Như vậy sự phát triển của xã hội là kết quảcủa quá trình phát triển và thay đổi kết cấu giữa 3 khu vực hoạt động xã hội, mà TM - DV là một trong 3 khối ngành của toàn bộ nền kinh tế quốc
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo điều tra mới nhất, dân số nông thôn Việt Nam chiếm khoảng 72%tổng dân số và 59,5% tổng lao động của cả nước Năng suất bình quân trongnông nghiệp chỉ bằng 1/5 trong công nghiệp và dịch vụ (tính theo GDP bìnhquân đầu người) Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn rất nghiêm trọng, cókhoảng 7 triệu lao động chưa có hoặc thiếu việc làm, mỗi năm lại bổ sungthêm 400.000 người đến tuổi lao động Thu nhập bình quân đầu người trênnăm ở khu vực này chỉ đạt 350 USD Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn,nông dân vẫn còn chưa thoả đáng nhất là đầu tư khoa học kỹ thuật mới vàosản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
Trong những năm qua, với chính sách đổi mới của Nhà nước, nền kinh
tế Việt Nam nói chung và huyện Yên Định nói riêng đó có bước tăng trưởngkhá cao, sản xuất phát triển, hàng hoá đa dạng, phong phú, đời sống của nhândân ngày càng được cải thiện
Hiện nay, với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, nền kinh tế còn đứngtrước nhiều khó khăn và thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp nôngdân và nông thôn GDP trong nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổngGDP của nền kinh tế (tại Yên Định chiếm từ 45- 47%) [27] Tuy nhiờn, có xuhướng giảm dần trong khi dân cư tại nông thôn với mức thu nhập thấp cònchiếm tỷ lệ cao (chiếm gần 3/4 dân số), khoảng cách giàu nghèo ngày cànglớn so với khu vực thành thị, lực lượng lao động nông thôn chủ yếu là sảnxuất nông nghiệp cũn quỏ lớn chiếm từ 60-70% lực lượng lao động cả nước
và vẫn tăng nhanh làm cho tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn ngày càngtrầm trọng, thương mại - dịch vụ (TM – DV) trong khu vực nông thôn về cơbản vẫn là thương nghiệp nhỏ phân tán, chưa được hỗ trợ và chưa tạo đượcnhiều việc làm cho người lao động
Trang 2Để thực hiện Nghị quyết TW5 (Khoá IX) về “Đẩy nhanh công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nụng thụn” và Nghị quyết TW7 (Khoá X) về
“Nụng nghiệp, nông dân và nụng thụn” với mục tiêu Phát triển nông nghiệp,nông dân, nông thôn theo hướng nông thôn mới và giảm dần lao động trongnông nghiệp nông thôn đến năm 2015 còn 45%, xây dựng một nền nôngnghiệp hàng hoá đa dạng có chất lượng cao và bền vững
Từ đó những vấn đề cần phải nghiên cứu trên địa bàn huyện Yên Định là:
- Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động thời gian qua củahuyện Yờn Định diễn ra như thế nào?
- Ảnh hưởng của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động đến phát triểnkinh tế - xã hội của huyện ?
- Tác động của phát triển TM - DV đến chuyển dịch cơ cấu lao độngcủa huyện ra sao ?
- Những giải pháp nào trong lĩnh vực TM - DV cần được lựa chọn đểgóp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động của huyện Yên Định trongthời gian tới?
Do đó, việc chọn và nghiên cứu đề tài “Giải pháp phát triển TM - DV góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động huyện Yên Định, tỉnh Thanh hóa”
và phân tích các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển TM
-DV góp phần chuyển dịch một cách có hiệu quả cơ cấu lao động của huyện
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về tác động của TM - DV đến
chuyển dịch cơ cấu lao động
+ Đỏnh giá thực trạng tác động của TM - DV trong vịờc chuyển dịch cơcấu lao động của huyện
Trang 3+ Đề xuất các giải pháp phát triển TM - DV góp phần chuyển dịch cơ cấulao động một cách có hiệu quả trên địa bàn huyện.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là cơ cấu lao động và sự chuyển dịch cơ cấulao động cũng như tác động của nó đến phát triển kinh tế - xã hội của huyện
- Thực trạng phát triển TM - DV trong những năm qua
- Các giải pháp phát triển TM - DV cũng như tác động của nó đếnchuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn huyện
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Đề tài không nghiên cứu tất cả các giải pháp tác độngđến chuyển dịch cơ cấu lao động mà chỉ tập trung nghiên cứu các giải phápchủ yếu phát triển TM - DV cũng như tác động của nó đến chuyển dịch cơcấu lao động Do dịch vụ trong khu vực kinh tế TM - DV có tới 15 nhóm hoạtđộng dịch vụ, từ dịch vụ sản xuất (như Vận tải , Tài chính, Ngân hàng, Khoahọc - Công nghệ ) đến dịch vụ công (như Y tế, Giáo dục ) và dịch vụ hànhchính công (như Đảng, Đoàn thể ) nên chúng tôi tập trung chủ yếu vào dịch
vụ sản xuất, trong đó bao gồm cả phần dịch vụ cho các ngành cụ thể(khôngnằm trong khu vực TM - DV) Mặt khác do Yên Định vẫn còn là một huyệnNông nghiệp nên lao động của huyện tuyệt đại bộ phận thuộc khu vực nụngthụn, nên nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu lao động của huyện, chúng tôi tậptrung nói về lao động nông nghiệp nụng thụn
+ Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi huyện YênĐịnh, tỉnh Thanh Hoá
+ Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng từ 2000 đến nay (nhưng tậptrung chủ yếu từ 2005 đến nay) và đề xuất các giải pháp phát triển TM - DVnhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động huyện Yên Định thời kỳ 2010đến 2020
Trang 42 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN2.1 Cơ sở lý luận về TM - DV và phát triển TM - DV
2.1.1 Khái niệm và vai trò của TM - DV
Trong nền kinh tế quốc dân theo phân ngành của SNA (Hệ thống tàikhoản quốc gia)gồm ba khu vực kinh tế:
- Khu vực I: Nông nghiệp – Lâm nghiệp – Thủy sản
- Khu vực II: CN - XDCB
- Khu vực III: TM - DV
Khu vực I là các hoạt động xuất hiện sớm nhất trong lịch sử xã hội loàingười Trên cơ sở hoạt động của khu vực I phát triển đã làm nảy sinh và xuấthiện các hoạt động của khu vực II Các hoạt động của khu vực I và khu vực IIphát triển chính là sự phát triển phân công lao động xã hội lại làm nảy sinh cácnhu cầu về trao đổi sản phẩm giữa những người lao động khác nhau, làm xuấthiện các hoạt động thuộc khu vực III Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về cáchoạt động của khu vực III càng mở rộng và phát triển; các hoạt động của khuvực III càng phát triển thì càng tạo các điều kiện tối ưu hơn thúc đẩy kết quả hoạtđộng của khu vực I và khu vực II Như vậy sự phát triển của xã hội là kết quảcủa quá trình phát triển và thay đổi kết cấu giữa 3 khu vực hoạt động xã hội, mà
TM - DV là một trong 3 khối ngành của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và chiếm
tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế của xã hội [23]
2.1.1.1 Khái niệm về thương mại
Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức,tiền tệ… giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó(bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hìnhthức thương mại hàng đổi hàng Trong quá trình này, người bán là người cungcấp của cải, hàng hóa, dịch vụ cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trảcho người bán một giá trị tương đương nào đó
Trang 5Thị trường là cơ chế để thương mại hoạt động được Dạng nguyên thủycủa thương mại là hàng đổi hàng, trong đó người ta trao đổi trực tiếp hàng hóahay dịch vụ mà không cần thông qua các phương tiện thanh toán Trong hìnhthức này không có sự phân biệt rõ ràng giữa người bán và người mua, cả haiđều là người bán và người mua.
Vì thế tiền được hình thành như một phương tiện trao đổi đa năng đểđơn giản hóa thương mại Nếu như trước kia tiền thường được liờn kết vớicác phương tiện trao đổi hiện thực có giá trị, thí dụ như đồng tiền bằng vàngthì tiền ngày nay thông thường là từ vật liệu mà chính nó không có giá trị(tiền giấy) Trong trao đổi quốc tế người ta gọi các loại tiền khác nhau là tiền
tệ Giá trị của tiền hình thành từ trị giá đối ứng mà tiền đại diện cho chúng.Ngày xưa vàng và bạc là các vật bảo đảm giá trị của tiền tại châu Âu Ngàynay việc này không còn thông dụng nữa và tiền là tượng trưng cho giá trị củahàng hóa mà người ta có thể mua được Chính vì thế mà khi đưa thêm tiềngiấy hay tiền kim loại vào sử dụng thì tổng giá trị của tiền lưu thông trongmột nền kinh tế không được nâng cao thêm mà chỉ dẫn đến lạm phát
Thương mại tồn tại vì nhiều lý do Nguyên nhân cơ bản của nó là sựchuyên môn hóa và phân công lao động, trong đú các nhóm người nhất địnhnào đó chỉ tập trung vào việc sản xuất để cung ứng các hàng hóa hay dịch vụthuộc về một lĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ của các nhómngười khác Thương mại cũng tồn tại giữa các khu vực là do sự khác biệt giữacác khu vực này đem lại lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trìnhsản xuất ra các hàng hóa hay dịch vụ có tính thương mại hoặc do sự khác biệttrong các kích thước của khu vực (dân số chẳng hạn) cho phép thu được lợithế trong sản xuất hàng loạt Vì thế thương mại theo các giá cả thị trường đemlại lợi ích cho cả hai khu vực
Trang 62.1.1.2 Khái niệm về dịch vụ
Dịch vụ trong kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự như hànghóa nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình vànhững sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sảnphẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa - dịch vu
Cỏc Mỏc thỡ cho rằng:" Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuấthàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thôngtrôi chảy, thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của conngười thì dịch vụ phát triển" [ 3]
Dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thểcung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sởhữu Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất
Dịch vụ về cơ bản là không cụ thể, do vậy nó rất dễ bắt chước Điềunày làm cho việc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn và đó cũng chính là tháchthức chủ yếu của marketing dịch vụ
Dịch vụ là bất cứ cái gì đem bán mà không thể rơi vào chân bạn Nhưvậy dịch vụ cũng là một sản phẩm, một hàng hóa đặc biệt Dịch vụ được hiểu
là một sản phẩm đi kèm với sản phẩm chính làm tăng giá trị của sản phẩmchính theo như cái nhìn của nhà sản xuất và người tiờu dùng
Dịch vụ trong nông nghiệp là những hoạt động phần mềm tạo ra sảnphẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, được gắn liền với nhữngsản phẩm hữu hình trong nông nghiệp Như dịch vụ cung ứng cây giống gắnliền với sản phẩm hữu hình là cây giống [11]
Một dịch vụ có thể do nhiều tổ chức cung ứng, do đó các giải phápmarketing cũng chịu tác động bởi các chính sách của các tổ chức mà doanhnghiệp sản xuất liên kết để cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Một đặc trưng rất cơ bản của dịch vụ là tớnh khụng tách rời được.Trong đa số các trường hợp, dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời
Trang 7được hoàn thành cùng với sự hoàn thành tiêu dùng của khách hàng Nếu chưa
có khách hàng, chưa có hệ thống tạo ra dịch vụ
Do dịch vụ được thực hiện bởi những người cung cấp khác nhau, ởnhững thời gian và địa điểm khác nhau và có cả sự can thiệp của khách hàngtrong quá trình tạo ra dịch vụ đã tạo ra tính không ổn định của dịch vụ Vì thếkhó có thể kiểm tra trước chất lượng dịch vụ và điều này gây khó khăn trongquản lý chất lượng của dịch vụ Một đặc điểm rất quan trọng nữa là phối thứcdịch vụ có cấu trúc phức tạp đòi hỏi tính tổng hợp và tính đồng bộ cao, là mộttập hợp có kết cấu hợp lý bao gồm nhiều dịch vụ liên quan mật thiết với nhau
và tác động qua lại với nhau, bổ sung cho nhau trong quá trình tạo ra lợi íchcho khách hàng Việc phối hợp các dịch vụ này với nhau ở những mức độ vàkết cấu khác nhau sẽ hình thành nên những phối thức dịch vụ khác nhau Vấn
đề là mỗi doanh nghiệp cần phải biết khéo léo kết hợp các loại dịch vụ khácnhau đó để tạo ra cho mình một tập hợp dịch vụ tương đối hoàn chỉnh phùhợp với những thế mạnh của mình, đồng thời đáp ứng tốt nhất nhu cầu có tínhđặc thù của từng thị trường mục tiêu mà doanh nghiệp đã lựa chọn Mặt khác,
do thị trường luôn thay đổi, đòi hỏi doanh nghiệp phải thiết kế một cấu trúcdịch vụ sao cho có thể điều chỉnh linh hoạt theo sự thay đổi nhu cầu và thịhiếu của khách hàng để tránh lãng phí vì chi phí thiết kế dịch vụ mới thườngrất tốn kém
Tóm lại dịch vụ là một lĩnh vực rất rộng Dịch vụ nằm trong cấu trúcnền sản xuất xã hội ngoài lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất trong tổng sảnphẩm quốc dân, sự đóng góp của khu vực dịch vụ chiếm tỷ lệ trọng ngày cànglớn Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và sự tiến bộ văn minhnhân loại, lĩnh vực dịch vụ phát triển hết sức phong phú Dịch vụ không phảichỉ ở các ngành phục vụ như lâu nay người ta vẫn thường quan niệm, hoặcnhư gần đây khái niệm dịch vụ được định nghĩa: "Dịch vụ hoạt động cung
Trang 8xuất kinh doanh, đời sống vật chất, tinh thần, các hoạt động ngân hàng tíndụng, cầm đồ, bảo hiểm, mà nú cũn phát triển ở tất cả các lĩnh vực quản lý vàcông việc có tổ chức riêng tư." Ví dụ như vấn đề sức khoẻ và kế hoạch hoágia đình, giúp đỡ về hôn nhân, trang trí về tiệc, trang trí cô dâu
Dịch vụ có hai phần:
- Dịch vụ là một bộ phận trong khu vực III (tức là thương mại - dịch vụ)
- Dịch vụ còn nằm trong từng ngành kinh tế cụ thể như: Dịch vụ trongngành nông nghiệp(Dịch vụ làm đất, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ cungứng nước ), dịch vụ trong xây dựng cơ bản
2.1.1.3 Những đặc điểm chủ yếu của sản phẩm dịch vụ
Ngày nay tổng sản phẩm quốc dân của một nước cũng như doanh thucủa một doanh nghiệp không thể không tính đến sự đóng góp của lĩnh vựcdịch vụ, tỷ lệ này càng cao ở những nước có nền kinh tế phát triển Cùng với
sự phát triển của nền sản xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhiều loại dịch vụphát triển Bản chất và mục đích kinh doanh trong lĩnh vực này cũng hết sức
đa dạng và phong phú Về bản chất dịch vụ và sản phẩm vật chất có nhữngnét rất khác biệt, khiến các nhà kinh doanh dịch vụ khi thiết kế chương trìnhhoạt động marketing không thể bỏ qua
- Là sản phẩm vô hình, chất lượng dịch vụ khó đánh giá vỡ nú chịunhiều yếu tố tác động như người bán, người mua và cả thời điểm dịch vụ đó
- Sản xuất và tiêu dùng, dịch vụ diễn ra đồng thời nên cung cầu dịch vụkhông thể tách rời nhau mà phải tiến hành cựng lỳc
- Dịch vụ không thể cất giữ trong kho, làm phần đệm điều chỉnh sựthay đổi nhu cầu thị trường như các sản phẩm vật chất khác
Quy mô của sản xuất ngày càng tăng, tiến bộ khoa học kỹ thuật và cácmối quan hệ kỹ thuật và các mối quan hệ giao dịch thương mại càng pháttriển thì càng đặt ra nhiều yêu cầu mới cho hoạt động thương mại trong đó có
cả hoạt động dịch vụ khách hàng, trước, trong và sau khi bán hàng
Trang 92.1.1.4 Vai trò của TM - DV trong nền kinh tế quốc dân
Lĩnh vực TM - DV nói chung bao gồm những lĩnh vực hết sức nhạycảm và có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Việc đẩy mạnh và mởcửa về lĩnh vực này cần được xem xét một cách toàn diện để có thể xác định vàtiến hành những bước đi và giải pháp phù hợp Nhằm góp phần cùng tỉnh và cảnước thực hiện thành công tiến trình mở cửa, mặt khác cùng góp phần đảm bảogiữ vững độc lập dân tộc, định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Hoạt động của TM - DV có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta TM - DV góp phần thúcđẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóaphát triển trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế Thật vậy, TM - DV chính
là cầu nối giữa các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất hànghóa, tiêu thụ sản phẩm Buôn bán quốc tế, đặc biệt là buôn bán hàng hóa sẽlưu hành như thế nào nếu không có dịch vụ vận tải? Dịch vụ thanh toán?Chính sự ra đời và phát triển của dịch vụ vận tải như vận tải đường bộ, đườngkhông, đường biển đã góp phần khắc phục được trở ngại về địa lý, đẩy nhanhtốc độ lưu thông hàng hóa, thúc đẩy nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa từquốc gia này đến quốc gia khác, từ khu vực này đến khu vực địa lý khỏc Cỏc dịch vụ ngân hàng cũng cho phép khâu thanh toán được diễn ra một cách
có hiệu quả, giúp cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu đạt được mục đích trongquan hệ buôn bán Các dịch vụ viễn thông, thông tin cũng có vai trò hỗ trợcho các hoạt động thương mại trong việc kích cầu, rút ngắn thời gian ra quyếtđịnh mua hàng của người tiêu dùng Các dịch vụ như dịch vụ đại lý, buônbán, bán lẻ giữ vai trò trung gian kết nối giữa người sản xuất với người tiêudùng; đồng thời góp phần đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóa, rút ngắn thờigian hàng hóa lưu thông, giỳp cỏc nhà sản xuất nhanh chóng thu hồi vốn đểđầu tư tái sản xuất Như vậy, dịch vụ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt
Trang 10TM - DV tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển.Thông qua hoạt động TM - DV trên thị trường, các chủ thể kinh doanh muabán được sản phẩm, góp phần tạo ra quá trình tái sản xuất được tiến hành liêntục và như vậy các dịch vụ sẽ lưu thông, các dịch vụ được thông suốt Có thểnói, nếu không có TM - DV thì sản xuất hàng hóa khó có thể phát triển được.
Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, TM - DV đã trở thành yếu tốquan trọng trong quá trình sản xuất là bởi vì nhu cầu về dịch vụ xuất phát từchớnh cỏc nhà sản xuất khi họ nhận thấy rằng, để có thể tồn tại trong sự cạnhtranh khốc liệt ở cả thị trường nội địa và thị trường nước ngoài, phải đưanhiều hơn các yếu tố dịch vụ vào trong quá trình sản xuất để hạ giá thành vànâng cao chất lượng như dịch vụ khoa học, kỹ thuật công nghệ
Sự tăng trưởng của các ngành TM - DV còn là động lực cho sự pháttriển kinh tế, cũng như có tác động tích cực đối với phân công lao động xãhội Nền kinh tế càng phát triển thì thương mại và dịch vụ càng phong phú, đadạng Hiện nay, sự phát triển TM - DV phản ánh trình độ phát triển kinh tếcủa mỗi quốc gia Người ta thấy rằng, trình độ phát triển kinh tế của một nướccàng cao thì tỷ trọng của TM - DV trong cơ cấu ngành kinh tế nước đó cànglớn Dịch vụ phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên mônhóa, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất khác phát triển
Thông qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, khả năng tiêudùng, nâng cao mức tiêu thụ và hưởng thụ của cá nhân và doanh nghiệp cũngtăng lên, góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường lao động và phâncông lao động trong xã hội
Trong xu thế hội nhập quốc tế, thị trường trong nước sẽ liên hệ chặtchẽ với thị trường nước ngoài thông qua hoạt động ngoại thương Nếu TM –
DV phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng chắc chắn sẽ mở rộng được thịtrường, thu hút các yếu tố đầu vào, đầu ra của thị trường Chớnh vỡ điều này,
Trang 11TM - DV thực sự là cầu nối gắn kết giữa thị trường trong nước với thị trườngngoài nước, phù họp với xu thế hội nhập và mở cửa ở nước ta hiện nay.
TM - DV luôn thể hiện sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trênthị trường mua bán hàng hóa dịch vụ Quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh làquan hệ bình đẳng về mặt lý thuyết, đó là thuận mua vừa bán Cho nên tronghoạt động TM - DV đòi hỏi các chủ thể kinh doanh luôn phải năng động, sángtạo, kể cả nghệ thuật để không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóadịch vụ trên thị trường, góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanhchóng, làm nền tảng vững chắc giỳp cỏc doanh nghiệp tồn tại và phát triểntrong sự cạnh tranh khốc liệt như hiện nay
Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, TM - DV góp phần giải quyếtnhững vấn đề kinh tế xã hội quan trọng của đất nước, đặc biệt là khi ViệtNam đã bình thường hóa về thương mại với Hoa Kỳ và gia nhập vào tổ chứcThương mại thế giới WTO Nghị quyết Đại hội X của Đảng ta đã khẳngđịnh: Về kinh tế, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dàinhiều năm, kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp CNH, HĐH được đẩymạnh Với những bước đi đó Việt Nam đã hội nhập vào khu vực thị trườngrộng lớn, có tình cạnh tranh cao và gồm những đối tác có năng lực cạnh tranhrất mạnh những thành quả này vừa tạo ra các tiền đề và cơ sở kinh tế, vừacung cấp những bài học cần thiết để chúng ta thực hiện bước hội nhập mới cótầm quan trọng đặc biệt - hội nhập ở cấp độ đa phương - toàn cầu trong Tổchức Thương mại thế giới
2.1.2 Phát triển và phát triển TM - DV
2.1.2.1 Phát triển
Phát triển là một phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổiđang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất.Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan không tồn tại trong trạng
Trang 12vong Phạm trù phát triển thể hiện một tính chất chung của tất cả những biếnđổi ấy Điều đó có nghĩa là bất kì một sự vật, một hiện tượng, một hệ thốngnào, cũng như cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ có biến đổi, mà luônluôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đâychưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái
đó cú Bởi vì trạng thái của bất kì sự vật hay hiện tượng nào cũng đều đượcquyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong, mà còn bởi các mốiliên hệ bên ngoài Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranhcủa các mặt đối lập Phương thức phát triển là chuyển hoá những thay đổi
về lượng thành những thay đổi về chất Chiều hướng phát triển là sự vậnđộng xoáy trôn ốc
Trong thời đại ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển.Theo Raaman Weitz: “Phỏt triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăngtrưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quảtăng trưởng trong xã hội” [18] Còn theo Lưu Đức Hải: “Phỏt triển là một quátrình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế,chính trị, kỹ thuật, văn hoỏ, ” [10]
Các nhà kinh tế thế giới đã đưa ra nhiều lý thuyết về sự phát triển Mặc
dù có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nói chung đều cho rằng Phát triển kinh
tế là khái niệm toàn diện hơn khái niệm tăng trưởng kinh tế Đối với mỗi xãhội, thông thường nói tới phát triển là nói tới sự đi lên, sự tiến bộ của toàn xãhội một cách toàn diện
Ngày nay, mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải quathời gian, khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất : "Phát triểnkinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong mộtthời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và
sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội Đó là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc
Trang 13sống tốt đẹp hơn Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả vềlượng và về chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn
đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia" [19]
Tăng trưởng và phát triển đôi khi được coi như nhau nhưng thực chấtchỳng cú những nét khác nhau và có liên hệ chặt chẽ với nhau Tăng trưởngkinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm về quy mô sản lượng của nềnkinh tế trong thời kỳ nhất định [18]
Lý thuyết phát triển bao gồm lý thuyết về phát triển kinh tế; phát triểndân trí và giáo dục; phát triển y tế, sức khoẻ và môi trường [14] Lý thuyết vềphát triển kinh tế đã được các nhà kinh tế học mà đại diện là A.Smith (1723-1790), T.R.Malthus (1776-1838), D.Ricardo (1772-1823), K.Marx (1818-1883), J.M Keynes (1883-1946) đưa ra qua việc phân tích và giải thích cáchiện tượng kinh tế và tiên đoán về phát triển kinh tế [14] Phát triển kinh tếđược hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tếtrong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sảnlượng (tức tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội [18]
Ở phạm vi nền kinh tế quốc dân có thể dựng cỏc chỉ tiêu tổng sản phẩmnội địa (GDP), tổng sản phẩm quốc gia (GNP), thu nhập quốc gia từ sản xuất(NI), thu nhập quốc gia sử dụng (NDI) và tốc độ phát triển của chúng để đánhdấu sự phát triển Ở mức doanh nghiệp có thế dựng cỏc chỉ tiêu giá trị sảnxuất, giá trị gia tăng, thu nhập thuần để đỏnh giá sự phát triển của doanhnghiệp Bên cạnh các yếu tố biểu hiện quy mô sản lượng nói trên, phát triểncòn được thể hiện ở sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội Như vậy, phát triểnkinh tế là một khái niệm chung nhất về một sự chuyển biến của nền kinh tế từmột trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn [14], [18]
Trong chiến lược phát triển kinh tế có thể nhấn mạnh vào tăng trưởngtức là thu nhập, có thể nhấn mạnh vào công bằng và bình đẳng trong xã hội
Trang 14hoặc nhấn mạnh phát triển toàn diện, tức là vừa nhấn mạnh về số lượng vừachú ý về chất lượng của sự phát triển Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hàihoà với phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế phải hài hoà với công bằng vàtiến bộ xã hội, đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nhân dân Tăngtrưởng kinh tế là tiền đề vật chất hỗ trợ cho việc thực hiện công bằng xã hội;ngược lại công bằng xã hội lại tạo ra động lực vững chắc để thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế Hiệu quả kinh tế phải gắn với hiệu quả xã hội thành hiệu quảkinh tế - xã hội Nó là tiêu chuẩn quan trọng của sự phát triển kinh tế [5].
2.1.2.2 Khái niệm về phát triển TM - DV
Phát triển TM - DV cũng chính là phát triển về sản xuất, đó là sự tăngtrưởng về qui mô và hoàn thiện về cơ cấu
Nền kinh tế càng phát triển thì TM - DV càng phong phú, đa dạng.Hiện nay, sự phát triển TM - DV phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗiquốc gia Người ta thấy rằng, trình độ phát triển kinh tế của một nước càngcao thì tỷ trọng của TM - DV trong cơ cấu ngành kinh tế nước đó càng lớn.Dịch vụ phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa,tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất khác phát triển
Phát triển đa dạng các loại hình kết cấu hạ tầng thương mại, kết hợp hàihòa giữa thương mại truyền thống với thương mại hiện đại, phù hợp với tínhchất và trình độ phát triển của thị trường trên từng địa bàn Đồng thời, pháttriển các mô hình tổ chức lưu thông theo từng thị trường ngành hàng, phù hợpvới tính chất và trình độ của sản xuất, xu hướng và phương thức thỏa mãn củatiêu dùng, đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước
Ngày nay, một người tiêu dùng khi mua một sản phẩm, họ không chỉmuốn thoả mãn nhu cầu về cá nhân loại sản phẩm đó mà họ muốn một "sựthoả mãn toàn bộ" Như vậy trong sản phẩm cũng sẽ bao gồm hàng hoá cứng
và hàng hoá mềm với vai trò như nhau trong sự xuất hiện của hàng hoá trênthị trường
Trang 15Các doanh nghiệp thương mại đóng vai trò quyết định trong việc hoànchỉnh phần mềm của một hàng hoá thông qua các hoạt động dịch vụ củadoanh nghiệp mình và như vậy đương nhiên hoạt động dịch vụ trở thành hoạtđộng chủ yếu của một doanh nghiệp thương mại và người tiêu dùng Kháchhàng có được thoả mãn hay không phần lớn phụ thuộc vào các hoạt động dịch
vụ này (điều này đặc biệt đúng trong nền kinh tế thị trường)
Cùng một sản phẩm nhưng có thể doanh nghiệp này bán tốt hơn doanhnghiệp kia chỉ bởi một lẽ là doanh nghiệp của họ hoàn hảo hơn, cũng cùngmột loại hình kinh doanh dịch vụ nhưng vẫn có những doanh nghiệp nổi trội
và làm ăn hiệu quả hơn, cũng bởi một lẽ là dịch vụ của họ hoàn hảo hơn,khách hàng được thoả mãn nhiều hơn Tất nhiên ở đây chúng ta cũng dùngphương pháp phân tích của nhà kinh tế, nghĩa là "giả định các yếu tố kháckhông đổi mà chỉ xem sự khác nhau của dịch vụ" Do đó các doanh nghiệpnếu không muốn bị tụt hậu thì phải chú trọng hoạt động dịch vụ và khôngngừng cải tiến, phát triển nó
TM - DV không trực tiếp làm ra hàng hoá và do đó cái phần lợi nhuậnnhỏ nhoi của các nhà sản xuất nhường lại cho họ đó phải được đầu tư thíchđáng thì mới có thể tồn tại và phát triển được
Dịch vụ tạo ra sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và thúc đẩy nềnkinh tế phát triển nhanh hơn Chớnh vỡ cỏc doanh nghiệp thương mại đềuhiểu rằng "việc đưa ra một dịch vụ tồi là một đòn đánh vào chính mình" chonên doanh nghiệp nào cũng cố gắng đưa vào dịch vụ hoàn hảo nhất, do đó vôhình chung đã xâm chiếm một phần thị trường hay nói khác đi đã lôi kéo mấtmột số khách hàng của doanh nghiệp khác Doanh nghiệp bị mất thị phần đó
sẽ phải tìm mọi cách để giành lại thị trường người tiêu dùng cũng bằng cáchhoàn thiện dịch vụ của mình Điều đó làm cho người tiêu dùng được đề cao,thu được nhiều lợi ích hơn, xã hội phát triển với tốc độ nhanh hơn
Trang 16Dịch vụ góp phần tạo ra sức sống mới, định hướng mới cho sự pháttriển của các doanh nghiệp thương mại trong tương lai Nó là cơ hội đầu tưđầy tiềm năng của các doanh nghiệp thương mại bởi vì nhu cầu dịch vụ ngàycàng lớn lên trên thế giới và ngày càng đòi hỏi nhiều dịch vụ hơn thoả mãnnhiều nhu cầu hơn cùng một lúc.
Một ví dụ cụ thể, ngày trước khi đi máy bay chỉ đơn giản là ngồi yêntrên ghế đợi đến nơi cần đến Nhưng ngày nay, kinh doanh các dịch vụ trongthời gian bay đã trở thành một ngành kinh doanh béo bở và đem lại lợi nhuậncao Có những doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ ăn uống trên máybay Có doanh nghiệp chuyên kinh doanh các loại hình giải trí (nghe nhạc,đánh bài ) Cũng có những doanh nghiệp chuyên kinh doanh về lĩnh vựcthông tin liên lạc cho những người có nhu cầu trong thời gian bay Và chođến nay các doanh nghiệp này đang ngày càng phát triển mạnh và luôn có xuhướng mở rộng số vốn tích luỹ ngày càng cao
2.1.2.3 Các giải pháp phát triển TM - DV
Một là, đổi mới và nâng cao nhận thức về TM - DV Ngày nay, xu thế
chung của thế giới là cơ cấu kinh tế đang chuyển mạnh sang phát triển TM
-DV, giảm tỷ trọng giá trị nông nghiệp, giá trị công nghiệp Đối với nước tađang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nhất thiết phải tăng tỷ trọngcông nghiệp cả về giá trị và lao động Nhưng phát triển công nghiệp có bốntrở ngại lớn, đó là vốn lớn, lao động và công nghệ đòi hỏi trình độ cao, quản
lý phức tạp, sức cạnh tranh thấp Trong khi phát triển TM - DV thì bốn trởngại đó không đến nỗi gay gắt như trong công nghiệp, mà chủ yếu là do TM -
DV đáp ứng được nhu cầu đa dạng, ngày càng cao về chất lượng Như vậy,chuyển dịch lao động nông nghiệp sang ngành TM - DV có nhiều điều kiệnthuận lợi hơn Thời gian qua, nhiều địa phương phát triển công nghiệp nôngthôn, đầu tư khá lớn nhưng sản phẩm hàng hóa làm ra do chất lượng thấp, giáthành cao, không thể cạnh tranh với sản phẩm do công nghiệp lớn trong nước
Trang 17sản xuất và hàng ngoại nhập với giá rẻ nên phải chịu lỗ và nhiều nơi bị thấtbại Trong khi đó, một số địa phương làm tốt công tác xuất khẩu lao động đãtạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho địa phương Như vậy, về mặtnhận thức cần nhận rõ vai trò của ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế ở nước
ta TM - DV của WTO chủ yếu là quan hệ thương mại quốc tế, nhưng trong
xu thế toàn cầu hóa thì sự phân biệt trong nước và nước ngoài chỉ có tínhtương đối Do do đó mọi hoạt động dịch vụ trong nước cũng phải từng bướctiếp cận và thích nghi với TM - DV trong quan hệ quốc tế
Hai là đổi mới cơ chế, chính sách để thích nghi với Hiệp định chung về
TM - DV
Về chính sách cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành theo hướng khai thác hợp lý và có hiệu quả tiềm năng và lợi thế sánhcủa từng vùng, từng địa phương, chú trọng phát triển mạnh ngành dịch vụ.Phát triển TM - DV góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồngthời khắc phục tình trạng phân tán, manh mún, năng suất thấp và thiếu bềnvững của nông nghiệp hiện nay Cần nhất quán thực hiện chính sách kinh tếnhiều thành phần, xóa bỏ tình trạng độc quyền trong kinh doanh của một sốdoanh nghiệp thuộc kinh tế nhà nước, không phân biệt đối xử giữa các thànhphần kinh tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam
Đối với các chính sách kinh tế khác, đặc biệt là chính sách thương mại,cần nhanh chóng đổi mới để phù hợp với quy chế của GATS, trong đó đặcbiệt tôn trọng nguyên tắc minh bạch , đảm bảo cho mọi cơ chế, chính sách củaNhà nước cũng như của doanh nghiệp được công khai, rõ ràng, kịp thời Đókhông chỉ là nguyên tắc quan trọng trong quan hệ quốc tế mà còn là quyềnlàm chủ của nhân dân, đồng thời là giải pháp hữu hiệu để phòng và chốngquan liêu, tham nhũng, lãng phí
Trang 18Ba là, tạo lập môi trường thuận lợi phát triển thương mại- dịch vụ Môi
trường để phát triển kinh tế nói chung và cho TM - DV nói riêng là một hệthống gồm nhiều loại, bao gồm môi trường: chính trị, kinh tế, văn hóa – xãhội, pháp luật, thông tin, sinh thỏi…, chỳng có quan hệ tác động lẫn nhau,hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm nhau và phụ thuộc chủ yếu bởi hệ thống chínhsách đã nêu trên đây Đối với TM - DV, nếu có một môi trường kinh tế vĩ mô
ổn định, pháp luật nghiêm minh phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế thì
sẽ khuyến khích làm giàu hợp pháp đi liền với xóa đói giảm nghèo, giảm bớtbất công, chống tham nhũng, lãng phí, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển
TM - DV Đặc biệt, trong TM - DV phải rất coi trọng xây dựng môi trườngvăn hóa – xã hội, môi trường sinh thái để thu hút khách quốc tế đến nước ta
Bốn là, coi trọng phát huy nhân tố con người trong phát triển TM - DV.
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội và ở bất cứ giai đoạnnào thì nhân tố con người vẫn giữ vai trò quyết định Tuy nhiên, khác vớithương mại hàng hóa, ở đó, quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng làgián tiếp thông qua hàng hóa vật thể, trong TM - DV, quan hệ giữa ngườicung ứng dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ nói chung là trực tiếp, do đó vaitrò của nhân tố con người càng quan trọng hơn Con người trong TM - DV rất
đa dạng về nghề nghiệp và trình độ, nhưng nói chung đều phải cú tõm, cóđức, có tài Một người đi làm ở nước ngoài tuy là lao động giản đơn nhưngcũng phải biết ngoại ngữ, hiểu biết tâm lý, phong tục tập quán của nước sởtại, biết cách ứng xử lịch thiệp, giữ đúng quan hệ Một chuyên gia đi phục vụ
ở nước ngoài cần có trình độ uyên thâm, có phẩm chất đạo đức trong sáng, làtấm gương để nước ngoài nhìn nhận và đánh giá trí thức của Việt Nam Saukhi trở thành thành viên của WTO và để phát triển TM - DV thì con người
Trang 19Việt Nam nói chung phải có một sự thay đổi lớn về chất để có thể thích nghivới điều kiện mới.
2.2 Lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động
2.2.1 Lao động và vai trò của lao động
2.2.1.1Các khái niệm liên quan đến lao động
- Lao động: Là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm
thay đổi những vật thể của tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người
Lao động không những tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con người
mà còn cải tạo bản thân con người, phát triển con người cả về mặt thể lực vàtrí lực Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông quan sự vận động
đó, con người làm thay đổi tự nhiên, đồng thời quá trình đó cũng làm thay đổibản tính của chính mình [9]
“Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có
kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (Điều 55- Bộ luậtlao động Việt Nam năm 1994) Quyền đó được bảo đảm bởi hệ thống kinh tế
xã hội chủ nghĩa, bởi sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, bở sựđào tạo về nghề nghiệp, việc nâng cao trình độ nghề nghiệp và việc đào tạonhững ngành chuyên môn mới,…
- Lực lượng lao động
Có nhiều quan niệm khác nhau về lực lượng lao động
Theo quan niệm của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì lực lượng laođộng là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế đang có việc làm
và những người thất nghiệp Các nước thành viên của tổ chức này đều thốngnhất với quan niệm này Giữa các nước chỉ có sự khác nhau về độ tuổi quyđịnh Gần đây, nhiều nước đã lấy tuổi tối thiểu là 15, còn độ tuổi tối đa có sự
Trang 20khác nhau tuỳ theo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Các trị
số tối đa về tuổi thường trùng với tuổi về hưu
Theo Tổng cục Thống kê (1995), lực lượng lao động là những người từ
15 tuổi trở lờn có việc làm và không có việc làm [21]
Hiện nay, Bộ Luật Lao động ở Việt Nam quy định là đủ 15- 60 tuổi đốivới nam và đủ 15-55 tuổi đối với nữ Trong đề tài chúng tôi quan niệm về lựclượng lao động phù hợp với định nghĩa của ILO và theo Bộ luật Lao độnghiện hành, tuy nhiên chỉ lấy trị số tối đa của độ tuổi mà không chia theo giới
Từ đó khái niệm lực lượng lao động được hiểu là những người có năng lựchành vi, đủ 15-60 tuổi đang có việc làm và chưa có việc làm Ngoài ra lànhững người không thuộc lực lượng lao động
- Lao động nông thôn: Cũng là một loại lao động, là yếu tố cần thiết
của quá trình sản xuất Tuy nhiên, do khu vực nông thôn có đặc thù riêng biệttạo nên đặc điểm riêng biệt và cú cỏc loại lao động khác nhau
Nếu so sánh chung giữa hai khu vực nông thôn và thành thị thì bất bìnhđẳng thu nhập giữa hai khu vực này chưa chắc đã tăng, thậm chí có thể giảm
đi nếu tỷ trọng lao động phổ thông thoát ly nông nghiệp chuyển sang hoạtđộng sản xuất công nghiệp tăng đủ nhanh để bù đắp lao động nông thôn thuầntuý bị mất việc làm hoặc trở nên bán thất nghiệp và nhờ đó thu nhập chungcủa khu vực nông thôn được cải thiện tương đối so với khu vực thành thị
Trang 21Bảng 1: Tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị Tiêu chí Khu vực nông thôn Khu vực thành thị
Nghề nghiệp
Những người sản xuấtnông nghiệp, một số ítphi nông nghiệp
Những người sản xuấtcông nghiệp, dịch vụ
Môi trường
Môi trường tự nhiên ưutrội, quan hệ trực tiếpvới tự nhiên
Môi trường nhân tạo ưutrội, ít dựa vào tự nhiên
Kích cỡ cộng đồng
Cộng đồng làng bảnnhỏ, văn minh nôngnghiệp
Kích cỡ cộng đồng lớnhơn văn minh,
công nghiệp
Đặc điểm công đồng
Cộng đồng thuần nhấthơn về các đặc điểmchủng tộc và tâm lý
Không đồng nhất vềchủng tộc và tâm lý
Phân tầng xã hội
Sự khác biệt và phântầng xã hội ít hơn so với
đô thị
Sự khác biệt và phântầng xã hội nhiều hơnnông thôn
Di động xã hội
Di động xã hội theo lãnhthổ, theo nghề nghiệpkhông lớn, di cư cá nhân
từ nông thôn ra thànhthị
Cường độ di động lớnhơn, có biến động xã hộimới, có di cư từ thànhthị về nông thôn
Tác động xã hội
Tác động xã hội tới từng
cá nhân thấp hơn Quan
hệ xã hội sơ cấp, lánggiềng, huyết tộc
Tác động xã hội tới từng
cá nhân lớn hơn Quan
hệ xã hội thứ cấp, phứctạp, hình thức hoá
Ngược lại, nếu không có những chính sách hỗ trợ hữu hiệu thì thu nhập hộ
Trang 22và tương đối so với hộ nông dân thoát ly nông nghiệp, và cả so với lao động ở khuvực thành thị, dẫn đến làm tăng bất bình đẳng thu nhập ở những hộ này.
Một trong những chính sách hỗ trợ cần thiết nhất là tự do hoá thịtrường lao động, khuyến khích tạo điều kiện dịch chuyển lao động từ nôngnghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp và các khu vực khác của nền kinh
tế Thông qua việc xoá bỏ chế độ quản lý nhân khẩu Theo chế độ này nôngdân không dễ dàng gì thay đổi nghề hoặc nơi cư trú (trừ một số cú trình độhoặc có tiền) Hầu như mọi chế độ phúc lợi xã hội như chế độ hưu trí, khámchữa bệnh, học hành, đều gắn với quyển hộ khẩu
Gần đõy một số thay đổi nhỏ đã diễn ra ở một số tỉnh thành lớn, ví dụnhư về việc thường trú và sở hữu nhà cửa Nhưng về cơ bản, chế độ hộ khẩuvẫn phát huy tác dụng của nó trong việc ngăn chặn làn sóng di cư từ nôngthôn ra thành thị và nạn thiếu thốn nhà cửa dành cho người nhập cư
Có những ước tính cho thấy có khoảng 30 - 40% lực lượng lao độngnông thôn bị dư thừa và năng suất lao động nông thôn cực kỳ thấp Một trongnhững hậu quả là tỷ lệ dân số cư trú tại nông thôn và thành thị hầu như khôngthay đổi đáng kể trong hai thập kỷ qua, chênh lệch thu nhập bình quân đầungười giữa người giàu (chủ yếu ở thành thị) và người nghèo (chủ yếu ở nôngthôn) ngày càng tăng lên [2]
- Chuyển dịch lao động
Trang 23Xét về mặt cầu nó gắn liền và phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế Khi cơ cấukinh tế thay đổi dẫn đến sự phân công lại lao động xã hội, tạo ra sự chuyểndịch lao động và dẫn đến chuyển dịch cơ cấu lao động.
Chuyển dịch lao động theo ngành là quá trình phát triển của các ngànhkinh tế dẫn đến sự thu hút lao động khác nhau giữa các ngành và làm thay đổicấu trúc lao động theo ngành và mối quan hệ tương quan giữa chúng so vớithời điểm trước đó Lao động theo ngành của một địa phương chia theo 3nhóm: Nhúm ngành công nghiệp - xây dựng; nhóm ngành nông nghiệp - lâmnghiệp - thuỷ sản; nhóm ngành TM - DV Trong từng nhóm ngành có thể cònđược chia thành các ngành và ngành hẹp theo sự phân cấp trong hệ thốngngành kinh tế quốc dân Chẳng hạn, trong nhóm ngành nông nghiệp – lõmnghiệp - thuỷ sản chia thành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản; trong nôngnghiệp lại được chia thành trồng trọt và chăn nuôi
Chuyển dịch lao động theo vùng là sự thay đổi phân công lao động xãhội về mặt không gian địa lý Không gian địa lý nơi lao động trong hộ đanglàm việc xác định trong đề tài bao gồm: Làm việc tại địa bàn huyện đang sinhsống và di chuyển ra ngoài huyện
2.2.1.2 Vai trò của lao động
Lao động, một mặt là yếu tố đầu vào không thể thiếu được trong qỳatrình sản xuất, mặt khác là một bộ phận của dân số, những người được hưởnglợi ích của sự phát triển Sự phát triển kinh tế suy cho cùng là tăng trưởng kinh
tế để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người Lao động là mộttrong bốn yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế và nó là yếu tố quyết địnhnhất, bởi vì tất cả mọi của cải vật chất và tinh thần của xã hội đều do con ngườitạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải đó [29] Vai trò của lao động với tăng trưởng kinh tế được xem xét qua các chỉtiêu về số lượng lao động, trình độ chuyên môn, sức khỏe người lao động và
Trang 24thể hiện tập trung qua mức tiền công của người lao động Khi tiền công củangười lao động tăng có nghĩa chi phí sản xuất tăng, phản ánh khả năng sảnxuất tăng lên, đồng thời khi mức tiền công tăng làm cho thu nhập có thể sửdụng của người lao động cũng tăng, do đó khả năng chi tiêu của người tiêudùng tăng
Ở các nước đang phát triển, mức tiền công của người lao động nóichung thấp, do đó ở những nước này lao động chưa phải là động lực mạnhcho sự phát triển Để nâng cao vai trò của người lao động trong phát triểnkinh tế cần thiết cú cỏc chính sách nhằm giảm bớt lượng cung lao động, đồngthời tạo ra các nguồn lực khác một cách đồng bộ
Có thể khẳng định lao động là động lực quan trọng trong tăng trưởng
và phát triển kinh tế Lao động có vai trò đặc biệt hơn các yếu tố khác và laođộng có vai trò hai mặt:
Thứ nhất, là nguồn lực sản xuất chính không thể thiếu trong các hoạtđộng kinh tế Với vai trò này lao động luôn được xem xét ở hai khía cạnh đó
là chi phí và lợi ích
Lao động là yếu tố đầu vào, nó ảnh hưởng tới chi phí tương tự như việc
sử dụng yếu tố sản xuất khác Lao động cũng bao hàm những lợi ích tiềm tàngtheo nghĩa góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống và giảm nghèo đóithông qua chính sách tạo việc làm, tổ chức lao động có hiệu quả, áp dụngcông nghệ phù hợp
Thứ hai, lao động là một bộ phận của dân số, là người được hưởng thụlợi ích của quá trình phát triển Mọi quốc gia đều nhấn mạnh mục tiêu pháttriển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển
Trang 252.2.2 Cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động
2.2.2.1 Các khái niệm liên quan đến cơ cấu lao động
Cơ cấu lao động là tổng thể các bộ phận hợp thành nguồn lao động xãhội và mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, cơ cấu lao động thể hiện sốlượng và chất lượng
Cơ cấu lao động được xác định qua các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu sốlượng, chất lượng của nguồn lao động Như vậy để xác định cơ cấu cung laođộng chúng ta cần phải xác định được: những người bước vào độ tuổi laođộng, những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, nhưng chưa
có việc làm, và có nhu cầu làm việc; những người có nguy cơ bị mất việc làm
và trình độ học vấn của nguồn lao động Nguồn lao động được bắt nguồn từdân số, do đó dân số có ảnh hưởng lớn tới nguồn lao động Khi phân tích cơcấu số lượng lao động cho ta thấy rõ nguồn lao động là bao nhiêu để thấyđược một lợi thế về lao động và có những chính sách để phát huy tiềm nănglợi thế này Mặt khác, khi nghiên cứu cung lao động chúng ta cần phải quantâm đến chất lượng lao động, do đó cần phải biết được những thông tin: Họtên, tuổi, giới tính, tình trạng sức khoẻ, chỗ ở; trình độ đào tạo, khả năng và
sở thích của mỗi người lao động; nhu cầu làm việc, đây là vấn đề quyết địnhđến năng suất lao động, hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh Trình độcủa người lao động quyết định đến sự phát triển của đất nước Trong quỏ tỡnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nếu không quan tâm tới việc nângcao sức khoẻ, trình độ cho lực lượng lao động, trang bị cho lực lượng laođộng kiến thức chuyên môn, kỹ thuật thì nguồn lao động không phát huyđược tiềm lực và kết quả cuối cùng là hoạt động kinh tế không đạt hiệu quả
Cơ cấu cầu lao động được xác định bằng các tỷ lệ lao động theo ngành,vùng, khu vực, thành phần kinh tế, tình trạng việc làm,
Khi xác đinh cơ cấu cầu lao động chúng ta sẽ xác định được: các đơn vị
Trang 26doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động Số việc làm trong nềnkinh tế quốc dân và lao động làm việc trong các ngành, cỏc vựng, cỏc thànhphần kinh tế giúp cho việc hoạch định phát triển cỏc vựng kinh tế, các ngànhkinh tế, không bị cản trở bởi vấn đề nguồn lao động bị mất cấn đối, đồng thờitạo ra sự chuyên môn hoá cao giữa các ngành, cỏc vựng, thực hiện sự phâncông lao động hợp lý Mặt khác, cơ cấu cầu lao động xác định được: số laođộng đang được sử dụng, số chỗ làm việc còn trống và yêu cầu đối với ngườilao động khi đảm đương công việc ở chỗ làm việc trống đó, số lượng ngườithất nghiệp và có việc làm định hướng để cú cỏc chính sách phát triển, đầu tưhợp lý với cơ cấu lao động, làm cho cơ cấu kinh tế phù hợp với cơ cấu laođộng, giảm số người thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động.
Dưới cơ chế cũ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ cấu lao độnghình thành chủ yếu là do sự áp đặt của nhà nước thông qua phân công bố trílao động xã hội, theo kế hoạch sản xuất từ trên giao xuống Trong cơ chế thịtrường thì cơ cấu lao động được hình thành chủ yếu thông qua quan hệ cungcầu lao động trên thị trường lao động tổng thể và khu vực Tuy vậy, vai tròcủa Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng và điều tiết thông qua nhữngchính sách phát triển kinh tế, để có được cơ cấu lao động hợp lý, phù hợp với
cơ cấu kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Về nguyên tắc, cơ cấu laođộng phải phù hợp với cơ cấu kinh tế vỡ nú phản ánh trình độ phát triển củanền kinh tế và trình độ văn minh của xã hội Vì thế, theo quy luật phát triểnkhông ngừng của xã hội mà cơ cấu lao động luôn biến đổi, đó là sự chuyểndịch cơ cấu lao động
2.2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu lao động
* Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu lao động
Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi về lượng các thành phầntrong lực lượng lao động để tạo nên một cơ cấu mới, là sự chuyển dịch nguồnlao động từ ngành này sang ngành khác, từ khu vực này đến khu vực khác, sự
Trang 27thay đổi lao động giữa các nghề, giữa các cấp trình độ Như vậy chuyển dịch
cơ cấu lao động chính là sự chuyển hoá từ cơ cấu lao động cũ sang cơ cấu laođộng mới, phù hợp hơn với quá trình phát triển kinh tế xã hội và trình độ pháttriển nguồn nhân lực của đất nước
Xét về tổng thể nguồn nhân lực trong xã hội, chuyển dịch cơ cấu lao độngđược xem xét sự biến đổi cấu trúc lực lượng lao động Vì vậy, có thể địnhnghĩa chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn là quá trình biến đổi, chuyển hoákhách quan từ cơ cấu lao động cũ sang cơ cấu lao động mới tiến bộ hơn, phùhợp với quá trình và trình độ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Về nội dung chuyển dịch cơ cấu lao động bao gồm những loại chuyểndịch sau:
Chuyển dịch cơ cấu chất lượng lao động bao gồm sự thay đổi về trình
độ học vấn, đào tạo ngành nghề, thể lực, ý thức, thái độ và tinh thần tráchnhiệm trong lao động, Suy cho cùng, đây là những nội dung chính của pháttriển nguồn nhân lực
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc xác địnhdịch chuyển cơ cấu chất lượng lao động là vấn đề hết sức cấp thiết và quantrọng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là đưa đất nước từ tình trạnglạc hậu với nền kinh tế tự cung tự cấp, chủ yếu dựa vào nông nghiệp sang nềnkinh tế mở với thế mạnh là công nghiệp và dịch vụ Để thực hiện được cầnphải có một đội ngũ lao động với trình độ chuyên môn cao Do đó thực hiệnchuyển dịch cơ cấu chất lượng lao động, nâng cao trình độ chuyên môn chongười lao động là vấn đề hàng đầu cần được sự định hướng trong chiến lượcphát triển kinh tế của Nhà nước
Chuyển dịch cơ cấu cầu lao động (hay chuyển dich cơ cấu việc làm)bao gồm: Sự thay đổi về cơ cấu lao động theo ngành nghề, theo vùng, sự thayđổi các loại lao động (chủ thợ, tự làm việc), sự thay đổi cơ cấu lao động theo
Trang 28cơ cấu sử dụng lao động trên đều góp phần làm cho cơ cấu lao động phù hợp với cơcấu nền kinh tế, phát huy được tiềm năng của lực lượng lao động, thúc đẩy sự pháttriển nền kinh tế lành mạnh, bền vững, tận dụng được lợi thế của lao động góp phầnthoàn thiện việc phân công lao động trong quá trình phát triển nền kinh tế.
Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn
Nói đến cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn có nghĩa là nói đếntrình độ của người lao động trong các thành phần kinh tế Lao động trong cácthành phần kinh tế được phân ra thành nhiều loại theo trình độ chuyên môn vàhọc vấn của họ Do đó, chúng ta dễ dàng thấy được trình độ của người laođộng đến đâu, có đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế hay không.Như vậy cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn là sự phân chia lao độngtheo trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của người lao động Cơ cấutrình độ chuyên môn gồm 4 nhóm trình độ:
- Lao động không qua đào tạo
- Công nhân kỹ thuật
- Trung học chuyên nghiệp
- Cao đẳng, đại học và trên đại học
Cơ cấu lao động theo ngành nghề
Cơ cấu lao động theo ngành nghề là sự phân bố nguồn lao động vào cácngành nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân Mỗi ngành, mỗi nghề đều
có một lực lượng lao động, phân chia lao động theo ngành nghề có nghĩa làxem xét lao động trong từng ngành nghề, xem xét tỷ lệ lao động của cácngành nghề
Cơ cấu lao động theo ngành nghề gồm:
- Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản
- Công nghiệp, Xây dựng cơ bản
- Thương mại, Dịch vụ
Trang 29Đối với từng ngành lại có cơ cấu trong nội bộ ngành Chẳng hạn, ngànhnông nghiệp (theo nghĩa rộng) gồm nông nghiệp, lâm nghiệm, thủy sản
Nghiên cứu cơ cấu lao động theo ngành nghề góp phần hoạch địnhchính sách xã hội đúng đắn, phù hợp với từng ngành nghề, từng vùng lãnhthổ Mặt khác, có sự tác động trở lại là góp phần định hướng phát triển cácngành, cỏc vùng kinh tế trong cả nước
* Xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động
- Quy luật tăng năng suất lao động của A Fisher: Theo A Fisher, xu thếphát triển khoa học công nghệ, ngành nông nghiệp dễ có khả năng thay thếlao động nhất Việc tăng cường sử dụng máy móc thiết bị và các phương tiệncanh tác mới tạo điều kiện cho nông dân nâng cao được năng suất lao động.Kết quả là để đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cần thiết cho xã hội,không cần đến một lượng lao động như cũ, vì vậy tỷ lệ lao động nông nghiệp
có xu hướng giảm dần Ngành công nghiệp là ngành khó có khả năng thay thếlao động do đặc tính của ngành này là sử dụng kỹ thuật công nghệ phức tạp
Do đó, cùng với quá trình phát triển, tỷ trọng lao động của ngành này có xuhướng tăng lên Ngành TM - DV là ngành khó có khả năng thay thế lao độngnhất, do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc tạo ra sản phẩm dịch vụ, rào cảncho sự thay thế công nghệ và kỹ thuật rất cao Trong khi đó, trong một nềnkinh tế trình độ cao thì tốc độ tăng của cầu tiêu dùng lớn hơn tốc độ tăng thunhập Vì vậy, tỷ trọng lao động trong ngành TM - DV sẽ có xu hướng tăng vàtăng càng nhanh khi nền kinh tế càng phát triển [17]
- Mô hình di cư của Todaro: Bắt đầu từ giả định rằng di cư chủ yếu làhiện tượng kinh tế, Todaro cho rằng quá trình di cư bắt nguồn từ chênh lệchtrong thu nhập dự kiến có được hơn là thu nhập thực tế giữa nông thôn vàthành thị Người di cư xem xét những cơ hội khác nhau trong thị trường laođộng giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị, và lựa chọn để làm tăng lợi
Trang 30sự chênh lệch trong mức thu nhập thực tế giữa công việc ở nông thôn và thànhthị; khả năng có thể kiếm được việc làm ở thành thị của người di cư [12] Dựa trên những nghiên cứu của các nhà kinh tế học về chuyển dịch cơcấu lao động và phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu ngành và cơ cấu lao độngtheo ngành, tính tất yếu và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành chúng ta cóthể rút ra kết luận sau:
Thứ nhất, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành là tất yếu do đó quá trình
chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành cũng mang tính tất yếu
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu theo ngành theo những xu hướng nhất định,
do vậy nó quy định xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành Cụ thể
là tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảmtrong khi đó tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ có xu hướngngày càng tăng, đặc biệt là tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ có xu hướngtăng và tăng càng nhanh khi nền kinh tế càng phát triển Trong nội bộ ngànhcông nghiệp, tỷ trọng lao động các ngành công nghiệp chế biến tăng lên, cơcấu lao động thay đổi theo hướng chuyển từ ngành sản xuất các sản phẩm sửdụng nhiều lao động sang ngành sản xuất sản phẩm chứa hàm lượng cao vềvốn và khoa học công nghệ Trong nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng giá trịsản lượng ngành chăn nuôi sẽ tăng lên và tỷ trọng lao động của ngành trồngtrọt giảm xuống tương ứng Còn đối với ngành dịch vụ, tỷ trọng lao động cácngành dịch vụ kinh doanh có tính chất thị trường ngày càng tăng
- Sự phát triển của khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ không chỉ tạo ra các công cụ lao động mới mà cảphương pháp sản xuất mới, do đó mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất vàtăng năng suất lao động Dưới tác động của khoa học công nghệ, các nguồnlực sản xuất được mở rộng: mở rộng khả năng phát hiện, khai thác và đưa vào
sử dụng các nguồn tài nguyên; làm biến đổi chất lượng lao động; cơ cấu lao
Trang 31động xã hội chuyển từ lao động giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máymóc, nhờ đó tăng năng suất lao động và giảm một cách tương đối số lượnglao động được sử dụng trong các ngành dẫn đến sự thay đổi về lao động giữacác ngành và làm cơ cấu lao động theo ngành thay đổi
Các công nghệ mới ra đời như sử dụng vật liệu mới, công nghệ sinh học,công nghệ điện tử… đã làm cho nền kinh tế chuyển từ phát triển theo chiềurộng sang phát triển theo chiều sâu, nghĩa là việc tăng trưởng kinh tế dựa trênviệc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất Với vai trò này, khoa họccông nghệ là nhân tố quan trọng nhất làm biến đổi nền kinh tế từ nền kinhnông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và tri thức Điều này đồng nghĩavới việc chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành từ lạc hậu đến hiện đại, từtrình độ thấp lờn trỡnh độ cao
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ không chỉ đẩy nhanhtốc độ phát triển của các ngành, mà còn làm cho phân công lao động xã hộingày càng sâu sắc và đưa đến việc phân chia các ngành thành nhiều phânngành nhỏ, xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới Từ đó làm thayđổi cơ cấu lao động theo ngành với xu hướng tích cực, thể hiện: tỷ trọng laođộng của ngành công nghiệp mà đặc biệt là ngành dịch vụ có xu hướng tăngdần, trong khi đó tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm; cơ cấulao động trong nội bộ mỗi ngành cũng có sự biến đổi sâu sắc, tỷ trọng lao độngtrong các ngành có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao ngày càng tăng [24]
Có thể nói khoa học công nghệ không những đẩy nhanh tốc độ chuyểndịch cơ cấu lao động các ngành theo hướng hợp lý và hiện đại, mà còn làmthay đổi cơ cấu lao động nội bộ ngành, đồng thời tác động đến việc chuyểndịch cơ cấu lao động theo trình độ
- Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Trang 32ngành có mối liên hệ hữu cơ Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành vừa làđòi hỏi vừa là hệ quả của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Trên cơ sở đóchúng ta xác định yếu tố định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành sẽ tác độngnhư thế nào đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành.
Hầu hết các quốc gia đều phải nghiên cứu và đưa ra các định hướng xâydựng và phát triển cơ cấu ngành hợp lý Việc định hướng không những có tácdụng trong việc xác định con đường sẽ đi mà còn tạo ra các căn cứ để quản lý,huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả Gắn liền với một cơ cấungành là một cơ cấu lao động, cho nên việc định hướng xây dựng cơ cấungành sẽ đặt ra yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ở thờiđiểm hiện tại để phù hợp với cơ cấu ngành đã được định hướng trong tươnglai Rõ ràng, với mỗi định hướng khác nhau sẽ làm cho cơ cấu lao động theongành chuyển dịch theo những hướng khác nhau Như vậy, việc định hướng
cơ cấu ngành đúng đắn, có tính khả thi cao thì cơ cấu lao động theo ngànhcũng có điều kiện chuyển dịch đúng hướng và phù hợp với cơ cấu ngành
- Quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá
Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị, đồng thời là quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm,sản xuất phi nông nghiệp tăng, bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, khônggian đô thị mở rộng
Theo lý thuyết của Todaro, quá trình đô thị hoá gắn liền với quá trình didân từ nông thôn ra thành thị, quá trình di chuyển lao động từ khu vực nôngnghiệp sang khu vực phi nông nghiệp Việc di chuyển này trực tiếp làm giảm
tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động ngành côngnghiệp và dịch vụ dẫn đến thay đổi cơ cấu lao động theo ngành
Quá trình đô thị hoá một mặt làm giảm diện tích đất nông nghiệp, nhucầu lao động nông nghiệp giảm dần Mặt khác, do sự phát triển về cơ sở hạ
Trang 33tầng, tâm lý của người lao động và việc dư thừa lao động nông nghiệp dẫnđến xu hướng phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, từ đó làm tỷ trọnglao động của các ngành này không ngừng tăng lên Có thể thấy rằng, đô thịhoá vừa tác động trực tiếp đến số lượng và tỷ trọng lao động của các ngànhvừa gián tiếp tác động đến cơ cấu lao động theo ngành thông qua sự thay đổi
cơ cấu ngành kinh tế
* Các nhân tố liên quan đến khả năng chuyển dịch cơ cấu cao động theo ngành - Quy mô và chất lượng nguồn nhân lực
Không thể có sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành khi mà quy mônguồn nhân lực không đáp ứng được những đòi hỏi của cơ cấu ngành kinh tế,nhân tố gần như là dễ đáp ứng nhất của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới.Mặc dù có những tác động tiêu cực nhưng sự dồi dào về lao động cũng là yếu
tố rất quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành.Quy mô của lực lượng lao động lớn sẽ đáp ứng được yêu cầu về số lượng laođộng để mở rộng quy mô các ngành kinh tế Có hai vấn đề đặt ra: nếu việcchuyển dịch chỉ đơn thuần là việc di chuyển lao động giữa các ngành, tácdụng quy mô nguồn nhân lực chỉ dừng lại ở mức độ bổ sung lao động cho cácngành; nếu việc chuyển dịch không đơn thuần là sự di chuyển lao động giữacác ngành mà còn là sự tăng lên về quy mô lao động của nền kinh tế thì quy
mô lao động có ý nghĩa rất lớn, vì nếu quy mô lao động không đáp ứng đượcdẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn lực, từ đó sẽ làm giảm tốc độ phát triển củanền kinh tế Như vậy, trong những điều kiện khác nhau, vai trò của quy mônguồn nhân lực là khác nhau, chúng ta không thể phủ nhận tác động của nóđến quá trình phát triển nói chung và đến chuyển dịch cơ cấu lao động theongành nói riêng
Sẽ thiển cận nếu chỉ phân tích tác dụng của quy mô nguồn nhân lực, chấtlượng nguồn nhân lực cũng là yếu tố có ý nghĩa quan trọng với quá trình
Trang 34chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành Chất lượng nguồn nhân lực tác độngđến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động được xột trờn hai phương diện
Thứ nhất, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành không chỉ
đơn thuần là sự thay đổi về số lượng lao động, gắn liền với nó là sự thay đổi
về chất lượng lao động Xu hướng của quá trình chuyển dịch là giảm tỷ trọnglao động trong ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng lao động trong ngành côngnghiệp và dịch vụ Không giống với ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp
và dịch vụ là những ngành đòi hỏi cao về chất lượng lao động Việc tăng tỷtrọng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ đồng nghĩa với việctăng tỷ trọng lao động có chất lượng Hơn nữa, sự tác động của khoa học côngnghệ dẫn đến quá trình hiện đại hoá nông nghiệp, kéo theo đó là yêu cầu nângcao chất lượng lao động trong nông nghiệp Như một xu thế tất yếu, quá trìnhchuyển dịch cơ cấu lao động đặt ra một vấn đề là không ngừng nâng cao chấtlượng lao động trong cả ba ngành kinh tế với mức độ khác nhau Nguồn nhânlực chất lượng cao chính là nhân tố quan trọng nhất để giải quyết vấn đề này.Hơn nữa, nó còn là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tốc độ quátrình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực cũng là nhân tố quyết định đến phát
triển khoa học công nghệ Chúng ta đã biết vai trò của khoa học công nghệvới quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, cho nên xột trờnphương diện này nguồn nhân lực đã tác động gián tiếp đến quá trình chuyểndịch cơ cấu lao động thông qua việc thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ
- Chênh lệch thu nhập
Thu nhập là có vai trò sống còn đối với người lao động Nó là mục tiêu làđộng lực thúc đẩy người lao động trong quá trình sản xuất Xu hướng chung củangười lao động là tìm những công việc phù hợp và có thu nhập cao, do đó việcchênh lệch thu nhập giữa ngành này và ngành khác là một trong những căn cứ
Trang 35quan trọng nhất để người lao động quyết định chọn một ngành để làm việc.
S chênh l ch thu nh p gi a các ng nh nông nghi p v công nghi p,ệch thu nhập giữa các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ập giữa các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ữa các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ành nông nghiệp và công nghiệp, ệch thu nhập giữa các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ành nông nghiệp và công nghiệp, ệch thu nhập giữa các ngành nông nghiệp và công nghiệp,
d ch v l y u t thúc ụ là yếu tố thúc đẩy di chuyển một bộ phận lao động từ ngành ành nông nghiệp và công nghiệp, ếu tố thúc đẩy di chuyển một bộ phận lao động từ ngành ố thúc đẩy di chuyển một bộ phận lao động từ ngành đẩy di chuyển một bộ phận lao động từ ngànhy di chuy n m t b ph n lao ển một bộ phận lao động từ ngành ột bộ phận lao động từ ngành ột bộ phận lao động từ ngành ập giữa các ngành nông nghiệp và công nghiệp, đột bộ phận lao động từ ngànhng t ng nhừ ngành ành nông nghiệp và công nghiệp,nông nghi p sang ho t ệch thu nhập giữa các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ạt động trong ngành công nghiệp và dịch vụ Hệ số co đột bộ phận lao động từ ngànhng trong ng nh công nghi p v d ch v H s coành nông nghiệp và công nghiệp, ệch thu nhập giữa các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ành nông nghiệp và công nghiệp, ụ là yếu tố thúc đẩy di chuyển một bộ phận lao động từ ngành ệch thu nhập giữa các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ố thúc đẩy di chuyển một bộ phận lao động từ ngànhgiãn c a cung lao ủa cung lao động theo thu nhập thường được dùng để đo lường đột bộ phận lao động từ ngànhng theo thu nh p thập giữa các ngành nông nghiệp và công nghiệp, ường được dùng để đo lườngng được dùng để đo lườngc dùng đển một bộ phận lao động từ ngành đ o lường được dùng để đo lườngng
bi n ếu tố thúc đẩy di chuyển một bộ phận lao động từ ngành đột bộ phận lao động từ ngànhng trên
EL =
% L
[20]
% ITrong đó:
- EL : Hệ số co giãn của cung lao động theo thu nhập
- % L : Sự thay đổi của cung lao động
- % I : Sự thay đổi của thu nhập
Hệ số co giãn càng lớn thì cung lao động theo thu nhập càng co giãn,nghĩa là khi mức độ chênh lệch thu nhập giữa các ngành càng lớn thì quy môlao động dịch chuyển ngày càng tăng Nếu chênh lệch thu nhập giữa ngànhnông nghiệp với ngành công nghiệp, dịch vụ càng lớn thì quy mô lao động dichuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng Điều nàydẫn đến tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp giảm, còn tỷ trọng laođộng trong ngành công nghiệp và TM - DV tăng lên
2.3 Vai trò của TM - DV trong chuyển dịch cơ cấu lao động
TM - DV luôn giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội
và kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần giải quyết việc làm chongười lao động, tác động đến chuyển đổi cơ cấu lao động nói chung và cơ cấulao động nông nghiệp, nông thôn Thương mại là cầu nối giữa sản xuất và tiêudùng, thị trường là yếu tố quy mô và tốc độ phát triển sản xuất Thương mạiphát triển (với việc củng cố và phát triển sản xuất kinh doanh thương mại, đầu
tư phát triển hạ tầng thương mại ở nông thôn, phát triển và đẩy nhanh các loại
Trang 36hình thương mại, thông tin dự báo thị trường ) sẽ tạo điều kiện đáp ứng tốtcác nhu cầu cung ứng vật tư, nguyên liệu đầu vào và tiêu thụ hàng hoá đầu racho sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển cả về quy mô và chất lượng Cácchính sách đổi mới thông thoáng của Nhà nước về phát triển về thị trườngtrong nước, lưu thông hàng hoá, hội ngập quốc tế…đã xoỏ bỏ dần các rào cản
vô hình và hữu hình, tạo môi trường thuận lợi và những tỡền đề vật chất chothị trường trong nước (với sự phát triển của bốn loại thị trường chính ở khuvực nông thôn là thị trường vốn, thị trương hàng hoá, thị trường dịch vụ và thịtrường sức lao động), cùng với phát triển và mở rộng thị trường xuất nhậpkhẩu đó tác động đến chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thônthông qua phát triển mở rộng sản xuất, tiêu thụ hàng hoá, tạo việc làm chongười lao động Ngược lại cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn chuyểnđổi theo hướng tích cực (giảm tỷ trọng lao động thuần nông, tăng tỷ trọng laođộng phi nông nghiệp với trình độ và chất lượng chuyên môn ngày một nângcao) sẽ đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất trong tiến trình công nghiệphoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo ra nhiều sản phẩm hànghoá với chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường, tác động thúc đẩythương mại, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu Mối quan hệ giữaphát triển thương mại, thị trường với sản xuất và lực lượng lao động là mốiquan hệ tương hỗ , thúc đẩy nhau cùng phát triển
2.3.1 TM - DV tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu lao động
Phát triển TM - DV cần một lực lượng lao động khá lớn, do đó trực tiếpthu hút lao động nhất là lao đông nông nghiệp nông thôn, góp phần chuyểndịch cơ cấu lao động Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp đã pháttriển khá toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá với mức tăng trưởng bìnhquân 4%/năm Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch còn chậm
và còn nặng về nông nghiệp (chiếm 42%), trong đó trồng trọt chiếm tỷ trọngcao 58% [23]
Trang 37Hiện nay Nông nghiệp nước ta đã đúng góp 16% GDP nhưng bản thânngành Nụng, Lõm, Ngư nghiệp không thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng,không tạo được tích luỹ cần thiết để tiến hành CNH, HĐH nếu không pháttriển mạnh mẽ ngành nghề công nghiệp, dịch vụ Vì vậy phát triển nôngnghiệp, nông thôn phải gắn liền với phát triển công nghiệp chế biến, ngànhnghề dịch vụ để nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời mở rộng phạm vi hoạtđộng của sản phẩm nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trongnước và Quốc tế Phát triển ngành nghề sẽ góp phần hình thành nông thônmới, trong đú các ngành dịch vụ sẽ là cầu nối giữa sản xuất công nghiệp vớinông nghiệp, giữa sản xuất tiêu dùng, thực hiện trao đổi hàng hoá giữa cỏcvựng, giữa thành thị và nông thôn trong cả nước Ngành nghề, dịch vụ nôngthôn cũng là cầu nối giữa yếu tố đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất,thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển, đảm bảo cung ứng và tiêu thụ hàng hoáthuận tiện, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và đời sống dân cư Ngành nghềnông thôn sẽ tạo ra nhiều việc làm, thu hút một lực lượng lao động khá lớntham gia, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thời gian làm việc, tác độngmạnh mẽ đến sự phân bố lao động theo hướng chuyển đổi lao động nôngnghiệp sang ngành nghề công nghiệp và dịch vụ.
Khôi phục và phát triển ngành nghề sẽ góp phần tăng khối lượng hàng hoá
và đa dạng hoá chủng loại cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.Trong xu thế tự do hoá thương mại và hội nhập, các sản phẩm hàng hoá đòihỏi tính cạnh tranh cao nên phát triển ngành nghề dịch vụ khu vực nông thônluôn gắn liền với nhu cầu thị trường, đòi hỏi các ngành nghề, làng nghề phảimang tính chuyên môn hoá và đa dạng hoá cao Để đáp ứng được nhu cầutrên, đòi hỏi lực lượng lao động ngày càng lớn đồng thời chất lượng lao độngcũng không ngừng được nâng cao
Tổ chức thông tin, thị trường, giá cả, quy cách và tiêu chuẩn sản phẩm
Trang 38thôn tiếp cận kịp thời với thị trường trong nước và thế giới, có định hướngphát triển sản phẩm của mình trong tương lai Các sản phẩm sản xuất ra hợpvới thị hiếu người tiêu dùng, có thị trường tiêu thụ sẽ thúc đẩy sản xuất, mởrộng quy mô, thu hút thêm lao động tham gia Việc tổ chức nghiên cứu thôngtin thường xuyên về thị trường, giá cả cũng giúp cho cơ sở ngành nghề cóđiều kiện tham gia hội trợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm, tổ chức đi thamquan, tìm hiểu thị trường trong và ngoài nước, đõy là những cơ hội tốt tìmhiểu đối tác trong kinh doanh, liên kết, tiêu thụ sản phẩm.
2.3.2 TM - DV tác động đến tiêu thụ hàng hoá góp phần chuyển dịch cơ
cấu lao động
TM - DV phát triển sẽ thúc đẩy mở rộng thị trường cả trong nước lẫn quốc
tế Thị trường có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội,
có vị trí đặc biệt trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam và tácđộng trực tiếp đến chuyển đổi cơ cấu lao động Nhận thức rõ vị trí của thịtrường trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã có nhiềuchủ trương và quyết sách lớn để phát triển thị trường nông thôn theo hướnglành mạnh và đúng hướng, với phương châm phát triển nông nghiệp, nôngthôn thành những thị trường cung cấp hàng hoá dồi dào cho thị trường đô thị,cung ứng nguyên phụ liệu đầu vào cho công nghiệp và xuất khẩu
Nhà nước cũng đặc biệt quan tâm đến phát triển quan hệ hợp tác quốc tếtheo phương thức đa phương hoá, đa dạng hoá nhằm mở rộng thị trường tiêuthụ hàng hoá để thúc đẩy phát triển sản xuất nhất là các ngành nghề phi nôngnghiệp góp phần giải quyết việc làm, chuyển đổi cơ cấu lao động nôngnghiệp, nông thôn Với chính sách đổi mới của Nhà nước, hàng hoá được lưuthông tự do giữa cỏc vựng trong nước, cả nước trở thành một thị trường thốngnhất, nông dân tự do lựa chọn, bạn hàng và nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá cólợi nhất Việc tự do lưu thụng cỏc sản phẩm hàng hoá được điều hoà giữa cỏcvựng, nờn giá cả không chênh lệch nhiều, sản xuất được thúc đẩy phát triển
Trang 39và có điều kiện da dạng hoá sản xuất Đõy là một trong những cơ sở để lựclượng lao động nông nghiệp có điều kiện chuyển sang lao động phi nôngnghiệp.
Công tác xuất nhập khẩu các mặt hàng, nụng, lõm, thuỷ sản, thủ công mỹnghệ….cũng được nhà nước khuyến khích theo hướng thông thoáng, tạo điềukiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất Người nông dân có điềukiện lựa chọn phát triển cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu, thổnhưỡng, các sản phẩm ngành nghề được thị trường các nước ưa chuộng để ổnđịnh chất lượng và thị trường xuất khẩu
Một khi có trị trường tiêu thụ, những sản phẩm của các làng nghề truyềnthống được phục hồi, có cơ hội phát triển và nhân rộng sẽ góp phần tăng tỷtrọng lao động phi nông nghiệp ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Kim ngạchxuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ như đồ gỗ kỹ thuật, gốm sứ, song mõy,cỏc sản phẩm tre…tăng mạnh trong những năm gần đõy đó thúc đẩy phát triểncác cơ sở ngành nghề, thu hút nhiều lao động thuần nông và lao động nôngnhàn góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn
2.3.3 TM - DV tác động đến các lĩnh vực khác (vốn, đầu tư, công nghệ, bảo
hiểm) góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động
TM - DV là một trong những yếu tố quyết định đến vấn đề cần đầu tưvốn vào lĩnh vực nào và đầu tư vào đâu để đạt hiệu quả cao trong sản xuất tạikhu vực nông thôn, đồng thời sự đầu tư đúng vào một số công trình phục vụnông nghiệp, đầu tư cho cơ sở hạ tầng tại khu vực nông thôn sẽ cú tỏc độngtrở lại đến phát triển thương mại của khu vực này
Từ năm 1993, chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn đượcđiều chỉnh theo hướng đầu tư tập trung, cắt giảm các khoản đầu tư kém hiệuquả, vốn đầu tư được tăng cường từ nhiều nguồn khác nhau Nguồn vốn từngân sách Nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn hàng năm ngày càng tăng
Trang 40tuy nhiên phần lớn giành cho thuỷ lợi và đê điều chiếm khoảng 70%, tiếp đến
là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn như đường giao thông, hệ thốngcấp điện, nước sạch, thông tin liên lạc Tuy nhiên vốn đầu tư vào nông - lâm -thuỷ sản so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội còn chiểm tỷ trọng nhỏ Hơn nữavốn đầu tư vào nông nghiệp thực ra còn bao gồm đầu tư cho tiêu nước và đêđiều mà kết quả không chỉ phục vụ cho riêng nông nghiệp Trong thực tế nhiềunăm các nguồn vốn đầu tư xã hội cho nông nghiệp, nông thôn thường bao gồmchủ yếu là nguồn vốn ngân sách chiếm khoảng 40%, vốn tín dụng ưu đói chiếmkhoảng 10%, nguồn vốn do dân tự đầu tư chiếm trên dưới 30%, vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài (thực hiện) vào khu vực nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 6% Dovậy cần có chính sách mới nhằm phát huy nội lực để huy động đủ vốn cho nôngdân đáp ứng nhu cầu vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nôngthôn [13]
Một trong những ưu tiên về vốn đầu tư cho khu vực nông thôn là kếtcấu hạ tầng nông thôn Muốn khu vực nông thôn phát triển thì kết cấu hạ tầng
là điều kiện vật chất quan trọng, phục vụ phát triển kinh tế cũng như phúc lợinông thôn Kinh tế nông thôn muốn mở mang, xoỏ đói, giảm nghèo thànhcông, lợi ích của người nghèo muốn được đảm bảo và hoà nhập vào cộngđồng dân cư giàu có, thực hiện công bằng xã hội , xây dựng nông thôn vănminh, hiện đại thì phải chăm lo xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn
Giữa TM - DV và sự phát triển của khoa học và công nghệ có sự gắn
bó chặt chẽ với nhau, sự tiến bộ của khoa học công nghệ một mặt thúc đẩyquá trình tiêu chuẩn hoá sản phẩm và hình thành thương hiệu toàn cầu, nhưngmặt khác nó làm thị trường bị phõn tỏch thành nhiều bộ phận khác nhau.Không phải do ngăn cách biên giới và hàng rào thương mại mà do nhu cầu vàthói quen của người tiêu dùng Người tiêu dùng có xu hướng tiêu thụ những