đơn yêu cầu thi hành án
1.2 Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa và đặc trưng, các yếu tố bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự
1.2.1 Khái niệm pháp chế XHCN
Pháp chế XHCN là một chế độ của đời sống chính trị - xã hội, trong đó có
sự hiện diện của một hệ thống PL đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân; tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân đều phải tôn trọng và thực hiện PL một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác Mọi hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đều
bị xử lý theo PL
1.2.2 Khái niệm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS
Pháp chế XHCN trong hoạt động THADS là sự hiện diện của hệ thống PL THADS đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch; các bản án, quyết định dân sự của Toà án phản ánh đúng bản chất của vụ kiện dân sự và được tuyên đúng pháp luật cùng với việc thực hiện nghiêm chỉnh đầy đủ, đúng đắn bản án, quyết định dân sự của các bên có liên quan Mọi hành vi vi phạm PL về thi hành án đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của PL
1.2.3 Đặc trưng của pháp chế XHCN trong hoạt động THADS
Pháp chế XHCN trong hoạt động THADS có các đặc trưng cơ bản sau:
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự là sự hiện diện của hệ thống pháp luật thi hành án dân sự đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự là sự hiện diện của bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật được xem là cơ
sở pháp lý của quá trình thi hành án
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên phải tự giác thực hiện đầy đủ, đúng đắn các quy định của pháp luật
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự được biểu hiện bằng trách nhiệm tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án của mọi người trong xã hội
Trang 5- Phỏp chế trong hoạt động thi hành ỏn dõn sự yờu cầu phải xử lý nghiờm
mọi hành vi vi phạm phỏp luật thi hành ỏn.
1.2.4 Cỏc yếu tố bảo đảm phỏp chế XHCN trong hoạt động THADS
Cú bốn yếu tố bảo đảm phỏp chế XHCN trong hoạt động THADS sau:
Bảo đảm về phỏp lý:
- Bản ỏn, quyết định dõn sự phải rừ ràng, cú tớnh khả thi
- Cụng tỏc tổ chức thực hiện PL trong hoạt động THADS phải bảo đảm
thực sự cú hiệu quả
- Cụng tỏc giỏm sỏt, kiểm tra việc thực hiện PL và xử lý vi phạm PL phải
thực hiện thật sự cú hiệu quả
Bảo đảm về chớnh trị:
- Cần phải cú một hệ thống cơ quan THADS đủ mạnh để bảo đảm phỏp
chế trong hoạt động THADS
- Bảo đảm sự phõn cụng, phối hợp cú hiệu quả giữa cỏc cơ quan nhà nước
với nhau trong hoạt động THADS
- Phỏt huy vai trũ của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc bảo đảm phỏp chế
- Bảo đảm dõn chủ XHCN, phỏt huy quyền làm chủ của nhõn dõn trong
hoạt động THADS
Bảo đảm về kinh tế:
- Phải cú nền kinh tế ổn định và phỏt triển
- Người cú nghĩa vụ THADS, phải cú khả năng về kinh tế để thực hiện
nghĩa vụ của mỡnh
- Nhà nước phải đảm bảo đủ kinh phớ, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt
động của cỏc cơ quan THADS
Bảo đảm về xó hội:
- Về yếu tố gia đỡnh: Hoạt động THADS thụng thường sẽ tỏc động trực tiếp
đến một gia đỡnh cụ thể nào đú của xó hội Vỡ vậy, việc thực hiện PL núi chung
và PL THADS núi riờng từ mỗi gia đỡnh sẽ là cơ sở cực kỳ quan trọng, quyết
định đến việc bảo đảm phỏp chế XHCN trong hoạt động THADS
- Yếu tố ngoài xó hội: Yếu tố này cú liờn quan yếu làng - xó của con
người Việt Nam và phỏt huy vai trũ của xó hội thụng qua cỏc cơ quan, tổ
chức, đoàn thể
1.3 Phỏp chế trong hoạt động thi hành ỏn dõn sự ở một số nước
1.3.1 Sơ lược về phỏp chế trong hoạt động thi hành ỏn dõn sự ở một số
nước
1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước cú thể ỏp dụng đối với vào điều kiện
cụ thể của Việt Nam
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận ỏn đó nghiờn cứu những vấn đề mang tớnh lý luận về hoạt động THADS, phỏp chế XHCN trong hoạt động THADS, trong đú tập trung nghiờn cứu, phõn tớch, đỏnh giỏ về tớnh chất, đặc điểm của hoạt động THADS, phỏp chế trong hoạt động THADS cú thể rỳt ra một số kết luận cơ bản như sau:
1 Tớnh chất của THADS là hoạt động tư phỏp Điều này phự hợp với quỏ trỡnh lịch sử, cũng như cỏc quy định của PL hiện hành Vỡ vậy, việc thiết kế mụ hỡnh tổ chức, cơ chế quản lý, hoạt động của cơ quan thi hành ỏn phải đảm bảo tớnh độc lập tương đối cho CHV, người cú thẩm quyền trong thi hành ỏn
2 Phỏp chế trong hoạt động THADS khụng làm mất đi tớnh thống nhất của
phỏp chế XHCN mà cũn làm phong phỳ hơn nội dung của phỏp chế núi chung Chính đó là cơ sở để phỏt huy vai trũ của PC XHCN trong từng lĩnh vực của đời sống xó hội
3 Phỏp chế XHCN trong hoạt động THADS cú những nột đặc thự riờng,
cụ thể: Phỏp chế XHCN trong hoạt động THADS cú cơ sở phỏp lý trực tiếp là bản ỏn, quyết định của Toà ỏn; phỏp chế XHCN trong hoạt động THADS đề cao vai trũ, trỏch nhiệm của CHV; trỏch nhiệm tụn trọng và thi hành nghiờm chỉnh bản ỏn, quyết định của Toà ỏn là trỏch nhiệm chung của mọi người trong
xó hội; việc thiết lập, bảo đảm phỏp chế XHCN trong hoạt động THADS cú liờn quan chặt chẽ với yếu tố văn hoỏ truyền thống dõn tộc
4 Những nguyờn tắc cơ bản, đặc điểm và những yếu tố bảo đảm phỏp chế XHCN trong hoạt động THADS là cơ sở để thực hiện cú hiệu quả PL, đồng thời gúp phần củng cố trật PL núi chung và PL THADS núi riờng
Túm lại, thụng qua việc nghiờn cứu cơ sở lý luận về phỏp chế XHCN trong hoạt động THADS sẽ tạo cơ sở, phương PL để đỏnh giỏ đỳng thực trạng, tạo tiền đề cho việc đưa ra cỏc giải phỏp bảo đảm chế XHCN trong hoạt động
THADS hiện nay ở nước ta
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG
HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Về pháp luật
Với bản chất của Nhà nước dân chủ, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc
đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án Điều này
được thể hiện ở việc Nhà nước không chỉ quan tâm đến việc xét xử của Tòa án
mà còn quan tâm đến cả việc tổ chức thực thi các bản án, quyết định của Tòa
án Nhất là sau khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN thì yêu cầu bảo đảm thi hành các bản án,
quyết định của Tòa án càng được quan tâm Vì vậy, công tác thể chế về
THADS đã được quan tâm hơn trước Đặc biệt sau Hội nghị tổng kết mười
năm công tác THADS năm 2003, để khắc phục những hạn chế của công tác thi
hành án, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh THADS năm
2004 Trên cơ sở của Pháp lệnh, Chính phủ, các Bộ ban ngành có liên quan đã
ban hành nhiều văn bản quy phạm PL nhằm tháo gỡ ách tắc trong hoạt động
THADS
2.1.2 Bản án, quyết định dân sự
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án và các quyết định khác của cơ quan
tổ chức có thẩm quyền là một văn bản có giá trị pháp lý ghi nhận quyền nghĩa
vụ của các bên có liên quan Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, nên trong
những năm qua, ngoài việc không ngừng nâng cao chất lượng xét xử thì yêu
cầu nâng cao chất lượng bản án, quyết định của Toà án và các cơ quan có thẩm
quyền đã được hết sức chú trọng
2.1.3 Thực hiện PL trong hoạt động THADS
Cùng với việc không ngừng hoàn thiện hệ thống PL nói chung và PL về
THADS nói riêng, công tác thực hiện PL trong hoạt động THADS được Nhà
nước đặc biệt chú trọng Để bảo đảm thực thi bản án, quyết định của Toà án,
bên cạnh hệ thống các cơ quan quản lý THADS, hệ thống các cơ quan
THADS đã được thành lập ở cấp tỉnh, cấp huyện (riêng ở trong quân đội thì
các cơ quan THADS đợc thành lập ở cấp quân khu) với nhiệm vụ tổ chức
thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành của Toà án và các quyết định khác theo quy định của PL Nhờ đó mà hiệu quả thực hiện bản
án, quyết định dân sự ngày càng nâng cao Theo số liệu thống kê của Cục THADS thì số lượng vụ việc mà cơ quan THADS phải tổ chức thi hành năm sau cao hơn năm trước
Tóm lại, trong những năm qua, chất lượng và hiệu quả công tác THADS ngày càng được nâng cao, pháp chế XHCN trong hoạt động THADS ngày
càng được bảo đảm
2.2 Hạn chế trong việc thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay
Có thể kể đến một số hạn chế trong việc thực hiện pháp chế XHCN trong hoạt động THADS ở Việt Nam hiện nay như sau:
2.2.1 PL về THADS và hệ thống các văn bản PL có liên quan đến THADS vừa thiếu vừa bộc lộ nhiều bất cập
Về PL THADS: Tình trạng kém chất lượng trong hệ thống PL nói chung và
PL THADS nói riêng đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện pháp chế XHCN trong hoạt động THADS ở nước ta:
+ Hệ thống quy định PL về thi hành án còn tản mạn, thiếu cụ thể không bảo đảm tính hệ thống, thống nhất
+ Quy định của PL THADS hiện nay còn quá chung chung, thiếu khoa
học, gây khó khăn cho quá trình thi hành án
+ Chưa có quy định về xử lý tài sản do Tòa án tuyên kê biên để đảm bảo thi
hành án
+ Quy định về thời hạn tự nguyện thi hành án thể hiện nhiều bất cập + Chưa có cơ chế hợp lý để đảm bảo thực thi quyền hạn của CHV + Trách nhiệm bồi thường trong hoạt động THADS lại chưa rõ ràng + PL hiện hành chưa có cơ chế áp dụng bắt buộc lao động để thi hành án
+ Cơ chế giải thích bản án, quyết định của Tòa án đang tạo ra nhiều khó
khăn vướng mắc cho cơ quan thi hành án
+ Nhiều quy định của PL THADS còn mang nặng tính khẩu hiệu, thiếu chặt chẽ và không có tính khả thi
Chưa bảo đảm sự thống nhất giữa PL THADS với các văn bản PL khác có
liên quan:
Trang 7+ Quy định giữa PL THADS với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
không thống nhất
+ Luật phá sản năm 2004 và PLTHADS có nhiều điểm thiếu rõ ràng hoặc
chung chung, gây khó khăn cho quá trình thực hiện
+ Bộ luật tố tụng hình sự và PLTHADS chưa có sự thống nhất trong việc
quy định thẩm quyền ra quyết định thi hành án
+ Thông tư số 01/2007/TT-BCA-C11 ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ
Công an quy định về việc tổ chức đăng ký, cấp biển số phương tiện giao thông
cơ giới đường bộ chưa phù hợp với quy định của PL về THADS
Tất cả những hạn chế về PL nêu trên có thể kể đến một số nguyên nhân cơ
bản như sau:
- Đường lối của Đảng về cải cách tư pháp nói chung và THADS nói riêng
chậm được thể chế hoá
- Văn bản luật vẫn còn mang tính định khung nên cần phải nhiều các văn
bản hướng dẫn mới có thể thực hiện
2.2.2 Chất lượng bản án, quyết định dân sự còn có nhiều hạn chế
Chất lượng nội dung trong các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân còn
có nhiều hạn chế, gây khó khăn cho công tác THADS Theo số liệu thống kê
năm 2006 của Cục THADS Bộ Tư pháp thì hiện nay, trong quá trình thi hành
án, cơ quan THADS đang gặp phải vướng mắc có liên quan đến trách nhiệm
của Tòa án (cụ thể: án tuyên không rõ, có sai sót là: 479 vụ việc; án có sai lầm
là: 126 vụ việc; án tuyên khó thi hành là: 372 vụ việc, chi tiết xem Phụ lục 4
Luận án)
Thực trạng nêu trên có thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản như sau:
- Chưa có cơ chế rõ ràng về xác định bản án, quyết định của Toà án khi có
hiệu lực PL phải có tính khả thi
- Chưa có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Toà án và trách
nhiệm bồi hoàn của Thẩm phán để xảy ra tình trạng xét xử sai nên chưa nâng
cao được tinh thần trách nhiệm của cơ quan này trong việc ra bản án
2.2.3 Thực hiện PL trong hoạt động THADS còn nhiÒu bất cập
- Ý thức chấp hành bản án, quyết định của Toà án, các cơ quan có thẩm
quyền và việc thực hiện PL trong hoạt động THADS của nhiều cơ quan, tổ
chức, cá nhân còn rất kém
- Chất lượng hoạt động THADS còn chưa cao, tình trạng vi phạm trình tự, thủ tục trong hoạt động THADS của CHV, cán bộ công chức cơ quan THADS
và của một số cơ quan chức năng có liên quan vẫn còn diễn ra
Tất cả những hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:
Về khách quan
- Người phải thi hành án không có tài sản, thu nhập hợp pháp để thi hành
án hoặc không xác định được nơi cư trú của đương sự;
- Các quy định của PL liên quan đến quyền về tài sản, đất đai,… tuy đã được Nhà nước quan tâm, sửa đổi bổ sung nhưng những bất cập do lịch sử để lại đến nay vẫn luôn là khó khăn vướng mắc cho các cơ quan THADS
- Tình trạng khép kín "phép vua thua lệ làng" (PL bị đẩy xuống hàng thứ yếu, các vấn đề vi phạm PL có thể sẽ chỉ được xem xét trong nội bộ làng xã)
đã trở thành tiềm thức ăn sâu, bám rễ vào trong mỗi con người
- PL giao cho các cơ quan THADS thực hiện quá nhiều công việc lẽ ra có thể giao cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện sẽ có hiệu quả hơn
- Cơ chế quản lý thi hành án THADS còn nhiều bất cập Điều này được thể hiện: Có nhiều cơ quan cùng được giao nhiệm vụ quản lý về thi hành án; Có nhiều cơ quan cùng được giao nhiệm vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện trong chỉ đạo THADS, tạo ra sự trung gian, phức tạp cho hoạt động thi hành án; phân cấp quản lý về thi hành án hiện nay tạo ra nhiều khâu trung gian và khe hở trong quản lý, chỉ đạo thi hành án
- Chưa có cơ chế hợp lý để tạo điều kiện cho cơ quan THADS phối hợp với Tòa án trong việc động viên những người phạm tội và thân nhân của họ thực hiện nghĩa vụ về dân sự
- Tổ chức bộ máy cơ quan THADS còn nhiều bất cập
Về chủ quan
- Ý thức PL của người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan trong thi hành án còn rất kém
- Đội ngũ CHV, cán bộ làm công tác thi hành án nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ngày càng nặng nề, không những thiếu về số lượng mà còn yếu về năng lực chuyên môn nghiệp vụ
Trang 8KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 của Luận án đã tập trung nghiên cứu sâu về thực trạng pháp chế
XHCN trong hoạt động THADS Có thể kết luận một số điểm như sau:
1 Hoạt động THADS ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyển
biến đáng kể, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo tính nghiêm minh của
PL, tăng cường pháp chế XHCN
2 Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, song pháp chế XHCN
trong hoạt động THADS vẫn còn nhiều bất cập, có thể khái quát ở một số điểm
như sau:
Một là, chất lượng PL và chất lượng bản án, quyết định dân sự còn có
nhiều hạn chế
Hai là, khâu tổ chức thực hiện PL trong hoạt động THADS ở nước ta
vẫn còn rất nhiều bất cập Tình trạng coi thường PL trong THADS vẫn còn
diễn ra phổ biến; việc vi phạm PL trong quá trình thực hiện PL của các cơ
quan thi hành án, các cơ quan nhà nước vẫn còn diễn ra nhiều; công tác
phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước để thực hiện tốt nhiệm vụ THADS
còn có nhiều hạn chế
Ba là, có nhiều nguyên nhân chủ quan cũng như nguyên nhân khách quan
dẫn đến vi phạm pháp chế trong hoạt động THADS ở nước ta hiện nay Có thể
khái quát như tình trạng số vụ việc chưa có điều kiện thi hành vẫn chiếm tỷ lệ
lớn; ý thức PL của người phải thi hành án còn quá kém; cơ chế quản lý và mô
hình tổ chức các cơ quan THADS còn rất nhiều bất cập; công tác phổ biến giáo
dục PL đối với hoạt động THADS chưa được quan tâm đúng mức; cấp ủy
Đảng, chính quyền địa phương chưa quan tâm và đầu tư thỏa đáng đối với hoạt
động THADS
Tóm lại, việc đánh giá đúng thực trạng sẽ là tiền đề để đưa ra được các
phương hướng và giải pháp hữu hiệu nhằm góp phần bảo đảm pháp chế
XHCN trong hoạt động THADS ở nước ta hiện nay
Chương 3 YÊU CẦU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG HOẠT ĐỘNG
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM
3.1 Các yêu cầu của pháp chế XHCN trong hoạt động THADS
3.1.1 Bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS gãp phÇn đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Hoạt động thi hành án có hiệu quả, một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền
tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội, của công dân đối với các phán quyết của Toà án nhân danh Nhà nước, mặt khác khi trật tự PL bị phá
vỡ thì PL phải có cơ chế phục hồi một cách hiệu quả nhằm khôi phục lại quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên bị xâm phạm, trong trường hợp đó hoạt động thi hành án sẽ là khâu then chốt để đảm bảo tính hiệu quả của cơ chế phục hồi
đó Ngoài ra, nếu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội một cách hữu hiệu sẽ là nhân tố làm lành mạnh hóa các quan hệ thị trường, trong đó, hoạt động thi hành án nắm giữ khâu quyết định dựa trên phán quyết, quyết định có hiệu lực pháp lý của cơ quan tư pháp và cơ quan tài phán
3.1.2 Bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân
Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải có sự đổi mới, chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư pháp nói chung và thi hành án nói riêng Cần phải nhấn mạnh rằng, thi hành án là một vấn đề hết sức hệ trọng, liên quan trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý Nhà nước, đến trật tự, kỷ cương PL và ảnh hưởng sâu sắc đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hay nói rộng hơn là quyền dân sự cơ bản của con người, như quyền về tài sản, quyền lao động, quyền tự do, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm
3.1.3 Bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử là những hoạt động vất vả, phức tạp và tốn kém, song những hoạt động đó có thể chỉ là con số không nếu như bản án, quyết định của Toà án chỉ tồn tại trên giấy mà không được thi hành trên thực
tế Chính vì vậy, hoạt động thi hành án nói chung và THADS nói riêng là hoạt
Trang 9động không thể thiếu nhằm biến kết quả hoạt động các cơ quan tố tụng trước
đó trở thành hiện thực, thiết lập lại trật tự PL
3.1.4 Bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS đáp ứng yêu
cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam
Trên thực tế tổ chức và hoạt động thi hành án của nước ta hiện nay chưa
thực sự trở thành một đảm bảo vững chắc về mặt tư pháp cho người nước
ngoài sinh sống, học tập, công tác, làm ăn tại Việt Nam Nhiều vụ việc thi hành
án có liên quan đến tổ chức, cá nhân người nước ngoài vẫn chưa được thực thi
có hiệu quả, gây ra sự khiếu kiện kéo dài Ngoài ra, thực trạng hiện nay cho
thấy cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động của thi hành án nước ta chưa thực sự
sẵn sàng với quá trình hội nhập quốc tế Nhiều vụ việc, nguyên tắc tuân theo
PL và trên cơ sở bản án, quyết định của Toà án bị phá vỡ khi các cơ quan Nhà
nước vẫn tìm mọi cách sử dụng các biện pháp hành chính, can thiệp không
đúng quy định vào hoạt động của cơ quan thi hành án, làm cho hoạt động thi
hành án làm mất đi tính khách quan, gây ra sự chậm chễ, kéo dài
3.1.5 Bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS đáp ứng yêu
cầu khắc phục những yếu kém của PL về THADS
Chất lượng PL có thể xem là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc bảo
đảm pháp chế XHCN nói chung và đối với pháp chế XHCN trong hoạt động
THADS nói riêng, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền
Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân mà ở đó, Nhà nước được tổ chức
và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, PL và thể hiện địa vị tối cao của Hiến pháp
và PL trong đời sống xã hội Tuy nhiên, như đã phân tích ở Chương 2 của
Luận án cho thấy, PL THADS ở nước ta còn nhiều bất cập Vì vậy, bảo đảm
pháp chế XHCN trong hoạt động THADS đáp ứng yêu cầu khắc phục những
yếu kém của hệ thống PL nói chung và PL về THADS ở nước ta nói riêng
3.2 Phương hướng bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động thi
hành án dân sự ở Việt Nam
- Pháp điển hoá, bảo đảm PL về thẩm quyền, trình tự, thủ tục THADS được
quy định bằng luật do Quốc hội ban hành
- Bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS được thực hiện trên
cơ sở xác định phạm vi, nội dung và những bước đi phù hợp với điều kiện phát
triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế và khu vực
- Bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động THADS phải đặt trong nội
dung tổng thể cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân
- Kết hợp giáo dục thuyết phục với việc kiên quyết áp dụng cưỡng chế
trong hoạt động THADS
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động THADS
3.3 Các giải pháp bảo đảm pháp chế XHCN trong hoạt động thi hành
án dân sự ở Việt Nam
3.3.1 Về pháp luật
Xây dựng hệ thống PL cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động THADS:
Một là, hoàn thiện PL về THADS theo hướng:
+ Bỏ quy định thời hiệu thi hành án, thay vào đó quy định cụ thể việc trả lại
đơn yêu cầu thi hành án khi người phải thi hành án không có điều kiện thi hành, đồng thời ghi nhận quyền yêu cầu thi hành án trở lại của người được thi hành án khi nào người phải thi hành án có điều kiện thi hành
+ Quy định một số thủ tục đặc thù đối với các tài sản như bất động sản,
phương tiện giao thông
+ Bỏ quy định tài sản đã kê biên được định giá theo thoả thuận giữa người
được thi hành án, người phải thi hành án và chủ sở hữu chung trong trường hợp kê biên tài sản chung
+ Bỏ quy định CHV ấn định thời hạn tự nguyện 30 ngày để người phải thi
hành án tự nguyện thi hành như quy định tại khoản 3 Điều 6 Pháp lệnh THADS năm 2004 Thay vào đó, PL nên quy định cụ thể, trách nhiệm của CHV phải kiểm tra, xác minh điều kiện thi hành của người phải thi hành án để
áp dụng ngay các biện pháp ngăn chặn để hạn chế người phải thi hành án tẩu tán tài sản
+ Quy định cho phép CHV có quyền khám xét nơi ở và ở trên người của người phải thi hành án để truy tìm tài sản thi hành án
+ Quy định cụ thể cơ chế giải thích bản án: theo hướng cơ quan đã ra bản
án, quyết định cần phải giải thích nội dung bản án bằng một quyết định của Toà án để làm cơ sở pháp lý để cơ quan thi hành án thực hiện
Trang 10+ Quy định cụ thể chế tài đối với người đứng đầu của cơ quan, tổ chức
trong trường hợp bên phải thi hành án là cơ quan, tổ chức (nhất là các cơ quan
Nhà nước)
+ Quy định cụ thể về cơ chế bảo đảm thân thể, tính mạng sức khoẻ của
CHV và cán bộ thi hành án để họ thực sự yên tâm công tác, đảm bảo hoàn
thành nhiệm vụ được giao
+ Hoàn thiện các quy định PL về xử lý vi phạm trong THADS:
- Xác định rõ các hành vi vi phạm PL THADS bằng các quy định cụ thể
của PL
- Phân loại cụ thể các chủ thể để có biện pháp xử lý phù hợp
+ Quy định rõ thẩm quyền xử lý vi phạm trọng hoạt động THADS
Hai là, hoàn thiện các quy định của PL khác có liên quan đến hoạt động
THADS:
+ Sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự theo hướng quy định thẩm quyền đi đôi
với xác định trách nhiệm của người có thẩm quyền kháng nghị khi thực hiện
quyền hoãn, tạm đình thi hành án qua đó tăng cường tính chung thẩm của
bản án
+ Để đảm bảo tính thực thi của PL, cần phải hoàn thiện các quy định của
Bộ luật hình sự đối với tội không chấp hành án theo hướng xác định rõ theo
từng hành vi
+ Sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật tố tụng dân sự để quy
định cụ thể chế tài đối với trường hợp người có thẩm quyền trong tố tụng hình
sự và dân sự do chậm chễ hoặc cố tình không áp dụng kịp thời các biện pháp
kê biên tài sản của người phạm tội và của những người phải thực hiện nghĩa vụ
dân sự nên để họ tẩu tán tài sản gây khó khăn cho quá trình thi hành án
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm thống nhất việc Thủ trưởng cơ quan
thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án đối với Hình phạt tiền; Tịch thu
tài sản, truy thu thuế, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính; d) Xử lý vật chứng,
tài sản đã thu giữ;
+ Quy định hạn chế và tiến tới bỏ việc thanh toán bằng sử dụng tiền mặt
sang hình thức quản lý và thanh toán thông qua tài khoản
+ Quy định rõ chế tài đối với các trường hợp bỏ lọt tội phạm liên quan đến
hoạt động THADS
Ba là, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của PL THADS với hệ thống PL
hiện hành Muốn vậy: (i) Phải thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm PL về THADS, qua đó kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa PL về THADS với các văn bản PL có liên quan; (ii) Trong quá trình xây dựng văn bản cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chủ trì soạn thảo với các cơ quan
có liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước mà văn bản đó điều chỉnh để tạo sự đồng thuận trong việc quy định về những vấn đề có liên quan mật thiết với nhau sao cho thống nhất; (iii) Bộ Tư pháp, vừa là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác THADS trong cả nước, vừa là cơ quan giúp Chính phủ trong công tác xây dựng PL, kiểm tra văn bản quy phạm
PL nên cần phát huy vai trò quan trọng của mình để thực thi chức năng nhiệm
vụ nêu trên thật hiệu quả để giảm thiểu đến mức tối đa những trường hợp mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm PL về THADS
3.3.2 Nhóm các giải pháp bảo đảm về pháp lý
Nâng cao chất lượng bản án, quyết định dân sự:
Một là, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn
thống nhất cách ghi án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thi hành án trong việc thực thi nhiệm vụ theo quy định của PL
Hai là, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cần hướng dẫn các
Toà án địa phương trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử không tuyên xử mức tiền cụ thể cho các vụ việc dễ dẫn đến sự ảnh hưởng của quá trình biến động thị trường
Đẩy mạnh công tác tổ chức thực hiện PL về THADS:
Một là, hạn chế và tiến tới từng bước loại bỏ tình trạng vi phạm những điều
PL cấm của các chủ thể trong hoạt động THADS:
+ Ngăn chặn kịp thời và tiến tới xóa bỏ tình trạng chống đối người thi hành
công vụ trong hoạt động THADS
+ Khắc phục tình trạng Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án hoặc ra các quyết định khác có liên quan trái PL; CHV không thi hành đúng bản án, quyết định của Toà án, trì hoãn việc thi hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trái PL, vi phạm quy chế CHV Đẩy mạnh công tác rà soát, phân loại án để xử lý theo đúng quy định của PL
Hai là, khuyến khích việc tự giác thực hiện nghĩa vụ pháp lý của các chủ
thể trong hoạt động THADS: