Tư tưởng Đất nước của nhân dân trong bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Thư viện Đề thi Trắc nghiệm Tài liệu học tập miễn phí Trang chủ https //vndoc com/ | Email hỗ trợ hotro@vndoc com | Hotline 024 2[.]
Trang 1Tư tưởng Đất nước của nhân dân trong bài Đất Nước của Nguyễn Khoa
Trong đoạn thơ đất nước được cảm nhận như một sự thống nhất các yếu tố lịch
sử, địa lí, văn hóa, phong tục, sự gan bó giửa cái riêng và cái chung, giữa cánhân và dân tộc, giữa thế hệ này với thế hệ khác qua tư tưởng cốt lõi Đất Nướccủa Nhân dân
Thân bài có thể triển khai thành hai đoạn chính như sau:
A QUA THIÊN NHIÊN
1 Tác giả nêu ra một cách nhìn mới mẻ, có chiều sâu về địa lí, về những danhlam thắng cảnh trên khắp các miền đất nước Những núi Vọng Phu, hòn TrốngMái, núi Bút, non Nghiên không còn là những cảnh thiên nhiên thuần túy nữa,
mà được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, đượcnhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những conngười không tên, không tuổi:
Những người vợ nhờ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
2 Thiên nhiên đất nước, qua cái nhìn Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như mộtphần tâm hồn, máu thịt của nhân dân Chính nhân dân ta đã tạo dựng nên dất
Trang 2nước này đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông,tấc đất này Từ những hình ảnh, những cảnh vật, hiện tượng cụ thể, nhà thơ đã
“quy nạp”thành một khái quát sâu sắc
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi dâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
B Ở CON NGƯỜI
1 Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ
về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước Nhà thơ không ngợi ca các triều đại,cũng không nhắc tên những anh hùng đã được ghi lại trong sử sách mà chỉ tậptrung tới những con người vô danh, bình thường, bình dị Đất Nước trước hết làcủa Nhân dân, của những con người bình dị, vô danh:
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.
2 Họ lao động và chống ngoại xâm, họ giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ maisau những giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của đất nước từ hạtlúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, nhữngcâu ca dao, tục ngữ Mạch cảm xúc, suy nghĩ của bài thơ cứ dồn tụ dần để cuốicùng dẫn tới cao trào, làm nổi bật lên tư tưởng cốt lõi của bài thơ vừa bất ngờ,vừa giản dị và độc đáo:
Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại.
Văn mẫu lớp 12: Tư tưởng Đất nước của nhân dân trong bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
"Đất ngoại ô" (1972), "Mặt đường khát vọng" (1974) của Nguyễn Khoa Điềmcho thấy một hồn thơ giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén, thể hiện những tâm tư
Trang 3của người thanh niên trí thức trước những vấn đề trọng đại của dân tộc ta thờichống Mĩ.
Đoạn thơ "Đất Nước" là chương V của trường ca "Mặt đường khát vọng".Trước Nguyễn Khoa Điềm, đề tài quê hương đất nước đã được nói rất hay, rấtđằm thắm trong những bài thơ nổi tiếng như "Bên kia sông Đuống (HoàngCầm), "Đất nước" (Nguyễn Đình Thi), "Quê hương"(Giang Nam), "ĐấtNước" của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc ca - sự nhận thức về nguồn gốc sâu
xa của Đất Nước, vế trí tuệ, tâm hồn và ý chí của Nhân Dân đã tạo dựng nênmột "Đất Nước của Nhân Dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại" - Có thể nói
tư tưởng "Đất Nước của Nhân Dân" đã được thể hiện một cách sâu sắc và độcđáo trong đoạn thơ "Đất Nước" này
Đoạn thơ dài 110 câu thơ tự do, đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian Ta có cảmnhận: tục ngữ ca dao, dân ca, truyền thuyết, cổ tích, đã hóa thân trong nhữngvần thơ "Đất Nước" Từ con người đến cảnh vật, từ các chi tiết lấy từ nhịp sốngcần lao, dân dã như "gừng cay, muối mặn", như "cái kèo cột thành tên", "miếngtrầu", "hạt gạo", đến chuyện "yêu nhau và sinh con đẻ cái", chuyện "chèo đò,kéo thuyền vượt thác" bình dị thế thôi nhưng mở ra một không gian nghệthuật vô cùng thân thuộc, làm dộị lên trong lòng ta niềm tự hào về một ĐấtNước "Vốn xưng nền văn hiến đã lâu" (Nguyễn Trãi) Chất liệu văn hóa dângian ấy đã được nhà thơ sử dụng như một thủ pháp nghê thuật tạo nên tính độcđáo và vẻ đẹp thẩm mĩ, đồng thời qua hệ thống hình tượng và cảm hứng trữtình diễn tả một cách hào hứng và phóng khoáng tư tưởng chủ đạo "Đất Nướccủa Nhân Dân" đem đến cho người đọc bao tự hào xúc động
Nếu như bài thơ "Đất nước" của Nguyên Đình Thi là một giọng điệu đĩnh đạc,hào hùng, "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm là một giọng thơ bồi hồi, sâulắng, , thì trong đoạn thơ này, Nguyễn Khoa Điểm đã thể hiện những xúc cảmsuy tưởng về Đất Nước dưới dạng một lối trò chuyện tâm tình
Phần đầu khúc ca, tác giả nói về lịch sử đất nước - một đất nước hình thành từ
"những ngày xửa ngày xưa" qua bốn nghìn năm "đằng đẵng" Không kể lạinhững sự lịch sử oai hùng, những chiến công oanh liệt, những anh hùng lừngdanh mà "anh và em đều nhớ" Nguyễn Khoa Điềm đã triển khai cảm hứng vềĐất Nước bàng những cái bình dị, bình thường rất gần gũi và thân thương vớimọi gia đình Việt Nam Có tiếng nói của mẹ, miếng trầu của bà, có sự tích "Đất
Trang 4Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc" Có thuần phong mĩtục, có tình nghĩa mẹ cha, có mồ hôi làm ra bông lúa hạt gạo, có ngôn ngữ nhândân, lời ăn tiếng nói do nhân dân sáng tạo ra đặt tên cho những vật quanhmình
" Đất Nước bắt đầu với miếng trầu hây giờ bà ăn, Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên, Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó ".
Đoạn thơ trên gợi nhớ đến truyển thuyết "Thánh Gióng", truyện cổ tích "TrầuCau", phong tục búi tóc của người Âu Lạc, gợi nhớ đến những bài dân ca vềtình vợ chồng, về công việc nhà nông Thơ tuy chỉ gợi, chỉ vẽ ra một vài nétthoáng nhẹ, mơ hồ, xa xôi nhưng đậm đà ý vị
Đất Nước bình dị và đáng yêu, cu thể và gần gũi với "em" và "anh" với mỗichàng trai, cô gái "Đất là nơi anh đến trường – Nước là em tắm"; là cây đagiếng nước, sân đình, là bến đò "nơi ta hò hẹn", là nơi "em đánh rơi chiếc khăntrong nỗi nhớ thầm"; là khúc dân ca vời vợi đã thấm vào máu, vào hồn của mỗicon người Việt Nam từ thuở còn nằm trong nôi:
"Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc",
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"
Đất Nước thiêng liêng và tự hào biết mấy Cha Rồng mẹ Tiên đã sáng tạo raĐất Nước này Lời thơ thầm thì nói vể tình non nước sâu nặng Nó dẫn hồn tatrở về cội nguồn qua huyền thoại diệu kì:
" Đất là nơi Chim về, Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng"
Trang 5Tư tưởng "Đất Nước của Nhân dân" được nói đến một cách cực kì sâu đậm khinhà thơ ngợi ca giọt mồ hôi và xương máu của nhân dân Đất Nước trường tồnqua "thời gian dài đằng đẵng" và trải rộng trên một "không gian mênh mông".Chính Nhân dân đã đổ mồ hôi và xương máu để xây dựng và bảo vệ Đất Nước.Một dân tộc cần cù và dũng cảm Lớp lớp người biết làm ăn giỏi và sống trong
tư thế hiên ngang Câu chuyện lứa đôi không nói về tình yêu mà lại nói vềnghĩa tình non nước:
" Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm Đất Nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái,con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng ".
Suốt hàng ngàn năm lịch sử, chính Nhân dân là những người sáng tạo nên ĐấtNước này: "Không ai nhớ mà đặt tên - Nhưng họ đã làm ra Đất Nước" Hạt lúa
do bàn tay dân ta trồng; lấy hòn than, con cúi để giữ lửa; truyền cho con cháutiếng nói ông cha; đắp đập be bờ" và để làm ra cây trái Họ "đã làm" và "đãgiữ" , "họ truyền", "họ đắp đập be bờ" và "bốn nghìn lớp người" đã làm nêntất cả:
" Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng,
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng chuyến di dân.
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái ".
Trang 6Ngôn ngữ thơ (giữ và truyền, gánh, đắp đập be bờ) được nhấn đi nhấn lại để tôđậm truyền thống cần cù lao động của Nhân dân - chủ nhân của Đất Nước.
"Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báucủa ta" (Hồ Chí Minh) "Nước chúng ta - Nước những người chưa bao giờkhuất" (Nguyễn Đình Thi); "Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa" (Huy Cận);
"Tuốt gươm không chịu sống quỳ" (Tố Hữu) Nguyên Khoa Điềm cũng có mộtlối nói độc đáo tư tưởng ấy:
"Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại".
Tư tưởng "Đất Nước và Nhân dân" là sự ngợi ca mồ hồi và xương máu củanhân dân "Không có mồ hôi và máu thì các dân tộc không thể có lịch sử"(Ăngghen) Chính vì thế mà nhà thơ trẻ đã viết:
"Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại".
Hai câu thơ mà bốn lần nhắc lại từ "Đất Nước" hai lần láy lại từ "Nhân dân",biểu lộ biết bao tình thương mến!
Đất nước ta vô cùng tráng lệ với núi cao, sông dài, biển rộng, với những cánhđồng thẳng cánh cò bay Những tên núi, tên sông đã soi bóng vào thơ ca dântộc "Bạch Đằng giang phú"của Trương Hán Siêu, "Dục Thúy Sơn", "Côn Sơnca", của Ức Trai, "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan, "Đêm trangtrên sông Trà" của Cao Bá Quát, v.v Giang sơn gấm vóc biết mấy tự hào!
"Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!" (Tố Hữu) Nguyễn Khoa Điềm cũng nói về núi,
về sông của Đất Nước, nhưng anh không nói về "địa linh nhân kiệt", "quan hàhiểm trở", "một cảnh chiều tà" mà có một lối nói riêng Mỗi một địa danh,mỗi một thắng cảnh như một nét khắc, nét tạc vào cõi đất trời vẻ đẹp tâm hồnvới những đức tính quý báu của nhân dân ta như tình yêu chung thủy của lứađồi, sức mạnh quật khởi, ý chí tự lập tự cường, đức tính hiếu học, bàn tay cán
cù, khéo léo, tấm lòng hồn hậu, bao dung :
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu,
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
"Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Trang 7Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên".
Có những tên đất, tên làng vời vợi nghìn trùng gợi lên trong lòng người đọchôm nay nhớ về ông cha đã từng "mang gươm đi mở cõi", lấn biển, khai hoang,đoạn kình, bộ hổ, bắt sấu, đào kênh Đoạn thơ như một đài tưởng niệm về cốngđức của Nhân dân - những anh hùng vô danh đã góp máu và mồ hôi làm nênĐất Nước:
"Những người dân nào đỡ góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm".
Cảnh núi sông như hội tụ lấp lánh qua những vần thơ đẹp cho ta nhiều rungcảm Tiếp đó, nhà thơ đi tới một nhận thức khái quát: hồn sông núi cũng là điệutâm hồn của Nhân dân:
"Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha.
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta".
Cấu trúc câu thơ biến hóa như một phức điêu đa thanh và đa âm, làm cho cảmxúc thơ dồn nén, giọng thơ thiết tha bồi hồi
"Đất Nước của Nhân dân" không chỉ trường tồn trên chiều "đằng đẵng" củalịch sử, trải ra trên chiều rộng "mênh mông" của không gian địa lí, mà còn ởtầm sâu của tâm hồn, ở tầm cao của ý chí giống nòi Một dân tộc yêu ca hát,cuộc đời hòa quyện trong ca dao dân ca Một nhân dân nghĩa tình trong nếpsống "Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội"; biết sống thủy chung sắtson trong tình yêu, "Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn", biết trunghiếu vẹn toàn:
"Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ".
"Mồng mười tháng ba" ngày giỗ Tổ Hùng Vương, cháu con tự bốn phương trời
tụ hội về Phong Châu, một nén hương trầm tỏa khói, một cử chỉ "cúi đầu"
Trang 8thành kính, biết ơn tiên tổ Trở về cội nguồn là một nét rất đẹp của tâm hồnViệt Nam.
Trên mọi chặng đường lịch sử hàng ngàn năm, nhân dân ta "người người lớplớp" ngẩng cao đầu đi tới, dũng cảm và hiên ngang, kiên cường và bất khuất đểbảo vệ Đất Nước, giữ vững cơ đồ Việt Nam:
"Biết trồng tre đợi ngày thành gậy,
Đi trả thù mà không sự dài lâu".
Kết thúc đoạn thơ là tiếng hát ngân vang trên những dòng sông quê hương.Những con sông "trăm màu", và "trăm dáng" cuồn cuộn xuôi dòng là hìnhảnh của Đất Nước thân yêu Tiếng hát của những người "chèo đò, kéo thuyềnvượt thác" là nhịp sống lao động, lạc quan và yêu đời của nhân dân ta trên conđường đi tới ngày mai
Giọng thơ ngọt ngào âm vang đem đến cho chúng ta niềm tin yêu tự hào về sựtrường tồn của Đất Nước muôn quý nghìn yêu:
"Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về đến Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi".
Bài thơ "Đất nước" của Nguyễn Khoa Điềm còn là "lời tự hát" Anh hát về tìnhyêu đôi ta, hát về Nhân dân, về non sông Đất Nước Anh hát về quá khứ "thờigian đằng đẵng, không gian mênh mông" Anh hát về một ngày mai với nhiều
"mơ mộng" Chính Nhân dân - người làm ra Đất Nước đã cho anh niềm tinthiêng liêng ấy:
"Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đì xa, Đến những tháng ngày mơ mộng".
Tư tưởng "Đất Nước của Nhân dân" qua đoạn thơ này đã chi phối cách nhìn,cách cảm và cách nghĩ của nhà thơ trẻ Nguyễn Khoa Điềm trong những nămchiến tranh chống Mĩ vô cùng ác liệt Tư tưởng này đã được diễn tả bằng một
Trang 9hồn thơ đậm đà màu sắc dân gian, nó đã làm phong phú thêm cho ý niệm vềĐất Nước trong thơ ca Việt Nam hiện đại.
Cảnh sắc núi sông gắn liền với tâm hồn dân tộc, khí phách của giống nòi Cáibình dị tồn tại quanh ta hòa quyện với cái cao cả thiêng liêng cho thấy vẻ đẹpvĩnh hằng của Đất Nước của nền văn hóa Việt Nam và sự trường tồn của dântộc
Bài thơ tuy có chỗ còn dàn trải, nhưng ý tuởng đẹp, cảm hứng và ngôn ngừ thơđộc đáo Nó đã khơi dậy tình yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm vàkhát vọng công dân đối với Đất Nước trong mỗi chúng ta:
"Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết háa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời".
Bài văn mẫu 2
Đất nước là một chủ đề được quan tâm hàng đầu đối với lịch sử văn học nước
ta Mỗi thời đại có một cách hiểu, cách quan niệm riêng về đất nước Thờitrung đại người ta thường quan niệm đất nước gắn liền với công lao của cáctriều đại, do các triều đại kế tiếp nhau gây dựng lên Còn ở thời hiện đại, khingười ta nhìn thấy rõ sức mạnh to lớn của nhân dân, người ta mới thấy rằng đấtnước là của nhân dân Điều này tất nhiên càng được các nhà văn Việt Nam ýthức sâu sắc hơn ai hết khi dân tộc ta tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân vĩđại chống Mỹ cứu nước Tư tưởng xuyên suốt chương thơ Đất nước củaNguyễn Khoa Điềm chính là tư tưởng đất nước của nhân dân
Thành công đầu tiên khi thể hiện tư tưởng đất nước của nhân dân làNguyễn Khoa Điềm đã lựa chọn cho mình chất liệu văn hóa rất phù hợp đó làchất liệu văn hóa dân gian Vẫn biết rằng chất liệu thuộc hình thức nghệ thuậtcủa một bài thơ mà nghệ thuật chỉ làm nên câu thơ còn trái tim là nghệ sĩ Tuynhiên việc thể hiện tiếng nói của trái tim là rất quan trọng Văn hóa dân giantrong bài thơ là những câu tục ngữ ca dao, những làn điệu dân ca, những câu hòsông nước, những câu chuyện cổ tích, những phong tục tập quán mà NguyễnKhoa Điềm đã gói gọn trong câu thơ: “Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của
ca dao thần thoại”
Trang 10Nguyễn Khoa Điềm đi tìm đất nước ở cái ngày xửa ngày xưa trong câuchuyện cổ tích Vì vậy nhà thơ mở đầu khúc ca đất nước bằng những câu thơ:
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồiĐất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể
Đất nước có từ ngày đó”
Trở về với cái “ngày xửa ngày xưa” ấy, nhà thơ đã phát hiện ra hai nguyên
tố gốc, nguyên tố cơ bản làm ra đất nước đó là “đất” và “nước” Trong quátrình hình thành thực thể đất nước cũng như phát triển đất nước “đất” và
“nước” là hai tế bào đầu tiên Nguyễn Khoa Điềm biến hóa, nhân đôi, sinh sôinảy nở để trở thành cơ thể đất nước hoàn chỉnh Tất cả những điều đó làm toátlên vẻ đẹp của nền văn minh lúa nước lâu đời Cái hay của Nguyễn Khoa Điềm
ở đây là ông không bê y nguyên câu tục ngữ ca dao nào thành thơ của mình màdường như văn hóa dân gian thấm sâu vào tâm hồn ông ngay từ tấm bé qua câuhát điệu ru của bà của mẹ để bây giờ khi viết về đất nước, ông đã chưng cất nó,chắt lọc nó, xử lí nó qua lăng kính tâm hồn của mình Thế là mỗi câu thơ dướingòi bút Nguyễn Khoa Điềm phảng phất theo làn điệu dân ca, phỏng theonhững điệu hát ca dao, phỏng theo câu truyện cổ tích
“Đất là nơi anh đến trườngNước là nơi em tắm”
Dùng thuyết âm dương, nhà thơ đã nhập đất vào với nước để tìm ra kháiniệm đầu tiên:
Đất nước là nơi ta hò hẹn
Đất nước là nơi dân mình đoàn tụVới cách cắt nghĩa, khám phá để lí giải, tác giả khẳng định làm ra đấtnước này đó chính là sự hò hẹn của đôi ta Đôi ta ở đây chính là anh và em, là
sự hóa thân của nhân dân Nói cách khác nhân dân là người làm ra đất nước
Văn hóa dân gian là sản phẩm tinh thần của nhân dân Nguyễn KhoaĐiềm đã mượn sản phẩm tinh thần của nhân dân để viết về tư tưởng đất nước
Trang 11của nhân dân, như vậy bài thơ Đất Nước từ nội dung đến hình thức nghệ thuậtđều thấm đẫm tư tưởng đất nước của nhân dân Và cứ như thế, không mạnh mẽgân guốc, tác giả thủ thỉ thì thầm với người đọc để khẳng định rằng đất nướcnày trong bốn nghìn năm qua không ai khác ngoài nhân dân bằng những câuthơ:
“Khi hai đứa cầm tay
Đất nước vẹn tròn to lớn”
Đất nước này có phát triển, có vẹn tròn to lớn nhờ có chúng ta cầm tay mọingười, nhờ có tinh thần đoàn kết của nhân dân Tinh thần đoàn kết ấy tạo ra sứcmạnh cho đất nước, giúp đất nước phát triển to lớn
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”
Vẫn biết rằng một đất nước là sự cộng gộp của biết bao ngọn núi, con sông,ruộng đồng, gò bãi… Ở đâu cũng có tên đất, tên làng, tên núi, tên sông… Mộtmảnh đất chừng nào thiếu đi tên gọi, chừng ấy nó thiếu đi sự thiêng liêng củacon người Nhưng đặt tên gọi không tùy tiện bởi đằng sau tên gọi là một huyềnthoại, đằng sau huyền thoại là một cuộc đời Chính cuộc đời ấy, con người ấyngã xuống bảo vệ đất nước này, làm nên đất đai của xứ sở
Hòn Vọng Phu ngàn năm còn đó như minh chứng cho lòng thủy chung, sonsắt ngàn đời của người phụ nữ Việt Nam bởi hai chữ Vọng Phu là chờ chồng.Đất nước ta đã phải trải qua ba mươi lăm năm của hai cuộc chiến tranh trường
kì gian khổ, biết bao nhiêu người con trai ra trận, người con gái trở về nuôi cáicùng con Đây chính là tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam Nội dungcũng là hình ảnh người học trò nghèo đã “góp cho Đất nước mình núi Bút nonNghiên” Họ còn là người yêu quê hương, thổi hồn mình vào con cóc, con gà
“cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh” Đó là những người ta nhớ mặt đặttên: “ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm” nhưng thử hỏi đất nước này cóbiết bao nhiêu con người ngã xuống vì ngày mai độc lập, ngã xuống để bảo vệđất nước mà ta không nhớ mặt đặt tên: