1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Binh giang 9 cau dau bai dat nuoc cua nguyen khoa diem

17 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình giảng 9 câu đầu bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
Tác giả Nguyễn Khoa Điềm
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Bình giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 375,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bình giảng 9 câu đầu bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Thư viện Đề thi Trắc nghiệm Tài liệu học tập miễn phí Trang chủ https //vndoc com/ | Email hỗ trợ hotro@vndoc com | Hotline 024 2242 6188 Bình gi[.]

Trang 1

Bình giảng 9 câu đầu bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Ngữ

văn 12 Dàn ý Bình giảng 9 câu đầu bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

Mở bài: Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, trường ca Mặt đường khát

vọng và chương Đất nước

- Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống

Mỹ với phong cách thơ mang đậm chất trữ tình chính luận

- “Đất Nước” được trích từ chương V, trường ca Mặt đường khát vọng, sáng tác trong thời kỳ chiến trường Miền Nam vô cùng ác liệt “Đất Nước” ra đời với mục đích khơi gợi tình yêu nước thẳm sâu, kêu gọi giới trẻ miền Nam hòa mình vào cuộc chiến của dân tộc

Thân bài: Luận điểm 1: Đất nước có từ bao giờ?

+ Câu thơ đầu tiên chính là câu trả lời cho câu hỏi ấy: “Khi ta lớn lên Đất Nước

đã có rồi” Đất Nước là những thứ thân thuộc, gần gũi, gắn bó vỡi mỗi con người, ở trong mỗi con người từ khi phôi thai Thể hiện tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”

+ Tác giả cảm nhận đất nước bằng chiều sâu văn hóa - lịch sử và cuộc sống đời thường của mỗi con người qua cụm từ “ngày xửa ngày xưa” à gợi những bài học về đạo lí làm người qua các câu chuyện cổ tích thấm đượm nghĩa tình Luận điểm 2: Quá trình hình thành đất nước?

+ Bắt đầu với phong tục ăn trầu gợi về hình ảnh người bà thân thuộc, gợi câu chuyện về sự tích trầu cau, nhắn nhủ nghĩa tình anh em sâu đậm, tình cảm vợ chồng nhân nghĩa thủy chung

+ Hình ảnh “cây tre” còn gợi lên hình ảnh của con người Việt Nam, cần cù, siêng năng, chịu thương, chịu khó “Lớn lên” nghĩa là nói quá trình trưởng thành của Đất Nước, nói lớn lên trong chiến tranh nghĩa là nói truyền thống chống giặc kiên cường, bền bỉ

+ Tập quán bới tóc sau đầu để chú tâm làm việc, gợi câu ca dao bình trị dạt dào thương nhớ Nhắc nhở về tình cảm vợ cồng sắc son, sâu nặng qua hình ảnh:

“gừng cay”, “muối mặn”

+ Tái hiện nền văn hóa nước ta chỉ bằng một câu thơ đơn sơ nhưng đầy dụng ý:

“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng” Nghệ thuật liệt kê, cùng cách ngắt nhịp liên tục thể hiện truyền thống lao động cần cù, cách ăn cách ở trong sinh hoạt

Trang 2

+ Nguyễn Khoa Điềm thâu tóm tất cả bằng một tư tưởng duy nhất: “Đất Nước

có từ ngày đó…” Dấu “…” cuối câu chính là biện pháp tu từ im lặng, lời dẫu hết nhưng ý vẫn còn, vẫn nung nấu và sục sôi

=> Đất nước được hình thành gắn liền với văn hóa, lối sống, phong tục tập quán cảu người Việt Nam, gắn liền với đời sóng gia đình Những gì làm nên Đất Nước cũng đã kết tinh thành linh ồn dân tộc Đất Nước vì thế hiện lên vừa thiêng liêng, tôn kính lại gần gũi thiết tha

Kết bài: Giọng thơ trữ tình chính luận, khi căng, khi chùng, khi tha thiết, khi

lại cuồn cuộn nỗi niềm, đã thể hiện được tinh thần chủ đạo của bài thơ thông qua các chất liệu văn hóa, văn học dân gian: “Đất Nước của nhân dân” Vì vậy, đoạn thơ không chỉ trữ tình mà đầy sức chiến đấu

Văn mẫu lớp 12: Bình giảng 9 câu đầu bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

"Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có từ ngày đó".

Đoạn thơ đã nói lên một cách dung dị mà thấm thía về cội nguồn sâu xa của Đất Nước

Giọng điệu thủ thỉ tâm tình, nhà thơ gợi lên một không khí trầm lắng như kể chuyện cổ tích, như dẫn hồn ta ngược thời gian trở về cội nguồn Đất Nước và dân tộc Bốn chữ "ngày xửa ngày xưa" dùng rất khéo:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa " mẹ thường hay kể.

Chữ "có" trong "đã có rồi", "Đất Nước có trong những cái " đã làm cho ý thơ khẳng định, tỏa sáng niềm tin Tục ăn trầu, truyện cổ tích Trầu - Cau gợi lên hình ảnh Đất Nước xa xưa, "Đất Nước bắt đầu" Truyền thuyết Thánh Gióng cho biết sự vươn mình của dân tộc, đánh dấu sức mạnh quật khởi "Đất Nước lớn lên" Câu thơ mở rộng đến 12, 13 chữ, với cách gieo vần lưng (đầu - trầu,

ăn - dân) nên vẫn thanh thoát, giàu âm điệu:

"Đất Nước bắt đầu với miếng trầu giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dẩn mình trồng tre mà đánh giặc".

Trang 3

Hai chữ "lớn lên" liên tưởng đến hình ảnh chú bé làng Gióng lên ba vươn vai thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt khi Đất Nước bị giặc Ân xâm lược

Rồi nhà thơ nói đến phong tục và đạo lí tốt đẹp lâu đời của nhân dân ta Phong tục "bới tóc" của người Lạc Việt Câu ca dao nói về đạo vợ chồng: "Tay bưng chén muối đĩa gừng - Gừng cay muối mặn xin đừng quên đã nhập hồn vào câu thơ Nguyễn Khoa Điềm:

"Tóc mẹ thì bởi sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn".

Chuyện "ngày xửa ngày xưa" nhưng vẫn hiện diện trên "tóc mẹ" trong tình thương của "cha mẹ" bây giờ "ĐấtNước đã có rồi", "Đất Nước có ", "Đất Nước bắt đầu", "Đất Nước lớn lên" và Đất Nước đang hiện diện quanh ta, gần gũi ta

Tiếp theo, nhà thơ lấy sự hình thành và phát triển ngôn ngữ dân tộc để nói về nguồn gốc lâu đời của Đất Nước Mỗi vật dụng đều có một cái tẽn riêng: "Cái cột, cái kèo thành tên" Nhân Dân ta có nghề trồng lúa nưóc lâu đời Nghề trồng lúa nước tạo nên nền văn minh sông Hồng Khi hạt gạo được sáng tạo nên bằng công sức "một nắng hai sương", thì ngôn từ "xay, giã, giần, sàng" cũng xuất hiện Tiếng Việt là của quý lâu đời của Đất Nước ta, Nhân Dân ta Cách nói của Nguyễn Khoa Điềm thật ý vị:

"Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phái một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó".

Lấp lánh trong đoạn thơ là hình ảnh Đất Nước thân yêu Quá khứ của Đất Nước "ngày xửa ngày xưa" đồng hiện trong "miếng trầu bây giờ bà ăn" Có Đất Nước anh hùng "biết trồng tre mà đánh giặc" Có Đất Nước cần cù trong lao động sản xuất: "Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng" Có nền văn hóa giàu bản sắc, nền văn hiến rực rỡ hội tụ qua thuần phong mĩ tục (tục ăn trầu, tục bới tóc), qua tục ngữ ca dao "gừng cay muối mặn", qua cổ tích thần thoại, truyẻn thuyết

Đoạn thơ 9 câu, 85 chữ mà không hề có một từ Hán Việt nào Ngôn từ bình dị, cách nói biểu cảm thân mật Hiện diện trong đoạn thơ là: ta, dân mình, bà, cha,

mẹ Có miếng trầu,cây tre, tóc mẹ, Có "gừng cay muối mặn" cái kèo, cái cột, hạt gạo, v.v Thật là thân thuộc và gần gũi, sâu xa và thấm thìa, rung động Tưởng tượng thì phong phủ, liên tưởng thì bao la Đoạn thơ đã "nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp" để ta yêu thêm Đất Nước và tự hào về Đất Nước Cấu trúc đoạn thơ: "tổng – phân – hợp"; mở đầu là câu "Khi ta lớn lên Đất Nước đã

Trang 4

có rồi", khép lại đoạn thơ là câu "Đất Nước có từ ngày đó".Tính chính luận đã làm sáng đẹp chất trí tuệ kết hợp hài hòa với chất trữ tình đậm đà Đoạn thơ mang vẻ đẹp độc đáo nói vế cội nguồn Đất Nước thân yêu

Bài văn mẫu 2

Nguyễn Khoa Điềm là một trong những cây bút tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ trong những năm chống Mĩ cứu nước Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc lắng đọng, thể hiện tâm tư của người tri thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân, mang màu sắc chính luận Đoạn trích “Đất Nước” là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông Đoạn trích thể hiện cái nhìn mới mẻ về Đất Nước, và cái mới mẻ ấy thôi thúc chúng ta đi tìm cội nguồn của Đất Nước Với

9 câu thơ đầu, Nguyễn Khoa Điềm thể hiện quan niệm của mình về cội nguồn của Đất Nước thật đặc sắc

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…

Đoạn trích Đất Nước thuộc phần đầu, chương V của bản trường ca

“Mặt đường khát vọng”, hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ ở các đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh thế hệ mình, xuống đường đấu tranh chống đế quốc Mĩ

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”

Câu thơ mở đầu là lời khẳng định tự nhiên, giản dị: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi” Đất Nước có từ “khi ta lớn lên”, từ khi ta chưa ra đời, xuyên suốt bốn ngàn năm văn hiến Như vậy, Đất Nước tồn tại như một điều hiển nhiên, nó có chiều sâu cội nguồn cũng như sự hình thành và phát triển bao đời nay Với Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước thật gần gũi, hiện diện trong

Trang 5

những câu chuyện cổ tích thường mở đầu bằng “ngày xửa ngày xưa” Câu thơ khiến ta nhớ đến hình ảnh của người bà thường hay kể chuyện cho con cháu nghe, là hình ảnh cô Tấm bị mẹ con Cám bắt nạt, là hình là nàng tiên bước ra

từ quả thị… Cụm từ “ngày xửa ngày xưa” thật quen thuộc và gần gũi với con người Việt Nam Bởi, mỗi câu chuyện là mỗi bài học đạo lí dạy ta biết “ở hiền gặp lành”, biết thiện thắng ác, biết sống thủy chung,… Tác giả không dùng từ ngữ, hình ảnh hoa mĩ tráng lệ mang tính biểu tượng để thể hiện Đất Nước mà dùng cách nói giản dị, tự nhiên, dễ hiểu, dễ thấm vào lòng người Tác giả giúp

ta tìm hiểu Đất Nước có từ nền văn hóa dân gian cha ông ta để lại

Tác giả cảm nhận Đất Nước gắn với phong tục tập quán, hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc:

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”

“Miếng trầu bà ăn” là miếng trầu tình nghĩa trong “sự tích trầu cau” khiến ta rưng rưng nước mắt về tình cảm vợ chồng, về tình nghĩa anh em gắn

bó Từ đó, hình ảnh “trầu cau” trở thành “miếng trầu là đầu câu chuyện”, trở thành thứ không thể thiếu được trong lễ cưới, tượng trưng cho tình nghĩa đằm thắm, thủy chung

“Tóc mẹ thì bới sau đầu”

Đó là hình ảnh đặc thù của người phụ nữ Việt Nam, thùy mị, duyên dáng và thật đáng yêu Nét đẹp ấy làm ta gợi nhớ đến câu ca dao:

“Tóc ngang lưng vừa chừng em búi

Để chi dài bối rối lòng anh”

Không những chỉ là những cảm nhận ở trên về Đất Nước mà Nguyễn Khoa Điềm còn cảm nhận Đất Nước trong vẻ đẹp tình yêu của cha mẹ với lối sống nặng tình nặng nghĩa như “gừng cay muối mặn”

“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

Dù gian nan, dù cay đắng nhưng cha mẹ vẫn đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi để tình cảm thêm mặn nồng, thắm thiết Hình ảnh thơ gợi ta nhớ câu ca dao:

“Tay bưng đĩa muối, chén gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”

Hay

Trang 6

“Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng vẫn hãy còn cay Đôi ta tình nặng nghĩa đầy

Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”

Từ cha mẹ thương nhau mới đi đến “Cái kèo cái cột thành tên” Câu thơ gợi nhắc cho người đọc nhớ đến tục làm nhà cổ của người Việt Đó là tục làm nhà sử dụng kèo cột giằng giữ vào nhau làm cho nhà vững chãi, bền chặt tránh được mưa gió, thú dữ Đó cũng là ngôi nhà tổ ấm cho mọi gia đình đoàn tụ bên nhau; siêng năng tích góp mỡ màu dồn thành sự sống Từ đó, tục đặt tên con cái Kèo, cái Cột cũng ra đời

Đất Nước ta từ ngàn đời đã có truyền thống chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc:

“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

Hình ảnh “cây tre” là biểu tượng của người Việt Nma, gắn với đời sống thường ngày và có lúc trở thành vũ khí xông pha ra chiến trường đánh giặc, Thánh Gióng từng nhổ tre đánh giặc Ân, nhà văn Thép Mới cũng từng nhận ra:

“Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”

Tre thật thà chất phác, đôn hậu, yêu thủy chung yêu chuộng hòa bình nhưng cũng kiên cường bất khuất trong chiến tranh Tre đứng thẳng hiên ngang bất khuất cùng chia lửa cho dân tộc:

“Một cây chông cũng tiến công giặc Mĩ”

Bởi

“Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường”

Đâu chỉ có những vẻ đẹp trên, dân tộc ta còn có truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó:

“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sáng”

Thành ngữ “một nắng hai sương” và các động từ liên tiếp xay, giã, giần, sàng gợi lên sự vất vả và triền miên của người nông dân trên đồng rộng Đất Nước gắn với nền văn minh lúa nước, lấy hạt gạo làm gia bảo, gắn liền với quá

Trang 7

trình lao động vất vả để có được hạt gạo, để sinh tồn Ý thơ thật sâu sắc Câu thơ gợi nhắc đến ca dao:

“Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cà

Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Từ Đất Nước viết hoa diễn tả tình cảm thiêng liêng đối với Đất Nước Giọng thơ trữ tình, câu thơ dài ngắn đan xen thể hiện cảm xúc tư nhiên, phóng khoáng Ngôn ngữ giản dị, sử dụng sáng tạo các chất liệu từ văn học dân gian tạo chiều sâu cho ý thơ

Đất Nước đối với Nguyễn Khoa Điềm là những gì bình thường, gần gũi nhất Nó có trong cổ tích, ca dao, gắn liền với nguồn mạch quê hương để làm nên một chân dung trọn vẹn về Đất Nước: Thân thương mà hào hùng, vất vả

mà thủy chung

Bài văn mẫu 3

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…

Khổ thơ thứ nhất (9 câu đầu): Sau khi điểm qua hai quá trình "bắt đầu" và "lớn lên" của đất nước, tác giả khẳng định: "Đất Nước có từ ngày đó " - từ rất xa xưa Những cái xa xưa thường hay xa lạ, nhưng đất nước thì không - đất nước gần gũi với mọi người

Trang 8

Mở đầu là những lời bình dị nhưng hàm súc: "Khi ta lớn lên, Đất Nước đã có rồi" Đất nước thành bậc tiền nhân Mọi người đều được nuôi dưỡng từ đất nước Nhắc lại điệp khúc "ngày xửa ngày xưa ", tác giả muốn chứng tỏ đất nước hình thành từ rất lâu, đất nước có trong từng lời mẹ kể

Gắn liền với sinh hoạt gia đình: "Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn" Tứ thơ này làm sống lại nhiều câu tục ngữ, ca dao và truyện Trầu cau bi thương, tình nghĩa Qua hình ảnh "miếng trầu", Nguyễn Khoa Điềm "nhân dân hóa" thơ mình và có thêm một bằng chứng về đất nước hình thành từ xa xưa Tuy vậy, đất nước chỉ lớn lên với truyền thống: "dân mình biết trồng tre mà đánh giặc" và quá trình hình thành nhiều phong tục, tập quán:

Tóc mẹ thì bới sau đầu Nguyễn Khoa Điềm thật sự xúc động khi nói đến:"Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn" Đó lời ngợi ca tình nghĩa, thuỷ chung trong gian khó Chữ "thương" giúp thơ ông gần văn học bình dân "Khi ta lớn lên Đất Nước đã

có rồi"- điều ấy, hiển nhiên như khi ta lớn lên đã có ông bà, cha mẹ Đất nước gắn bó, thân thiết như người ruột thịt và bao công việc lao động khác:

Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đó là lúc con người khép lại thời "dã man" bước vào giai đoạn văn minh Tứ thơ "cái kèo, cái cột thành tên" còn gợi tập tục đặt tên mộc mạc để mong sự bình yên Đất nước ta gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước: "Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng" Làm nên hạt gạo trắng thơm phải trải qua nhiều công đoạn, phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt Quá trình hình thành đất nước cũng đau đớn như chuyện nhân loại hoài thai, sinh nở

Từ những lời phân tích trên đây, có thể thấy Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác một cách triệt để vốn văn hoá dân gian Hàng loạt câu tục ngữ, ca dao, truyền thuyết, cổ tích, phong tục, tập quán đã được tái tạo, sáng tạo lại Không chỉ hay

ở phương diện câu chữ, cấu trúc và lời kết đoạn đã gây được ấn tượng "Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi", đất nước bắt đầu, đất nước lớn lên chặng đường nào cũng song hành với cuộc sống nhân dân Tác giả nêu nhiều chứng cứ để làm sáng tỏ kết luận: "Đất Nước có từ ngày đó " - từ "ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể" Trong suốt quá trình ấy, đất nước gắn bó với mọi gia đình và từng cá nhân Đó là cơ sở vững chắc để tác giả tiếp tục triển khai tư tưởng Đất Nước này là đất Nước Nhân dân ở 3 khổ thơ sau

Bài văn mẫu 4

Đất nước, đã từ lâu, là điểm hẹn tâm hồn của biết bao văn nghệ sĩ Được khơi nguồn từ đề tài quen thuộc ấy, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có cho mình một

Trang 9

lối đi riêng Đoạn trích “Đất Nước” là sự kết tinh của những sáng tạo dộc đáo, mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm Với 9 câu thơ mở đầu, nhà thơ đã đưa người đọc trở về với lịch sử của dân tộc để trả lời cho câu hỏi đất nước có từ bao giờ:

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó Muốn hiểu về Đất Nước nhưng “khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”: lời thơ khẳng định đất nước ra đời từ rất lâu như ta thường bảo 4000 năm lịch sử Câu thơ cũng khẳng định sự trường tồn của đất nước sau bao nhiêu thăng trầm, bao nhiêu lần đánh giặc ngoại xâm, chống lại nội thù để bảo vệ đất nước Nhưng câu thơ cũng nói lên nỗi lòng băn khoăn của nhà thơ vì làm sao hiểu được đất nước khi đất nước đã có từ lâu, đã cách ta quá xa, đã ” có từ ngày xửa ngày xưa…”: một cụm từ vô cùng quen thuộc, thân thương vì ai trong chúng ta không từng được đắm mình trong những câu chuyện cổ tích thần tiên” mẹ thường hay kể” Những câu chuyện kể, những lời ru của mẹ đưa con về với đất nước yêu dấu

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”, câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm khiến con nhớ đến câu chuyện cảm động “Sự tích trầu cau” mẹ kể con nghe về tình nghĩa gia đình thắm thiết, ven tròn, hoà quyện nhau như màu

đỏ huyết thống thiêng liêng Đấy chính là nền tảng để xây dựng gia đình, để khởi đầu đất nước hay đây cũng chính là bài học đầu tiên về đất nước Miếng trầu bình thường bà vẫn ăn hàng ngày sao bỗng dưng trở thành thiêng liêng, thấp thoáng đâu đó dáng hình đất nước qua tập tục ăn trầu thân quen

Hình ảnh cây tre trong câu thơ” Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre

mà đánh giặc” con đã từng gặp trong “Sự tích Thánh Gióng” khi cậu bé chỉ mới 3 tuổi đã vươn vai thành người chiến sĩ nhổ tre, đánh giặc thù, bảo vệ bờ cõi Cây tre hiền hoà hằng ngày ta vẫn thấy trong xóm làng cho ta những vật dụng và bóng mát, thế nhưng cây tre đã từng là vũ khí theo suốt con đường cha

Trang 10

ông ta đánh giặc để giữ cho con cháu hôm nay đất nước này Truyền thống đấu tranh bất khuất của người xưa dẫu ko có vũ khí tương xứng nhưng đã để lại cho con cháu một bài học: muốn đất nước lớn lên vững vàng thì dân mình phải biết trồng tre để chuẩn bị thành vũ khí đánh giặc Bài học lịch sử quý giá này cháu con luôn ghi nhớ và đang vận dụng trong những ngày đánh Mỹ ác liệt để bảo

vệ đất nước với “gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù Tre xung phong vào xe tăng, đại bác Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” (Thép mới)

Mỗi một đất nước đều có riêng những phong tục tập quán và dân tộc ta cũng thế Hình ảnh” tóc mẹ thì bới sau đầu” đã nói lên một nét đẹp của phong tục Việt Nam ta từ xưa còn lưu lại đến bây giờ dù đất nước đã phải trải qua bao năm bị ngoại bang đô hộ và đồng hoá nhưng dân tộc này vẫn giữ được tập quán riêng của đất nước mình

Có được lớn lên từ mái ấm gia đình, từ tình nghĩa thuỷ chung của cha mẹ

ta mới thấy câu ca dao “gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau” là lời nhắn nhủ, dặn dò quý giá biết bao Với Nguyễn Khoa Điềm “cha mẹ thương nhau bằng gừng ay muối mặn” để con được hưởng hạnh phúc đầy đủ, cho con hiểu thêm một nét đẹp đạo lí dân tộc là tình nghĩa luôn thuỷ chung, son sắc

Từ cái nhà con ở khi “cái kèo, cái cột thành tên” đến hạt gạo con ăn”phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàn” ta hiểu được bao thế hệ mẹc ha đã lao động vất vả, chắt chiu, dành dụm để tạo dựng cuộc sống cho những đứa con nên người và góp phần dựng xây đất nước Tất cả chính là đất nước Thế thì đất nước ko phải đâu xa lạ, vô hình mà là những vật dụng, những hình ảnh hàng ngày ta vẫn thấy quanh đây rất đỗi thân quen đã từng gắn bó với ta từ thời thơ

bé khi bên ta có bà, có mẹ , có cha Nhưng chính những câu chuyện cổ tích mẹ

kể con nghe, chính những lời ru ca dao đã đưa con vào thế giới sâu nặng nghĩa tình của đất nước thiêng liêng với bao truyền thống, tập quán tốt đẹp

Từ những hình ảnh thân quen nhưng ẩn chứa chiều sâu kiến thức văn học dân gian cùng với giọng thơ ngọt ngào đoạn thơ như lời kể chuyện tâm tình, Nguyễn Khoa Điềm đã bình dị hoá đất nước, đất nước hoá thân vào cổ tích, ca dao, vào cuộc sống hàng ngày Tác giả đã có một cách cảm nhận mới vừa quen vừa lạ, vùa cụ thể vừa trừu tượng, vừa gần gũi vừa rất đỗi thiêng liêng…tạo nên sự xúc động sâu sắc Điều đó nói lên thành công của tác phẩm cũng như những đóng góp của Nguyễn Khoa Điềm đối vơi nền Văn học Việt Nam

Bài văn mẫu 5

Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm là những trang thơ đậm chất suy luận, nhưng lại thấm đẫm, nồng nàn trong cảm xúc Bởi thế mà dẫu viết về một đề tài đã cũ, đã quen, nhưng cách khai thác chất liệu mới mẻ, sáng tạo đã giúp nhà thơ tạo được dấu ấn riêng trong lòng người đọc Đặc biệt, 9 câu thơ mở đầu Đất

Ngày đăng: 15/03/2023, 09:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w