BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN TUYẾT THANH THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ DỰ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ PHƠI NHIỄM VỚI VẬT SẮC NHỌN CỦA SINH VIÊN ĐIỀU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN TUYẾT THANH
THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ DỰ PHÒNG
VÀ XỬ TRÍ PHƠI NHIỄM VỚI VẬT SẮC NHỌN CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ LẠNG SƠN
NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN TUYẾT THANH
THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ DỰ PHÒNG
VÀ XỬ TRÍ PHƠI NHIỄM VỚI VẬT SẮC NHỌN CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ LẠNG SƠN
NĂM 2022
Ngành: Điều dưỡng
Mã số: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS.BS VŨ VĂN THÀNH
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 3TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí
phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn năm 2022 (2) Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành về dự phòng
và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng
Y tế Lạng Sơn sau can thiệp giáo dục
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp dạng trước sau
trên một nhóm đối tượng với biện pháp là giáo dục sức khoẻ bằng sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm, các tình huống trên thực tế phát vấn sinh viên, sau đó phân tích, diễn giải
Cỡ mẫu là 120 sinh viên điều dưỡng của Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn
Kết quả nghiên cứu:
Trước can thiệp kiến thức về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên tham gia nghiên cứu còn hạn chế với điểm trung bình kiến thức là 21,46
± 7,92 điểm trên tổng 39 điểm của thang đo Nhưng đã được cải thiện đáng kể sau can thiệp 1 tuần với điểm trung bình 35,09 ± 3,37 điểm và duy trì ở 34,45 ± 3,68 điểm sau can thiệp 1 tháng Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng trước can thiệp là 45% tăng lên 92,5% sau can thiệp 1 tuần và duy trì với 89,2% sau can thiệp 1 tháng
Trước can thiệp, thực hành của đối tượng nghiên cứu còn hạn chế với điểm trung bình đạt 7,43 ± 1,88 điểm trên tổng 13 điểm của thang đo Sau can thiệp 1 tuần, điểm trung bình thực hành đã được cải thiện rõ rệt đạt 11,91 ± 1,87 điểm và duy trì với 11,60 ± 2,17 điểm sau can thiệp 1 tháng Tỷ lệ sinh viên có thực hành đạt về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn chiếm 36,7% tại thời điểm trước can thiệp đã tăng lên đạt 89,2% sau can thiệp 1 tuần và duy trì với tỷ lệ 84,2% sau can thiệp 1 tháng
Kết luận: Kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật
sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng còn hạn chế trước can thiệp và đã được cải thiện đáng kể sau can thiệp giáo dục sức khỏe Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả rõ rệt của can thiệp giáo dục cho sinh viên điều dưỡng và cần được tiến hành thường xuyên, liên tục
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp này là kết quả của quá trình học tập tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định của tôi trong hai năm theo học Chương trình cao học, Chuyên ngành Điều dưỡng
Với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy trong Ban Giám hiệu, cô giáo chủ nhiệm, cùng các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã hết lòng nhiệt tình truyền thụ kiến thức và luôn hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến người thầy hướng dẫn: Tiến sĩ, Bác sỹ Vũ Văn Thành, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã có những hỗ trợ quý báu cho tôi từ khi bắt đầu thực hiện nghiên cứu cho đến khi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban giám hiệu, giảng viên của Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành việc thu thập số liệu và thực hiện chương trình can thiệp
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cùng tập thể lớp Cao học Điều dưỡng khóa 7 đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Tuyết Thanh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi là học viên lớp Cao học Điều dưỡng Khóa 7, chuyên ngành Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định xin cam đoan:
Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy hướng dẫn khoa học TS.BS Vũ Văn Thành
Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố ở Việt Nam
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực
và khách quan Đã được đồng ý thu thập và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện việc thu thập số liệu
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!
Lạng Sơn, ngày tháng năm 2022
Tác giả
Nguyễn Tuyết Thanh
Trang 6MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về vật sắc nhọn và phơi nhiễm với vật sắc nhọn 4
1.1.1 Khái niệm và phân loại vật sắc nhọn 4
1.1.2 Khái niệm về phơi nhiễm với vật sắc nhọn 4
1.1.3 Yếu tố nguy cơ 4
1.1.4 Thực trạng tổn thương do vật sắc nhọn 5
1.1.5 Hậu quả của tổn thương do vật sắc nhọn 6
1.1.6 Các biện pháp phòng ngừa và xử lý tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn 7
1.2 Thực trạng kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 13
1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới 13
1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 15
1.3 Khái niệm, mục đích và vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe 18
1.3.1 Khái niệm 18
1.3.2 Mục đích của truyền thông - giáo dục sức khoẻ 19
1.3.3 Vai trò của giáo dục sức khỏe 19
1.4 Học thuyết nghiên cứu: Học thuyết học tập xã hội của Albert Bandura [22] 20
1.4.1 Tiểu sử tác giả 20
1.4.2 Nội dung cơ bản của Học tập xã hội của Albert Bandura 20
Trang 71.4.3 Áp dụng các liệu pháp của học thuyết 21
1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 26
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 27
2.5.2 Quy trình thu thập số liệu 27
2.5.3 Can thiệp giáo dục 28
2.6 Các biến số nghiên cứu 29
2.7 Khái niệm và thang đo 29
2.8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 30
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 30
2.10.1 Sai số 30
2.10.2 Biện pháp khắc phục sai số 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Thực trạng kiến thức và thực hànhcủa sinh viên điều dưỡng về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 34
3.2.1 Thực trạng kiến thức của sinh viên điều dưỡng về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 34
3.2.2 Thực trạng thực hành của sinh viên điều dưỡng về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 40
3.3 Thay đổi kiến thức, thực hành của sinh viên điều dưỡng về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn sau can thiệp giáo dục 43
Trang 83.3.1.Thay đổi kiến thức của sinh viên điều dưỡng về dự phòng và xử trí phơi
nhiễm với vật sắc nhọn sau can thiệp giáo dục 43
3.3.2 Thay đổi thực hành của sinh viên điều dưỡng về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn sau can thiệp giáo dục 51
Chương 4: BÀN LUẬN 56
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 56
4.2 Thực trạng kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng 58
4.2.1 Thực trạng kiến thức của sinh viên điều dưỡng về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 58
4.2.2 Thực trạng thực hành của sinh viên điều dưỡng về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 65
4.3 Thay đổi kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng 69
4.3.1 Thay đổi kiến thức của sinh viên điều dưỡng về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 69
4.3.2 Thay đổi thực hành của sinh viên điều dưỡng về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn 72
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 75
KẾT LUẬN 76
KHUYẾN NGHỊ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU
Phụ lục 2: PHIẾU PHỎNG VẤN
Phụ lục 3: THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ
Phụ lục 4: NỘI DUNG BỘ CÔNG CỤ CAN THIỆP GIÁO DỤC SỨC KHOẺ Phụ lục 5: DANH SÁCH SINH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CDC Centers for Disease Control and Prevention/
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật
HBV Hepatitis B virus/Vi rút viêm gan B
HCV Hepatitis C virus/Vi rút viêm gan C
Virút gây suy giảm miễn dịch ở người mắc phải
TT-GDSK Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 32
Bảng 3.2 Thông tin liên quan đến việc học tập về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng 32
Bảng 3.3 Kiến thức về nguyên nhân và nguy cơ tổn thương do vật sắc nhọn khi thực hiện kỹ thuật 34
Bảng 3.4 Kiến thức về những bệnh có thể lây truyền qua đường máu do vật sắc nhọn 35
Bảng 3.5 Kiến thức về thao tác an toàn với vật sắc nhọn 36
Bảng 3.6 Kiến thức về đánh giá nguy cơ phơi nhiễm với vật sắc nhọn 37
Bảng 3.7 Kiến thức về xử trí vết thương và báo cáo sau khi phơi nhiễm với vật sắc nhọn 38
Bảng 3.8 Kiến thức về dự phòng sau phơi nhiễm với vật sắc nhọn 39
Bảng 3.9 Kiến thức chung về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng 39
Bảng 3.10 Thực hành về chuẩn bị trước khi thực hiện kỹ thuật 40
Bảng 3.11 Thực hành trong quá trình thực hiện kỹ thuật 41
Bảng 3.12 Xử lý kim tiêm, vật sắc nhọn sau khi sử dụng 41
Bảng 3.13 Thực hành phân loại rác 42
Bảng 3.14 Thay đổi kiến thức về nguyên nhân và nguy cơ dẫn đến tổn thương do vật sắc nhọn khi thực hiện thao tác kỹ thuật sau can thiệp 43
Bảng 3.15 Thay đổi kiến thức về những bệnh có thể lây truyền qua đường máu do vật sắc nhọn sau can thiệp giáo dục 44
Bảng 3.16 Thay đổi kiến thức về thao tác an toàn với vật sắc nhọn sau can thiệp giáo dục 45
Bảng 3.17 Thay đổi kiến thức về đánh giá nguy cơ phơi nhiễm với vật sắc nhọn sau can thiệp giáo dục 46
Trang 11Bảng 3.18 Thay đổi kiến thức về xử trí vết thương và báo cáo phơi nhiễm với vật
sắc nhọn sau can thiệp giáo dục 48Bảng 3.19 Thay đổi kiến thức về dự phòng phơi nhiễm với vật sắc nhọn sau can
thiệp giáo dục 49Bảng 3.20 Thay đổi điểm kiến thức chung về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với
vật sắc nhọn 49Bảng 3.21 Thay đổi kiến thức chung về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc
nhọn của sinh viên điều dưỡng sau can thiệp 50Bảng 3.22.Thay đổi kết quả chuẩn bị trước thực hiện kỹ thuật sau can thiệp giáo dục51Bảng 3.23 Thay đổi kết quả thực hành trong quá trình thực hiện kỹ thuật sau can
thiệp giáo dục 52Bảng 3.24 Thay đổi xử lý kim tiêm, vật sắc nhọn sau khi sử dụng sau can thiệp
giáo dục 53Bảng 3.25 Thay đổi thực hành phân loại rác sau can thiệp giáo dục 54Bảng 3.26 Thay đổi điểm thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc
nhọn của sinh viên điều dưỡng 54
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Lý thuyết học tập về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn 23
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 26
Biểu đồ 3.1 Thực trạng tiêm phòng vắc xin viêm gan B 33Biểu đồ 3.2 Đánh giá kết quả thực hành dự phòng và xử trí tổn thương với vật sắc
nhọn của sinh viên điều dưỡng 42Biểu đồ 3.3 Thay đổi đánh giá kết quả thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm
với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng sau can thiệp giáo dục 55
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổn thương do vật sắc nhọn trong thực hành lâm sàng là vấn đề sức khỏe thường gặp ở sinh viên điều dưỡng Theo các nghiên cứu, từ 11% đến 50% sinh viên điều dưỡng có tiền sử tiếp xúc với nhiễm khuẩn liên quan đến chấn thương sắc nhọn trong thời gian đào tạo đại học của họ [20], [32], [50] Tổn thương do vật sắc nhọn có thể dẫn đến việc lây truyền các loại vi rút qua đường máu cho sinh viên điều dưỡng nhưvi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), vi rút viêm gan B (HBV) và vi rút viêm gan C (HCV) [33]
Nguy cơ bị lây truyền bệnh do kim đâm hoặc vật nhọn là chấn thương thường xuyên nhất đối với nhân viên y tế ở nhiều quốc gia, dẫn đến gần 16.000 ca viêm gan C, 66.000 ca viêm gan B và 1.000 ca nhiễm HIV hàng năm trên toàn thế giới [31] Kết quả nghiên cứu của Auta A về việc tiếp xúc với chất dịch cơ thể ở 21 quốc gia châu Phi cho thấy tỷ lệ phơi nhiễm trong 12 tháng là 66% [21] Năm 2014, báo cáo của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Nghệ An có 2 sinh viên và tháng 6/2015 có 1 sinh viên bị tổn thương do vật sắc nhọn có dính máu của người bệnh HIV (+) trong quá trình thực tập lâm sàng và phải thực hiện phác đồ điều trị
dự phòng sau phơi nhiễm HIV [16]
Trong khi đó, kiến thức về phòng ngừa và xử lý phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên chưa cao: 85,9% sinh viên không biết hoặc chỉ biết một phần trong các bước xử trí sau phơi nhiễm, 35,1% sinh viên không quan tâm đến tác hại sau phơi nhiễm với nguồn bệnh [48] Năm 2013, ở Ấn Độ, tỷ lệ kiến thức đạt về phòng ngừa tổn thương do kim tiêm và vật sắc nhọn của sinh viên y khoa khi tham gia thực hành chỉ đạt 56% [38] Tại Trung Quốc, năm 2018, có 60,3% sinh viên điều dưỡng bị tổn thương do vật sắc nhọn, trong đó có 59,9% bị thương do kim tiêm, 21,9% do bẻ ống thuốc và 3,4% do kéo [57]
Tại Việt Nam, nghiên cứu tại trường Đại học Y Dược Thái Bình năm 2016,
tỷ lệ sinh viên điều dưỡng có kiến thức đúng về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn
là 71,9% và tỷ lệ sinh viên điều dưỡng có thực hành đúng phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn là 46,7% Tỷ lệ sinh viên điều dưỡng bị tổn thương do vật sắc nhọn là
Trang 1489,9%, trong số các sinh viên bị tổn thương có 90,3% sinh viên bị tổn thương từ 1 -
4 lần và 9,7% sinh viên bị tổn thương trên 4 lần.Nhóm sinh viên với kiến thức, thực hành dự phòng không đúng có tỷ lệ tổn thương do vật sắc nhọn cao gấp 1,69 lần, so với nhóm sinh viên có kiến thức đúng [7]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tấn Tài năm 2018, tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn khi thực tập lâm sàng là 33,1%, tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về xử trí khi bị chấn thương là 35,6% [14]
Tỷ lệ sinh viên xử lý vết thương đúng sau tổn thương còn thấp: chỉ có 36,8% sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang thực hành xử lý vết thương đúng sau tổn thương [10] Tương tự, Trường Đại học Y khoa Vinh có 63% sinh viên xử lý sai vết thương sau khi bị tổn thương [15]
Tổn thương do vật sắc nhọn gây ra là vấn đề phổ biến đáng báo động ở các bệnh viện và đơn vị đào tạo cán bộ y tế trên toàn thế giới, có ảnh hưởng to lớn đến sức khỏe nhân viên y tế nói chung và sinh viên điều dưỡng nói riêng
Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn đào tạo sinh viên điều dưỡng hệ cao đẳng 3 năm; trong đó, phần lớn thời gian học năm thứ 2 và năm thứ 3 sinh viên thực hành lâm sàng ở bệnh viện Trong quá trình chăm sóc người bệnh tại bệnh viện, thực hiện tiêm truyền là thủ thuật thường quy sinh viên được làm trên người bệnh, cũng đồng nghĩa với việc sinh viên có nguy cơ cao bị phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền và có khả năng lây nhiễm với HBV, HCV và HIV qua vật sắc nhọn Nhưng nếu sinh viên có kiến thức, thực hành tốt về phòng ngừa phơi nhiễm với vật sắc nhọn, sẽ làm giảm nguy cơ bị phơi nhiễm và khi bị phơi nhiễm sinh viênsẽ biết cách
xử lý đúng vết thương, làm giảm nguy cơ bị lây nhiễm các bệnh qua đường máu Thực trạng kiến thức, thực hành dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn như thế nào? Can thiệp giáo dục có làm thay đổi kiến thức, thực hành dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên không? Thay đổi như thế nào? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu
“Thay đổi kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn năm 2022”
nhằm 2 mục tiêu sau:
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn năm 2022
nhiễm với vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn sau can thiệp giáo dục
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về vật sắc nhọn và phơi nhiễm với vật sắc nhọn
1.1.1 Khái niệm và phân loại vật sắc nhọn
Vật sắc nhọn (VSN) là bất cứ vật nào có thể gây tổn thương xâm lấn da hoặc qua da [3]
VSN bao gồm: các loại kim tiêm, kim luồn, kim bướm, kim chọc dò, kim châm cứu thải bỏ; ống pipet, ống mao dẫn, ống xét nghiệm thủy tinh bị vỡ; lưỡi dao
mổ, lưỡi dao cạo dùng cho người bệnh; những VSN khác có dính máu, dịch sinh học người bệnh [13]
1.1.2 Khái niệm về phơi nhiễm với vật sắc nhọn
Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa tác nhân gây bệnh trong khi nhân viên y tế thực hiện nhiệm
vụ dẫn đến nguy cơ lây nhiễm bệnh [3]
Tổn thương do VSN là vết đâm xuyên thấu từ kim tiêm, dao mổ hoặc VSN khác có thể dẫn đến tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể khác Bất cứ một kỹ thuật đâm xuyên da nào, bao gồm cả tiêm đều có nguy cơ lây truyền tác nhân gây bệnh đường máu như vi rút viêm gan hoặc HIV làm nguy hại đến cuộc sống của con người [3]
1.1.3 Yếu tố nguy cơ
Có rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến rủi ro tổn thương do VSN đó là: [56]
- Lạm dụng thuốc tiêm và VSN không cần thiết;
- Thiếu vật tư: Bơm tiêm dùng một lần, thiết bị an toàn hơn và hộp đựng VSN;
- Thiếu tiếp cận và không sử dụng thùng chứa VSN ngay sau khi tiêm;
- Thiếu thiết bị bảo vệ cá nhân, thiết bị an toàn và thùng xử lý vật sắc nhọn;
- Nhân sự không đầy đủ;
- Đóng nắp kim sau khi sử dụng;
Trang 17- Thiếu các điều khiển kỹ thuật như các thiết bị kim an toàn hơn;
- Chuyển dụng cụ từ tay này sang tay khác trong quá trình thực hiện;
- Thiếu nhận thức về mối nguy hiểm và thiếu đào tạo;
Theo kết quả nghiên cứu của Celikkalp (2021), 47,4% SV có chấn thương trong khi thực hành lâm sàng [25], nghiên cứu của Santhosh Kumar MP (2016) ở
Ấn Độ, 35% SV bị tổn thương do VSN [45] Nghiên cứu của Veronesi tại 12 trường đại học ở Ý năm 2018 về dịch tễ học và phòng ngừa tổn thương do kim tiêm, kết quả cho thấy 316 sinh viên đã trải qua ít nhất 1 tổn thương do kim tiêm với tỷ lệ 12,7% ở nữ, 9,7% ở nam giới Tỷ lệ cao nhất trong đợt thực tập đầu tiên (25,3%)
và giảm dần theo tiến độ của lộ trình đào tạo Các thương tích xảy ra ở 38% các trường hợp trong quá trình chuẩn bị thuốc, 24% khi vứt bỏ các thiết bị sắc nhọn, 15% trong khi đóng nắp kim tiêm, 13% trong khi lấy mẫu máu và 10% các trường hợp khác [53]
Một nghiên cứu khác nhằm xác định tỷ lệ có vết thương do kim đâm và vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng và nữ hộ sinh tại Iran năm 2015 [39] cho thấy có 30,1% sinh viên đã từng trải qua những vết thương, trong đó vết thương do kim tiêm là phổ biến nhất chiếm 71,6% Ngoài ra vấn đề đáng lo ngại là chỉ có 33,9% sinh viên tiến hành báo cáo sau khi có vết thương xảy ra
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Zhang X năm 2018, tại Nam Kinh, có
237 sinh viên điều dưỡng bị tổn thương do VSN Trong số những người bị thương
có 59,9% bị thương do kim tiêm, 21,9% do bẻ ống thuốc và 3,4% do kéo Trong số những kim tiêm và tổn thương gây thương tích, có 36,3% thiết bị đã được sử dụng
Trang 18trên người bệnh Tổng số 86,9% tổn thương do vật sắc nhọn gây ra không được báo cáo trong việc kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện [57]
1.1.4.2 Tại Việt Nam
Tỷ lệ mắc tổn thương do VSN giữa các cơ sở y tế, giữa các khoa trong cùng một cơ sở y tế là khác nhau, tùy thuộc vào tính chất chuyên môn và số lượng người bệnh ở mỗi cơ sở y tế
Năm 2013, khảo sát 804 sinh viên trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai về kiến thức, thái độ và thực hành phòng lây nhiễm vi rút viêm gan B (HBV), trong tổng số sinh viên đi thực tập lâm sàng có 25,2% sinh viên bị phơi nhiễm với HBV thông qua tổn thương do VSN và dính máu/dịch cơ thể của người bệnh, chỉ có 8,3% số sinh viên thực tập được điều trị phơi nhiễm [10]
Năm 2014, tại trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang trong số 393 sinh viên khảo sát có 53,9% sinh viên bị tổn thương do VSN, cụ thể 29,8% sinh viên bị 1 lần, 15% sinh viên bị 2 lần, 7,1% sinh viên bị 3 lần và bị 4 lần chiếm 2% [11] Năm 2015, tại trường Đại học Y khoa Vinh, tỷ lệ sinh viên bị tổn thương do VSN là 60%, số lần mắc trung bình là 1,46 lần/6 tháng, có tới 59% tổn thương xảy ra đã không tiến hành báo cáo với người có trách nhiệm [15]
Năm 2016, kết quả nghiên cứu của Mỵ Thị Hải trên 135 sinh viên điều dưỡng năm thứ 3 và năm thứ 4 tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình, tỷ lệ SVĐD
bị tổn thương do VSN là 68,9% trong đó có 90,3% sinh viên bị tổn thương từ 1 - 4 lần và 9,7% sinh viên bị tổn thương trên 4 lần [7]
1.1.5 Hậu quả của tổn thương do vật sắc nhọn
Các vết thương do kim đâm hoặc vật nhọn là chấn thương thường xuyên nhất đối với NVYT ở nhiều quốc gia, dẫn đến gần 16.000 ca viêm gan C, 66.000 ca viêm gan B và 1.000 ca nhiễm HIV hàng năm trên toàn thế giới [31]
Nghiên cứu của một số nước trên thế giới cho thấy tổn thương nghề nghiệp
do VSN là vấn đề đáng báo động: Tỷ lệ NVYT có ít nhất một lần có vết thương do VSN gây ra ở Ethiopia là 37,1%, Ai Cập là 68%, Nepal là 70,3% [23],[34],[47]
Trang 19Theo kết quả nghiên cứu tại hai bệnh viện của Ả Rập Xê Út năm 2016 -
2018, tỷ lệ phơi nhiễm ngày càng tăng từ 2,89/10.000 người bệnh/ngày năm 2016 lên 3,42/10.000 người bệnh/ngày năm 2017), cụ thể tỷ lệ phơi nhiễm tại Philippines
là 32,1%, Saudi 23,7% và Ấn Độ 19,8% Trong đó nhóm NVYT bị ảnh hưởng nhiều nhất là điều dưỡng 56,5%, bác sĩ 17,6% [28] Kết quả nghiên cứu của Auta A
về việc tiếp xúc với chất dịch cơ thể ở 21 quốc gia châu Phi cho thấy tỷ lệ phơi nhiễm trong 12 tháng là 66% [21] Theo kết quả nghiên cứu của Helena Appiagyei tại Ghana, tỷ lệ bị tổn thương do VSN trong 12 tháng là 29,7%, tỷ lệ mắc là 1,63 trường hợp bị thương mỗi người/năm [37]
Theo nghiên cứu phân tích tổng hợp của Cooke C.E và Stephens J.M (2017),
tỷ lệ tổn thương do VSN đã được báo cáo dao động từ 14,9% - 69,4%, do phạm vi rộng và sự khác biệt về quốc gia NVYT có thể gặp các ảnh hưởng nghiêm trọng về cảm xúc và rối loạn sức khỏe tâm thần sau khi gặp tổn thương do VSN, dẫn đến mất việc và căng thẳng sau tổn thương Trong năm 2015, chi phí trung bình của một tổn thương do VSN là 747 đô la [26]
Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Dương Khánh Vân năm 2013 tại một số bệnh viện khu vực Hà Nội, ước tính nhiễm khuẩn do VSN gây ra ở NVYT đối với HBV và HIV lần lượt là 32,16% và 0,52% [19] Năm 2013, tại Đồng Nai 25,2% HSSV bị phơi nhiễm với HBV thông qua chấn thương do VSN và văng bắn máu dịch cơ thể của người bệnh, nhưng chỉ có 8,3% SV bị phơi nhiễm được điều trị [10] Năm 2014, báo cáo của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Nghệ An có 2 sinh viên và tháng 6/2015 có 1 sinh viên bị tổn thương do VSN có dính máu của người bệnh HIV (+) trong quá trình thực tập lâm sàng, phải thực hiện phác đồ điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV [16]
1.1.6 Các biện pháp phòng ngừa và xử lý tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn
1.1.6.1 Các biện pháp phòng ngừa tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn
Dự phòng tổn thương do VSN cho SVĐD cần quan tâm đến những việc sau: Khi thực hiện các thủ thuật có liên quan đến các VSN như kim tiêm, kim khâu
Trang 20SVĐD cần chú ý đề phòng bị tổn thương do VSN Cần tuyệt đối tuân thủ các hướng dẫn về thao tác an toàn trong khi thực hiện các thủ thuật và các quy định về xử lý VSN [3],[5]:
Thao tác an toàn với kim tiêm, kim khâu và các VSN khác
- Thực hiện đúng các quy trình tiêm theo hướng dẫn;
- Sắp xếp nơi làm việc sao cho tất cả các dụng cụ đều trong tầm với của cả hai tay và phải có thùng thu gom VSN được để sát bên để loại bỏ các VSN nhanh
và an toàn;
- Tập trung vào công việc, không nói chuyện và không nhìn đi chỗ khác;
- Không tháo, đậy, hoặc bẻ cong kim tiêm sau khi dùng Không đậy kim bằng hai tay Trường hợp kỹ thuật đòi hỏi tháo, lắp kim tiêm tách biệt khỏi bơm tiêm thì phải dùng panh Áp dụng kỹ thuật “múc nắp” đậy kim để sẵn trong khay (trước tiên để nắp kim lên trên một mặt phẳng sau đó dùng một tay đưa đầu kim vào miệng nắp kim và từ từ luồn sâu kim vào nắp Dùng tay kia siết chặt nắp kim);
- Không dùng tay trực tiếp bẻ ống thuốc thủy tinh, sử dụng gạc bao xung quanh rồi mới bẻ;
- Trong khi thao tác với kim tiêm không để tay trước mũi kim;
- Không đi lại trong khi cầm kim tiêm trong tay Nếu cần di chuyển thì kim phải được để trong khay;
- Trong khi tiêm phải đảm bảo rằng người bệnh biết cách giữ yên, không giãy dụa Nếu người bệnh là trẻ em cần có người giúp đỡ giữ yên người bệnh;
- Trong khi tiêm không dùng tay dò tĩnh mạch phía trên da, bên ngoài mũi kim trong khi tay kia đang đẩy kim tìm mạch máu;
- Lấy bệnh phẩm tập trung để tránh phải lấy máu lại nhiều lần;
- Khi VSN (kim tiêm, kim khâu, dao mổ ) rơi, nên để chúng tự rơi, không
cố đón;
- Không chuyển kim tiêm, kim khâu, dao mổ cho người khác trực tiếp bằng tay, nên chuyển qua khay;
Trang 21- Không giữ bình chứa, phiến kính,… bằng tay khi nhỏ dịch thể/máu của người bệnh vào Nên để vật chứa bất động trong khay hay trên bàn, ghế,… Không dùng tay để cạo vào phiến kính có mẫu xét nghiệm;
- Có thể sử dụng các dụng cụ tiêm có đặc tính bảo vệ trong trường hợp nguy
cơ bị kim đâm cao (ví dụ người bệnh kích thích, giãy dụa )
Thao tác an toàn khi huỷ bỏ kim tiêm
- Bỏ kim tiêm ngay tại nơi tiến hành tiêm;
- Huỷ kim tiêm với một động tác dứt khoát, huỷ từng cái một bằng máy huỷ
- Không được vứt bỏ bơm kim tiêm vào thùng đựng rác thải sinh hoạt;
- Ở những nơi không có điều kiện huỷ bỏ bơm kim tiêm nên sử dụng bơm
kim tiêm tự huỷ
Quản lý chất thải sắc nhọn
- Thùng thu gom VSN phải không bị xuyên thủng, đủ lớn để chứa các VSN,
có nắp và bố trí ở nơi thích hợp để tiện lợi khi loại bỏ VSN;
- Không được để kim tiêm vương vãi ở ngoài môi trường Khi thấy các kim tiêm trên sàn nhà hoặc trên mặt đất trong bệnh viện cần phải dùng kẹp gắp và bỏ vào thùng thu gom chất thải sắc nhọn;
- Khi thu gom và xử lý các thùng thu gom VSN, cần quan sát kỹ xem có quá đầy và có các VSN chĩa ra ngoài hay không Tránh để tay quá gần chỗ mở của các thùng chứa các VSN, không nên thu gom các thùng đựng vật sắc nhọn bằng tay không có găng bảo hộ Vận chuyển thùng bằng xe đẩy và mang găng bảo hộ
Yêu cầu của dụng cụ chứa chất thải sắc nhọn như sau [5],[13]: Phương tiện đựng chất thải sắc nhọn phải phù hợp với phương pháp tiêu huỷ cuối cùng Hộp đựng chất thải sắc nhọn phải bảo đảm các tiêu chuẩn: thành và đáy cứng không bị
Trang 22xuyên thủng; có khả năng chống thấm; kích thước phù hợp; có nắp đóng mở dễ dàng; miệng hộp đủ lớn để cho VSN vào mà không cần dùng lực đẩy; có dòng chữ
“CHỈ ĐỰNG CHẤT THẢI SẮC NHỌN” và có vạch báo hiệu ở mức 3/4 hộp và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”; màu vàng; có quai hoặc kèm hệ thống cố định; khi di chuyển VSN bên trong không bị đổ ra ngoài
Đối với các cơ sở y tế sử dụng máy huỷ kim tiêm, máy cắt bơm kim tiêm, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải được làm bằng kim loại hoặc nhựa cứng có thể tái
sử dụng và phải là một bộ phận của máy huỷ, cắt bơm kim;
Đối với hộp nhựa đựng chất thải sắc nhọn có thể tái sử dụng, trước khi tái sử dụng, hộp nhựa phải được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng cụ y
tế Hộp nhựa sau khi khử khuẩn để tái sử dụng phải còn đủ các tính năng ban đầu
Loại bỏ nguy cơ [55]
Loại bỏ hoàn toàn mối nguy hiểm khỏi khu vực làm việc là cách hiệu quả nhất để kiểm soát các mối nguy hiểm; phương pháp này nên được sử dụng bất cứ khi nào có thể Các ví dụ bao gồm:
- Loại bỏ VSN và kim tiêm khi có thể;
- Loại bỏ tất cả các mũi tiêm không cần thiết;
- Loại bỏ các VSN khác không cần thiết như kẹp khăn
Các biện pháp hành chính
- Phân bổ các nguồn lực phù hợp;
- Thành lập phòng quản lý phòng chống tổn thương do VSN;
- Xây dựng một kế hoạch kiểm soát phơi nhiễm;
- Loại bỏ tất cả các thiết bị không an toàn;
- Đào tạo phù hợp về việc sử dụng các thiết bị an toàn
Các biện pháp dự phòng khác [9]
- Cung cấp đầy đủ các phương tiện tiêm thích hợp (xe tiêm, bơm kim tiêm, kim lấy thuốc, cồn sát khuẩn tay, hộp đựng VSN )
Trang 23- Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin công cộng về nguy cơ của tiêm
và khuyến khích giảm số lượng mũi tiêm không cần thiết Sử dụng thuốc bằng đường uống khi có thể, lấy bệnh phẩm tập trung để tránh lấy máu nhiều lần
- Sử dụng các thiết bị thay thế không kim để nối các phần của hệ thống đường truyền tĩnh mạch, hoặc sử dụng các loại kim luồn an toàn
- Đào tạo, cập nhật các kiến thức, thực hành tiêm an toàn và thận trọng khi làm các thủ thuật liên quan đến tiêm và xử lí các VSN khác
- Đưa các tiêu chí đánh giá tiêm an toàn vào kiểm tra chất lượng bệnh viện hàng năm
- Khuyến khích SVĐD tiêm phòng vacxin viêm gan B
1.1.6.2 Xử lý khi bị phơi nhiễm với tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường máu liên quan đến tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn
Xử lý tình huống tổn thương do VSN [13]:
Bước 1: Xử lý vết thương tại chỗ
- Rửa vết thương ngay bằng xà phòng và nước dưới vòi nước chảy;
- Không sử dụng nước khử khuẩn trên da;
- Không cọ hoặc chà xát, nắn bóp khu vực bị tổn thương
Bước 2: Báo cáo người phụ trách và làm biên bản
- SVĐD bị phơi nhiễm cần báo cáo ngay cho người chịu trách nhiệm để xử trí và thực hiện điều trị dự phòng sau phơi nhiễm theo quy định;
- Ghi lại đầy đủ các thông tin như sau: Ngày, giờ, hoàn cảnh xảy ra tai nạn rủi ro; đánh giá vết thương; mức độ nguy cơ của phơi nhiễm Lấy chữ ký của những người chứng kiến và chữ ký của người phụ trách
Bước 3: Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm: Đánh giá theo 3 mức độ
- Không có nguy cơ: Máu và chất dịch của người bệnh bắn vào vùng da lành;
- Nguy cơ thấp: Tổn thương da xây xát nông và không chảy máu hoặc chảy máu ít; máu và chất dịch chất thải của người bệnh bắn vào niêm mạc không bị tổn thương viêm loét;
Trang 24- Nguy cơ cao: Tổn thương qua da sâu, chảy nhiều máu do kim tiêm cỡ to; Tổn thương qua da sâu, rộng chảy máu nhiều do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải
Bước 4: Đánh giá nguồn gây phơi nhiễm
- Nguồn từ máu và dịch của người bệnh cần được đánh giá tình trạng nhiễm
vi rút viêm gan B, C và HIV: thu thập thông tin từ bệnh án và người bệnh (kết quả xét nghiệm, chẩn đoán khi vào viện, tiền sử bệnh);
- Trong trường hợp không rõ tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B, C và HIV của người bệnh là nguồn phơi nhiễm → cần được thông báo về tai nạn nghề nghiệp
và được xét nghiệm để xác định tình trạng nhiễm vi rút gây bệnh qua đường máu và điều trị kịp thời;
- Nếu người bệnh là nguồn phơi nhiễm bị nhiễm bệnh, cần cung cấp dịch vụ
tư vấn và điều trị thích hợp cho họ Bên cạnh đó, cần giữ bí mật thông tin về tình trạng bệnh tật của họ
Bước 5: Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm
- SVĐD bị phơi nhiễm cần được xét nghiệm HIV trong vòng vài giờ đầu sau khi xảy ra phơi nhiễm;
- Kết quả xét nghiệm HIV đầu tiên này được sử dụng để đánh giá tình trạng nhiễm trước khi phơi nhiễm (Kết quả: âm tính);
- Kết quả xét nghiệm của người bị phơi nhiễm với HIV tại một trong các thời điểm 01 tháng hoặc 03 tháng, 06 tháng sau khi bị tai nạn rủi ro là dương tính (+) Sau 6 tháng mà kết quả âm tính (-) thì không bị phơi nhiễm HIV
Bước 6: Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm
- Giai đoạn cửa sổ → thuốc ARV có thể phòng ngừa nhiễm HIV, điều trị càng sớm càng tốt;
- Khuyến cáo nên tiêm ngừa HBV cho tất cả nhân viên làm việc tại các cơ sở
y tế (3 lần vào tháng 0, 1 và 6);
- Điều trị dự phòng HCV
Ngoài ra cần tư vấn cho người bị phơi nhiễm [5]:
Trang 25- Nguy cơ nhiễm HIV, HBV, HCV;
- Các triệu chứng gợi ý bị tác dụng phụ của thuốc và nhiễm trùng tiên phát: sốt, phát ban, buồn nôn hoặc nôn, thiếu máu, nổi hạch, ;
- Phòng lây nhiễm cho người khác: người bị phơi nhiễm có thể làm lây truyền HIV cho người khác dù xét nghiệm HIV âm tính (thời kỳ cửa sổ), vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm;
- Các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ sẵn có;
- Kết quả xét nghiệm của họ cần được giữ bí mật hoàn toàn
1.2 Thực trạng kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn
1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Về kiến thức phòng ngừa phơi nhiễm với kim tiêm và vật sắc nhọn, theo nghiên cứu của tác giả Hani A năm 2017 cho thấy hơn 80% SV cho rằng có thể lây truyền HIV, HBV qua kim tiêm và SV dễ bị tổn thương do kim tiêm, 76% SV không ý thức nhận thức được rằng kim không nên uốn cong sau khi sử dụng, 72%
SV tháo kim ra khỏi bơm biêm trước khi thải bỏ, 88% SV đồng ý rằng xử lý kém vật sắc nhọn dẫn đến phơi nhiễm, 98% đồng ý rằng cách xử lý kim an toàn sẽ giúp giảm tỷ lệ tổn thương [36] Chỉ 16,4% HS/SV năm thứ 3; 29,5% HS/SV năm thứ 4
và 36,2% HS/SV năm cuối biết đầy đủ chi tiết của việc phòng ngừa các tổn thương
do kim [46], 16,5% SV tự tin rằng họ có đủ kiến thức liên quan đến tổn thương do kim tiêm [49]
Theo kết quả nghiên cứu tại Đại học Mekelle năm 2017, chỉ có 29,8% SVĐD có kiến thức tốt và có tới 37,7% SVĐD có kiến thức kém về rủi ro nghề nghiệp [51] Nghiên cứu của Ellatif Zainb (2018), 50% sinh viên có kiến thức kém
về các biện pháp phòng ngừa tổn thương do VSN [27] Sinh viên thiếu kiến thức về phòng ngừa tổn thương do VSN là yếu tố nguy cơ cực kỳ lớn dẫn đến bị tổn thương tại cơ sở y tế Nghiên cứu của Sanja năm 2017 tại Croatia đã chỉ ra rằng cần có chiến lược giáo dục phù hợp để nâng cao nhận thức của SVĐD về phòng ngừa tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn và giảm thiểu sự xuất hiện tổn thương trong
Trang 26sinh viên điều dưỡng [44]
Souza-Borges và cộng sự (2014) [48] tiến hành nghiên cứu về phơi nhiễm nghề nghiệp, kiến thức, hành vi của SV y khoa và SV điều dưỡng ở đại học cộng đồng Brazil về phòng ngừa vết thương do kim đâm và VSN Trong số các SV y khoa và SV điều dưỡng, kết quả 48% và 18% SV đã không thường xuyên sử dụng thiết bị bảo vệ cá nhân; 67,6% và 16,8% SV thực hiện động tác đậy nắp kim; 1,4%
và 18,9% SV tiến hành báo cáo ngay sau khi có vết thương Nghiên cứu này đặt ra cần tăng cường đào tạo để phòng ngừa vết thương do kim đâm và VSN ở SV
Nghiên cứu của Tres Silowaiti năm 2018 tại Indonesia nhằm so sánh phòng ngừa tổn thương do VSN giữa SVĐD học tại trường, SVĐD lâm sàng và điều dưỡng chuyên khoa, kết quả tỷ lệ thực hành về dự phòng tổn thương do VSN chưa tốt lần lượt là 76,5%; 58,6% và 43,1% [52]
Khi bị phơi nhiễm với kim tiêm hành động xử lý vết thương ngay lập tức đúng kỹ thuật sẽ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường máu Tuy nhiên, kiến thức về xử trí vết thương sau phơi nhiễm của SV chưa được tốt Theo nghiên cứu của Souza-Borges năm 2014 có 85,9% SV không biết hoặc chỉ biết một phần trong các bước xử trí sau phơi nhiễm [48] Ở Oma, chỉ có 38,6% SV biết chính xác hành động cần thực hiện ngay sau khi bị tổn thương do VSN [41] Nghiên cứu của Kin Cheung có 62,1% SV rửa tay ngay dưới vòi nước đồng thời nặn máu, làm sạch bằng bông cồn 56,9% [40]
Sau khi bị phơi nhiễm với kim tiêm và VSNsinh viên cần phải báo cáo với người phụ trách/quản lý về tình trạng phơi nhiễm để được tư vấn và điều trị dự phòng nếu cần thiết Tuy nhiên, tỷ lệ SV báo cáo sau tổn thương theo các nghiên cứu còn chưa cao Theo nghiên cứu của SouzaBorges có 32,4% SV bị tổn thương không báo cáo với người quản lý SV viện giải lý do không báo cáo là: sơ suất 37,5%, vết thương nhỏ không có nguy cơ lây bệnh 12,5%; không cần thiết báo cáo 12,5%; sợ bị phạt 12,5% Trong số bệnh nhân nguồn phơi nhiễm có 8,1% bệnh nhân HBV/HCV/HIV (+); 35,1% không quan tâm đến tác hại sau phơi nhiễm của nguồn bệnh [48]
Trang 27Kết quả nghiên cứu của Kin Cheang cho thấy tỷ lệ không báo cáo tổn thương
là 60,7% vì lý do: họ coi thiết bị là sạch không bị nhiễm khuẩn (76,5%), nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh thấp (50%), quy trình báo cáo phức tạp (14,7%), sợ bị phạt (11,8%), không biết báo cáo như thế nào và không có thời gian báo cáo (2,9%) [40] Một nghiên cứu khác tại trường đại học Mahatma Gandhi cho thấy tỷ lệ SV không báo cáo sau tổn thương là 77,4% trong đó 47,9% sinh viên không biết phải báo cáo như thế nào [38]
Sau phơi nhiễm có hơn 1/2 sinh viên không xác định tình trạng người bệnh
mà mình bị phơi nhiễm qua tổn thương, có 11,4% đã dự phòng phơi nhiễm và 19,54% đã đi xét nghiệm huyết thanh [24]
Nghiên cứu của Mohsen Dalia năm 2019 tại trường Cao đẳng y tế Inaya, KSA Kết quả có 49% SV có kiến thức tốt và 52% SV có thực hành đạt về phòng ngừa tổn thương do kim tiêm Nghiên cứu chỉ ra kiến thức và thực hành của SV về
dự phòng tổn thương do VSN liên quan đến chấn thương do kim tiêm và VSN Việc cung cấp các chương trình giáo dục và đào tạo cho SV về dự phòng tổn thương do VSN có tác dụng rất lớn trong việc giảm tỷ lệ bị tổn thương do VSN Nghiên cứu khuyến nghị cần thực hiện các buổi giáo dục thường xuyên cho SV kiến thức, thực hành về xử lý, tiêu hủy VSN [42]
Nghiên cứu của Seham A tại Đại học Tanta năm 2020 nhằm đánh giá hiệu quả của việc thực hiện đào tạo năng lực thực hành của SV điều dưỡng về vấn đề tiêm an toàn và dự phòng tổn thương do VSN trên 75 SV ngẫu nhiên trải qua thời gian thực tập tại bệnh viện Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thực hiện chương trình đào tạo đã góp phần nâng cao kiến thức và thực hành của SVĐD về dự phòng tổn thương do kim tiêm và VSN Nghiên cứu khuyến nghị SVĐD nên liên tục củng
cố các hướng dẫn và cần phải quản lý, giám sát lâm sàng để đảm bảo tuân thủ các thực hành liên quan đến dự phòng tổn thương do VSN [46]
1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện tại, Việt Nam có rất ít đề tài nghiên cứu liên quan kiến thức, thực hành
về phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN của SVĐD Xử lý đúng vết thương và báo
Trang 28cáo sự việc bị tổn thương đến người có trách nhiệm là hành động sinh viên cần thực hiện nghiêm túc để bảo vệ chính bản thân, đồng thời cung cấp số liệu cho hệ thống giám sát tai nạn nghề nghiệp
Kiến thức, thực hành của SV về phòng ngừa và xử trí sau phơi nhiễm với kim tiêm và vật sắc nhọn chưa cao Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Văn Luyến, 80% SV đã được giảng về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn nhưng chỉ
có 57,8% SV có kiến thức đúng về phòng ngừa và xử lý tổn thương do vật sắc nhọn, 36,8% sinh viên thực hành và xử lý đúng [11]
Kết quả nghiên cứu của Mỵ Thị Hải năm 2016, tỷ lệ sinh viên điều dưỡng có kiến thức đúng về phòng ngừa tổn thương do VSN là 71,9% và tỷ lệ sinh viên điều dưỡng có thực hành đúng phòng ngừa tổn thương do VSN là 46,7% Nhóm sinh viên với kiến thức thực hành dự phòng không đúng có tỷ lệ tổn thương do VSN cao gấp 1,69 lần so với nhóm sinh viên có kiến thức đúng [7] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tấn Tài năm 2018, tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về phòng ngừa chấn thương do vật sắc nhọn khi thực tập lâm sàng là 33,1%, tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về xử trí khi bị chấn thương là 35,6% [14]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phương Anh năm 2019 tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, tỷ lệ SV có kiến thức chung đúng về dự phòng tổn thương do VSN là 59,7% Tỷ lệ SVĐD biết đến cả 6 nguyên nhân dẫn đến tổn thương do VSN rất thấp (11%); 33% SV kể tên được 3 loại bệnh truyền nhiễm phổ biến, 29 SVĐD có kiến thức đúng về phương pháp xử lý kim an toàn; 67,3% SV biết các bước xử lý sau khi bị tổn thương và 85% SV hiểu rằng báo cáo sau khi bị tổn thương do VSN là cần thiết [1]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà năm 2019, tỷ lệ SV có kiến thức chung đạt về phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN trong tiêm truyền là 62,1%;
có tới 80% SV cho rằng đã có vắc xin phòng viêm gan C; 39,3% sinh viên biết là nguy cơ phơi nhiễm khi bẻ ống thuốc và 32,6% sinh viên biết để an toàn trong phòng phơi nhiễm với vật sắc nhọn cần xử lý đúng kim tiêm truyền sau khi sử dụng; chỉ có 36,8% sinh viên trả lời đúng rằng nếu ngay sau phơi nhiễm, người bị phơi
Trang 29diễm đã dương tính là do không phải phơi nhiễm vừa mới xảy ra mà do họ đã bị bệnh từ trước đó [6]
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Tuyết năm 2020 tại Trường Đại học
Y Dược Hải Phòng, tỷ lệ SVĐD có kiến thức đạt về phòng ngừa tổn thương do VSN là 84,7% và tỷ lệ sinh viên điều dưỡng có thực hành đạt phòng ngừa tổn thương do VSN là 78,8% Nghiên cứu đã chỉ ra năm học có liên quan đến nguy cơ
bị tổn thương do VSN, kiến thức có liên quan với nguy cơ bị tổn thương do VSN, thực hành có liên quan với nguy cơ bị tổn thương do VSN Vì vậy, cần đề xuất một
số giải pháp giúp hạn chế tổn thương do VSN ở SVĐD [18]
Sau khi bị tổn thương có 63% SVĐDxử lý sai vết thương: nặn bóp máu ở vết thương và vệ sinh bằng dung dịch khử khuẩn, tỷ lệ báo cáo sau phơi nhiễm còn chưa cao, chỉ có 41% SVĐD báo cáo sau tổn thương, trong đó 31% báo cáo đúng người có trách nhiệm, có tới 59% tổn thương xảy ra đã không tiến hành báo cáo với người có trách nhiệm Lý do chính SV không báo cáo bởi vì nhận thấy không có nguy cơ lây bệnh và báo cáo cũng không giải quyết được vấn đề gì [15] Hoặc lý do
là vết thương nhỏ (10%), không có nhiều nguy cơ lây nhiễm (51,8%) hay không biết các thủ tục báo cáo (46,4%) [6]
Người bị tổn thương có thể bị lây nhiễm các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường máu nguy hiểm như HIV, HBV, HCV, đây là các nhóm bệnh nguy hiểm hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Qua một số nghiên cứu ở đối tượng sinh viên y đa khoa, đại học và trung cấp điều dưỡng cho thấy thực trạng kiến thức, thực hành về phòng ngừa và xử lý sau phơi nhiễm của sinh viên còn rất kém [11],[15] Như vậy, tổn thương do VSN đã và đang là vấn đề phổ biến đáng báo động ở các cơ sở y tế trên toàn thế giới, gây ảnh hưởng cho những người mắc phải, mà một trong những đối tượng dễ mắc đó chính là SVĐD đang thực tập tại các cơ sở y tế
Tỷ lệ hiện mắc, mới mắc, số lượt mắc trung bình khác nhau giữa các nước và các vùng trên thế giới Chính vì vậy, trước khi bắt đầu tham gia thực tập lâm sàng, sinh viên cần được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng thực hành để chủ động trong phòng ngừa và giảm thiểu tác hại gây ra bởi tổn thương do dụng cụ y tế
Trang 301.3 Khái niệm, mục đích và vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe
1.3.1 Khái niệm
Truyền thông - giáo dục sức khỏe (TT - GDSK) là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người, nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng [29],[43]
Khái niệm TT - GDSK nhấn mạnh hai đặc trưng cơ bản Thứ nhất truyền thông là một quá trình có tính liên tục, lặp đi lặp lại trong một thời gian nhất định Thứ hai, quá trình này là sự chia sẻ, trao đổi thông tin hai chiều hoặc đa chiều giữa các chủ thể tham gia vào qua trình này để có chuyển biến tích cực về kiến thức, niềm tin, thái độ và thực hành các chủ thể [43]
Thực chất TT - GDSK là quá trình dạy và học, trong đó tác động giữa người thực hiện giáo dục sức khỏe và người được giáo dục sức khỏe theo hai chiều Người
thực hiện TT - GDSK không phải chỉ là người "Dạy" mà còn phải biết "Học" từ
đối tượng của mình Thu nhận những thông tin phản hồi từ đối tượng được TT - GDSK là hoạt động cần thiết để người thực hiện TT - GDSK điều chỉnh, bổ sung hoạt động của mình nhằm nâng cao kỹ năng, nâng cao hiệu quả các hoạt động TT - GDSK [12],[17]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới [54], bản chất của GDSK là người làm việc với người để giải quyết các vấn đề và nâng cao chất lượng cuộc sống Việc truyền thông giúp trang bị cho mọi người những sự kiện, những tư tưởng và những thái độ mà họ cần có để đề ra những quyết định về tình trạng sức khỏe của mình Mục đích của GDSK là gây ảnh hưởng tích cực đến hành vi sức khỏe của cá nhân và cộng đồng cũng như điều kiện sống và làm việc có ảnh hưởng đến sức khỏe của họ
GDSK là một quá trình cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, kết hợp nhiều phương pháp Hoạt động GDSK không phải chỉ đơn thuần là phát đi các thông tin hay thông điệp về sức khỏe, hay cung cấp thật nhiều thông tin về sức khỏe cho mọi người, mà là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch vào con người nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và cách thực hành của mỗi người nhằm
Trang 31nghiên cứu sức khỏe cho họ và cho cả cộng đồng Hoạt động GDSK thực chất là tạo
ra môi trường hỗ trợ cho quá trình thay đổi hành vi sức khỏe của mỗi người nhằm đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được [8]
1.3.2 Mục đích của truyền thông - giáo dục sức khoẻ [12],[33]
Làm cho các đối tượng giáo dục sức khoẻ có thể tự chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khoẻ của bản thân và cộng đồng bằng những nỗ lực của chính bản thân Cụ thể là:
- Tự quyết định và có trách nhiệm về những hoạt động và biện pháp bảo vệ sức khoẻ của mình
- Tự giác chấp nhận và duy trì các lối sống lành mạnh, từ bỏ những thóiquen, tập quán có hại cho sức khoẻ
- Biết sử dụng các dịch vụ y tế có thể có được để giải quyết các nhu cầu sức khoẻ và các vấn đề sức khoẻ của mình
1.3.3 Vai trò của giáo dục sức khỏe
GDSK dễ dàng lôi cuốn sự lưu ý của quần chúng đối với các vấn đề sức khỏe một cách mau chóng
GDSK có thể đưa ra các ý kiến về sức khỏe hết sức hữu hiệu
GDSK có thể kích thích quần chúng, tạo ra những đáp ứng tình cảm để người nghe thay đổi nếp sống để có một sức khỏe tốt
GDSK có thể tác động lên dư luận, tạo ra các cơ hội để tranh luận cách thức duy trì sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật qua phương tiện liên lạc
GDSK có thể hợp tác với các nhà chuyên môn để tổ chức các buổi gặp gỡ giữa quần chúng với nhau hoặc giữa các nhà chuyên môn với quần chúng để trao đổi kiến thức bảo vệ sức khỏe
Giúp cải thiện sự gắn bó các quan hệ cộng đồng, giúp các tổ chức liên quan tới bảo vệ sức khỏe cùng sát cánh làm việc
Trang 321.4 Học thuyết nghiên cứu: Học thuyết học tập xã hội của Albert Bandura [22]
Năm 1953, ông bắt đầu dạy tại trường Đại học Standford Ở đó, ông cộng tác với người học trò bậc sau đại học đầu tiên của mình là Richard Walters, kết quả là
họ đã hoàn thành cuốn sách đầu tiên: Nổi Loạn Nơi Tuổi Dậy Thì (Adolescent Agression) vào năm 1959 Bandura đã từng giữ chức chủ tịch Hiệp hội Tâm lý Hoa
Kỳ APA vào năm 1973, và đã nhận được bằng khen của Hiệp hội này vì đã có những đóng góp cống hiến khoa học xuất sắc
1.4.2 Nội dung cơ bản của Học tập xã hội của Albert Bandura
Bandura xây dựng học thuyết của mình về hai điểm mà nhiều người cho rằng đấy là hai điểm nổi cộm đối với con người: Học bằng cách (a) quan sát hay còn gọi
là rập khuôn và (b) khả năng tự kiểm soát
1.4.2.1 Học từ quan sát
Bandura thiết lập một hệ thống thao tác thực nghiệm bao gồm các bước cho toàn bộ quá trình rập khuôn như sau:
- Chú ý: Nếu chúng ta muốn học một điều gì đó, chúng ta sẽ tập trung tư
tưởng Tương tự, tất cả những cản trở trong quá trình tập trung sẽ làm giảm khả năng học tập qua cách quan sát
- Giữ lại: Là khả năng lưu giữ trí nhớ về những gì chúng ta đã tập trung chú
ý vào Đây là giai đoạn những chuỗi hình ảnh hay ngôn ngữ có những đóng góp vào quá trình lưu trữ
Trang 33- Lặp lại: Cá nhân sẽ chuyển tải những hình ảnh trong hệ tâm thức hay
những mô tả ngôn ngữ trở thành hành vi thật sự
- Động cơ: Là một bộ phận quan trọng trong quá trình học tập một thao tác
mới Chúng ta có mô hình mẫu hấp dẫn, có trí nhớ, và khả năng bắt chước, nhưng nếu không có động cơ bắt chước, ít nhất là một lý do tại sao ta phải bắt chước hành
vi này, ta sẽ không thể học tập hiệu quả được
1.4.2.2 Tự kiểm soát
Tự kiểm soát là quá trình kiểm soát hành vi của chính chúng ta, đây chính là
bộ máy vận hành tạo ra nhân cách của mỗi chúng ta Ông đề nghị có 3 bước sau:
- Tự quan sát mình: Khi chúng ta nhìn vào bản thân mình và những hành vi
của chúng ta, chúng ta thường kiểm soát những hành vi này trong một chừng mực nhất định
- Đánh giá cân nhắc: Chúng ta so sánh những gì chúng ta nhìn thấy với một
hệ tiêu chuẩn nào đó
- Cơ năng tự phản hồi: Nếu ta bằng lòng với việc so sánh với tiêu chuẩn
của mình, ta sẽ tự thưởng mình qua cơ năng tự phản hồi Nếu ta không thỏa mãn với kết quả so sánh này, chúng ta cũng có thói quen tự phạt mình qua cơ năng tự phản hồi
1.4.3 Áp dụng các liệu pháp của học thuyết
1.4.3.1 Liệu pháp tự kiểm soát
Đây là ý tưởng đứng sau khái niệm tự phản hồi được ứng dụng vào kỹ năng liệu pháp gọi là tự kiểm soát Đây là lối trị liệu tương đối có hiệu quả với những vấn
đề đơn giản về thói quen như muốn bỏ thuốc lá, thói ăn vặt, hay thói quen chểnh mảng và lười biếng Dưới đây là từng bước áp dụng:
Biểu đồ hành vi: Đây là quá trình tự quan sát, yêu cầu một cá nhân phải để mắt thật kỹ đến hành vi của mình, trước và sau khi áp dụng liệu pháp Chẳng hạn đơn giản như việc bạn đếm xem mình đã đi bộ bao nhiêu thời gian trong một ngày Sau đó bạn sẽ viết nhật ký ghi lại ví dụ như đi bộ những lúc nào, nơi nào, và với ai
Trang 34Điều này sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện về những mảng liên quan, từ đó các vấn đề sẽ được xử lý tận gốc
Kế hoạch cải tạo môi trường sinh hoạt: Lập một kế hoạch cụ thể chẳng hạn thu dọn những đồ đạc hoặc những vật dụng không cần thiết trên sàn nhà để tránh vấp ngã ngay khi nhìn thấy hoặc thu dọn định kỳ hàng ngày
Tự ký kết hợp đồng với mình: Sau cùng bạn có thể sắp xếp một chế độ tự thưởng nếu như bạn gắn bó với kế hoạch mình đã đề ra và tìm cách kỷ luật bản thân nhưng tránh đừng tự trừng phạt mình Bạn có thể viết xuống bản hợp đồng cá nhân với chính mình, ghi xuống cụ thể những điều cần làm và cần tránh:
1.4.3.2 Liệu pháp mô hình
Học thuyết của ông cho rằng một cá nhân A có những vấn đề, nếu quan sát một cá nhân B có những vấn đề tương tự, cá nhân A sẽ bắt chước những hành vi tích cực của cá nhân B Đây chính là mô hình rập khuôn Chúng tôi sẽ giáo dục và hướng dẫn một số SVĐD có kiến thức tốt, thực hành tốt về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN; từ đó, các SVĐD khác cũng có thể học tập và vận dụng kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN cho mình
Trang 35Sơ đồ 1.1 Lý thuyết học tập về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn
1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn thành lập ngày 27/9/2006 theo Quyết định
số 5354/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Y tế Lạng Sơn
Hiện nay, trường có 298 sinh viên đang theo học với các chuyên ngành: Cao đẳng điều dưỡng, caođẳng Dược, Cao đẳng Hộ sinh, Đại học điều dưỡng liên thông
Trường có nhiệm vụ: Tổ chức đào đạo cán bộ y tế có trình độ Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp; bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ cán bộ y tế của tỉnh nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ của tỉnh
và của ngành; tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ về giáo dục và y
tế trong hoạt động giảng dạy của nhà trường và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tỉnh; tăng cường liên kết và hợp tác đào tạo, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực y tế cho tỉnh Lạng Sơn và xã hội, nhằm phục vụ chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tuổi
Giáo dục
Kinh nghiệm làm việc
Giới tính
Hướng dẫn ban đầu
Mô hình hóa, chiến lược giảng dạy Thực hành tại trường, bệnh viện
Kỹ năng nhận được
Tiêu chuẩn phòng ngừa Lưu ý phòng ngừa Nguy cơ lây truyền bệnh
Kỹ thuật xử lý vật sắc nhọn Các biện pháp an toàn
THỰC HÀNH
NIỀM TIN KẾT QUẢ
- Tuân thủ các biện pháp phòng ngừa vết thương do dụng cụ y tế sắc nhọn
- Xử trí đúng
Trang 36Vấn đề dự phòng và xử trí phơi nhiễm với VSNcó trong nội dung quản lý phơi nhiễm nghề nghiệp thuộc học phần kiểm soát nhiễm khuẩn với số lượng là 3 tín chỉ Học phần được chia ra 2 tín chỉ lý thuyết và 1 tín chỉ thực hành, được giảng dạy ở học kỳ I của năm thứ nhất Các tín chỉ lý thuyết sinh viên được học tại các giảng đường, tín chỉ thực hành sinh viên học tại các cơ sở thực hành của nhà trường Mặc dù, nội dung dự phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN mọi SVĐD đều được học, tuy nhiên, do thời lượng giảng dạy theo chương trình tổng thể còn ít Kiến thức và thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn của SVĐD tích lũy được trong quá trình đào tạo, sẽ bị mai một theo thời gian Vì vậy, một trong những giải pháp góp phần nâng cao kiến thức, thực hành vềdự phòng và
xử trí phơi nhiễm với VSN là thường xuyên thực hiện can thiệp giáo dục cho SVĐD, nhằm củng cố, bổ sung kiến thức và thực hành
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Sinh viên cao đẳng điều dưỡng năm thứ nhất, năm thứ 2, năm thứ 3 của Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn đã học xong các học phần: Điều dưỡng cơ sở; Kiểm soát nhiễm khuẩn
- Sinh viên tự nguyện tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Sinh viên không tham gia đầy đủ các bước của quá trình nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại Trường CĐ Y tế Lạng Sơn
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 đến tháng 07 năm 2022
- Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 04 đến tháng 06 năm 2022
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp dạng trước sau (với biện pháp can thiệp là giáo dục sức khỏe trên một nhóm đối tượng)
Trang 38Sơ đồ 2.2 Sơ đồ nghiên cứu
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Hiện tại, tại trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn hiện có 150 SVĐD chính quy đang theo học và đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ, tất cả SVĐD chính quy tại trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn đã được học các học phần Điều dưỡng cơ sở và Kiểm soát nhiễm khuẩn, đồng
ý tham gia nghiên cứu Nhóm nghiên cứu đã thực hiện điều tra thử bộ công cụ trên
30 SVĐD, 120 sinh viên đủ tiêu chuẩn chọn mẫu và đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Giáo dục sức khỏe nội dung còn thiếu và yếu về dự phòng và xử
trí phơi nhiễm với VSN của SV điều dưỡng
Đánh giá sau can thiệp 1 tuần (Kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN của SVĐD) T2
Đánh giá sau can thiệp 1 tháng (Kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN của SVĐD)
T3
Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm
với VSN của SV điều dưỡng
Trang 392.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
- Xây dựng phiếu điều tra: Dựa trên tài liệu hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn của Bộ Y tế (2012) [9], tài liệu hướng dẫn tiêm an toàn của Bộ Y tế (2012) [3], tài liệu hướng dẫn thực hành của WHO (2010) [55], tham khảo bộ câu hỏi của tác giả Mỵ Thị Hải (2016) về “ Khảo sát vết thương vật sắc nhọn gây ra cho sinh
viên điều dưỡng đang thực tập tại bệnh viện” [7]
- Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu: Sau khi phiếu điều tra xây dựng xong, xin ý kiến góp ý của thầy hướng dẫn, bộ công cụ đã được tiến hành điều tra thử trong tháng 03/2022 trên 30 sinh viên của Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu (số sinh viên này sau không tham gia vào cỡ mẫu nghiên cứu), được kiểm định độ tin cậy với hệ số Cronbach’s alpha cho thang đo
kiến thức là 0,885 và cho thang đo thực hành là 0,793
2.5.2 Quy trình thu thập số liệu
Giai đoạn 1: Tập huấn cho điều tra viên
- Đối tượng tập huấn: 03 giảng viên Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn
- Nội dung tập huấn: Mục đích của cuộc điều tra, nội dung các câu hỏi, kỹ năng phỏng vấn
- Thời gian, địa điểm: 01 buổi tại Bộ môn Điều dưỡng - Trường Cao đẳng Y
tế Lạng Sơn
- Người tập huấn: Nghiên cứu viên
Ghi chú: Cộng tác viên chỉ cộng tác trong thu thập số liệu Để đảm bảo tính nhất quán trong các lần can thiệp thì nghiên cứu viên sẽ trực tiếp can thiệp cho từng nhóm sinh viên trong tất cả các lần giáo dục
Giai đoạn 2: Tiến hành thu thập số liệu
Sử dụng phiếu điều tra với cùng nội dung để phỏng vấn SV ở 3 thời điểm:
- Trước can thiệp (T1): Tiến hành phỏng vấn lần 1, đánh giá kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN của sinh viên Thời gian phỏng vấn
Trang 40khoảng 20 phút/1 SV, phòng Đào tạo xếp lịch tại giảng đường vào buổi SV không
có lịch học (10 SV/1 buổi)
- Sau can thiệp 1 tuần (T2): Đánh giá lại kiến thức, thực hành về dự phòng và
xử trí phơi nhiễm với VSN của sinh viên điều dưỡng, sử dụng phiếu điều tra giống như đánh giá trước can thiệp
- Sau can thiệp 1 tháng (T3): Đánh giá lại kiến thức, thực hành về dự phòng
và xử trí phơi nhiễm với VSN của sinh viên điều dưỡng,sử dụng phiếu điều tra giống như đánh giá trước can thiệp
2.5.3 Can thiệp giáo dục
- Đối tượng can thiệp là SVĐD Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn
- Người thực hiện can thiệp là nghiên cứu viên
- Thời điểm thực hiện can thiệp: Sau khi thu thập số liệu trước can thiệp (T1)
là 01 ngày
- Nội dung giáo dục được xây dựng dựa theo tài liệu chuyên môn hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn của Bộ Y tế (2012) [9], tài liệu hướng dẫn tiêm an toàn của
Bộ Y tế (2012) [3], tài liệu hướng dẫn thực hành của WHO (2010) [55] (phụ lục 4)
- Phương pháp can thiệp: Can thiệp trực tiếp bằng hình thức phát vấn dựa trên câu hỏi trắc nghiệm và các tình huống minh hoạ trên thực tế Sau phát vấn nghiên cứu viên thuyết trình, giải thích, thảo luận và minh họa bằng hình ảnh cho từng nhóm (Mỗi nhóm gồm 5 SV, trong thời gian 45 phút; mỗi buổi can thiệp cho 4 nhóm)
- Tài liệu và các vật dụng cần thiết: Tài liệu, bút chỉ, bài giảng Power point,
bộ câu hỏi phỏng vấn, bản đồng thuận tham gia nghiên cứu, sổ ghi chép
- Quy trình can thiệp của một buổi giáo dục: