1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đối chiếu động từ trải nghiệm trong tiếng anh và tiếng việt

213 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối Chiếu Động Từ Trải Nghiệm Trong Tiếng Anh Và Tiếng Việt
Tác giả Lại Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn PGS.TS. Lâm Quang Đổng
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Ngữ Ngữ Học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích trên, luận án sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau: 1 Xác lập cơ sở lí luận liên quan đến ngữ pháp chức năng ở bình diện ngữ nghĩa và ngữ

Trang 1

hướng dẫn đọc toàn văn báo cáo KQNC

những thông tin cần thiết ?

! H∙y đọc qua Mục lục bên tay trái bạn trước khi

đọc báo cáo ( với Acrobat 4.0 trở lên, cho trỏ chuột vào mỗi đề mục để đọc toàn bộ dòng bị che khuất )

! Chọn đề mục muốn đọc và nháy chuột vào đó

trang báo cáo trên màn hình ?

! Chọn, nháy chuột vào 1 trong 3 kích th Chọn, nháy chuột vào 1 trong 3 kích thưưưước ớc

có sẵn trên thanh Menu

, hoặc

! Mở View trên thanh Menu, Mở View trên thanh Menu, Chọn Zoom to Mở View trên thanh Menu, Mở View trên thanh Menu, Chọn Zoom to Chọn Zoom to

! Chọn tỷ lệ có sẵn trong hộp kích th Chọn tỷ lệ có sẵn trong hộp kích thưưưước ớc hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn,

hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn, Nhấn OK , , Nhấn OK Nhấn OK

Chúc bạn hài lòng với những thông tin đ với những thông tin đưưưược cung cấp ợc cung cấp

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LẠI THỊ PHƯƠNG THẢO

ĐỐI CHIẾU ĐỘNG TỪ TRẢI NGHIỆM TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số: 62.22.02.41

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÂM QUANG ĐÔNG

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô thuộc Khoa Ngôn ngữ học – Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã chỉ dạy và dành cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình tôi thực hiện đề tài nghiên cứu

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lâm Quang Đông, người thầy đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận án

Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Tiếng Anh, Trường THPT chuyên Ngoại ngữ, và các đơn vị hữu quan của Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên chia sẻ trong những lúc khó khăn nhất để tôi có thể hoàn thành luận án

Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận án bằng mọi nỗ lực và khả năng của mình nhưng tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để luận án được hoàn thiện Xin chân thành cảm ơn

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lại Thị Phương Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của riêng tôi, không sao chép của ai Các kết quả nghiên cứu được trình bày và miêu tả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nội dung luận án có tham khảo và sử dụng ngữ liệu được trích dẫn từ các tác phẩm và nguồn tư liệu đăng tải trên các trang thông tin điện tử theo danh mục tài liệu của luận án

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lại Thị Phương Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tình hình nghiên cứu động từ trải nghiệm trong tiếng Anh 6

1.2 Tình hình nghiên cứu động từ trải nghiệm trong tiếng Việt 16

1.3 Tiểu kết 21

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 22

2.1 Ngữ pháp chức năng với bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp của câu 22

2.2 Mối quan hệ giữa bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp trong câu 42

2.3 Tiểu kết 43

Chương 3: ĐỘNG TỪ TRẢI NGHIỆM TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆTTRONG CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU 45

3.1 Quan niệm về sự tình trải nghiệm 45

3.2 Quan niệm và phân loại động từ trải nghiệm 47

3.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của sự tình trải nghiệm 50

3.4 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt 55

3.5 Tiểu kết 89

Chương 4: ĐỘNG TỪ TRẢI NGHIỆM TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT TRONG CẤU TRÚC CÚ PHÁP CỦA CÂU 92

4.1 Khả năng hiện thực hóa của sự tình trải nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt trong câu 92

4.2 Sự hiện thực hóa của các thành phần nghĩa của sự tình trải nghiệm trong câu 95

4.3 Khả năng hiện diện của các thành phần cú pháp trong câu 103

4.4 Cấu trúc cú pháp của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt 107

4.5 Tiểu kết 135

KẾT LUẬN 138

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 142

TÀI LIỆU THAM KHẢO 143

NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN 149

PHỤ LỤC 154

Trang 6

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY TRONG LUẬN ÁN

[số, tr số]: Nguồn tài liệu tham khảo: Số tài liệu trích dẫn, chữ viết tắt tr

và số trang Các số được viết cách nhau bằng dấu phẩy Ví dụ: [3, tr.101]

[số, số]: Nguồn tài liệu tham khảo: Hai số tài liệu trích dẫn cùng một

tác giả Ví dụ: [56, 57]

[số, tr số-số]: Nguồn tài liệu tham khảo: Số liệu trích dẫn, chữ viết tắt (tr =

trang) và số trang tham khảo từ trang… đến trang… Ví dụ:

[5, tr.201-203]

[số]: Nguồn tài liệu tham khảo: Số tài liệu trích dẫn Nội dung

tham khảo được tóm lược lại dựa trên các nội dung của tài liệu Ví dụ: [14]

[số:số]: Nguồn tư liệu trích dẫn ví dụ minh họa: số tài liệu trích dẫn,

số trang Các số được viết cách nhau bằng dấu hai chấm (:)

et al: và nhóm cộng sự Ví dụ Quirk et al (Quirk và nhóm cộng sự

ĐT:

NT:

QT:

Động từ Nghiệm thể Quá trìnhĐTTG: Động từ tri giác

ĐTTN: Động từ tri nhận

ĐTTC: Động từ tình cảm

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải nghiệm là một hiện tượng cơ bản trong cuộc sống của con người Dik [41, tr.115] cho rằng tính trải nghiệm chỉ có thể có được thông qua hoạt động của các giác quan và trí óc con người (hoặc các động vật sống) Tính trải nghiệm trong các phát ngôn cho thấy trạng thái của chủ thể hành động tri nhận, cảm giác, mong muốn, tưởng tượng, hay cái gì đó mà họ đã trải qua Theo Verhoeven [92, tr.1], trải nghiệm là “một khái niệm cơ bản cần được thể hiện ở mọi ngôn ngữ bằng cách này hay cách khác Lĩnh vực trải nghiệm ở đây được hiểu là bao gồm các loại trải nghiệm cụ thể mà liên quan chủ yếu đến việc xử lý các tác nhân kích thích (stimuli) bên trong và bên ngoài bởi hệ thần kinh con người Điều này liên quan

đến khả năng tri nhận giác quan, cảm nhận và cảm giác cơ thể, quá trình tinh

thần, cũng như phản ứng tình cảm” Cụ thể hơn nữa trải nghiệm bao gồm “cảm giác cơ thể (bodily sensation), tình cảm (emotion), tri nhận (cognition), mong muốn (volition) và tri giác (perception)”

Ngôn ngữ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc biểu thị những lĩnh vực

trải nghiệm đó của con người Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và F

Enghen đã chỉ ra rằng: “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” V.I.Lênin khẳng định ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất trong sự giao thiệp giữa người với người Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và lưu giữ ý tưởng như là sự phản ánh hiện thực và trao đổi chúng trong quá trình giao tiếp của con người Ngôn ngữ mang bản chất xã hội; nó không tách biệt với con người với tư cách là người sáng tạo ra và người sử dụng nó; nó hình thành và phát triển cùng với sự phát triển xã hội

Trong giao tiếp khi muốn diễn đạt ý tưởng hay thông báo một sự tình nào đó, chúng ta cần tuân theo những quy tắc ngữ pháp và sự đúng đắn và phù hợp khi lựa chọn từ vựng để có thể truyền tải được thông điệp một cách đầy chính xác, đầy đủ

và phù hợp với ngữ cảnh Trong số lớp từ loại được sử dụng để diễn đạt sự tình trải nghiệm, theo khảo sát của chúng tôi, động từ trải nghiệm được coi là một trong những lớp từ loại quan trọng nhất Động từ trải nghiệm cho chúng ta diễn đạt được những điều chúng ta tri nhận giác quan, những biểu hiện về mặt tình cảm, những điều chúng ta nhận thức và những mong muốn chúng ta thể hiện Động từ trải nghiệm chính là tâm điểm đối với việc mô tả một sự tình trải nghiệm bởi vì chúng

ta tạo dựng câu chuyện về một sự kiện xung quanh một sự tình

Vì lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Đối chiếu động từ trải nghiệm

trong tiếng Anh và tiếng Việt trong sự hành chức của câu trên bình diện ngữ nghĩa

và ngữ pháp để tìm ra nét tương đồng và dị biệt Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu sẽ có những đóng góp mới vào lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học so sánh đối

Trang 8

chiếu, cùng với những góc nhìn mới mẻ, sâu sắc hơn và toàn diện hơn về động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu còn góp phần nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy tiếng Anh và cải thiện năng lực sử dụng tiếng Anh của người Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm:

(1) Xác định cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với động từ trải nghiệm trong

tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng và dị biệt; và

(2) Thiết lập được cấu trúc cú pháp của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng và dị biệt

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau: (1) Xác lập cơ sở lí luận liên quan đến ngữ pháp chức năng ở bình diện ngữ nghĩa

và ngữ pháp, quan niệm về nghĩa biểu hiện, phân loại sự tình với các tham số nghĩa và vai nghĩa, cấu trúc nghĩa của một sự tình;

(2) Xác lập cơ sở lí luận liên quan đến bình diện ngữ pháp như khái niệm thành phần câu, các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu; mối quan hệ giữa hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp trong câu Hai nhiệm vụ trên cung cấp cơ sở lí luận để thực hiện

đề tài;

(3) Xác định lĩnh vực trải nghiệm, cấu trúc nghĩa của sự tình trải nghiệm, các thành phần tham gia vào sự tình trải nghiệm và đặc điểm ngữ nghĩa của chúng; tiêu chí nhận diện và phân loại các động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt; cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt; và

(4) Phân tích sự hiện thực hóa các thành tố nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của sự tình trải nghiệm trong câu, cấu trúc cú pháp của câu với mỗi tiểu lớp động

từ trải nghiệm trong tiếng Anh, và đối chiếu với tiếng Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt Động từ này được phân loại và nghiên cứu ở bốn tiểu lớp như sau: động từ tri

giác –perception verbs (see – nhìn thấy, hear – nghe thấy, v.v), động từ tri nhận– cognition verbs (know – biết , understand – hiểu, v.v), động từ tình cảm – emotion verbs (like – thích, fear – sợ hãi, v.v.), và động từ mong muốn – volition verbs (như want–muốn, wish – mong ước, desire – khao khát, hope – hi vọng, decide –

Trang 9

quyết định, v.v.) Luận án lấy ngữ liệu tiếng Anh làm gốc, sau đó đối chiếu với tiếng Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt được chia thành nhiều tiểu loại; mỗi tiểu loại lại có một số lượng lớn động từ Do vậy, luận án này không tiến hành nghiên cứu nét nghĩa của từng lớp động từ hay nhóm động từ, mà nghiên cứu mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu trên bình diện ngữ nghĩa theo hướng ngữ pháp chức năng Sau đó luận án nghiên cứu mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong cấu trúc cú pháp của câu Cụ thể hơn, sau khi nhận diện và phân loại động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt (64 động từ tri giác tiếng Anh với khoảng 64 động từ tương đương trong tiếng Việt, 98 động từ tri nhận tiếng Anhvới khoảng 98 động từ tương đương trong tiếng Việt, 98 động từ tình cảm tiếng Anh với khoảng 98 động từ tương đương trong tiếng Việt, và 41 động từ mong muốn tiếng Anh với khoảng 41 động từ mong muốn tiếng Việt), chúng tôi tiến hành nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa của câu với lõi sự tình là động

từ trải nghiệm – yếu tố quy định các tham thể tham gia vào cấu trúc nghĩa Từ mô hình cấu trúc ngữ nghĩa đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu sự ánh xạ của chúng lên cấu trúc cú pháp của câu

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ tính chất, đối tượng và mục đích nghiên cứu của luận án, các phương pháp chủ yếu được dùng trong luận án này là: phương pháp so sánh-đối chiếu và phương pháp phân tích-miêu tả Ngoài ra, chúng tôi còn dùng một số thủ pháp như: thống kê, mô hình hóa, đối lập và loại suy, và nội quan

Phương pháp phân tích-miêu tả dùng để phân tích, miêu tả những đặc trưng ngữ

nghĩa và cú pháp cơ sở của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt

Phương pháp so sánh - đối chiếu giúp cho quá trình liên hệ những nội dung tìm

được trong lớp các động từ trải nghiệm trong trong tiếng Anh với những đơn vị ngôn ngữ tương đương trong tiếng Việt trong sự hành chức của câu với những tham thể xoay quanh động từ, từ đó cho phép tìm ra những đặc điểm tương đồng

và dị biệt trong những đặc trưng ngữ nghĩa và cú pháp của chúng Cụ thể, trong luận án này chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu với cơ sở đối chiếu

là động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, sau đó liên hệ sang tiếng Việt

Thủ pháp thống kê giúp tiến hành khảo sát, thu thập các dữ liệu từ các nguồn khác

nhau, nhằm rút ra những kết quả định lượng và định tính, tích cực hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu các đặc trưng ngữ nghĩa của các động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và liên hệ với tiếng Việt Từ đó, danh sách các động từ trải nghiệm thuộc các tiểu lớp khác nhau được xây dựng

Trang 10

Thủ pháp mô hình hóa giúp chúng tôi thiết lập những mô hình cấu trúc ngữ nghĩa

và cú pháp của câu với mỗi lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, sau đó đối chiếu với tiếng Việt

Thủ pháp đối lập và loại suy cho phép chúng tôi phân biệt rạch ròi giữa “có” và

“không” trong một số các thành tố ngôn ngữ nhằm giúp loại bỏ những đơn vị ngôn ngữ không thuộc diện được ưu tiên nghiên cứu

Thủ pháp nội quan giúp chúng tôi đưa ra những phán đoán, suy luận về những đặc

trưng ngữ nghĩa và cú pháp của câu với những nhóm động từ đang xét

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, luận án có thể được coi là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu

các động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt theo cách tiếp cận của ngữ pháp chức năng

Thứ hai, luận án thiết lập được khung lí luận trong việc đối chiếu động từ trải

nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt, đó là: (i) đưa ra được về khái niệm trải nghiệm, các lĩnh vực trải nghiệm; (ii) phân loại sự tình, sự tình trải nghiệm theo hướng ngữ pháp chức năng; (iii) tìm hiểu cấu trúc của một sự tình trải nghiệm, nhận diện và phân loại các lớp động từ trải nghiệm là lõi sự tình trải nghiệm, miêu

tả đặc điểm của các vai nghĩa tham gia vào sự tình trải nghiệm; (iv) thiết lập, mô tả các cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với mỗi lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt; và (v) trên cơ sở các mô hình cấu trúc ngữ nghĩa đó, luận án tìm ra sự ánh xạ của các thành tố tham gia vào cấu trúc nghĩa do động từ là lõi sự tình quy định lên cấu trúc cú pháp của câu với mỗi lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra nét tương đồng và dị biệt

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài đã chứng minh hai bình diện ngữ

nghĩa và ngữ pháp trong câu với động từ trải nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt một mặt phân giới với nhau nhưng mặt khác lại có mối quan hệ khăng khít, tương tác với nhau Bằng việc nghiên cứu động từ trong sự hành chức của câu trên hai bình diện này, luận án đã góp thêm một tiếng nói khẳng định hướng tiếp cận và nghiên cứu ngôn ngữ theo quan điểm của ngữ pháp chức năng là một hướng tiếp cận và nghiên cứu mới, hứa hẹn những kết quả khả quan Kết quả nghiên cứu này bước đầu đã đem đến cho người đọc một cái nhìn tổng quan có hệ thống hơn về vấn đề động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt trong sự hành chức của câu theo hướng tiếp cận của ngữ pháp chức năng

Về mặt thực tiễn, các kết quả của luận án sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo có ích

trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và nghiên cứu về động từ nói riêng, trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh cho người Việt và giảng dạy tiếng Việt cho

người nói tiếng Anh, trong lĩnh vực dịch thuật và biên soạn từ điển

Trang 11

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nguồn tư liệu trích dẫn và Phụ lục, luận án gồm bốn (4) chương được kết cấu như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu trình bày về tình hình nghiên cứu

động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 2: Cơ sở lí luận trình bày những cơ sở lý cơ bản liên quan đến ngữ pháp

chức năng với bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp của câu và mối quan hệ giữa hai bình diện đó trong câu

Chương 3: Động từ trải nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt trong cấu trúc nghĩa biểu

hiện của câu được nghiên cứu trên bình diện ngữ nghĩa theo hướng ngữ

pháp chức năng Chương này bàn luận các quan niệm về trải nghiệm lĩnh vực trải nghiệm, cấu trúc nghĩa của sự tình trải nghiệm, đặc điểm của mỗi thành tố nghĩa, nhận diện và phân loại động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt Trên cơ sở đó luận án sẽ phân tích và mô

tả cấu trúc ngữ nghĩa của câu với mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, sau đó đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra nét tương đồng và

dị biệt giữa các cấu trúc ngữ nghĩa đó

Chương 4: Động từ trải nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt trongcấu trúc cú pháp của

câu được nghiên cứu trên bình diện ngữ pháp trong mối liên hệ với bình

diện ngữ nghĩa Chương này bàn luận sự hiện thực hóa các thành tố nghĩa của sự tình trải nghiệm trong câu và khả năng hiện diện đầy đủ và không đầy đủ của các thành phần nghĩa trong câu Sau đó luận án đi sâu vào phân tích cấu trúc cú pháp của câu với mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, sau đó đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra được nét tương đồng và dị biệt giữa các cấu trúc đó

Phần Kết luận của luận án sẽ tổng hợp lại kết quả nghiên cứu dựa vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Phần này cũng nêu ra những điểm còn hạn chế, chưa được giải quyết hết trong luận án và gợi mở hướng nghiên cứu mới

Phần cuối cùng của luận án là danh mục các tài liệu tham khảo, nguồn tư liệu trích dẫn và phụ lục về danh sách động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt được nghiên cứu trong luận án

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu động từ trải nghiệm trong tiếng Anh

Động từ được tìm thấy ở hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới (Allerton [32, tr.1]; Lyons [68, tr.429]) và trong lịch sử nghiên cứu nhiều nhà ngữ pháp học đã quan tâm đến những thuộc tính ngữ nghĩa và cấu trúc của chúng Theo Aarts & Meyer [31, tr.1], trong khoảng năm thứ 100 trước Công nguyên, nhà ngữ pháp học Dionysius Thrax đã nhấn mạnh tầm quan trọng của động từ (the verb) như là “một phạm trù từ loại không thay đổi về cách mà có sự thay đổi về thì, giống, và số, chỉ một hoạt động hay một quá trình được thực hiện hay đã trải qua.” Các tác giả còn nhận xét thêm: Định nghĩa này đã cho thấy rằng những nhà ngữ pháp thời kỳ đầu

đã quan tâm đến cả mặt hình thức lẫn mặt ngữ nghĩa của các lớp từ loại Những nhà ngữ pháp sau này như Appolonius Dyscolus vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên quan tâm nhiều hơn đến thuộc tính phân bố của lớp từ loại [31, tr.1] Như vậy, có thể nói rằng việc nghiên cứu về động từ đã được quan tâm từ rất sớm

Động từ trải nghiệm đã ít nhiều được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Anh, hoặc các công trình nghiên cứu sâu về động từ trong tiếng Anh và được phân tích về một hay nhiều phương diện nhất định Theo khảo sát của chúng tôi, khi mô tả và phân tích về động từ nói chung hay động từ trải nghiệm nói riêng, các tác giả nghiên cứu động từ theo hướng là một phạm trù từ loại và nghiên cứu động từ theo hướng là phạm trù chức năng

1.1.1 Động từ trải nghiệm được nghiên cứu theo hướng là một phạm trù từ loại

Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu động từ trải nghiệm là một phạm trù từ loại là Alsagoff [33], Biber et al [35], Dixon [43], Evans & Wilkins [49], Leech [64], Leech & Svartvik [65, 66], Nelson [75], Quirk et al [79, 80], Sweetser [84], Viberg [93], v.v Theo hướng nghiên cứu này, động từ được nghiên cứu trong sự phân biệt với danh từ, tính từ, trạng từ, v.v Động từ trải nghiệm trong các công trình nghiên cứu được thể hiện ở một số tiểu lớp với những đặc điểm cơ bản như sau

(a) Động từ tri giác tĩnh, động từ tri nhận tĩnh, động từ chỉ trạng thái cơ thể

Tiêu biểu là quan niệm của Leech [64, tr.23-26] và Quirk et al [79, 80] Động từ tri giác tĩnh (verbs of inert perception)1 là những động từ như feel (cảm thấy), hear (nghe thấy), see (nhìn thấy), smell (ngửi thấy), taste (nếm thấy), sound (nghe có vẻ), look (trông có vẻ); động từ tri nhận tĩnh (verbs of inert cognition) là những

1 Leech & Svartvik [65] bàn luận đến động từ tri giác nói chung Nhóm động từ còn lại ông sử dụng thuật ngữ khác

Trang 13

động từ think (nghĩ), feel (thấy), believe (tin), forget (quên), hope (hi vọng), know

(biết), suppose (cho rằng), understand (hiểu); và động từ chỉ cảm giác cơ thể

(verbs of bodily sensation) là những động từ ache (đau), feel (cảm nhận), hurt

(đau), itch (ngứa), tingle (u lên) Hầu hết các nhóm động từ này có nghĩa tĩnh và

chỉ sử dụng với thể đơn Tác giả cũng bàn luận đến một số trường hợp ngoại lệ:

cùng một động từ tri giác nhưng nó có ít nhất hai nghĩa (tĩnh và động)

Động từ tri giác tĩnh Động từ tri giác động

(1) I (can) smell the perfume

Tôi (có thể) ngửi thấy mùi nước hoa

I’m smelling the perfume

Tôi đang ngửi nước hoa

(2) I (can) see a bus in the distance

Tôi (có thể) nhìn thấy một chiếc xe

buýt ở đằng xa

I’m looking at a bus in the distance

Tôi đang nhìn chiếc xe buýt ở đằng xa

(3) I (can) hear what he is saying

Tôi (có thể) nghe thấy anh ấy nói gì

I’m listening to what he is saying

Tôi đang nghe anh ấy nói

[28:26]2

Tuy nhiên, Quirk et al [79, tr.47] cụ thể hơn Leech khi chỉ rõ nhóm nào có tính

[+động] (dynamic) và nhóm nàocó tính [+tĩnh] (stative) Nhóm động từ cảm giác

cơ thể (verbs of bodily sensations): ache, feel, hurt, itch là nhóm động; Nhóm tĩnh

(stative) gồm động từ tri giác và tri nhận tĩnh (verbs of inert perception and

cognition) như: abhor (ghê tởm, ghét cay ghét đắng), adore (say mê), astonish

(làm ngạc nhiên), believe (tin tưởng), desire (ước muốn), detest (ghét), dislike

(không thích), doubt (nghi ngờ), feel (cảm thấy), forgive (tha thứ), guess (đoán),

hate (ghét), hear (nghe thấy), imagine (tưởng tượng), impress (làm/gây ấn tượng),

intend (dự định), know (biết), like (thích), love (yêu), mean (ý định), mind (ngại),

perceive (hiểu được), please (làm hài lòng), prefer (thích), presuppose (giả định),

realize (nhận ra), recall (gợi lại, nhắc lại), recognize (nhận thức), regard (coi là),

remember (nhớ), satisfy (làm thỏa mãn), see (nhìn thấy), smell (ngửi), suppose (giả

sử), taste (nếm có vị), think (nghĩ), understand (hiểu), want (muốn), wish (ước),

v.v Ví dụ:

(4) (a) I think you are right [nhóm B – động từ tri nhận tĩnh]

Tôi nghĩ anh đúng

(b) I am thinking of you all the time [nhóm A – động từ tri nhận động]

Lúc nào tôi cũng nghĩ đến anh

[34:47]

Năm 1985, trong công trình nghiên cứu A Comprehensive Grammar of the English

2 Trên thực tế mỗi một động từ có thể có nhiều nghĩa khác nhau Ở đây chúng tôi chỉ dịch nghĩa cơ bản nhất

của từng động từ tiếng Anh sang tiếng Việt để tiện trình bày Những câu ví dụ được dịch sang tiếng Việt với

động từ có ý nghĩa tương đương

Trang 14

thái tĩnh thành: (i) động từ chỉ trạng thái trí tuệ (intellectual states)3, như know (biết),

believe (tin), think (nghĩ), wonder (tự hỏi, phân vân), suppose (giả sử, cho rằng),

imagine (tưởng tượng), realize (nhận ra), understand (hiểu); (ii) động từ chỉ trạng

thái tình cảm hay thái độ (states of emotion or attitude) như intend (dự định), wish

(ước), want (muốn), like (thích), dislike (ghét), disagree (không đồng ý), pity (tiếc);

(iii) động từ chỉ trạng thái tri giác (states of perception) như see (nhìn thấy), hear

(nghe thấy), feel (cảm thấy), smell (ngửi thấy), taste (nếm thấy); và (iv) động từ chỉ

trạng thái cảm giác cơ thể (states of bodily sensation) như hurt (đau), ache (đau),

tickle (cảm thấy ngưa ngứa/buồn buồn), itch (ngứa), feel cold (cảm thấy lạnh)

(b) Động từ tình cảm, động từ chỉ trạng thái tinh thần/cảm nghĩ

Leech & Svartvik [65] dựa vào nghĩa và cách thức tạo nghĩa đã bàn luận đến

những biểu thức biểu thị một số phạm trù tình cảm như sở thích (liking and

disliking), hi vọng (hope), ngạc nhiên (surprising), lo lắng (worrying), và một số

biểu thức diễn đạt mong muốn (volition) Đến năm 2002, hai tác giả [66] đã bổ

sung thêm một số nhóm động từ trải nghiệm như động từ tri giác (verbs of

perceiving) như see (nhìn thấy), hear (nghe thấy), feel (cảm thấy), smell (ngửi

thấy), taste (nếm thấy); những động từ như believe (tin), adore (say mê), desire

(ước muốn), detest (ghét), dislike (không thích), doubt (nghi ngờ), forget (quên),

hope (hi vọng), know (biết), like (thích), love (yêu), mean (có ý định), prefer

(thích), remember (nhớ), suppose (giả sử, cho rằng), understand (hiểu), want

(muốn), seem/appear (dường như), v.v được các tác giả xếp chung vào nhóm

động từ đề cập đến trạng thái tinh thần hay cảm nghĩ (verbs referring to a state of

mind or feeling) Những nhóm động từ với nghĩa trên không thể sử dụng với thể

tiếp diễn, nhưng vẫn có những trường hợp sử dụng với thể tiếp diễn nếu chúng là

(6) She felt tired after a long journey

Cô ấy cảm thấy mệt sau chuyến đi dài

Biber et al [35, tr.103-140], dựa trên phạm trù ngữ nghĩa của động từ có ý nghĩa từ

vựng, đã phân chia loại động từ này thành bảy nhóm và một trong số những nhóm

3 Ở công trình A University Grammar of English (1973), nhóm động từ này gọi là động từ tri nhận tĩnh

(verbs of inert cognition)

Trang 15

này là động từ tinh thần (mental verbs) Nhóm tác giả chia nhỏ nhóm động từ tinh

thần thành: động từ chỉ trạng thái hoặc quá trình tinh thần như think (nghĩ), know (biết); động từ chỉ tình cảm, thái độ hay ước muốn như love (yêu), want (muốn); động từ tri giác như see (nhìn thấy), taste (nếm thấy); và động từ chỉ hoạt động tiếp nhận lời nói như read (đọc), hear (nghe thấy) Tác giả chỉ ra đặc điểm của động từ

tinh thần - đó là động từ tinh thần có nghĩa động và động từ tinh thần biểu thị trạng thái tĩnh Asagoff [33, tr.108] gộp động từ tinh thần (mental verbs/thinking verbs)

với nhóm động từ tình cảm (emotion verbs) như need (cần), know (biết), imagine (tưởng tượng), believe (tin), suspect (nghi ngờ), think (nghĩ)

(c) Động từ trải nghiệm là động từ hoạt động tri giác và động từ nối

Viberg [93]4 đã nghiên cứu 53 ngôn ngữ thuộc 14 nhóm ngôn ngữ khác nhau, sau

đó ông đã phân chia các động từ tri giác vốn được sử dụng để chỉ những hoạt động của năm giác quan trên cơ thể con người thành ba nhóm động từ tri giác, đó là: động từ chỉ hoạt động (activity); động từ chỉ sự trải nghiệm (experience); động từ nối (copulative) Năm 1990, Sweetser [84] đã nghiên cứu về động từ tri giác và kết luận rằng: các động từ tri giác chỉ hoạt động của thị giác (“sight” verbs) được mở rộng nghĩa hướng đến ý nghĩa về tri thức (knowledge) hoặc quan điểm nội tâm (mental vision) Trong khi đó, các động từ chỉ hoạt động của thính giác (“hearing” verbs) được liên hệ với nghĩa tiếp thụ bên trong (internal receptivity) hoặc sự tuân thủ (obedience) Ngoài ra, động từ chỉ hoạt động của vị giác (“taste” verbs) thường được gắn kết với những gì thuộc về bên trong bản thân nó, và được dùng để biểu đạt những sự thích thú hay chán ghét có tính cá nhân của mỗi người (personal likes

or dislikes)

Evans & Wilkins [49] kiểm nghiệm lại giả thuyết của Sweetser [84] trong các ngôn ngữ Australia và đưa ra kết quả: các từ chỉ hoạt động của thính giác (hearing) hay của tai (ear) thường được mở rộng ra đến phạm vi của nhận thức, như các động từ:

think (nghĩ), know (biết), remember (nhớ), understand (hiểu), obey (nghe lời) Tuy

nhiên, các từ chỉ hoạt động của thị giác (seeing) hay của mắt (eye) thì có thể mở rộng ra phạm vi tương tác xã hội, chẳng hạn như: sự ngưỡng mộ và sự hấp dẫn về giới, sự thù địch và quan hệ tương tác xã hội có tính tiêu cực, sự giám sát và sự giám thị, sự gặp mặt và thăm viếng Evan & Wilkins thừa nhận mối quan hệ ngữ nghĩa từ vựng (lexical semantic association) giữa sự tri giác nhận được từ cơ quan thính giác

và sự tri nhận thuộc trí óc và rằng tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có mối quan

hệ qua lại giữa sự tri giác bằng thính giác và tri nhận thuộc trí óc, và chúng là nguồn gốc của việc xuất hiện các từ đa nghĩa, từ đồng âm hoặc sự chuyển nghĩa

(d) Một số nghiên cứu khác

4 Dẫn theo tổng kết của Hoàng Thị Hòa (2013)

Trang 16

Dixon [43] chia động từ thành hai loại chính: động từ chính (primary) và động từ phụ (secondary) Dựa trên tiêu chí nhận diện về nghĩa khái quát, chúng tôi nhận thấy rằng nhóm động từ trải nghiệm (thuộc về động từ chính) tác giả đề cập là

nhóm annoying (bực mình) như please (làm hài lòng), satisfy (làm thỏa mãn),

amuse (làm vui vẻ), anger (làm tức giận); nhóm attention (chú ý) như see (nhìn), hear (nghe thấy), discover (khám phá), watch (xem); nhóm thinking (suy nghĩ) như think (nghĩ), imagine (tưởng tượng), assume (giả định), know (biết), learn (học);

nhóm liking (thích) như like (thích), love (yêu), hate (ghét), envy (ghen tị) Tác giả

cũng bàn tới nghĩa từ vựng của các động từ khác nhau thuộc mỗi nhóm và một số thuộc tính ngữ pháp đặc trưng của mỗi nhóm động từ như: có hay không có cụm danh từ theo sau động từ làm tân ngữ, cụm danh từ đi sau động từ mang vai nghĩa

gì (hoạt động-activity hay ấn tượng-impression), tân ngữ theo sau động từ là mệnh

đề - that và - what, khả năng kết hợp với mệnh đề tình thái–to và mệnh đề phán xét sau động từ, khả năng kết hợp động từ dạng –ing sau động từ chính

Tóm lại, động từ trải nghiệm được nghiên cứu với một số tiểu lớp cơ bản như động

từ tri giác tĩnh, động từ tri giác chỉ hoạt động, động từ trải nghiệm, động từ nối, động từ tri nhận tĩnh, động từ chỉ trạng thái cơ thể, động từ tình cảm, động từ chỉ

trạng thái tinh thần/cảm nghĩ, hay một số nhóm động từ cụ thể như annoying (bực

mình), attention (chú ý), thinking (suy nghĩ)

1.1.2 Động từ trải nghiệm được nghiên cứu theo hướng là một phạm trù chức năng

Theo hướng nghiên cứu động từ là phạm trù chức năng, động từ trải nghiệm là lõi

vị ngữ biểu thị cho mỗi sự tình, xoay quanh các động từ là các tham thể tham gia vào sự tình đó Tiêu biểu cho xu hướng này là Chafe [5, 37]; Dik [41, 42]; Downing & Locke [44]; Gisborne [52]; Halliday [6, 54]; Ryle, Kenny, Downty (dẫn theo Rothstein [82]), Thompson [86], v.v

(a) Động từ trải nghiệm trong sự tình trạng thái và quá trình

Vendler, Kenny và Downty (dẫn theo Rothstein [82]) đã phân chia các sự tình thành những kiểu loại khác nhau, theo đó là những động từ tương ứng với mỗi sự tình Ryle (1949) tập trung phân chia động từ thành hai loại chính là động từ chỉ kết quả (achievements) và động từ chỉ hoàn thành (accomplishments) Vendler (1957) đã phân bốn kiểu sự tình là trạng thái (states), hoạt động (activities), kết quả (achievements)5 và hoàn thành (accomplishments) Khác với quan điểm phân chia của Ryle, Kenny (1963) phân loại và đưa ra điểm khác biệt giữa kiểu sự tình trạng thái (states), hành động (activities) và thực hiện (performances) (là những sự tình

có điểm kết thúc tự nhiên) Kế thừa kết quả nghiên cứu của Vendler, Downty

5 Lâm Quang Đông (2008) dịch là “kết quả”; Nguyễn Văn Hiệp (2012) dịch là “sự biến” Trong luận án này chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ “kết quả”

Trang 17

(1979) đã thảo luận và phát triển phân loại các sự tình theo thành bốn nhóm trong

sự tương tác với các từ bổ nghĩa (modifier) và thì (tense) là: động từ chỉ trạng thái, hoạt động, kết quả và hoàn thành Theo đó, Downty định nghĩa sự tình trạng thái là

tình huống không động (non-dynamic situations), chẳng hạn như be happy,

believe; sự tình hoạt động là sự tình có kết thúc mở (open-ended), như động từ run;

kết quả là những sự tình xảy ra gần đồng thời (near-instantaneous) (kết thúc ngay

sau khi bắt đầu), như là động từ notice; và sự tình hoàn thành là sự tình có điểm kết thúc tự nhiên (natural end-point), chẳng hạn như read the book Giống như các nhà

ngôn ngữ học theo trường phái ngữ pháp chức năng, Rothstein [82, tr.12] đã dựa vào hai thuộc tính về thể (aspectual properties) quan trọng để phân chia bốn lớp động từ trên, đó là: liệu chúng có tính hữu kết hay không [±telic] và có tính giai đoạn [±stages] hay không (tức là khả năng sử dụng với thể tiếp diễn hay không) Chafe [5, 37] bàn luận nhóm động từ trải nghiệm khi ông bàn đến “bức tranh cấu trúc ngữ nghĩa, trong đó hình thể tiêu biểu là tổ hợp có động từ làm trung tâm với một hoặc nhiều hơn một danh từ mà mỗi danh từ đó nằm trong một quan hệ ngữ nghĩa nhất định với động từ” [5, tr.145] Xin xem xét những câu sau đây:

Tôm (đã) muốn uống nước

(b) Tom knew the answer

Tôm (đã) biết câu trả lời

(c) Tom liked the asparagus

lúc đó mỗi động từ có kèm theo một danh từ - thụ nhân (drink, answer, asparagus)

để phụ thêm cho người trải nghiệm là Tom Những danh từ này cụ thể hóa đối tượng mà chúng ta mong muốn, hiểu biết hoặc yêu thích Ngoài ra, ông còn cho rằng động từ trải nghiệm không chỉ ở hạn chế chỉ trạng thái mà còn có thể chỉ quá trình khi xem xét những câu sau:

(10) (a) Tom saw a snake

Tôm nhìn thấy một con rắn

(b) Tom heard an owl

Tôm nghe thấy tiếng con cú

Trang 18

(c) Tom felt the needle

Tôm sờ thấy cái kim

(d) Tom learned the answer

Tôm biết câu trả lời

(e) Tom remembered the answer

Ông khẳng định chỉ có những động từ không chỉ hành động mới thực chất là những động từ trải nghiệm Như vậy, động từ trải nghiệm có thể được biểu thị bằng cách sau:

V  trải nghiệm (experiential)  hành động

Từ đó, động từ trải nghiệm có thể quy vào các quy tắc sau đây:

+ [trạng thái] [trải nghiệm] [ hoàn cảnh tính] want, know, like, …

+ [quá trình] [trải nghiệm] [ hoàn cảnh tính] see, hear, feel,…

Như vậy, theo tiêu chí nhận diện của Chafe, động từ trải nghiệm không phải là động từhoạt động, mà là động từ chỉ trạng thái và quá trình và đòi hỏi có sự kèm theo của danh từ quan hệ với nó với tư cách là người trải nghiệm Việc bàn luận đến động từ trải nghiệm của Chafe chỉ dừng lại ở đây Tuy nhiên, tiêu chí mà Chafe đưa ra ở trên là một căn cứ hết sức quan trọng giúp chúng tôi xem xét phạm

vi nghiên cứu về động từ trải nghiệm của các tác giả khác

Dik (1978) (dẫn theo Hoàng Văn Vân [30]) “là người đề xuất một mô hình các kiểu quá trình phù hợp nhất cả về phương diện lí luận lẫn thực tiễn mà ông gọi là

“loại hình các sự tình” Theo Dik, các sự tình có thể được phân loại dựa ttrên hai thông số cơ bản: động và kiểm soát Khi hai thông số này tương tác với nhau, chúng xác định bốn kiểu sự tình được trình bày như sau:

Sự tình + Động

Sự kiện

+Tĩnh Tình huống

Bảng 1: Loại hình các sự tình (Dik, 1978) (dẫn theo Hoàng Văn Vân [30])

(b) Động từ trải nghiệm trong sự tình tinh thần hay sự tình trải nghiệm/nghiệm thể

Động từ trải nghiệm trong sự tình tinh thần hoặc là sự tình trải nghiệm/ nghiệm thể được các tác giả Downing & Locke [44], Halliday [6, 54], Lock [67] và Thompson [86] tập trung nghiên cứu

Trang 19

Halliday [6, 54] phân chia các sự tình (tác giả gọi là “quá trình”) như sau: các sự tình vật chất (material), phản ánh thế giới vật lí; các sự tình tinh thần (mental), phản ánh thế giới ý thức; các sự tình quan hệ (relational), phản ánh các mối quan

hệ trừu tượng Bên cạnh đó là các sự tình chuyển tiếp: các sự tình hành vi, chuyển tiếp giữa các sự thể vật chất và các sự thể tinh thần; các sự tình ngôn từ (tức sử dụng ngôn từ, bao gồm nói năng và cảm nghĩ), chuyển tiếp giữa các sự tình tinh thần và các sự tình quan hệ; các sự tình tồn tại (gồm sự tồn tại, sự xuất hiện, sự tiêu biến), chuyển tiếp giữa các sự tình vật chất và các sự tình quan hệ Ở đây, tác giả đã nhóm các cú chỉ cảm giác (feeling), suy nghĩ (thinking) và tri giác (perceiving) dưới một

nhan đề chung gọi là cú tinh thần Phạm trù “cú tinh thần”, theo tác giả, có những

đặc trưng khu biệt về mặt ngữ pháp với các cú vật chất theo năm tiêu chí sau:

(i) Trong một cú thuộc sự tình tinh thần, thường có một tham thể là người, đó là tham thể có thể cảm được – cảm giác, tri nhận, tri giác Đặc điểm của tham thể này

là nó được “ban cho ý thức” Về mặt ngữ pháp, tham thể này là tham thể được gọi

theo các đại từ he (anh ấy) hoặc she (chị ấy), chứ không phải là it (nó)

(ii) Đối với thành phần chính yếu khác trong cú tinh thần, đó là thành phần được cảm, được tri nhận, hay được tri giác, thì tập hợp các sự vật đảm nhiệm vai diễn này không chỉ bị hạn chế vào bất kỳ phạm trù ngữ nghĩa hay phạm trù ngữ pháp nào Nó có thể không phải chỉ là một “sự vật’ (thing) mà còn cả một “thực tế” (fact) nữa

(iii) Thì hiện tại được đánh dấu trong cú tinh thần là thì hiện tại đơn Ví dụ:

(a)She likes the gift

Cô ta thích món quà

(b) Do you know the city?

Bạn có biết thành phố này không?

(c) I see the stars

Tôi nhìn thấy những ngôi sao ấy

She is liking the gift

Cô ta đang thích món quà

Are you knowing the city?

Bạn đang biết thành phố này có phải không?

I am seeing the stars

Tôi đang nhìn thấy những ngôi sao ấy

[3: 218] (iv) Các sự tình tinh thần được thể hiện trong ngôn ngữ như là sự tình hai chiều;

nghĩa là có thể nói: Mary liked the gift (Mary thích món quà) hoặc The gift pleased

Mary (Món quà làm cho Mary hài lòng)

(v) Cú vật chất là cú “hành động”, có thể được dò và thay thế bởi động từ “do” (làm); còn cú tinh thần thì không Ví dụ:

(12) What did John do? – He ran away What John did was run away

John (đã) làm gì? – Nó bỏ chạy Việc mà John làm là bỏ chạy

Trang 20

Không thể nói là What John did was know the answer (Cái mà John làm là biết câu

trả lời) Tác giả cũng dùng hai thuật ngữ Cảm thể (Sensor) và Hiện tượng (Phenomenon) để gọi tên hai tham thể trong sự tình tinh thần Cảm thể là vật có ý thức có thể cảm, nghĩ, hay thấy Hiện tượng là tham thể được “cảm” – được cảm,

được nghĩ, hay được thấy Ba đặc điểm của phạm trù sự tình tinh thần - cảm, nghĩ

và thấy hình thành nên ba tiểu loại sự tình tinh thần chính là: (1) tri giác (perception) (ví dụ: see, hear), (2) tình cảm (affection) (ví dụ: like, fear) và (3) tri nhận (cognition) (ví dụ: think, know, understand)

Downing & Locke [44, tr.112-131]đồng quan điểm với Halliday khi đề cập đến ba kiểu sự tình (ST)/quá trình chính: (a) Sự tình vật chất, hay sự tình “hành động”

(material processes, or processes of “doing”) như kick, run, paint, construct, write,

repair, send, give; (b) Sự tình tinh thần, hay sự tình “trải nghiệm” hay “nghiệm

thể” (mental processes, or processes of “experiencing” or “sensing”) như see, hear,

know, feel, believe, think, like, hate, regret, forget; (c) Sự tình quan hệ, hay sự tình

“being” (là) hoặc “becoming” (trở thành) trong đó một tham thể được mô tả, hoặc

được nhận diện, hoặc được định vị theo hoàn cảnh; ví dụ: be, seem, stand, lie,

become, turn, get Từ việc phân loại, nhóm tác giả đã miêu tả chi tiết các vai tham

thể (participant roles) tham gia vào các sự tình và đưa ra những ví dụ minh họa, trong đó nhóm tác giả đã nêu ra những đặc điểm của sự tình tinh thần như sau: (i)

Sự tình tinh thần là các sự tình tri giác – perception, sự tình tri nhận và sự tình tình cảm; (ii) Luôn luôn có một tham thể có ý thức, đó là Nghiệm thể (Experiencer)6 – người tri nhận, biết, thích, v.v Thông thường có một tham thể thứ hai, đó là Hiện tượng (Phenonmenon) – cái được tri nhận, được biết, được thích, v.v (iii) Động từ chỉ sự tình tinh thần điển hình là động từ tĩnh (stative) Đối với một số tiểu loại của

sự tình tinh thần, trong tiếng Anh có cả động từ tĩnh (như see) và động từ động (như watch) Sự tình tinh thần động như watch dùng với thì-thể tiếp diễn, trong khi

đó sự tình tinh thần tĩnh nhìn chung là không dùng với thể-thì tiếp diễn

(13) Nghiệm thể ĐT: tinh thần Hiện tượng

[23: 126] Thompson [86, tr.79-102] đã bàn đến ba kiểu sự tình chính là sự tình vật chất, sự tình tinh thần, sự tình quan hệ và ba kiểu sự tình khác là sự tình phát ngôn, sự tình hành vi và sự tình tồn tại Tương ứng với mỗi sự tình là những động từ trung tâm đóng vai trò là vị ngữ và quây quần xung quanh nó là các vai nghĩa Tác giả chỉ bàn luận đến đặc điểm chung nhất của các sự tình và đưa ra những ví dụ về động

6 Halliday và Thompson gọi là Cảm thể (Sensor)

Trang 21

từ điển hình biểu thị cho mỗi sự tình Trong đó, tác giả nhắc tới những động từ đề dùng để miêu sự tình tinh thần là những động từ tình cảm hay phản ứng (affectionor

reaction) như like (thích), admire (ngưỡng mộ), fancy (thích), notice (nhận thấy),

puzzle (làm bối rối), worry (làm lo lắng), attract (thu hút, hấp dẫn), impress (gây ấn

tượng), horrify (làm sợ hãi),v.v.; động từ tri nhận (cognition) như decide (quyết định), know (biết), understand (hiểu), imagine (tưởng tượng), choose (lựa chọn),

discover (phát hiện), v.v và động từ tri giác (perception) như see (nhìn thấy), hear

(nghe thấy), feel (cảm thấy), v.v Những vai nghĩa xoay xung quanh động từ là vai

nghĩa Cảm thể (sensor) và vai nghĩa Hiện tượng (phenomenon) Ví dụ:

(15) Chủ ngữ: Cảm thể Chủ ngữ: Hiện tượng

(a) She liked what he did

Cô ấy thích việc anh ấy đã làm

(b)What he did pleased her

Việc anh ấy làm làm hài lòng cô ấy

(c) I admire his willingness to

từ trải nghiệm

Trang 22

1.2 Tình hình nghiên cứu động từ trải nghiệm trong tiếng Việt

Trong Việt ngữ học, không ít công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề động từ trong tiếng Việt và đề cập đến động từ trải nghiệm như Diệp Quang Ban [2], Nguyễn Hữu Đạt & Nguyễn Thanh Hương [7], Cao Xuân Hạo [10, 11, 12], Hoàng Thị Hòa [15], Hoàng Thị Tuyết Minh [17], Nguyễn Vân Phổ [19, 20], Nguyễn Thị Quy [21, 22], Nguyễn Kim Thản [23], Lê Kính Thắng [24], Nguyễn Thị Tuyết (chủ biên) [28], UBKHXHVN [29], v.v Tuy nhiên, theo khảo sát, mỗi một nhà nghiên cứu lại đề cập đến lớp động từ trải nghiệm theo sự phân chia động

từ dựa trên các tiêu chí khác nhau, với các tên gọi khác nhau như: động từ tình cảm, động từ tri giác, động từ trạng thái tinh thần, động từ cảm nghĩ nói năng, động từ cảm nghĩ, động từ ý chí, động từ chỉ hoạt động của các giác quan, động từ trải nghiệm trong sự tình tinh thần/trải nghiệm

(a) Động từ tình cảm, động từ tri giác và trạng thái tinh thần, động từ cảm nói năng

nghĩ-Tiêu biểu cho quan niệm này là Nguyễn Kim Thản [23] Theo sự chi phối của các

hư từ phục vụ động từ, Nguyễn Kim Thản [23, tr.127-128] chia động từ làm 6

nhóm, trong đó nhóm 5 là nhóm động từ tình cảm (như ái ngại, âu yếm, bái phục,

bao dung, biết, cảm phục, chiều, ghét, gớm, giận, hiểu, kính trọng, nâng đỡn, tin, yêu, v.v.) và nhóm 6 là nhóm động từ tri giác - động từ biểu thị tri giác và trạng

thái tinh thần (như am hiểu, am tường, áy náy, ăn năn, băn khoăn, bứt rứt, v.v )

và động từ biểu thị dục vọng, cảm giác (như chuộng, ham, hám, kinh, hoảng, lo, lo

sợ, lo ngại, luyến tiếc, mong, mơ ước, tham, thèm, v.v) Theo tính chất chi phối

của động từ, ông đã đưa ra một danh sách các nhóm động từ được chia, trong đó ông đề cập đến nhóm động từ chỉ hoạt động của bộ phận cơ thể và nhóm động từ

cảm nghĩ-nói năng (bảo, bịa, cãi, cảm thấy, e, hiểu, khen, khoe, lo, mong, ngại,

nghĩ, nhận định, nghe, v.v.)

(b) Động từ cảm nghĩ, động từ ý chí

Tiêu biểu là nhóm tác giả của công trình Ngữ pháp tiếng Việt [29, tr.88-95] và

Nguyễn Chí Hòa [16] Dựa trên khả năng kết hợp với các phụ tố và ngữ nghĩa từ

vựng, các tác giả đã bàn luận đến động từ cảm nghĩ (chỉ những hoạt động như nghĩ ngợi, nhận biết, thụ cảm, …) như nghe, biết, tin, yêu, nhớ, nghi ngờ,v.v và động từ

ý chí (hay động từ chỉ trạng thái ý chí) như muốn, quyết, dám, toan, định, v.v Về

khả năng kết hợp với phụ tố, nhóm tác giả cho rằng chúng ta cần phải dùng động

từ cảm nghĩ làm chính tố và sau nó kết hợp với các phụ tố chỉ sự vật thì động từ này mới đủ nghĩa (ví dụ 16a, 16b, 16c, 16d; ngoài ra có thể kết hợp với phụ tố chỉ mức độ (thường là trước chính tố) như ở ví dụ 16e, 16f Ví dụ:

(16) (a) nghe nhạc

c-chính p-phụ

(d) nghi ngờ các tin đồn

c p

Trang 23

(b) tin người

c p

(e) rất yêu nước

p c p (c) nhớ quê hương

c p

(f) rất biết lẽ phải

p c p

[26:89] Nhóm tác giả cho rằng đặc điểm ngữ pháp trên giúp chúng ta phân biệt động từ

cảm nghĩ với động từ nội động và ngoại động (không thể nói rất soạn nhạc, nhưng

có thể nói rất yêu nhạc, rất biết nhạc)

(c) Động từ chỉ hoạt động của các giác quan

Tiêu biểu cho quan niệm này là Nguyễn Thị Tuyết (chủ biên) [28] Nhóm tác giả giới thiệu về ba nhóm động từ được phân chia theo tính chất chi phối của các giác quan, đó là động từ chỉ hoạt động nói năng (verbs of speaking), động từ thông báo (verbs of reporting), động từ chỉ hoạt động của các giác quan (verbs of senses) Trong đó, các động từ chỉ hoạt động của các giác quan - một trong những lớp động từ trải nghiệm được chia thành 3 loại, đó là: (i) các động từ chỉ hành động

có chủ tâm (intentional activity), (ii) các động từ chỉ hành động không có chủ tâm (unintentional activity) và (iii) các động từ chỉ cảm giác hiện hữu (current sensation)

(d) Động từ trải nghiệm trong sự tình trạng thái và sự tình tinh thần

Tiêu biểu cho sự phân loại theo hướng này là Cao Xuân Hạo [10] và Hoàng Văn Vân [88] Cao Xuân Hạo [10, tr.438-439] đề cập đến kiểu động từ trạng thái trong câu chỉ trạng thái mà theo chúng tôi đó cũng chính là động từ trải nghiệm Ông nhận xét về vị từ trạng thái như sau: “Một loại sự tình chuyển thái đặc biệt là

những tri giác và sự nảy sinh của các cảm giác và tình cảm: trông thấy, nghe thấy,

nhận ra, nhận thấy, bắt đầu có cảm giác đau, ngứa, nóng, lạnh, v.v hoặc hết cảm

giác đó, bắt đầu yêu, ghét, trọng, khinh, v.v” Tiếp đó, ông khẳng định: “nhìn thấy đối với nhìn, nghe thấy đối với nghe, xét cấu trúc cũng giống như học thuộc đối với học hay ăn no đối với ăn Những sự tình này đều đưa đến một trạng thái mới

của chủ thể” Khi bàn về câu chỉ trạng thái, ngoài những vị từ chỉ trạng thái là

những vị từ đơn trị (rắn, mềm, đặc, khỏe, yếu, đa cảm, nhạy cảm, …), còn có

“những vị song trị như thích, yêu, thương, ghét, thù, giận, sợ, kính, nể, trọng, phục,

v.v (tình cảm) Những câu chỉ những trạng thái tâm lí, những tình cảm trên đây có hai diễn tố, trong đó diễn tố thứ nhất là kẻ mang hay thể nghiệm tình cảm được vị

từ biểu thị gọi là nghiệm thể (experiencer) và diễn tố thứ hai là đối tượng gây nên tình cảm đó.” (Cao Xuân Hạo [10, tr.441])

Trang 24

Hoàng Văn Vân [30, tr 211-243], dựa vào mô hình của Halliday, đã đề xuất mô hình hệ thống các kiểu quá trình (QT)7 trong tiếng Việt, công nhận ba sự lựa chọn

hệ thống ban đầu: quá trình hành động, quá trình phóng chiếu, quá trình tồn tại và sáu sự lựa chọn cho hệ thống thứ hai: vật chất, hành vi, tinh thần, phát ngôn, quan

hệ, và hiện hữu Theo tác giả, “trong giao tiếp trực diện hàng ngày chúng ta không chỉ dựa vào việc giải nghĩa hay thể hiện những cái diễn ra ở thế giới bên ngoài.” Điều này có nghĩa là trong khi trao đổi thông tin, ngoài việc sử dụng quá trình hành động, những người sử dụng ngôn ngữ còn lựa chọn các kiểu sự tình khác để giải thích cho những gì mà họ cảm thấy – nghĩ, tri nhận, cảm giác, mong đợi, và cái mà một người nào đó nói với một người nào khác Những sự kiện diễn ra trong thế giới nội tâm hay “các quá trình thuộc ý thức con người” (tr.210) Quá trình phóng chiếu được thể hiện ở hai tiểu loại: quá trình tinh thần và quá trình phát ngôn Tác giả đã đưa những ví dụ sau:

(17) (a) Tuyết yêu tôi

(b) Tôi thấy vẻ buồn trên khuôn mặt bà

(c) Tầm hai giờ chiều tôi tìm thấy nhà Năm Minh

(d) Người già muốn sự thoải mái

(e) Bu thương thằng Hòa lắm

[9:211]

Những cú trên không thể hiện thế giới cụ thể và hữu hình của những hành động và

sự kiện Ngược lại, chúng giải thích thế giới của “ý thức con người” (Halliday [6, 54]; Shore, 1992), Matthiessen, 1995; Butt, Fahey, Spink & Yallop, 1995)8 Các

quá trình này liên quan đến những hoạt động tinh thần như yêu, thấy, tìm thấy,

muốn, thương chứ không phải là những hành động vật chất như đấm, đá, thụi, cho

Lĩnh vực kinh nghiệm của quá trình này là “cảm giác” chứ không phải là “hành động” Trong lí thuyết chức năng hệ thống, các quá trình thuộc loại này là các quá trình tinh thần Do đó, ở bình diện ngữ nghĩa, quá trình tinh thần có thể được định nghĩa như là các quá trình giải thích điển hình thế giới cảm giác nội tâm hay

“những cảm giác thuộc nhiều kiểu khác nhau” (Matthiessen [70, tr 256]) Tác giả đưa ra bốn sự lựa chọn chính trong toàn bộ hệ thống các kiểu quá trình tinh thần: (i) Quá trình tinh thần tri giác, ở bình diện ngữ nghĩa, là những quá trình chỉ cảm

giác của con người như nhìn thấy/trông thấy, nghe thấy, ngửi thấy, đánh hơi thấy,

sờ thấy, nếm thấy; cũng có thểbao gồm các quá trình không cụ thể hóa một hình

thức tri giác hay cảm quan nào như cảm thấy, nhận thấy, quan sát thấy Ví dụ:

(18) Em có nghe thấy tên chị ấy

Cảm thể QT: tinh thần: tri giác Hiện tượng [9:235-236]

7 Hoàng Văn Vân sử dụng thuật ngữ “quá trình” Thuật ngữ “quá trình” được hiểu theo nghĩa rộng là sự tình; hiểu theo nghĩa hẹp chính là lõi của sự tình (lõi vị ngữ) Để tôn trọng tác giả, chúng tôi giữ nguyên thuật ngữ “quá trình” khi trích dẫn

8 Dẫn theo Hoàng Văn Vân [30, tr 211]

Trang 25

Trên bình diện ngữ pháp-từ vựng, có hai đặc điểm để nhận diện quá trình tinh thần tri giác: (i) có thể chấp nhận một Đại hiện tượng như ở ví dụ 13a; (ii) không thể phóng ra một “ý tưởng” hoặc dưới hình thức trích nguyên hoặc dưới hình thức thông báo lại; ví dụ 19b và 19c không được chấp nhận

(19) (a) Tôi nhìn thấy chiếc xe ca đang chạy ngoài đường

Cảm thể QT: tri giác Đại hiện tượng

(b) Tôi nhìn thấy chiếc xe ca “đang chạy ngoài đường”

(c) Tôi nhìn thấy rằng chiếc xe ca đang chạy ngoài đường

[9:236] (ii) Quá trình tinh thần tri nhận, ở bình diện ngữ nghĩa, là những quá trình thể hiện

“các hoạt động tinh thần” như nghĩ,hiểu, biết, tin/tin tưởng, nhớ, quên, mơ Ví dụ:

Cảm thể QT: tri nhận Hiện tượng

[9:237] Trên bình diện ngữ pháp-từ vựng, có hai đặc điểm để nhận diện quá trình tinh thần tri nhận: (i) nó có thể phóng ra một “ý tưởng” hoặc dưới hình thức trích nguyên hoặc dưới hình thức thông báo lại (ví dụ 21, 22); (ii) một số quá trình thuộc tiểu loại này có thể thay cho ý nghĩa tình thái chỉ xác suất; ví dụ: tôi nghĩ = có lẽ, có khả năng

(21) (a) Một người lính nghĩ: “Ngày mai mình sẽ trở về”

Cảm thể QT: tri nhận Chu cảnh Hành thể QT: vật chất

Cảm thể QT: tri nhận Chu cảnh Hành thể QT: vật chất

[9:237] (iii) Quá trình tinh thần mong muốn, ở bình diện ngữ nghĩa, có thể được định nghĩa

là những quá trình diễn đạt các kiểu mong muốn hay nguyện vọng khác nhau như

ao ước, mong muốn, định, hi vọng, quyết, quyết định Ví dụ:

(22) (a) Người già mong muốn sự thoải mái

[9:239] Trên bình diện ngữ pháp-từ vựng, quá trình này có hai đặc điểm phân biệt: (i) một

số quá trình mong muốn có thể phóng ra một hiện tượng là ý tưởng, điển hình

trong hình thức thông báo lại (như ví dụ 23) (ii) Một số quá trình như muốn, mong

muốn có thể thay cho các ý nghĩa tình thái chỉ bổn phận và khả năng; ví dụ: nó muốn = nó phải/nó nên trong ví dụ 24, 25

Trang 26

(23) Mẹ hi vọng con sẽ học giỏi

Cảm thể QT:mong muốn Hành thể QT: vật chất Chu cảnh

đó như yêu, quý/mến, thích, ghét, cảm ghét, ghê tởm, dọa, sợ, khiếp Ví dụ:

Cảm thể QT: tinh thần: tình cảm Hiện tượng

[9:241]

Trên bình diện ngữ ngữ pháp-từ vựng, quá trình tình cảm trong tiếng Việt có thể được nhận diện thông qua hai đặc điểm chính: (i) một quá trình tình cảm chỉ có thể phóng ra một cú nội tại thông qua hình thức bao, chứ không phải cú ngoại tại thông qua hình thức tổ hợp hay phức hợp hóa Trong tiếng Việt, tổ hợp cú tình cảm

sau đây không thể chấp nhận: Tôi quý rằng vợ chồng Đê-vit tốt hay là: Tuyết yêu:

“Hắn đánh cô ấy” (ii) Trong tiếng Việt dường như có sự phân loại mức độ các

động từ hiện thực hóa các quá trình tình cảm, ví dụ như: thích – yêu, quý/ mến –

mê, sợ/hãi – khiếp, ghét – căm ghét/ghê tởm

Ngoài ra, dựa trên lý thuyết điển dạng vào việc phân loại động từ tri giác – một trong những nhóm thuộc lớp động từ trải nghiệm, Hoàng Thị Hòa [15] đã có bảng phân chia động từ tri giác tiếng Việt như sau: (i) Động từ tri giác trải nghiệm: thị giác

((nhìn) thấy), thính giác ((nghe) thấy), vị giác (thấy), khứu giác (thấy), xúc giác (thấy); (ii) Động từ tri giác tri nhận: thị giác ((nhìn) có vẻ), thính giác ((nghe) có vẻ), vị giác ((nếm) có vẻ/vị), khứu giác (ngửi có vẻ/mùi), xúc giác (sờ có vẻ) Công trình này của

Hoàng Thị Hòa nghiên cứu sâu về lớp động từ tri giác trong tiếng Anh, sau đó liên hệ với tiếng Việt Tuy vậy, đây vẫn chỉ là một công trình nghiên cứu về một trong bốn tiểu lớp động từ là lõi của sự tình trải nghiệm Ngoài ra, tác giả cũng mới chỉ nghiên cứu chúng trên bình diện ngữ nghĩa theo quan điểm chức năng hệ thống, hiện tượng chuyển

Trang 27

nghĩa của một số động từ Động từ tri giác vẫn chưa được nghiên cứu trên bình diện ngữ pháp hay ngữ dụng học

Cho tới nay, động từ trải nghiệm tiếng Việt được nghiên cứu một cách rõ nét nhất

ở công trình của Hoàng Văn Vân [30, 88] Tuy nhiên, các tiểu lớp động từ trải nghiệm (hay còn gọi là động từ tinh thần) trong tiếng Việt của Hoàng Văn Vân chỉ

là một trong các nội dung nghiên cứu trong công trình “Ngữ pháp kinh nghiệm của

Cú tiếng Việt: Mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống” Việc nghiên cứu sâu

hơn về mô hình ngữ nghĩa, các vai nghĩa, hay là sự ánh xạ mô hình cấu trúc nghĩa lên cấu trúc cú pháp còn bị bỏ ngỏ trong công trình này

một số nhóm động từ cụ thể như annoying (bực mình), attention (chú ý), thinking

(suy nghĩ) Những động từ được nghiên cứu chủ yếu ở các khía cạnh khả năng kết hợp với các từ loại khác, thời thể (đơn và tiếp diễn) Trong tiếng Việt, động từ trải nghiệm được phân loại thành các tiểu loại khác nhau với những tên gọi khác nhau như động từ tình cảm, động từ tri giác, động từ trạng thái tinh thần, động từ cảm nghĩ nói năng, động từ cảm nghĩ, động từ ý chí, động từ chỉ hoạt động của các giác quan Các tiêu chí phân loại cũng đa dạng, như: phân loại theo sự chi phối của các

hư từ phục vụ động từ, dựa trên khả năng kết hợp với các phụ tố và ngữ nghĩa từ vựng, phân chia theo tính chất chi phối của các giác quan

Với quan điểm động từ được nghiên cứu theo hướng là một phạm trù chức năng, động từ trải nghiệm được xem xét trong sự hành chức của câu Cụ thể là động từ trải nghiệm là lõi vị ngữ biểu thị cho mỗi sự tình, xoay quanh các động từ là các tham thể tham gia vào sự tình đó Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu động từ trải nghiệm trong sự tình trạng thái sự tình quá trình, sự tình tinh thần hoặc là sự tình trải nghiệm

Tuy nhiên, các lớp động từ trải nghiệm chưa được đi sâu phân tích như một công trình nghiên cứu độc lập mà chỉ được đề cập một phần trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp hay lớp động từ khác Do vậy, rất cần phải có một công trình nghiên cứu độc lập về động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt, đặc biệt

là nghiên cứu so sánh đối chiếu chúng trong sự hành chức của câu trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp theo hướng tiếp cận ngữ pháp chức năng để tìm ra nét tương đồng và dị biệt

Trang 28

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Ngữ pháp chức năng với bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp của câu

Có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của nghĩa trong việc phân tích cú pháp Theo Nguyễn Văn Hiệp [14], ngôn ngữ học miêu tả Mĩ được coi là trường phái không thừa nhận vai trò của nghĩa, trong đó Bloomfield cho rằng nghĩa không thể được nghiên cứu một cách khoa học Theo ông, nghiên cứu ngôn ngữ “phải luôn bắt đầu từ dạng thức ngữ âm chứ không phải từ nghĩa” Một số nhà ngôn ngữ học hàng đầu ở Mĩ còn cho rằng có thể loại bỏ hẳn ngữ nghĩa ra khỏi lĩnh vực ngôn ngữ Những khuynh hướng không thừa nhận hoặc coi nhẹ vai trò của nghĩa trong phân tích và miêu tả cú pháp có thể được gọi chung là cách tiếp cận hình thức (Formal Approach) (tr.13) Đại diện cho cách tiếp cận này là Chomsky với Ngữ pháp tạo sinh (Generative Grammar - GG) (1957, 1965) Chomsky đã phê phán mô hình cấu trúc ngữ đoạn trong nghiên cứu cú pháp, vốn dựa trên cách phân tích của ngữ pháp thành tố trực tiếp, bởi vì mô hình này không giải thích được câu lưỡng

nghĩa như: Flying planes can be dangerous Câu này có thể hiểu là: (i) Máy bay

đang bay có thể gặp nguy hiểm; (ii) Lái máy bay có thể [là một việc] nguy hiểm (tr.14) Theo Chomsky, cú pháp có tính tự trị (độc lập với nghĩa) và ngữ pháp của

ông phải đảm bảo cho việc tạo ra và thừa nhận những câu sai về ngữ nghĩa nhưng đúng ngữ pháp tiếng Anh như câu sau: *Colorless green ideas sleep furiously

(Những tư tưởng màu xanh không màu ngủ một cách cuồng nộ) Về sau này, ông

điều chỉnh và phát triển Lý thuyết Chi phối và Ràng buộc (Governing and Binding Theory) (1983) và hướng tiếp cận Tối thiểu luận (Minimalist Approach) (1993) nhưng vẫn bảo lưu quan điểm cú pháp có tính tự trị và vẫn vấp phải nhiều chỉ trích mạnh mẽ

Hướng tiếp cận chức năng ra đời đã khắc phục những nhược điểm mà hướng tiếp cận hình thức gặp phải Theo cách tiếp cận này, ngôn ngữ được xem là một công

cụ tương tác xã hội, là một phương tiện giao tiếp Những nhà ngôn ngữ theo hướng tiếp cận này đã cố gắng giải thích mọi biểu hiện của ngôn ngữ như là phương tiện

để biểu đạt nghĩa, để thực hiện chức năng nào đó trong giao tiếp (Nguyễn Văn Hiệp [14, tr.19]) Ngôn ngữ học phải xử lý hai loại hệ thống quy tắc, và cả hai về bản chất, đều mang tính xã hội, đó là: (i) các quy tắc chi phối hoạt động tương tác bằng lời với tư cách là một hình thức hoạt động hợp tác – quy tắc dụng học và (ii) các quy tắc chi phối những biểu thức ngôn ngữ học có cấu trúc được sử dụng với

tư cách là công cụ trong hoạt động này – quy tắc nghĩa học, cú pháp và ngữ âm học Theo hướng này, dụng học được ưu tiên hơn so với nghĩa học và kết học, và đến lượt mình, nghĩa học cũng được ưu tiên hơn so với kết học (tr.19)

Trang 29

Với hướng tiếp cận chức năng, câu không chỉ được nghiên cứu ở phương diện đặc trưng cấu trúc mà còn được chú ý ở cả bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng Ngữ pháp chức năng đã phân định ranh giới rõ ràng ở ba bình diện này nhưng cũng chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa ba bình diện: ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng Luận

án này chọn hướng tiếp cận theo ngữ pháp chức năng để phân tích động từ trải nghiệm trong sự hành chức của câu trên bình diện ngữ nghĩa và bình diện ngữ pháp

2.1.1 Bình diện ngữ nghĩa

2.1.1.1 Nghĩa biểu hiện

Ngữ pháp chức năng đã tập trung nghiên cứu hai thành phần nghĩa của câu: nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sự vật, nghĩa mệnh đề, nghĩa quan niệm) và nghĩa tình thái Nghĩa tình thái chính là thành phần nghĩa biểu thị thái độ, quan hệ, cách đánh giá của người nói đối với người nghe hay của người nói với hiện thực được nói trong câu, là thành phần nghĩa không thể thiếu trong câu Tuy nhiên, trong một câu nói, một thành phần nghĩa khác cũng được quan tâm thích đáng – đó là nghĩa biểu hiện (mang nội dung thông báo của câu) Đây chính là một trong các đối tượng khảo sát của luận án này

Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tiếp Khi nói ra một câu, người nói muốn truyền đạt một ý tưởng, một sự vật, sự việc, hay một sự tình nào đó đang diễn ra trong thực tế khách quan Lõi của sự tình/sự việc chính là nghĩa biểu hiện của câu Theo Halliday [6, tr.205], nghĩa biểu hiện của câu chính là sự thể hiện các mẫu thức kinh nghiệm của con người Khi diễn đạt một sự tình nào đó, người nói thường không phản ánh một cách nguyên xi sự tình tồn tại trong thế giới khách quan vào một câu nói, mà đã được cấu trúc hóa theo mục đích nói với các quan hệ ngữ pháp tùy thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp Ví dụ, trước một sự thật là “chị ấy đã

thấy cuốn sách”, trong ngữ cảnh: thời gian (hôm qua), địa điểm (tại phòng họp), sự việc trên có thể được diễn đạt là: Hôm qua chị ấy đã thấy cuốn sách tại phòng họp

Tùy thuộc vào mục đích của người nói, sự việc này có thể có những cách diễn đạt sau đây:

- Hôm qua, chị ấy đã thấy cuốn sách tại phòng họp

- Chị ấy đã thấy cuốn sách tại phòng họp hôm qua

- Tại phòng họp, hôm qua, chị ấy đã thấy cuốn sách

- Cuốn sách đã được chị tìm thấy tại phòng họp hôm qua

Dù có được diễn đạt như thế nào thì chúng ta nhận thấy một sự tình với nội dung

thông báo là: lõi của sự tình được tri giác thấy được thực hiện bởi một chủ thể tri giác chị ấy với đối tượng được nhận thấy là cuốn sách vào thời gian hôm qua và địa điểm tại phòng họp Đây chính là nghĩa biểu hiện – phần nội dung có tính chất cốt lõi của một sự tình Như vậy, có thể khẳng định là nghĩa biểu hiện của câu

chính là thành phần nghĩa phản ánh một sự tình nào đó của hiện thực, là hình ảnh

Trang 30

của những sự tình trong thực tế khách quan được con người phản ánh vào trong câu nói [1, tr.41] Việc phân loại nghĩa biểu hiện cũng chính là phân loại các sự tình

2.1.1.2 Phân loại sự tình

Theo khảo sát, “sự tình” đã được bàn luận trong nhiều công trình nghiên cứu Anh ngữ học và Việt ngữ học và chủ yếu theo hướng tiếp cận chức năng Thuật ngữ “sự tình” trong tiếng Việt còn có các thuật ngữ đồng nghĩa như “quá trình” hay “sự

thể” Trong tiếng Anh có những thuật ngữ tương ứng như “states of affairs”,

“situation”, “process”, hoặc “event” Sự tình chính là những vật, việc, hiện tượng

tồn tại trong thực tế khách quan mà con người trải nghiệm trong cuộc sống Theo Verhoeven [92, tr.13], một sự tình như là một sự mô tả tri nhận, bao gồm các thực thể được gọi là các tham thể Một tham thể này có thể có quan hệ với một hoặc nhiều hơn một tham thể trong các mối quan hệ tĩnh hay động, mà lõi sự tình được coi là sự thể hóa các mối quan hệ giữa các tham thể Những mối quan hệ đó có thể được biểu thị hiển ngôn, những có những mối liên hệ lại đồng nhất, chồng lấp hay

sở hữu lẫn nhau, không thể được biểu thị bằng ngôn ngữ mà phải thông qua ngữ cảnh

Sự tình là một khái niệm chung và được cụ thể hóa bằng các kiểu loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau Nhìn chung các nhà ngôn ngữ tập trung vào phân loại các kiểu sự tình dựa trên hai tiêu chí: (i) tham số ngữ nghĩa và (ii) số lượng và loại vai nghĩa do từ loại chi phối, chủ yếu là động từ

(i) Phân loại sự tình dựa vào tham số ngữ nghĩa

Trang 31

(28) John was sitting in his father’s chair [-dyn]

John đang ngồi trên ghế của bố của mình [-động] [22:107] Trong ví dụ 27 và 28 trên, giả sử người ta tuyên bố rằng, chất đó có màu đỏ trong một ngày thì sau đó ở bất kỳ thời điểm nào trong ngày đó chất đó phải màu đỏ Và nếu John đang ngồi trên ghế của bố của anh ta trong vòng một giờ thì sau đó bất kỳ thời điểm nào trong giờ đồng hồ đó anh ta cũng ngồi trên chiếc ghế đó Nói cách khác, các sự tình trên không đem lại sự thay đổi nào và do đó có tính [-động]

Sự tình có tính [+dyn] [+động], ngược lại, phải liên quan một loại thay đổi nào đó,

có tính động nội tại (internal dynamism) Tính động này có thể bao hàm một mô hình thay đổi trước mắt, thông qua quá trình của sự tình, hoặc một sự thay đổi từ lúc bắt đầu sự tình thành một sự tình khác khi kết thúc Sự tình có tính [+dyn] còn

được gọi là events (sự kiện) Ví dụ:

(29) The substance reddened [+dyn] [22:107]

(30) The substance reddened quickly

Chất đó trở nên có màu đỏ nhanh

(31) The substance was red (*quickly)

(32) John was painting a portrait [+tel]

John đang vẽ một bức chân dung [+hữu kết]

(33) John was painting (portraits) [-tel]

John đang vẽ (những bức chân dung) [-hữu kết]

[22:108] Trong ví dụ 33, một người liên tục vẽ hoặc vẽ những chân dung vô hạn định, nhưng lại không thể vẽ một bức chân dung vô hạn định Việc vẽ tranh có thể hiểu rằng nếu hành động kết thúc hoàn toàn thì sản phẩm của hành động đó – bức chân dung được hoàn thiện Rõ ràng là vai nghĩa Đích thể (Goal) quyết định tính hữu kết Tính hữu kết có thể xác định được bằng một cụm từ chỉ hướng hoặc bằng tham thể đầu tiên của vị ngữ có một tham thể (one-place predicate)

[± momentaneous] (instantaneous) [±nhất thời]

Trang 32

Tình huống và sự kiện có tính [-tel] có thể được hiểu là sự tình kéo dài không giới hạn: chúng có thể xảy ra mãi mãi Sự kiện [+tel] kéo dài có giới hạn: chúng có điểm kết thúc tự nhiên Trong phạm trù sự tình [+tel], chúng ra có thể phân biệt giữa sự tình [+mom] (hoặc “punctual”-điểm tính) và [-mom]

- Sự tình [+mom] không xảy ra kéo dài: sự tình xảy ra và kết thúc ngay sau khi bắt đầu

- Sự kiện [-mom] có thể kéo dài trong một khoảng thời gian, có sự phân biệt về điểm bắt đầu và điểm kết thúc

Một tiêu chí có thể phân biệt là có hay không sự tình kết hợp với động từ thể (aspectual verbs) (mang tín hiệu bắt đầu, liên tục, hoặc kết thúc của sự tình) Nếu

có thể kết hợp với động từ start (bắt đầu), finish (kết thúc), continue (tiếp tục) thì

sự tình có đặc trưng [-mom]; nếu không, sự tình có tính [+mom] (có thể kết hợp từ

“continue”) Ví dụ:

(34) John started / continued/ finished painting the portrait [-mom]

John bắt đầu/tiếp tục/hoàn thành vẽ bức tranh [-nhất thời]

(35) John continued reaching the summit [+mom]

John tiếp tục chinh phục được đỉnh cao [+nhất thời]

[22:111] Trong tiếng Việt, dấu hiệu ngôn ngữ học dùng để phân biệt loại sự tình này là khả

năng kết hợp với phó từ đang, với các vị từ tình thái tính (modality verbs) như tiếp

tục, thôi Chỉ có sự tình [-nhất thời] mới có thể kết hợp với những từ này Ví dụ:

(36) Quả bom nổ [+nhất thời] (câu khả chấp)

*Quả bom đang nổ (câu bất khả chấp)

[6: 63]

[±control] [±kiểm soát]

Sự khác nhau cơ bản giữa một sự tình [+con] ([+kiểm soát]) và [-con] ([-kiểm soát]) ở chỗ: Một sự tình được coi là [+con] nếu tham thể đầu tiên có khả năng quyết định được liệu sự tình đó có tồn tại hay không; nếu có, tham thể đầu tiên là người kiểm soát sự tình Ngược lại, một sự tình [-con] nếu tham thể đầu tiên không kiểm soát được sự tình Ví dụ:

(37) John opened the door [+con]

John mở cửa [+kiểm soát]

(38) The tree fell down [-con]

Cây đổ xuống [-kiểm soát]

[22:112] Trong ví dụ 37, chính John là người quyết định liệu sự tình có tồn tại hay không John có thể quyết định không mở cửa John là người kiểm soát sự tình này Còn ở

ví dụ 38, cây (the tree) là tham thể không kiểm soát

Trang 33

Trong ngữ pháp tiếng Anh, một số quy luật ngữ pháp có thể giúp nhận diện sự tình [+con] và [-con]

+ Câu mệnh lệnh (commands) và yêu cầu (directives): Những biểu thức A dùng để đưa ra lời mệnh lệnh hoặc yêu cầu tới B được B kiểm soát Do vậy, sự tình với

những cụm động từ sau được coi là [+con]: order (ra lệnh), persuade (thuyết

phục), request (yêu cầu), v.v Ví dụ:

(39) John, come here! [+con]

John, lại đây!

(40) Bill ordered John to be polite [+con]

Bill yêu cầu John hãy lịch sự

(41) *Bill ordered John to be intelligent (câu bất khả chấp)

Bill yêu cầu John hãy thông minh

[22:113]

Trong những ví dụ trên, hành động “coming here” (đến đây) và “being polite” (lịch

sự) là sự việc mà John được giả định có thể kiểm soát được; còn “falling asleep”

(bắt đầu ngủ) và “being intelligent” (thông minh) thì không

+ Kết ước (commissives): Những biểu thức dùng để đưa ra lời hứa từ A tới B đòi hỏi rằng A được hứa trong sự kiểm soát của B Ví dụ:

(42) John promised Bill to be polite [+con]

John hứa với Bill sẽ lịch sự [+kiểm soát]

(43) *John promised Bill to be intelligent

* John hứa với Bill sẽ thông minh (câu bất khả chấp)

[22:113] + Vai nghĩa Đắc lợi thể (Beneficiary) và Instrument (Công cụ) đòi hỏi sự tình có tính [+con] Ví dụ:

(44) John cut down the tree for my sake [+con]

John chặt hạ cái cây vì tôi [+kiểm soát]

(45).*The tree fell down for my sake (câu bất khả chấp)

Cái cây đổ xuống vì tôi

(46) John cut down the tree with an axe [+con]

John chặt cái cây bằng một cái rìu [+kiểm soát]

(47) * The tree fell down with an axe (câu bất khả chấp)

Cái cây đổ xuống bằng một cái rìu [23:114]

[±experience] [± trải nghiệm]

Theo thuật ngữ, một sự trải nghiệm không thể tự mình tồn tại mà phải qua những

cơ quan cảm giác hay tinh thần của một thực thể động vật nào đó Một sự tình trải

Trang 34

nghiệm là sự tình trong đó một thực thể có tính động vật tri giác, cảm nhận, muốn, nghĩ ra, hay trải nghiệm cái gì đó Ví dụ:

(48) John did not believe the story ([+exp] Position) [+exp] [-dyn] [+con]

John không tin câu chuyện

(Sự tình vị trí trải nghiệm)

(49) John did not know the story ([+exp] State) [+exp] [-dyn] [-con]

John không biết câu chuyện

(Sự tình trạng thái trải nghiệm)

(50) John conceived a clever trick [+exp] [+dyn] [+con] [+tel]

([+exp] Accomplishment)

John chơi một trò chơi khăm

(Sự tình hoàn thành trải nghiệm)

(51) John was thinking about his money problems [+exp] [+dyn] [+con] [-tel] ([+exp] Activity)

John đang nghĩ về vấn đề tiền của anh ta

(Sự tình hoạt động trải nghiệm)

(52) John got an interesting idea ([+exp] Change) [+exp] [+dyn] [-con] [+tel] John có một ý tưởng thú vị

(Sự tình thay đổi trải nghiệm)

(53) John dreamed about his girlfriend [+exp] [+dyn] [-con] [-tel] ([+exp] Dynamism)

John mơ về bạn gái của anh ta

(Sự tình động trải nghiệm) [22:115] Tuy nhiên, trong tiếng Anh vẫn có sự khác biệt giữa position [-exp] và [+exp]; giữa state [-exp] và state [+exp] Ví dụ:

(54) John did not wait for his friend

John không đợi bạn của anh ấy

(55) John did not believe the story

John không tin câu chuyện

(56) John did not sleep on the floor

John không ngủ trên sàn nhà

(57) John did not know the story

John không biết câu chuyện

[-exp] Position [+exp] Position [-exp] State [+exp] State

Sự tình [+exp] [-con] khác với [-exp] trong các ví dụ sau:

(58) He listened to the music

Anh ấy nghe nhạc

(59) He heard the music

Anh ấy nghe thấy tiếng nhạc

[+exp] [+con]

[+exp] [-con]

[22:116]

Trang 35

Các kiểu sự tình dựa trên tham số ngữ nghĩa

Ở nước ngoài, dựa trên tham số ngữ nghĩa (semantic parameters) như [±stative]

([±tĩnh]), [±dynamic] ([±động]), [±telic] ([± hữu kết]), [± instantaneous] ([± nhất thời], ([±stages] ([± giai đoạn]) (khả năng sử dụng với thể tiếp diễn hay không), [± control] ([± kiểm soát])), v.v mỗi nhà nghiên cứu phân chia các kiểu sự tình trong tiếng Anh bằng các tiểu loại khác nhau, nhưng tựu trung lại những kiểu cơ bản sau đây được đề cập: sự tình trạng thái, sự tình hoạt động, sự tình kết quả và sự tình hoàn thành Tiêu biểu cho xu hướng này là Chafe [5, 37], Gisborne [52], Pavey [77], và Ryle, Vendler, Kenny (dẫn theo Rothstein [82])

Sự tình trạng thái (states)

Sự tình này thông thường là cảm giác nội tâm (internal feelings), điều kiện (conditions), thuộc tính (properties), hoặc có thể là vị trí (location)10 Đây là sự tình được tri nhận không liên quan đến bất kỳ một sự thay đổi nào Ví dụ:

(60) Ethel is beautiful (properties)

Ethel xinh đẹp

(61) Bertha loves George Clooney (internal feelings)

Bertha yêu George Clooney

(62) The shark is under the boat (location)

Con cá mập ở dưới con thuyền

[33:95] Nhìn chung đây là những sự tình có đặc điểm [+tĩnh], [-động], [-kiểm soát], [-hữu kết], [-nhất thời] Rothstein còn nêu thêm một đặc điểm nữa là [-giai đoạn], nghĩa

là không sử dụng được với thể tiếp diễn Chúng không thể trả lời được câu hỏi

‘What happened?’ vì ở trạng thái tĩnh11

Sự tình hoạt động (activities)

Sự tình hành động có đặc điểm [-tĩnh], [+động], [+kiểm soát], [-hữu kết], [-nhất

thời], [+giai đoạn] như dance (nhảy), run (chạy), swim (bơi lội), watch (xem), write

(viết), march (diễu hành), v.v Chúng có thể trả lời câu hỏi: What happened?

(Chuyện gì (đã) xảy ra?), What is happening? (Chuyện gì đang xảy ra?) Chúng liên quan đến hành động, vì thế có thể sử dụng với trạng từ như energetically

(mạnh mẽ, hăng hái) hoặc vigorously (mạnh mẽ, sôi nổi) mà sự tình tĩnh không thể

kết hợp được Ví dụ:

(63) Rod is dancing energetically

Rod đang nhảy một cách hăng hái

Trang 36

(64) Brian is watching television

Brian đang xem ti vi

[33:96]

Sự tình kết quả (achievements)

Sự tình kết quả có đặc điểm [+tĩnh], [-động], [-kiểm soát], [+hữu kết], [-giai đoạn] Đây là những sự tình xảy ra gần đồng thời (near-instantaneous) (kết thúc ngay sau khi bắt đầu và tạo nên tình huống mới), do vậy có tính nổi bật là [+nhất thời] như

notice (nhận thấy), recognize (nhận ra), find (tìm thấy), lose (mất), die (chết), reach (đạt được, đến nơi), pop (nổ), collapse (sụp đổ), explode (nổ tung) Do đó,

sự tình này có điểm kết thúc tự nhiên (hay có tính hữu kết) Hơn nữa, sự tình này không có tính động (non-dynamic) vì chúng không liên quan đến một hành động

và không có tính giai đoạn (không thể sử dụng với thể tiếp diễn) và cũng không thể

sử dụng với trạng từ như energetically như ở ví dụ dưới đây

(65) The balloon popped

Quả bóng nổ

(66) The balloon popped (*enegertically)

*Quả bóng nổ một cách hăng hái)

Sự tình hoàn thành (accomplishments)

Giống như sự tình kết quả, sự tình hoàn thành mô tả sự thay đổi về trạng thái như

melt (tan chảy), recover (hồi phục), master (nắm vững), paint a picture (vẽ một bức tranh), build a house (xây một ngôi nhà) Tuy nhiên, sự tình hoàn thành là

những thay đổi diễn ra trong một thời gian dài hơn Vì chúng miêu tả những thay đổi nên sự tình hoàn thành cũng có điểm kết thúc tự nhiên và không có tính động

Sự tình hoàn thành có đặc điểm [-tĩnh], [+động], [-kiểm soát], [-chủ ý], [+hữu kết], [-giai đoạn].Ví dụ:

(67) The snowman melted

Người tuyết tan chảy

(68) Bob recovered from his broken leg

Bob đã hồi phục sau khi bị gãy chân

[33:98] Ngoài ra, có thêm hai kiểu sự tình trung gian là semelfactives (sự tình nhất cố) và active achievements (kết quả hoạt động)12

Ở trong nước, Cao Xuân Hạo (chủ biên) [11,12] cho rằng phân loại câu theo nghĩa

biểu hiện cũng tức là phân loại các sự tình “Những sự tình được thông báo, các hiển ngôn, hàm ngôn trực tiếp hay gián tiếp dựa vào câu mà biểu hiện Mỗi từ ngữ,

12Theo đề xuất của Pavey [90, tr.99-100] trong công trình nghiên cứu “The Structure of Language – An introduction to Grammar Analysis”

Trang 37

mỗi thành phần chức năng trong câu đều có vai trò của nó, nhưng có thể nói hạt nhân của câu là cái khung vị từ (khung nghĩa) gồm có vị từ trung tâm và các tham

tố của nó” (Cao Xuân Hạo (chủ biên) [12, tr.112]) Dựa vào đặc trưng [±động], [± chủ ý], và [± nội tại], nhóm tác giả đã chia sự tình thành ba loại: sự tình biến cố (gồm sự tình hành động và sự tình quá trình), sự tình tồn tại, và sự tình tình hình (gồm sự tình trạng thái và sự tình quan hệ) Ứng với mỗi sự tình là các tham tố tham gia vào các sự tình ấy

Nguyễn Thị Quy [21] đã áp dụng tiêu chí phân loại tính [± động] và [± chủ ý] của Dik (1978) vào việc phân chia sự tình tiếng Việt, và đã phân sự tình của tiếng Việt thành bốn loại sau: (1) Các vị từ hành động [+ động, + chủ ý]; (2) Các vị từ tư thế [động, +chủ ý]; (3) Các vị từ quá trình [+ động,  chủ ý]; (4) Các vị từ trạng thái [động,  chủ ý] Cao Xuân Hạo (chủ biên) [12, tr.27-28] đề xuất thêm vị từ tình thái [± động, ± chủ ý].Từ đây, ông đã phân chia vị từ trạng thái nhành những nhóm nhỏ sau: (a) Vị từ trạng thái (VTTrT) thường tồn (thể trạng, vật trạng), (b) VTTrT thường tồn tinh thần (tính khí), (c) VTTrT không thường tồn thể chất (thể trạng, vật trạng), (d) VTTrT không thường tồn tinh thần (tâm trạng) và đưa ra các ví dụ tương ứng cho mỗi loại sau:

(69) Gà trống hay gà mái thì cũng là gà.(VTTrT thường tồn)

(70) Ông ấy coi vậy mà hiền lắm.(VTTrT thường tồn tinh thần (tính khí))

(71) Hôm nay ông ấy không được khỏe.(VTTrT không thường tồn thể chất)

(72) Bà ấy thương kẻ nghèo.(VTTrT không thường tồn tinh thần (tâm trạng))

[4:39] Tóm lại, dựa vào tham số ngữ nghĩa, sự tình trong tiếng Anh được phân chia thành các tiểu loại với những đặc trưng ngữ nghĩa sau đây:

Kiểu sự tình ±Static

(Tĩnh)

±Dynamic (Động)

± Telic (Hữu kết)

± Instantaneous (Nhất thời)

±Controlled (Kiểm soát)

±Stages (Giai đoạn) States

Trang 38

Trong tiếng Việt, dựa vào đặc trưng [±động], [± chủ ý], và [± nội tại], Cao Xuân Hạo (chủ biên) [11, 12] đã chia sự tình thành ba loại: sự tình biến cố (gồm sự tình hành động và sự tình quá trình), sự tình tồn tại, và sự tình tình hình (gồm sự tình trạng thái và sự tình quan hệ) Ứng với mỗi sự tình là các tham tố tham gia vào các

sự tình ấy Nguyễn Thị Quy [21] đã áp dụng tiêu chí phân loại tính [± động] và [± chủ ý] của Dik (1978) vào việc phân chia sự tình tiếng Việt, và đã phân sự tình của tiếng Việt thành bốn loại sau: (1) Các vị từ hành động [+ động, + chủ ý]; (2) Các

vị từ tư thế [ động, + chủ ý]; (3) Các vị từ quá trình [+ động,  chủ ý]; (4) Các vị

từ trạng thái [ động,  chủ ý]

(ii) Phân loại sự tình dựa trên số lượng và loại vai nghĩa

Một cách phân loại sự tình phổ biến thứ hai là dựa trên số lượng tham thể (participants) và vai tham thể (hay còn gọi là vai ngữ nghĩa) (participant roles, semantic roles) (Downing & Locke [44], Halliday [6, 54], Humphrey [56], Lock [67], Martin et al [69], Mylne [74], Thompson [86], Diệp Quang Ban [3], Hoàng Văn Vân [30, 88])13 Mỗi tác giả lại phân loại sự tình thành các tiểu loại khác nhau, nhưng nhìn chung có những tiểu loại sau:

Sự tình vật chất (Downing & Locke [44, tr.110], Halliday [6, 54], Thompson [86,

tr.79], Martin et al [69, tr.116]) hoặc sự tình hành động (Lock [67, tr.72]) Lõi của

sự tình được biểu thị bằng những động từ hành động như kick (đá), run (chạy),

paint (sơn), construct (xây dựng), dig (đào), write (viết), send (gửi), give (đưa) Sự

tình hành động điển hình là sự tình có tính [+động], có thể sử dụng với thể tiếp diễn Tham thể tham gia vào sự tình này có tính [+động vật] hoặc [-động vật] (bất cập vật)

Sự tình tinh thần Các tác giả Downing & Locke [44, tr.125], Halliday [6, 54],

Martin et al [69, tr.105], và Thompson [86, tr 82-86] phân loại sự tình tinh thần

thành sự tình tri giác như see (nhìn thấy), hear (nghe thấy); sự tình tri nhận như

know (biết), understand (hiểu); sự tình tình cảm như like (thích), fear (sợ) Lock

[67, tr.105-109], Verhoeven [92, tr.1, tr.4] và Humphrey [56, tr.22] đề xuất thêm

sự tình mong muốn như want (muốn), hope (hi vọng), need (cần), would rather

(muốn), wish (ước) Lock [67, tr.104] gọi sự tình tinh thần là sự tình trải nghiệm

hoặc sự tình cảm giác

Sự tình quan hệ trong đó một tham thể được miêu tả, đồng nhất, hay định vị về

mặt cảnh huống (như be, seem, stand, lie, become, v.v.).Theo quan niệm của các

tác giả Downing & Locke [44, tr.131-135], Lock [67, tr.126-138], Thompson [86, tr.93], sự tình quan hệ (STQH) được chia thành STQH thuộc tính, STQH chu cảnh,

và STQH sở hữu Halliday [6, 54] đề cập đến hai phương thức quan hệ là phương thức định tính (PTĐT) và phương thức đồng nhất (PTĐN)

13 Các tác giả này sử dụng thuật ngữ “quá trình” thay vì “sự tình” Để cho thống nhất, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “sự tình” trong phần này

Trang 39

Sự tình phát ngôn tương đương với thuật ngữ “verbal processes” hoặc “processes

of saying” trong tiếng Anh của các tác giả Downing & Locke [44, tr.136], Halliday [6, 54], Lock [67, tr.116], Thompson [86, tr.97] Lõi của sự tình phát ngôn được

thực hiện hóa bằng các động từ như say (nói), tell (kể), announce (thông báo), ask

(hỏi) và report (thông báo)

Sự tình tồn tại (Downing & Locke [44, tr.138], Halliday [6, 54], Lock [67, tr.139],

Martin et al [69, tr.125], và Thompson [86, tr.97]) Trong câu chỉ sự tình tồn tại, từ

there đóng vai trò là Chủ ngữ và một động từ tồn tại (thường là be) There không

phải là một tham thể vì nó không có nội dung ngữ nghĩa

Sự tình ứng xử là sự tình trung gian giữa sự tình vật chất và tinh thần, vừa có đặc

điểm của sự tình vật chất, vừa có đặc điểm của sự tình tinh thần Ví dụ: Buff Behaver

never laughs or smiles (Buff chẳng bao giờ cười to hoặc cười mỉm)

Sự tình tinh thần-hành động là trung gian giữa sự tình tinh thần và sự tình hành

động và có đặc điểm của cả hai Thông thường sự tình này bắt buộc có một tham thể, mà giống như Cảm thể trong sự tình tinh thần, phải có tính [+động vật] và thường là [+con người] Tuy nhiên, khác với Cảm thể, nhưng lại giống như Hành thể (Actor), tham thể này thường hành động có [+chủ ý] Giống như sự tình hành

động, câu hỏi dò của sự tình này có thể là What did S do? What is S doing? Ngoài

ra, thì hiện tại tiếp diễn được áp dụng với sự tình tinh thần-hành động, còn đối với

sự tình tinh thần thì không Một số động từ có thể sử dụng cho cả sự tình hành động và sự tình tinh thần-hành động (Lock [67, tr.116]) Ví dụ:

Sự tình tinh thần Sự tình tinh thần-hành động

(73) I think there is a problem here

Tôi nghĩ có một vấn đề ở đây

(75) I can taste garlic in this

Tôi có thể nếm thấy tỏi ở món này

(77) I can see the screen

Tôi có thể nhìn thấy màn hình

(79) I can hear the radio

Tôi có thể nghe thấy đài

(74) I am thinking about the problem

Tôi đang nghĩ về vấn đề

(76) I am tasting the soup

Tôi đang nếm món xúp

(78) I am watching/looking at the screen

Tôi đang xem màn hình

(80) I am listening to the radio

Tôi đang nghe đài

[29:116]

2.1.1.3 Cấu trúc nghĩa của sự tình

Như trên đã trình bày, nghĩa biểu hiện của câu chính là thành phần nghĩa phản ánh một sự tình nào đó của hiện thực khách quan Một sự tình được cấu tạo bởi các thành phần cơ bản sau: lõi của sự tình (SoA core), các vai nghĩa (bắt buộc và tùy nghi) do lõi sự tình chi phối Phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu cũng chính

là phân tích cấu trúc nghĩa của sự tình

Trang 40

(a) Lõi của sự tình

Lõi của sự tình nêu nội dung thông báo của sự tình, có đặc trưng [động] hay [tĩnh], thường được biểu thị bằng động từ, tính từ, danh từ, trạng từ, v.v.Ví dụ:

(81) I love you, Sunny Will you marry me?

Tôi yêu em, Sunny Em sẽ lấy tôi chứ?

(84) Many balloons are in the sky

Nhiều quả bóng bay ở trên trời

Lõi sự tình là trạng từ []

(b) Vai nghĩa

Trong công trình nghiên cứu ngôn ngữ, vai nghĩa được nhắc tới với nhiều tên gọi khác nhau như vai chức năng, quan hệ nghĩa, vai tham thể, cách sâu, cách ngữ nghĩa, vai ngữ nghĩa (functional roles, thematic relations, participant roles, deep cases, semantic case/roles, theta roles) Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu và các vai nghĩa cũng được bàn luận theo nhiều cách khác nhau với những quan niệm khác nhau Tiêu biểu là một số tác giả nước ngoài như Chafe [5, 37], Dik [42], Downing

& Locke [44], Fillmore [50], Halliday [6, 54], Halliday & Matthiessen [55], Lock [67], Mylne [74], Pavey [77], Thopmpson [86] Ở trong nước xuất hiện một số tác giả tiêu biểu như Diệp Quang Ban [3], Cao Xuân Hạo [10], Cao Xuân Hạo (chủ biên) [11, 12], Nguyễn Văn Hiệp [14], Hoàng Văn Vân [30] Cho dù được bàn luận theo cách này hay cách khác, theo khảo sát của chúng tôi, vai nghĩa được bàn đến với hai loại phổ biến: vai diễn tố và vai phi diễn tố

Vai diễn tố là những vai của những tham thể bắt buộc tham gia vào cấu trúc nghĩa

biểu hiện của sự tình, do lõi sự tình quy định Theo quan điểm của nhiều nhà ngữ pháp chức năng, mỗi một kiểu loại sự tình lại thường có những vai nghĩa bắt buộc

có mặt (Downing & Locke [44], Halliday [6, 54], Humphrey et al [56], Lock [67], Martin et al [69], Thompson [86], Pavey [90], Cao Xuân Hạo [10], Cao Xuân Hạo (chủ biên) [11, 12], Hoàng Văn Vân [30, 88] Cụ thể là:

Trong sự tình vật chất, các vai sau tham gia vào sự tình: Hành thể (Actor), Đích

thể (Goal),Tiếp thể (Recipient), Đắc lợi thể (Beneficiary), Khách thể (Client), Effector hoặc Doer (Người/Vật tác động có chủ ý, tính động vật), Affected (Chịu tác động), và Causer (Khiến thể) Vai Cương vực được Halliday [6, tr.146] bàn luận trong sự tình vật chất, nhưng theo quan điểm của chúng tôi, Cương vực được coi như là một yếu tố chu cảnh (chỉ cụ thể hóa một mặt của sự tính, giống như một

trạng ngữ được ngụy trang như một tham thể) Ở ví dụ 85, we (chúng ta) là vai

Ngày đăng: 15/03/2023, 13:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Lan Anh (2014), Câu quan hệ tiếng Việt dưới góc nhìn của Ngữ pháp chức năng, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu quan hệ tiếng Việt dưới góc nhìn của Ngữ pháp chức năng
Tác giả: Lê Thị Lan Anh
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2014
2. Diệp Quang Ban (1992), Ngữ pháp tiếng Việt - Tập hai, Nxb.Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt - Tập hai
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb.Giáo dục Việt Nam
Năm: 1992
3. Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2008
4. Diệp Quang Ban (2010), Ngữ pháp Việt Nam - Phần câu, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam - Phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2010
5. Chafe, W. L. (1970), Ngữ nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ (Bản dịch: Nguyễn Văn Lai), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ
Tác giả: W. L. Chafe
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1970
6. Halliday, M.A.K (2001), Dẫn luận ngữ pháp chức năng (Bản dịch: Hoàng Văn Vân, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngữ pháp chức năng
Tác giả: M.A.K. Halliday
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
7. Nguyễn Hữu Đạt và Nguyễn Thanh Hương (2014), “Thử khảo sát các động từ tri giác bằng thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh,” Tạp chí Ngôn ngữ, số 12-2014, tr.10-20, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử khảo sát các động từ tri giác bằng thị giác trong tiếng Việt và tiếng Anh
Tác giả: Nguyễn Hữu Đạt, Nguyễn Thanh Hương
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2014
8. Lâm Quang Đông (2008), Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm vị từ trao/tặng (trong tiếng Anh và tiếng Việt), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm vị từ trao/tặng (trong tiếng Anh và tiếng Việt)
Tác giả: Lâm Quang Đông
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2008
9. Đinh Văn Đức (2010), Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại, Nxb. ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb. ĐHQGHN
Năm: 2010
10. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức năng, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1991
11. Cao Xuân Hạo (chủ biên) (2001),Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức năng, Quyển 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức năng (Quyển 1)
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội
Năm: 2001
12. Cao Xuân Hạo (chủ biên) (2006), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Quyển 2: Ngữ đoạn và Từ loại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Quyển 2: Ngữ đoạn và Từ loại
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2006
13. Nguyễn Văn Hiệp (2009), Cú pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục Việt Nam,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
14. Nguyễn Văn Hiệp (2012), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
15. Hoàng Thị Hoà (2013), Nghiên cứu lớp động từ tri giác trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt), LATS Ngôn ngữ, Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lớp động từ tri giác trong tiếng Anh (liên hệ với tiếng Việt)
Tác giả: Hoàng Thị Hoà
Nhà XB: LATS Ngôn ngữ
Năm: 2013
16. Nguyễn Chí Hòa (2011), Ngôn ngữ học đối chiếu: Cú pháp đối sánh Việt- Anh, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu: Cú pháp đối sánh Việt- Anh
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
17. Hoàng Thị Tuyết Minh (2012), Đặc điểm cú pháp-ngữ nghĩa của động từ quan hệ tiếng Anh (Trong sự liên hệ với tiếng Việt), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm cú pháp-ngữ nghĩa của động từ quan hệ tiếng Anh (Trong sự liên hệ với tiếng Việt)
Tác giả: Hoàng Thị Tuyết Minh
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2012
18. Bùi Trọng Ngoãn (2004), Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt, LATS Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt
Tác giả: Bùi Trọng Ngoãn
Nhà XB: LATS Ngôn ngữ
Năm: 2004
19. Nguyễn Vân Phổ (2007), “Vài nhận xét về ngữ nghĩa vị từ cảm giác”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5, 2007, tr.12-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về ngữ nghĩa vị từ cảm giác
Tác giả: Nguyễn Vân Phổ
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2007
20. Nguyễn Vân Phổ (2011), Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Vân Phổ
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w