1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Kĩ thuật đặt câu hỏi theo thang cấp độ tư duy bloom trong dạy học tích cực môn ngữ văn 11

62 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kĩ thuật đặt câu hỏi theo thang cấp độ tư duy Bloom trong dạy học tích cực môn Ngữ văn 11
Tác giả Vi Phương Hoa
Trường học Trường THPT Mường La
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Nghiên cứu sáng kiến
Năm xuất bản 2019
Thành phố Sơn La
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Bối cảnh của giải pháp (5)
  • II. Lí do chọn giải pháp (6)
  • III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu (7)
  • IV. Mục đích nghiên cứu (7)
  • I. Thực trạng của giải pháp đã biết (8)
    • 1. Thực trạng chung (8)
    • 2. Thực trạng đối với giáo viên (9)
    • 3. Thực trạng đối với học sinh (10)
  • II. Nội dung sáng kiến (10)
    • 1. Bản chất của giải pháp mới (11)
      • 1.1. Định nghĩa chung kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực (0)
      • 1.2. Tầm quan trọng của kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực (0)
      • 1.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề (11)
      • 1.4. Một số kĩ năng ứng xử khi sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi (0)
      • 1.5. Giáo án minh họa kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực (0)
    • 2. Ưu, nhược điểm của giải pháp mới (26)
      • 2.1. Ưu điểm (26)
      • 2.2. Nhược điểm (27)
  • III. Khả năng áp dụng của sáng kiến (27)
  • IV. Hiệu quả, lợi ích thu được (27)
    • 1. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp dụng sáng kiến 28 2. Những kiến nghị, đề xuất (30)
    • 3. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền (31)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (32)

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn về Kĩ thuật đặt câu hỏi theo thang cấp độ tư duy bloom trong dạy học tích cực môn ngữ văn 11 giúp học sinh hào hứng tiếp thu bài học và giáo viên dễ dàng tổ chức hoạt động giáo dục

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……… 5

I Bối cảnh của giải pháp……… 5

II Lí do chọn giải pháp ……… 6

III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu……… 7

IV Mục đích nghiên cứu ……… 7

PHẦN NỘI DUNG……… 8

I Thực trạng của giải pháp đã biết……… 8

1 Thực trạng chung……… 8

2 Thực trạng đối với giáo viên……… 9

3 Thực trạng đối với học sinh……… 9

II Nội dung sáng kiến……… 10

1 Bản chất của giải pháp mới……… 10

1.1 Định nghĩa chung kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực…… 10

1.2 Tầm quan trọng của kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực…… 10

1.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề……… 11

1.4 Một số kĩ năng ứng xử khi sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi ……… 19

1.5 Giáo án minh họa kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực ……… 25

2 Ưu, nhược điểm của giải pháp mới……… 25

2.1 Ưu điểm……… 25

2.2 Nhược điểm……… 25

III Khả năng áp dụng của sáng kiến……… 25

IV Hiệu quả, lợi ích thu được……… 26

PHẦN KẾT LUẬN……… 28

1 Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp dụng sáng kiến 28 2 Những kiến nghị, đề xuất……… 28

3 Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền……… 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 30

Trang 2

PHỤ LỤC……… 31

Trang 3

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 4

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: “Kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực môn Ngữ văn

11 tại Trường THPT Mường La”

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục (Ngữ văn)

3 Tác giả: Họ và tên:Vi Phương Hoa Nam (nữ): Nữ

Trình độ chuyên môn: Cử nhân

Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên – Trường THPT Mường La

Điện thoại: 0976313356 Gmail: phuonghoa689@gmail.com

Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến:

4 Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường THPT Mường La

Địa chỉ: Tiểu khu V, Thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La

Điện thoại: 0976313356

5 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: 9/2019

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

I Bối cảnh của giải pháp

Đối với các quốc gia, đổi mới hay cải cách giáo dục trong thời đại 4.0 luôn

là yêu cầu thường xuyên, bức thiết nếu không muốn bị tụt hậu trong cuộc chạyđua phát triển diễn ra ngày càng gay gắt Bởi thực tế, lịch sử đã chứng minh một

quy luật: “Không có một sự tiến bộ và thành đạt quốc gia nào mà lại tách rời ra khỏi sự tiến bộ và thành đạt của quốc gia đó trong lĩnh vực giáo dục”

Tại Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI đã nêu rõ vấn

đề về “Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành được chú trọng; đáp ứng nhu cầu nhân lực nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân” trong chiến lược phát triển

giáo dục 2011-2022

Bắt đầu từ năm học 2019-2020, với Chương trình giáo dục phổ thông mới

đã yêu cầu quá trình dạy học phải hình thành và phát triển được cho học sinh 6phẩm chất và 10 năng lực sau:

Trang 6

Trong các môn học chính, môn Ngữ văn đóng vai trò quyết định cho việchình thành các phẩm chất và năng lực trên, đặc biệt là hình thành năng lực ngônngữ và năng lực văn học Đổi mới phương pháp dạy học văn hay thay đổi cáchgiảng dạy truyền thống của môn Ngữ văn là vô cùng cần thiết và cấp bách trongthời đại 4.0 không ngừng phát triển và đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao.

II Lí do chọn giải pháp

Môn Ngữ văn là một trong 7 môn học và hoạt động bắt buộc gồm Ngữvăn; Toán; Ngoại ngữ 1; Giáo dục thể chất; Giáo dục quốc phòng an ninh; Hoạtđộng trải nghiệm, hướng nghiệp; Nội dung giáo dục của địa phương trongchương trình giáo dục phổ thông mới Chính vì vậy, bộ môn Ngữ văn phải cầnthực hiện lồng ghép các kĩ thuật dạy học tích cực kết hợp với cách giảng dạytruyền thống để đáp ứng được yêu cầu đào tạo thế hệ trẻ có kiến thức, giàu kĩnăng trong thời đại hiện nay Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội

và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sửdụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác,môn Ngữ văn còn giúp học sinh có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn

Trang 7

học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người.

Đặt câu hỏi là một trong những KTDH hết sức hữu ích mà giáo viên cầnphát triển Trong một giờ dạy, người giáo viên giỏi luôn biết sử dụng nhiều câuhỏi với nhiều mục đích khác nhau Ở một chừng mực nhất định, việc đặt câu hỏi

là quá đơn giản bởi đó là việc mà tất cả chúng ta làm hàng ngày, tuy nhiên, ngườiđặt câu hỏi cũng phải có kỹ năng và hiểu biết thì mới có thể diễn đạt câu hỏi mộtcách rõ ràng, chính xác, tung ra câu hỏi đúng thời điểm để đem lại hiệu quả tối đakhai thác câu trả lời của học sinh và là tiền đề để đặt ra những câu hỏi tiếp theo

Trong các giờ dạy Ngữ văn, đặt câu hỏi là một hoạt động quen thuộc,truyền thống của giáo viên nhưng có một thực tế : Nếu giáo viên đặt câu hỏi chưasát với mục tiêu bài học hay thường xuyên dùng những loại câu hỏi đóng(Yes/No), hỏi chưa có kĩ thuật sẽ không khơi gợi được hứng thú học tập của họcsinh dẫn đến tiết học nhàm chán và hạn chế khả năng hình thành năng lực tư duy

và ngôn ngữ cho học sinh Vì thế chất lượng môn học còn thấp Vì lí do này, tôi

mạnh dạn đưa ra sáng kiến về “Kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực môn Ngữ văn 11 tại Trường THPT Mường La” làm đối tượng nghiên cứu với

mong muốn góp phần cải thiện và nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Ngữ văntrong nhà trường, giúp học sinh dần hình thành năng lực tư duy, phát triển ngônngữ và quan trọng hơn là giúp học sinh hình thành được các năng lực và phẩmchất cần có trong thời đại hiện nay

III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

1 Phạm vi nghiên cứu:

Học sinh khối 11 (4 lớp) tại trường THPT Mường La Trong đó:

+ Hai lớp thực nghiệm (áp dụng sáng kiến) là: 11H, 11A1 với tổng số họcsinh là 78 HS

+ Hai lớp đối chứng (không áp dụng sáng kiến) là: 11A2, 11A3 với tổng sốhọc sinh là 75 HS

2 Đối tượng nghiên cứu:

Kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực môn Ngữ văn 11 theo “Thangcấp độ tư duy Bloom cải tiến”

IV Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu kĩ thuật đặt câu hỏi để làm cơ sở lý luận và thực tiễn liênquan đến dạy học tích cực, phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn lớp 11 từ

đó đưa vào thiết kế tài liệu và tổ chức hoạt động học cho HS

Trang 8

- Vận dụng thiết kế một số giáo án dạy các phân môn: Đọc văn; TiếngViệt; Làm văn để hình thành năng lực và phẩm chất cho HS ngay trong tiết học

- Nghiên cứu để làm cơ sở để áp dụng kĩ thuật đặt câu hỏi vào các môn họckhác ngoài môn Ngữ văn hướng tới nâng cao chất lượng dạy và học tại nhàtrường

lý thuyết dần được thay bằng năng lực chuyên môn, năng lực giải quyết nhữngvấn đề thực tiễn và những cách giải quyết mang tính sáng tạo, hiệu quả cao, thíchứng với đời sống xã hội Đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xuthế mang tính toàn cầu

Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương ĐảngCộng sản Việt Nam (khoá XI) đã thông qua Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứngyêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 về đổi mới chương trình, sách giáo

Trang 9

khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo Ngày 27 tháng 3 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số404/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổthông.

Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

“Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biếncăn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạychữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng

về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất vànăng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi họcsinh.”

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủtướng Chính phủ, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo địnhhướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh; tạo môi trường học tập vàrèn luyện giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, trở thànhngười học tích cực, tự tin, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực đểhoàn chỉnh các tri thức và kĩ năng nền tảng, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp vàhọc tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thànhngười công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đápứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệđất nước trong thời đại toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới

Yêu cầu đổi mới về giảng dạy trong chương trình giáo dục phổ thông mớithì PPDHTC “ Hoạt động học tập lấy học sinh làm trung tâm”;“ Dạy học tích cựctheo hướng phát triển năng lực học sinh” đang được thực hiện rộng khắp ở tất cảcác cấp học Với PPDHTC, GV chỉ là người xây dựng và tổ chức hoạt động họccho HS, còn HS chủ động tham gia hoạt động học và tự chiếm lĩnh kiến thức vàhình thành năng lực cho bản thân

Đã có rất nhiều các phương pháp và kĩ thuật được ra đời và được áp dụngvào trong các giờ học để nâng cao tính chủ động của HS trong đó có kĩ thuật đặtcâu hỏi Mỗi người giáo viên phải có kỹ năng đặt câu hỏi sao cho phù hợp vớicác đối tượng học sinh từ Yếu đến Trung bình; Khá; Giỏi Đặt câu hỏi như thếnào để vừa truyền dạy được kiến thức vừa giáo dục được phẩm chất, năng lựccho HS? Là một vấn đề mà Ngành giáo dục và các nhà giáo đang rất quan tâmtìm hiểu câu trả lời

2 Thực trạng đối với giáo viên

Đặt câu hỏi (phát vấn) là một hoạt động quen thuộc mà GV thường sửdụng để tương tác với học sinh trong quá trình dạy học Mô hình một giờ dạy:

GV hỏi, giảng giải – HS trả lời, ghi chép chiếm đến 90% ,vì vậy giờ học nặng líthuyết, nặng tính thuyết trình, ít có khả năng bồi dưỡng được năng lực và phẩmchất cho HS

Với sự phát triển nhanh chóng như vũ bão của công nghệ thông tin họcsinh có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, từ nhiều nguồn khác nhau không

Trang 10

giống trước đây chỉ tiếp nhận kiến thức từ giáo viên trực tiếp giảng dạy Chính vìvậy, người GV phải thực hiện đổi mới phương pháp dạy học để thu hút HS mớiđạt được hiệu quả trong công tác giảng dạy.

Những năm trở lại đây, số lượng HS thi tốt nghiệp môn Ngữ văn mà điểmdưới trung bình tăng cao Cụ thể: Kì thi THPT Quốc gia năm 2019 môn Ngữ văndẫn đầu số thí sinh bị điểm liệt (từ 1 trở xuống) với 1.265 HS Điểm 0 (HS đểgiấy trắng) gần 100 HS Điểm trung bình 5,49 Đây chính là con số đáng lo ngạitrong công tác dạy và học môn Ngữ văn hiện nay Một trong những nguyên nhâncủa kết quả đó là từ phía GV: Không có sự đầu tư cho giờ học, giảng dạy theophương pháp cũ, chưa khơi gợi đươc sự hứng thú và đam mê cho HS về bộ mônNgữ văn

Bên cạnh đó, dạng đề thi tốt nghiệp THPT ngày càng nâng dần mức độkiểm tra từ mức nhận biết, thông hiểu lên vận dụng thấp và vận dụng cao thì việc

GV chủ động bồi đắp kiến thức và năng lực cho HS qua các giờ học trên lớp làrất quan trọng Một trong những công cụ đắc lực cho hoạt động thiết kế và tổchức hoạt động học của người GV đó chính là kĩ thuật đặt câu hỏi định hướngnăng lực cho HS trong từng bài học

3 Thực trạng đối với học sinh

Đặc điểm HS ở cấp THPT đang ở thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng

là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này.Ở giaiđoạn này nhu cầu học hỏi, khám phá, mở rộng giao tiếp ngày càng tăng cao Tuynhiên, đây vẫn là thời kỳ quá độ vì các em không còn là trẻ con nhưng lại chưa làngười lớn một cách đúng nghĩa nên dễ dàng dẫn đến những sai lạc đáng tiếc nếunhư không có sự định hướng đúng đắn của nhà trường và gia đình

Học sinh hiện nay với đặc trưng của học sinh thế hệ gen Z (thế hệ sinh năm

1995 đến 2012) sinh ra trong thời đại của công nghệ, nhanh nhạy trước các thôngtin có khả năng bắt trend (bắt theo xu hướng) rất nhanh HS đã dần hình thành 4phong cách học tập VARK: Tiếp nhận thông tin bằng hình ảnh (Visual); Tiếpnhận thông tin bằng âm thanh (Auditory); Tiếp nhận thông tin bằng cách đọc(nghe) và ghi chép lại (Read-listen-take note); Tiếp nhận thông tin bằng vận động(Kinesthetic) Nếu như HS không được giáo dục, định hướng cẩn thận, phát triểnnăng lực tư duy tích cực ngay trên ghế nhà trường thì dễ bị “ lệch chuẩn” có thểsản sinh ra thế hệ ham chơi, lười làm, sống ảo, đua đòi, vô cảm HS còn xem nhẹ

việc học Văn với tư tưởng “Học qua loa, kiểm tra chép mạng” nên học hành

chểnh mảng, thường xuyên không chuẩn bị bài Đã có bộ phận học sinh có nhữngphát ngôn, hành động không chuẩn mực với giáo viên trong quá trình học

Học sinh trường THPT Mường La nói riêng và học sinh các trường THPT

ở tỉnh Sơn La nói chung đa số học sinh là con em dân tộc thiểu số ở vùng sâu,vùng xa nên khả năng tự học chưa cao, còn rụt rè, thiếu sự chủ động, chưa đưa rađược quan điểm, chính kiến của bản thân, chưa biết lập mục tiêu học tập để phấnđấu, khả năng đánh giá, phân tích, suy luận, dự đoán và sáng tạo còn hạn chế

II Nội dung sáng kiến

Trang 11

1 Bản chất của giải pháp mới

1.1 Định nghĩa chung về kĩ thuật đặt câu hỏi

Đặt câu hỏi hỏi tức là đưa ra các câu hỏi theo các cấp độ khác nhau nhằmkiểm tra mức độ nắm bắt kiến thức, tư duy, nhận thức của học sinh trong một giờhọc, quá trình học

Kỹ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực là giáo viên biết cách đặt câuhỏi theo các cấp độ nhận thức để học sinh suy nghĩ phát hiện kiến thức, phát triểnnội dung bài học đồng thời khuyến khích các em tham gia thảo luận xoay quanh

ý tưởng/nội dung trọng tâm của bài học theo trật tự logic từ đó tự lĩnh hội kiếnthức và phát triển các năng lực cần có cho mình

1.2 Tầm quan trọng của việc sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực môn Ngữ văn

Đặt câu hỏi là một trong những kĩ năng quan trọng của người GV, với tácdụng gây hứng thú, khuyến khích, kích thích tư duy của HS hướng HS tập trungsuy nghĩ vào nội dung bài học, đồng thời cũng giúp HS ghi nhớ các kiến thức cũ

đã học cũng qua việc trả lời các câu hỏi của HS, GV nắm được mức độ hiểu bàicủa HS để điều chỉnh cách dạy phù hợp với trình độ nhận thức của các em

Đặt câu hỏi là kĩ thuật rất quan trọng để phát triển năng lực học sinh trongdạy học môn Ngữ văn Kĩ thuật đặt câu hỏi giúp học sinh cách suy nghĩ, tự học

và hợp tác, giúp các em không chỉ nắm bắt được kiến thức mà có thể vận dụngđược trong tình huống đời sống cụ thể Nó cho phép học sinh thực hành các kháiniệm và quy tắc các em được học đồng thời nó cũng tạo cơ hội cho chính chúng

ta – người giáo viên – kiểm tra và sửa lỗi ngay tại chỗ, cung cấp dữ liệu cho giáoviên thông tin phản hồi để biết được học sinh có hiểu bài hay không Từ đó có sựđiều chỉnh kế hoạch dạy học sao cho phù hợp với đối tượng HS

Trong dạy học, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HStìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tậpcủa HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác

về những nội dung bài học chưa sáng tỏ Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sựhiểu biết lẫn nhau giữa HS và GV và HS và HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thìmức độ tham gia của HS càng nhiều, HS sẽ học tập tích cực hơn Từ đó có thểhình thành năng lực và phẩm chất cho học sinh

1.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.

Câu hỏi có vai trò quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học Văn nóiriêng Sử dụng câu hỏi là một trong những phương pháp lâu đời nhất trong dạyhọc nhưng vấn đề là làm sao để câu hỏi có tính hệ thống, có hiệu quả khoa họccao, có thể kích thích người học hăng say tham gia vào quá trình học tập đó làmột trăn trở của bất cứ người GV nào

Trước khi áp dụng sáng kiến: Tôi tiến hành khảo sát chất lượng môn Ngữvăn của 153 học sinh (4 lớp 11) tại Trường Trung học phổ thông Mường La qua

Trang 12

bài viết số 1 ( Phần Phụ lục) đạt được kết quả sau:

BẢNG 1: KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG MÔN NGỮ VĂN

Khảo sát mức độ hứng thú trong giờ học môn Ngữ văn (Phụ lục 2)

BẢNG 2: MỨC ĐỘ HỨNG THÚ CỦA HỌC SINH HỌC MÔN NGỮ VĂN

Lí giải một phần nguyên nhân của kết quả trên là do trong quá trình dạyhọc trên lớp, giáo viên chưa thu hút được học sinh vào hệ thống câu hỏi dẫn dắtbài học của mình dẫn đến tiết học nhàm chán, học sinh mất dần đam mê vào mônhọc nên chất lượng môn học thấp Chính vì vậy, việc GV vận dụng kĩ thuật đặtcâu hỏi trong dạy học tích cực môn Ngữ văn là rất cần thiết

Thông thường, trong quá trình xây dựng kế hoạch dạy học (giáo án), người

GV thường sử dụng câu hỏi để tổ chức hoạt động học cho HS Câu hỏi có câu hỏi

“đóng” và câu hỏi “mở” nhưng thực tế câu hỏi đóng (Yes/No) vẫn chiếm tỉ lệcao, câu hỏi mở đã sử dụng nhưng chưa thực sự được chú ý phát huy để xây dựngnăng lực cho HS

Ví dụ: Câu hỏi đóng: Câu hỏi (Yes/No) hoặc câu hỏi chỉ có duy nhất mộtcâu trả lời duy nhất

- Theo em câu chuyện Hầu Trời trong bài thơ Hầu trời của thi sĩ Tản Đà

là thật đúng không ?

- Bài thơ Vội vàng được Xuân Diệu sáng tác vào thời gian nào? (1938)

- Phóng sự thuộc phong cách ngôn ngữ nào? (Phong cách ngôn ngữ báo

chí)

Khác với câu hỏi đóng, câu hỏi mở có nhiều phương án trả lời Câu hỏi mở

có tác dụng kích thích ở các cấp độ tư duy Người học phải suy nghĩ kết hợp với

Trang 13

ngôn ngữ để giải thích, trình bày hiểu biết, kinh nghiệm kiến thức đã thu nạp từcuộc sống và bài học

Ví dụ: Câu hỏi mở

- Em có đồng ý với hành động của Chí Phèo trong kết thúc truyện ngắn Chí Phèo không? Vì sao? Hãy tưởng tượng và viết lại kết thúc khác cho truyện ngắn Chí Phèo?

- Qua bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh) em hãy rút ra những bài học cho bản thân mình?

Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy có thể vận dụng “Thang cấp độ tư duyBloom cải tiến” trở thành một kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực mônNgữ văn tại nhà trường phổ thông Người GV sẽ vận dụng “Thang cấp độ tư duyBloom cải tiến” để xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng (câu hỏi mở) ngaytrong quá trình thiết kế tài liệu học tập và tổ chức hoạt động học cho HS đọc hiểumôn Ngữ văn nhằm phát triển năng lực tư duy cho học sinh

Vào năm 1956, Benjamin Bloom đã viết cuốn Phân loại tư duy theo nhữngmục tiêu giáo dục: Lĩnh vực nhận thức, trong đó phần mô tả về tư duy gồm sáumức độ của ông đã được chấp nhận rộng rãi và được sử dụng trong rất nhiều lĩnhvực cho tới ngày nay Danh mục những quá trình nhận thưc của ông được sắpxếp từ mức độ đơn giản nhất, gợi lại kiến thức, đến mức độ phức tạp nhất, đánhgiá giá trị và tính hữu ích của một ý kiến Theo Thang tư duy Bloom truyền thống(chưa cải tiến) chia ra thành 6 cấp độ tư duy: Biết; Hiểu; Vận dụng; Phân tích;Tổng hợp; Đánh giá

Đến năm 1999, Tiến sĩ Lorin Anderson cùng những đồng nghiệp của mình

đã xuất bản phiên bản mới được cập nhật về Phân loại tư duy của Bloom gọichung là “ Thang cấp độ tư duy Bloom cải tiến” Ông lưu tâm tới những nhân tốảnh hưởng tới việc dạy và học trong phạm vi rộng hơn Phiên bản Phân loại tưduy mới này đã cố gắng chỉnh sửa một số vấn đề có trong bản gốc Không giốngvới phiên bản năm 1956, phiên bản phân loại tư duy phân biệt “biết cái gì” - nộidung của tư duy, và “biết như thế nào” - tiến trình được sử dụng để giải quyết vấnđề

Theo “Thang cấp độ tư duy Bloom cải tiến”, lĩnh vực tri thức được chia ra thành 6 kĩ năng chủ yếu được sắp xếp theo mức độ tăng dần: Nhớ (Biết);

Hiểu;Ứng dụng (Áp dụng); Phân tích; Đánh giá;Sáng tạo

Trang 14

Thang cấp độ tư duy Bloom cải tiến

Tôi đã tìm hiểu và sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực mônNgữ văn theo các cấp độ của “Thang cấp độ tư duy Bloom cải tiến” như sau:

1.3.1 Câu hỏi ở cấp độ Nhớ (Biết)

Nhớ (biết) là khả năng ghi nhớ, nhắc lại chính xác và nhận diện thông tin.Nhớ được xem như là nền tảng, rất cần thiết cho tất cả các cấp độ tư duy Nhớ ởđây được hiểu là nhớ lại những kiến thức đã học và nhắc lại được đúng Trong

ma trận đề kiểm tra môn Ngữ văn, câu hỏi mức độ này thường là câu số 1 và 2của phần Đọc-hiểu trong một đề thi môn Ngữ văn

- Mục đích: Nhằm kiểm tra trí nhớ (khả năng học thuộc lòng) của HS vềcác thông tin, kiến thức liên quan đến tác giả, tác phẩm, thời đại Câu hỏi nàygiúp học sinh tái hiện những gì các em đã nghe, đã đọc, đã học trên lớp Giúp HSphát triển trí thông minh ngôn ngữ và logic

- Cách tiến hành: Khi đặt câu hỏi, giáo viên có thể sử dụng các động từ địnhlượng tư duy cấp độ này như sau:

+ Ai…?

+ Cái (điều) gì…?

+ Ở đâu…?

+ Thế nào….?

Trang 15

+ Ai đã mời Lê Hữu Trác lên kinh? (Thượng kinh kí sự -Lê Hữu Trác)

+ Nhà văn Nam Cao tên thật là gì? - Hãy cho biết chủ đề của truyện ngắn Chí Phèo? (Chí Phèo-Nam Cao)

+ Chí Phèo được tìm thấy ở đâu?Chí Phèo đã thay đổi như thế nào sau khi

ra tù? (Chí Phèo-Nam Cao)

+ Bức tranh thiên nhiên phố huyện nghèo lúc chiều tà được miêu tả như thế nào?

(Hai đứa trẻ - Thạch Lam)

+ Điều gì đã làm cho Huấn Cao đồng ý cho chữ? (Chữ người tử tù -Nguyễn

Tuân)

+Cảnh cho chữ diễn ra khi nào ? (Chữ người tử tù -Nguyễn Tuân)

+ Hãy kể lại câu chuyện Hầu Trời? (Hầu Trời – Tản Đà)

Đây là cấp độ thấp nhất, đơn giản nhất chưa có khả năng kích thích pháttriển năng lực tư duy cho học sinh nhưng giáo viên không nên coi nhẹ, vì nếu họcsinh không nhớ kiến thức thì thật khó để có thể hiểu, nhận xét, đánh giá, sángtạo Nói cách khác, cấp độ “nhớ” (biết) là nền tảng cho các cấp độ cao hơn.Trong quá trình hỏi giáo viên nên lưu ý cần cung cấp kiên thức nền cho HS trướcđặc biệt là HS yếu, bởi lẽ HS yếu cần phải “biết” trước rồi mới “nhớ” được.Ngoài ra người GV nên sáng tạo trong cách hỏi ở cấp độ này: Hỏi phát vấn saukhi xem video hoặc tổ chức trò chơi: ô chữ, trắc nghiệm nhanh… để tạo hứng thúhọc tập cho HS

1.3.2 Câu hỏi ở cấp độ Hiểu (Thông hiểu)

Hiểu là khả năng diễn giải, giải thích vấn đề bằng cách nghĩ, cách lập luận

và ngôn ngữ của riêng mình Hiểu không đơn giản là nhớ và nhắc lại những gì đãhọc, đã biết mà phải có khả năng diễn đạt ý tưởng, thông tin theo cách của riêngmình cho người khác cùng hiểu

- Mục đích: Nhằm kiểm tra học sinh cách liên hệ, kết nối các thông tin,kiến thức nội dung trong bài học, thông tin về tác giả, tác phẩm, thời đại và có sựliên hệ bản thân Câu hỏi này còn giúp học sinh hiểu được những nét đặc sắctrong nội dung, nghệ thuật của tác phẩm và tài năng của tác giả Giúp HS pháttriển trí thông minh ngôn ngữ và logic, tương tác

- Cách thực hiện: Khi đặt câu hỏi ở cấp độ “ Hiểu” thì giáo viên có thể sửdụng các các động từ định lượng tư duy như:

+ Hãy so sánh…?

Trang 16

Phèo - Nam Cao)

+ Tại sao khi được ăn bát cháo hành của Thị Nở, mắt Chí Phèo lại ươn ướt?

(Chí Phèo - Nam Cao)

+ Liệt kê những biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản?

+ Hãy liên hệ vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh trong bài thơ Chiều tối với những bài thơ khác trong tập Nhật kí trong tù ? (Chiều tối - Hồ Chí Minh)

+ Hãy phân tích tác hại của lối sống vô cảm trong xã hội hiện nay? (Nghị

luận xã hội)

Đến cấp độ “Hiểu” thì đòi hỏi khả năng tư duy của HS phải nhiều hơn, caohơn HS phải vận dụng kiến thức nhớ được và khả năng suy luận, phân tích để trảlời câu hỏi Chính vì vậy giáo viên nên tạo tâm lí thoải mái cho HS trong quátrình suy nghĩ và trả lời, HS trả lời chưa đúng cũng nhẹ nhàng, tránh cáu giận đểrèn tính tự tin và phát triển trí thông minh nội tâm cho HS

1.3.3 Câu hỏi ở cấp độ Áp dụng (Vận dụng)

Áp dụng hay còn gọi là vận dụng là khả năng sử dụng thông tin, kiến thức

và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác (sử dụng những kiến thức đãhọc trong hoàn cảnh mới)vận dụng những gì đã học vào đời sống hoặc một tìnhhuống mới

- Mục đích: Nhằm kiểm tra khả năng áp dụng những thông tin, kiến thức

đã học, đã đọc được vào tình huống mới, tình huống cụ thể như thế nào? Thôngqua câu trả lời cho loại câu hỏi này sẽ giúp học sinh tăng thêm kinh nghiệm, vốnsống, biết cách giải quyết vấn đề tương tự trong cuộc sống Nhằm phát triển tríthông minh ngôn ngữ và logic, tương tác và nội tâm cho HS

Trang 17

- Cách thực hiện: Để có thể đặt câu hỏi ở cấp độ “áp dụng” thì giáo viêncần phải tạo ra những tình huống mới, tình huống có vấn đề để học sinh vận dụngcác kiến thức đã học, đã biết vào giải quyết vấn đề Giáo viên cũng có thể đưa ranhiều câu trả lời khác nhau cho một câu hỏi để học sinh lựa chọn một câu trả lờiphù hợp, kèm theo đó là sự lý giải của các em (Dạng trắc nghiệm – dành cho HShọc lực Yếu và trung bình) Chính việc so sánh rồi chọn lựa các câu trả lời, sau

đó lý giải vì sao mình chọn là một quá trình tích cực hóa hoạt động học tập, pháttriển năng lực nhận thức, năng lực tư duy cho các em

Khi đặt câu hỏi, giáo viên cần tạo ra các tình huống mới, gắn với thực tế,khác với điều kiện đã học trong bài học, có thể sử dụng các động từ định lượng tưduy như:

+ Có cách nào để chống lại thói vô cảm trong xã hội hiện nay? ( Nghị luận

về một hiện tượng đời sống: Thói vô cảm)

1.3.4 Câu hỏi ở cấp độ Phân tích

Phân tích là chia nhỏ kiến thức thành nhiều phần và tư duy để tìm ra mốiquan hệ của chúng với cấu trúc tổng thể Học sinh phân tích bằng cách chỉ ra sựkhác nhau, tổ chức và tổng hợp, khám phá một số khái niệm theo chi tiết để hiểutốt hơn hoặc rút ra kết luận từ những khám phá đó Sử dụng câu hỏi ở cấp độphân tích là để phát triển khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các

bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống Câu hỏi phân tích đòi hỏi khảnăng lập luận, suy luận cao kết hợp với kiến thức, kinh nghiệm, trải nghiệm,chính kiến của bản thân người phân tích

- Mục tiêu: Nhằm kiểm tra khả năng phân tích, lý giải những nội dungđược học, từ đó tìm ra mối liên hệ, hoặc chứng minh luận điểm, hoặc đi đến kếtluận về một vấn đề gì đó Nhằm phát triển trí thông minh ngôn ngữ và logic,tương tác và nội tâm cho HS

- Cách tiến hành: Câu hỏi phân tích thường đòi hỏi học sinh phải trả lời, ta có thểdùng các động từ định lượng tư duy như sau:

+ Tại sao? (khi giải thích nguyên nhân)…?

+ Em có nhận xét gì? (khi đi đến kết luận)…?

+ Em hãy lý giải, giải thích (khi chứng minh luận điểm)…?

+ Phân biệt… ?

Trang 18

+ Tại sao Chí Phèo lại phải chọn cái chết? ( Chí Phèo – Nam Cao)

+ Em có nhận xét gì về xã hội trong đoạn trích “ Hạnh phúc một tang gia”? (

Số đỏ - Vũ Trọng Phụng)

+ So sánh giữa cách đánh giá của Vũ Như Tô và Nhân dân về Cửu Trùng Đài

? ( Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng.

+ Phân biệt giữa phép điệp và phép lặp? (Ôn tập Đọc hiểu)

Tình huống phân tích thường có nhiều đáp án, nhiều sự lựa chọn khácnhau Vì bản thân mỗi học sinh sẽ có những suy nghĩ, lập luận, quyết định khácnhau Giáo viên tránh áp đặt, cần tôn trọng sự tự do sáng tạo của các em Nhưngcũng cần điều chỉnh, định hướng khi các em có những sai lệch

1.3.5 Câu hỏi ở cấp độ Đánh giá

Là khả năng phán xét giá trị hoặc sử dụng thông tin theo các tiêu chí thíchhợp Trong hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn chương, đánh giá là một bước cao(nhận thức - đánh giá - thưởng thức) thể hiện được trình độ, kinh nghiệm, vốnsống, khuynh hướng của người đánh giá

- Mục tiêu: Nhằm kiểm tra khả năng đóng góp ý kiến, sự phán đoán củahọc sinh trong việc nhận định, đánh giá các sự kiện, thông tin trong tác phẩmhoặc về tác giả Dạng câu hỏi này giúp thúc đẩy học sinh tìm tòi tri thức, xác địnhgiá trị đồng thời qua đó chúng ta hiểu được cách nhìn nhận, cách cảm, quan điểm,chính kiến của các em về vấn đề Trả lời cho câu hỏi đánh giá đòi hỏi học sinhphải biết cách lập luận chặt chẽ, thuyết phục để đưa ra và bảo vệ quan điểm củamình

- Cách tiến hành: Giáo viên đưa ra vấn đề, tình huống có trong hoặc ngoàitác phẩm (nhưng có liên quan đến tác phẩm) và đặt câu hỏi yêu cầu học sinh đánhgiá.Câu hỏi đánh giá thường được kết hợp giữa câu hỏi đóng và câu hỏi mở Họcsinh đưa ra nhận định đồng thời phải giải thích được lý do tại sao đưa ra nhậnđịnh đó Điều này kích thích phát triển tư duy logic, tư duy phê phán, hình thànhnăng lực đánh giá cho học sinh

GV có thể dùng các động từ định lượng tư duy như sau:

Trang 19

đó không? Vì sao?

+ Em hãy đánh giá về suy nghĩ của Chí Phèo qua đoạn văn sau: “Và có

lúc hắn ngẫm mình mà lo Xưa nay hắn chỉ sống bằng cướp giật và dọa nạt Nếukhông còn sức mà cướp giật dọa nạt nữa thì sao? Đã đành, hắn chỉ mạng vì liều.Nhưng hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có lúc người ta không thể liều được nữa Bây giờmới nguy! Trời ơi! Hắn thèm lương thiện Hắn muốn làm hòa với mọi người biếtbao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn” (Chí Phèo – Nam Cao)

+ Nếu cho em chọn một chi tiết đặc sắc nhất trong bài thơ “Chiều tối” thì

em sẽ chọn chi tiết nào? Vì sao? Ngoài bài thơ Chiều tối thì em còn biết những tác phẩm nào của Bác? Qua những tác phẩm đó em có nhận xét, đánh giá gì về tài năng nghệ thuật của Hồ Chí Minh? (Chiều tối – Hồ Chí Minh).

+ Em có đồng ý với cách chia bố cục của bạn không? Lí giải lí do? (Tiết

Đọc hiểu tác phẩm)

Câu hỏi cấp độ đánh giá giúp HS phát triển khả năng đánh giá, suy luận,

dự đoán từ đó phát triển năng lực cho các em đến cấp độ năng lực cao hơn

1.3.6 Câu hỏi ở cấp độ Sáng tạo

Sáng tạo” là cấp độ cao nhất trong thang nhận thức của Bloom cải tiến Từnhững thông tin, kiến thức được cung cấp người học có khả năng làm ra cái mới

Để phát triển được tài năng cho người học thì giáo viên rất cần cho các em mộtmôi trường thuận lợi để sáng tạo Tránh gò bó áp đặt, bởi áp đặt là triệt tiêu hếtmọi sự sáng tạo

- Mục tiêu: Nhằm kiểm tra khả năng của học sinh có thể đưa ra dự đoán,cách giải quyết vấn đề, các câu trả lời hoặc để xuất có tính sáng tạo, Câu hỏi dạngnày sẽ kích thích sự sáng tạo của học sinh, qua đó sẽ giúp giáo viên kịp thời pháthiện và bồi dưỡng cho những em có năng khiếu, sở trường riêng Khuyến khíchhọc sinh đưa ra cách làm mới, cách giải quyết vấn đề trong các tình huống cụ thể,thể hiện những nguyện vọng, ước mơ, mong muốn trong quá trình học tập mônNgữ văn.Từ đó,HS phát triển trí tưởng tượng, tư duy logic, tư duy phê phán, kĩnăng giải quyết vấn đề, hình thành năng lực sáng tạo, ham thích tìm tòi tạo ra cảimới mang lại lợi ích cho cá nhân, gia đình và cộng đồng

- Cách tiến hành: Giáo viên cần tạo ra những tình huống, những câu hỏibuộc học sinh phải lập luận, suy đoán, vận dụng tư duy để có thể đưa ra nhữnglời giải mang tính sáng tạo riêng của mình

Trang 20

Do trình độ nhận thức, vốn sống, trải nghiệm của đa số các em HS ởtrường THPT Mường La vẫn còn hạn chế nên việc vận dụng hệ thống câu hỏitheo “Thang cấp độ tư duy Bloom” cho các em HS vẫn chủ yếu là ở cấp độ nhớ,hiểu, phân tích, áp dụng Với câu hỏi ở cấp độ đánh giá, sáng tạo, tôi mới sử dụng

ở tỷ lệ thấp để đảm bảo độ vừa sức cũng như sự phù hợp với thực tiễn cuộc sốnghọc tập của các em

1.4 Mười kĩ năng ứng xử khi đưa ra câu hỏi

Câu hỏi có mang lại hiệu quả học tập hay không, ngoài việc chú ý tới nộidung, cách thức đặt câu hỏi, giáo viên cần phải quan tâm đến cách ứng xử khiđưa ra câu hỏi Cách ứng xử của giáo viên có thể thúc đẩy sự tham gia, hứng thútích cực học tập của học sinh, làm cho giờ học trở nên sôi nổi, sinh động, hiệuquả hoặc cũng có thể khiến không khí lớp học trở nên căng thẳng, học sinh chánnản, giờ học không hiệu quả

Để thực hiện tốt kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học tích cực, GV còn phảinắm được kiến thức về “Mười kĩ năng ứng xử khi đưa ra câu hỏi” sau đây:

1.4.1 Kĩ năng 1: Dừng lại sau khi đặt câu hỏi

- Mục tiêu: Giúp lớp tập chung (GV im lặng, quan sát) Tạo cơ hội cho tất

cả học sinh trong lớp cùng suy nghĩ, giúp GV có thể hiệu chỉnh lại câu hỏi (nếucâu hỏi còn thiếu ý, chưa phù hợp) để đưa ra các câu hỏi tốt hơn, hoàn chỉnh hơn

- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh có thời gian tập chung suy nghĩ(hoặc trao đổi nếu hoạt động nhóm) để tìm ra lời giải, đáp án

- Cách tiến hành: Sau khi đưa ra câu hỏi, GV dừng lại 3 – 5 giây để HS suynghĩ Hết thời gian GV chỉ định một học sinh trả lời

Ví dụ: Bài Chí Phèo (Nam Cao) Tìm hiểu nhan đề tác phẩm

GV hỏi: Vì sao tác giả Nam Cao lại đổi tên truyện ngắn “Cái lò gạch cũ” thành “Chí Phèo”?

GV cần dừng 5 giây cho HS suy nghĩ và chỉ định một HS trả lời sau khihết thời gian

1.4.2 Kĩ năng 2: Tạo hứng thú (tích cực hoá tất cả học sinh)

- Mục tiêu: Tạo môi trường, cơ hội để tất cả học sinh cùng tham gia quátrình học tập Giúp đỡ những HS yếu, rụt rè có cơ hội trả lời để rèn sự tự tin chocác em, tránh tình trạng chỉ tập chung vào học sinh khá, giỏi

- Tác dụng đối với học sinh: Giúp các em HS có suy nghĩ tích cực, mạnhdạn đưa ra câu trả lời Kích thích học sinh tham gia tích cực vào các hoạt độnghọc tập

- Cách tiến hành:

+ Giáo viên chuẩn bị trước câu hỏi và nói với HS: Tất cả các em hãy suynghĩ câu trả lời, mỗi bạn sẽ phải đưa ra một đáp án và không được trùng với bạntrước

Trang 21

+ Tạo cơ hội cho tất cả học sinh được phát biểu ý kiến (cả HS tích cực và

HS thụ động): Nhắc tên HS thụ động chuẩn bị trước sau đó mới gọi HS trả lời

Có thể cho HS được phát biểu vài lần

+ Tránh chỉ tập trung vào một số HS khá, giỏi tích cực phát biểu

Ví dụ: Bài Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) Tìm hiểu phần Tiểu dẫn

GV giao bài trước: HS đọc trước phần tiểu dẫn(SGK-38)và xem video theođường link, ghi chép những kiến thức quan trọng vào vở ghi GV chuẩn bị cáccâu hỏi cho HS để tìm hiểu tác giả trên lớp Sử dụng câu hỏi trắc nghiệmnhanh( dạng câu hỏi Biết, Nhớ) dành cho HS yếu và thụ động:

– GV dừng lại 5 giây để HS suy nghĩ và trả lời

A 1912-1938

B 1912-1939

C 1912-1940

D 1912-1941Câu 3: Đâu không phải là bút danh của Hàn Mặc Tử ?

A Minh Duệ Thị

B Phong Trần

C Lệ Thanh

D Trảo NhaCâu 4: Thời gian sáng tác và vị trí của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ?

A Sáng tác năm 1938 nằm trong tập thơ Điên

B Sáng tác năm 1937 nằm trong tập thơ Xuân như ý

C Sáng tác năm 1938 nằm trong tập thơ Gái quê

D Sáng tác năm 1937 nằm trong tập thơ Duyên kì ngộ

Sử dụng câu hỏi suy luận (dạng câu hỏi phân tích, tổng hợp, đánh giá)dành cho HS Khá, Giỏi (Vẫn khuyến khích HS yếu tham gia trả lời)

Câu 5: Giải thích bút danh Hàn Mặc Tử? (Thi sĩ nghèo nàn nhưng tìnhthương bao la)

Trang 22

Câu 6: Điều em ấn tượng nhất trong cuộc đời của Hàn Mặc Tử là gì?(Cuộc đời bất hạnh: Mắc bệnh hiểm nghèo phải chịu đau đớn về thể xác, mất khicòn quá trẻ, còn nhiều dự định cho tương lai )

Câu 7: Qua cuộc đời của Hàn Mặc Tử em rút ra được bài học gì cho bảnthân? (con người có cần nghị lực để vượt qua những nghịch cảnh cuộc đời )

1.4.3 Kĩ năng 3: San đều câu hỏi cho cả lớp

- Mục tiêu: Phân phối câu hỏi cho cả lới để tăng cường sự tham gia của họcsinh trong hoạt động học, rút ngắn thời gian GV thuyết giảng, thay đổi khuônmẫu “hỏi – trả lời”

- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh chú ý, tập chung trong giờ học, tựgiác theo dõi câu trả lời của bạn, ghi nhớ và phản hồi câu trả lời của bạn, điềuchỉnh nhận thức của mình theo câu trả lời đúng

+ Khi hỏi học sinh, trong trường hợp là câu hỏi khó, giáo viên nên đưa ranhững gợi ý nhỏ (mềm hóa câu hỏi) Trường hợp HS đa số chưa có sự chuẩn bịhoặc không đưa ra được đáp án thì GV nên cho HS thời gian ngắn (1-2 phút) đọclại và trả lời (với câu hỏi đáp án có trong SGK)

+ Khi chỉ định học sinh trả lời, giáo viên có thể sử dụng cả cử chỉ, điệu bộmang tính động viên, khuyến khích, tránh mệnh lệnh cứng nhắc, áp đặt tạo tâm lí

căng thẳng như: Em thử trình bày xem nào? Em có suy nghĩ như thế nào về câu trả lời của bạn A?

- Giáo viên cần hỏi nhiều học sinh, chú ý hỏi những học sinh thụ động vàcác học sinh ngồi khuất phía dưới lớp, không chú ý GV cố gắng để thu hút tất cảmọi học sinh được tham gia, không “bỏ rơi” em nào

Ví dụ: Giáo viên đưa ra câu hỏi: “Màu sắc cổ điển trong bài thơ Chiều tốicủa Bác được thể hiện qua những hình ảnh nào?”(Gợi ý: chú ý vào hình ảnh 2câu thơ đầu)

Giáo viên dừng lại 3 – 5 giây để học sinh suy nghĩ, rồi khuyến khích họcsinh: “Ai có thể trả lời câu hỏi này?" Giáo viên chỉ định một học sinh trả lời câuhỏi Sau khi học sinh trả lời, giáo viên hỏi tiếp học sinh khác: “Tuấn (học sinh thụđộng) Em có nhận xét gì về câu trả lời của bạn?” (Nếu HS trả lời: “Đồng ý vớicâu trả lời” thì GV yêu cầu HS nhắc lại câu trả lời của bạn) hoặc “Em có bổ sung

gì cho câu trả lời của bạn?”

1.4.4 Kĩ năng 4: Hướng HS tập trung vào trọng tâm câu hỏi

Trang 23

- Mục tiêu: GV thiết kế và tổ chức được hoạt động học mà học sinh chủđộng hiểu, ghi nhớ kiến thức trọng tâm của bài học thông qua việc trả lời câu hỏi;

cải thiện tình trạng học sinh trả lời “Em không biết” và những câu trả lời không

đúng Tránh thời gian chết, “cháy giờ”

- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh phải tự giác suy nghĩ, tìm ra nhữngcác kiến thức còn thiếu, tập chung vào kiến thức bài học, xâu chuỗi kiến thức học

Ví dụ: Bài: Thao tác lập luận so sánh

- GV chuẩn bị các câu hỏi

1 Đặt một câu có sử dụng biện pháp so sánh? (HS đặt câu bất kì – So sánhthông thường Ví dụ: Đọc sách tốt như tập thể dục)

2 Đặt một câu có sử dụng thao tác lập luận so sánh? (GV gợi ý: Thao táclập luận so sánh là dùng so sánh để làm rõ một ý kiến một quan điểm nào đó Vídụ: Đọc sách cũng tốt như tập thể dục đều có ích cho con người

Qua việc HS lấy 2 ví dụ về so sánh, GV hướng tới đặc điểm của thao táclập luận so sánh để học sinh dễ nắm bắt Tức là hình thành kiến thức mới từnhững vấn đề học sinh đã biết, quen thuộc Cách này giúp HS cảm thấy thoải máitrong quá trình học

1.4.5 Kĩ năng 5: Phản ứng đúng với câu trả lời của học sinh

- Mục tiêu: Tạo sự tương tác cởi mở trong giờ học, khuyến khích HS hợptác trao đổi từ đó nâng cao sự tự tin và chất lượng đáp án của các em

- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh cảm thấy thoải mái khi đưa ra câutrả lời, dù câu trả lời chưa đúng nhưng vẫn nhận được sự tôn trọng, khuyến khích

Trang 24

không biết” hoặc đứng im, trả lời sai”

+ Phản ứng tích cực: Học sinh vui vẻ, cùng nhau thảo luận, chủ động phátbiểu xây dựng bài

Để tránh các phản ứng tiêu cực của học sinh và phát huy phản ứng tích cực của

HS, giáo viên cần chú ý như sau:

+ Đối với câu trả lời đúng: Cần khen ngợi (Ví dụ: Gật đầu, nói “đúng”,

ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh (Có thể phản ứng : Cô hiểu ý của

em nhưng em có nghĩ chúng ta nên hiểu như thế này không ?)

+ Quan sát các phản ứng của học sinh khi thấy bạn trả lời sai (sự khác nhaucủa từng cá nhân) để điều chỉnh thái độ của những phản ứng không tích cực,không tôn trọng ý kiến của bạn để nhắc nhở, chấn chỉnh ngay Yêu cầu học sinhkhác trả lời giúp bạn Tạo cơ hội lần thứ hai cho HS trả lời cách yêu cầu nhắc lạicâu trả lời đúng

Ví dụ: GV hỏi cả lớp: Bạn An trả lời như vậy theo các em đã đúng chưa?

Ai có thể trả lời giúp bạn không? Sau khi HS thứ hai trả lời, GV hỏi HS An: Câutrả lời của bạn đã đúng chưa? Em có thể nhắc lại câu trả lời đó không?

+ Đối với những học sinh không trả lời được câu hỏi, giáo viên có nhữngcách sau đây:

GV cần hỏi lại bằng từ ngữ khác hoặc diễn đạt dễ hiểu hơn

GV giải thích rõ nội dung khái niệm trong câu hỏi

GV sử dụng giáo cụ trực quan làm rõ câu hỏi

GV nhờ những học sinh khác trả lời giúp bạn

GV yêu cầu học sinh đó nhắc lại câu trả lời đúng của bạn

1.4.6 Kĩ năng 6: Giải thích câu hỏi

- Mục tiêu: Hoàn thiện những câu trả lời chưa hoàn chỉnh của HS ngaytrên lớp

- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh hơn,hiểu ý nghĩa của câu trả lời, từ đó hiểu được bài học

- Cách tiến hành: Giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi yêu cầu học sinh đưa

thêm thông tin bẳng cách lồng ghép các cụm từ: giải thích thêm làm cụ thể hơn…

- Ví dụ: GV hỏi HS sau khi học sinh trả lời: Câu trả lời của em tốt, nhưng

em có thể đưa thêm một số lí do khác không?" “Em có thể giải thích theo cách

Trang 25

khác được không? Cô chưa hiểu rõ ý của em.

1.4.7 Kĩ năng 7: Tăng cường hoạt động liên hệ

- Mục tiêu: Nâng cao chất lượng của các câu trả lời, phát triển mối liên hệtrong bài học, trong suốt quá trình học để phát triển năng lực tư duy cho HS

- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh có thể hiểu sâu hơn bài học thôngqua việc liên hệ với các kiến thức khác hoặc liên hệ với thực tế

em sẽ làm gì để thời gian, tuổi trẻ không trôi qua vô ích?”

1.4.8 Kĩ năng 8: Tránh nhắc lại câu hỏi của mình

- Mục tiêu: Giảm bớt hoạt động thuyết trình của GV, phân phối câu hỏiđến tất cả HS trong lớp

- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh chú ý vào câu hỏi, tránh mất tậpchung, làm việc riêng, có nhiều thời gian để suy nghĩ trả lời và tham gia tích cựchơn vào các hoạt động thảo luận

1.4.9 Kĩ năng 9: Tránh tự trả lời câu hỏi của mình

- Mục tiêu: Giảm bớt hoạt động thuyết trình của GV, tăng cường hoạt độngcủa HS

- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh tích cực tham gia vào các hoạt độngtập như suy nghĩ để giải bài tập, thảo luận, phát biểu để tìm kiếm tri thức, thúcđẩy sự tương tác học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh

1.4.10 Kĩ năng 10: Tránh nhắc lại câu trả lời của học sinh

- Mục tiêu: Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh,

Trang 26

tăng cường tính độc lập của học sinh, giảm thời gian nói của giáo viên.

- Tác dụng đối với học sinh: Phát triển khả năng tham gia vào hoạt độngthảo luận và nhận xét các câu trả lời của nhau; thúc đẩy học sinh tự tìm câu trả lờihoàn chỉnh

- Cách tiến hành:

+ Để đánh giá câu trả lời của học sinh đúng hay chưa đúng, giáo viên nênchỉ định các học sinh khác nhận xét về câu trả lời của bạn, sau đó giáo viên mớikết luận Giáo viên không nên nhắc lại câu trả lời của học sinh

Bên cạnh việc đặt câu hỏi nhằm kích thích, gợi ý cho học sinh suy nghĩ ởnhững cấp độ tư duy khác nhau, giáo viên cần hướng dẫn, khuyến khích và tạođiều kiện từng bước để học sinh tập đặt câu hỏi Khi học sinh biết đặt câu hỏi vớigiáo viên, với bạn bè trong nhóm, trong lớp về những nội dung vấn đề chưa hiểu,chưa rõ cần giải thích, tranh luận hoặc bày tỏ suy nghĩ, ý tưởng của mình thì việchọc tập của các em càng trở nên tích cực và có ý nghĩa

Tóm lại:

Hiệu quả dạy học phụ thuộc nhiều vào kĩ thuật đặt câu hỏi và kĩ năng hỏicủa giáo viên Nếu câu hỏi quá khó hoặc không rõ ràng, đa nghĩa, khó hiểu thìhọc sinh sẽ khó trả lời hoặc trả lời sai, làm mất thời gian của lớp học; đồng thờilàm không khí căng thẳng ảnh hưởng đến sự tiếp thu kiến thức của học sinh.Ngược lại, nếu câu hỏi quá dễ, luôn ở mức độ “biết”, “hiểu”, hoặc sử dụng nhiềucâu hỏi đóng thì sẽ gây ra nhàm chán Các câu hỏi lan man không đúng trọng tâmcủa bài học cũng làm mất thời gian và ảnh hưởng đến hứng thú học tập của họcsinh

Câu hỏi chuẩn bị tốt nhưng kĩ năng hỏi không tốt thì hiệu quả cũng khôngcao Lạm dụng quá nhiều câu hỏi sẽ làm cho giờ học trở nên căng thẳng, kiếnthức bị chia nhỏ, học sinh khó lĩnh hội và giảm hứng thú học tập của các em Vìvậy, giáo viên cần rèn kĩ năng đặt câu hỏi và kĩ năng hỏi Để giờ học đạt hiệu quảcao, kĩ thuật đặt câu hỏi cần được kết hợp với các phương pháp, kĩ thuật dạy họckhác để tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh, tạo cảm giác thoải mái,học sâu cho học sinh Chính vì vậy, việc áp dụng các câu hỏi một cách khoa họctheo “Thang cấp độ tư duy Bloom cải tiến” là rất cần thiết trong các giờ học đểphát triển năng lực cho HS, tăng hứng thú và góp phần nâng cao chất lượng mônhọc

1.5 Giáo án minh họa : Phụ lục 1

2 Ưu, nhược điểm của giải pháp mới

2.1 Ưu điểm

- Với kĩ thuật đặt câu hỏi theo “Thang cấp độ tư duy Bloom cải tiến” giúphọc sinh hứng thú, tích cực trong các giờ học và nâng cao chất lượng môn học

- Nâng cao khả năng tự học và tự khẳng định mình cho HS

- Thúc đẩy năng lực ngôn ngữ, năng lực cảm thụ văn chương và phát triển

Trang 27

khả năng tư duy logic cho HS Giúp học sinh học tập chủ động và sáng tạo

- Đối với GV: Với kĩ thuật đặt câu hỏi theo “Thang cấp độ tư duy củaBloom cải tiến” sẽ giúp GV định hướng dễ dàng trong thiết kế tài liệu dạy học và

tổ chức hoạt động học tập cho HS Không chỉ tạo sự lôi cuốn trong giờ học màcòn giúp HS chủ động nắm bắt kiến thức, phụ đạo được HS học lực yếu, trungbình và bồi dưỡng được HS học lực khá, giỏi

Dựa vào câu trả lời của HS thì GV sẽ có sự điều chỉnh phù hợp trong việcthiết kế tài liệu và tổ chức hoạt động dạy học cho HS Nâng cao được chất lượngchuyên môn và năng lực sư phạm

2.2 Nhược điểm

- Để có thể thực hiện được kĩ thuật đặt câu hỏi này đòi hỏi người GV phảitâm huyết, kiên trì, có năng lực chuyên môn và nắm chắc kiến thức về “Thangcấp độ tư duy Bloom cải tiến” cùng các phương pháp dạy học tích cực

- Giáo viên cần nhiều thời gian chuẩn bị, xây dựng hệ thống câu hỏi địnhhướng, nội dung kiến thức mới phù hợp với từng đối tượng học sinh, từng lớp

- Giáo viên phải thực hiện các kĩ thuật đặt câu hỏi này thường xuyên liêntục, có hệ thống thì mới có thể đánh giá được khả năng của học sinh từ đó đưa rađiều chỉnh phù hợp cho bài giảng tiếp theo

- Khi áp dụng các kĩ thuật đặt câu hỏi phải nắm chắc các lưu ý (mục 1.4:

Kĩ năng ứng xử khi đưa ra câu hỏi) và phải xây dựng được tiêu chí đánh giá vàbản phân tích đáp án của HS

III Khả năng áp dụng của sáng kiến

- Sáng kiến này đã được áp dụng tại trường THPT Mường La, huyệnMường La, tỉnh Sơn La từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020

- Lĩnh vực mà sáng kiến có thể áp dụng: Giáo dục

- Điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

+ GV nắm chắc “ Thang cấp độ tư duy Bloom cải tiến”

+ GV nắm được trình độ, năng lực của đối tượng HS lớp tiến hành thựcnghiệm

+ Tiến hành thực nghiệm trong suốt thời gian áp dụng sáng kiến, có ghichép, đánh giá, hiệu chỉnh

- Phạm vi có thể áp dụng sáng kiến: Tất cả các môn học

IV Hiệu quả, lợi ích thu được

- Sáng kiến sau khi áp dụng tại 4 lớp khối 11 Trường THPT Mường La thuđược kết quả như sau:

BẢNG 3: KẾT QUẢ KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Trang 28

Lớp Số

bài

Sau khi áp dụng sáng kiến, không chỉ học lực và mức độ hứng thú của HSđược tăng lên mà còn phát triển được năng lực cho HS (Phụ lục 3) Đây chính làtín hiệu đáng mừng và là minh chứng sát thực nhất cho thấy hiệu quả của sángkiến

Bên cạnh kết quả trên, sáng kiến đã bổ sung thêm phần lý luận các phươngpháp dạy học, cung cấp thêm cho giáo viên một phương pháp dạy học mới Khắcphục được những hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống lấy GV làmtrung tâm, phương pháp đọc chép Phát huy được năng lực học sinh đặc biệt lànăng lực tư duy logic, trang bị cho HS một số kĩ năng cần thiết để vận dụng trongcuộc sống hàng ngày.Tạo hứng thú trong quá trình học tập cho học sinh, rènluyện khả năng tự học của học sinh Giúp học sinh có thể tự học mọi lúc, mọinơi, học suốt đời Tăng quá trình tương tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các học sinhlàm tăng tình đoàn kết, gắn bó trong quá trình học tập

Tóm lại, qua phân tích kết quả học tập của HS cho thấy: Các HS ở nhóm

Trang 29

lớp thực nghiệm rèn luyện được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tựhọc, khả năng làm việc nhóm, khả năng lập luận logic vấn đề và nhất là khảnăng vận dụng các kĩ năng đã được tiếp thu vào giải quyết những vấn đề đượcđặt ra trong văn bản văn học cũng như những được đặt ra trực tiếp trong cuộcsống Từ đó cho phép kết luận sáng kiến kinh nghiệm khi áp dụng có tính khảthi và hiệu quả cao

Trang 30

dễ sẽ gây nhàm chán (học nông) câu hỏi quá khó sẽ tạo không khí căng thẳng Vìvậy, câu hỏi cần phải đảm bảo tính vừa sức kết hợp câu hỏi cấp thấp và câu hỏicấp cao Câu hỏi cần ngắn gọn, rõ nghĩa, không đa nghĩa

- Trong tình huống đưa ra câu hỏi mà học sinh bối rối, không có học sinhnào trả lời được thi giáo viên cần xem lại câu hỏi hoặc phải giải thích để học sinhhiểu rõ câu hỏi Trong khi thiết kế bài học, giáo viên cần xây dựng hệ thống câuhỏi theo hệ thống kiến thức của bài học để dẫn dắt học sinh phát triển tư duy theocác cấp độ từ thấp đến cao

- Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi dạng đánh giá, sáng tạo dành riêng chohọc sinh khá, giỏi như một hình thức bài tập về nhà Tuy nhiên, cũng không quênkhuyến khích những học sinh còn lại mạnh dạn tham gia trả lời dạng câu hỏi này

Vì vậy, phải tùy vào tình hình thực tế của lớp học mà cân nhắc, lựa chọn, phânphối các cấp độ câu hỏi cho hợp lý

- Xây dựng hệ thống câu hỏi cho cùng một khối lớp nhưng ở mỗi lớp khácnhau giáo viên cũng nên có sự điều chỉnh tổ hợp câu hỏi cho phù hợp trình độhọc sinh của từng lớp Giáo viên cần phối hợp hài hòa, nhịp nhàng và hợp lý cácdạng câu hỏi sao cho tất cả học sinh đều hăng hái tham gia vào giờ học Điều nàycòn phụ thuộc rất nhiều vào tài năng, bản lĩnh sư phạm của giáo viên

- Sau khi áp dụng, GV nên ghi chép những ưu, nhược điểm của bộ câu hỏitheo kĩ thuật này để có sự điều chỉnh phù hợp với đối tượng HS của mình

- Sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi theo “ Thang cấp độ tư duy Bloom tiến” cóthể chưa có kết quả ngay với đối tượng HS học lực yếu và trung bình (HS khôngtrả lời được hoặc không thể sử dụng được câu hỏi cấp độ đánh giá, sáng tạo) nên

GV cần kiên trì, cố gắng và phải vừa áp dụng vừa bồi dưỡng kiến thức nền để HSlàm quen mới có thể dần nâng mức độ câu hỏi lên

Trang 31

2 Những kiến nghị, đề xuất

- Việc sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi theo “Thang cấp độ tư duy Bloom cảitiến” trong các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng tại nhà trường là rấtcần thiết, nó không chỉ giúp HS hứng thú trong các giờ học vì được công nãođược vận động, làm việc nhóm mà còn kích thích được sự hứng thú và khả năng

tư duy, phán đoán, lập luận của HS và qua đó rèn luyện những năng lực cần thiếtcho học sinh đáp ứng nhu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay

- Để có thể áp dụng được linh hoạt các kĩ thuật đặt câu hỏi này nhà trườngcần thấy rõ được tầm quan trọng và hiệu quả của nó Kĩ thuật này cần được sửdụng rộng rãi ở các trường THPT và ở tất cả các môn học, phải được thực hiệnmột cách đồng đều ở các môn, các lớp

- Tổ chuyên môn phải lên kế hoạch và có phương hướng triển khai cụ thểtập huấn, chia sẻ kinh nghiệm để các giáo viên đều có thể nắm vững về kĩ thuậtđặt câu hỏi, những lưu ý và áp dụng có hiệu quả

- Cần phải bồi dưỡng và khuyến khích những GV đã áp dụng thành côngphương pháp mới vào dạy học và coi đây là một tiêu chuẩn tốt quan trọng hàngđầu để đánh giá chất lượng GV

3 Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền

Tôi xin cam đoan đề tài trên là sáng kiến, kinh nghiệm của bản thân khôngsao chép của người khác

Nếu sai sự thật tôi xin hoàn toàn chiu trách nhiệm

Mường La, ngày 20 tháng 05 năm 2020

TÁC GIẢ SÁNG KIẾN

Vi Phương Hoa

CƠ QUAN, ĐƠN VỊ ÁP DỤNG

SÁNG KIẾN

Ngày đăng: 15/03/2023, 10:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w