Nghiên cứu mô hình nhân cách thẩm phán trong hoạt động xét xử
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo
viện chiến lược và chương trình giáo dục
****************
bùi kim chi
nghiên cứu mô hình nhân cách thẩm phán trong hoạt động xét xử
Chuyên ngành : Tâm Lý học chuyên ngành
Mã số : 5.06.02
tóm tắt luận án tiến sĩ tâm lý học
Hà Nội - 2007
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
viện chiến lược và chương trình giáo dục
-
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS TS Phạm Tất Dong
2 TS Nguyễn Văn Hiện
Phản biện 1: PGS TS Lê Đức Phúc
Phản biện 2: GS TSKH Đào Trí úc
Phản biện 3: PGS Trần Trọng Thuỷ
Luận án được bảo vệ tại:
hội đồng chấm luận án cấp nhà nước họp tại viện chiến lược và chương trình giáo dục
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và thu viện Viện chiến lược và Chương trình giáo dục
Trang 3Danh mục các công trình của tác giả
đã công bố
1 Bùi Kim Chi (2002): ý nghĩa của việc nghiên cứu mô hình nhân
cách người Thẩm phán trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Tạp chí Giáo dục, số 5
2 Bùi Kim Chi (2005): Một số vấn đề mô hình nhân cách của Thẩm
phán trong hoạt động xét xử. Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 3
3 Bùi Kim Chi (2006): Thực trạng nhân cách của thẩm phán qua
nghiên cứu bằng trắc nghiên cứu bằng trắc nghiệm NEOPI - R Kỷ yếu
Hội nghị khoa học nghiên cứu sinh Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội
4 Bùi Kim Chi (2006): Xây dựng khung lý thuyết và thiết kế bảng hỏi để
nghiên cứu nhân cách thẩm phán trong hoạt động xét xử. Tạp chí Tâm
Lý học, số 4
5 Bùi Kim Chi (2006): Thẩm phán với công tác tuyên truyền, phổ biến
và giáo dục pháp luật Tạp chí Dân chủ và pháp luật (số chuyên đề)
Trang 4luyện, tự bồi dưỡng mặt chính trị tư tưởng, trong đó quan trọng nhất là
củng cố và nâng cao bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp, trau dồi
mặt đạo đức lối sống; nâng cao trình độ năng lực chuyên môn; tự rèn
luyện để mình giữ được trạng thái tinh thần ổn định trong hoạt động
nghề nghiệp cũng như trong cuộc sống sinh hoạt
2.3 Đối với việc xây dựng cơ chế, chính sách cần thiết
dành cho TP
Lãnh đạo các cơ quan TAND phải thường xuyên kiểm tra, rà
soát đối với cán bộ toà án nói chung và TP nói riêng trong việc chấp
hành luật pháp, các nội quy, quy chế Có cơ chế phát huy dân chủ trong
hoạt động nghiệp vụ, cũng như trong các hoạt động do các tổ chức chính
trị - xã hội tổ chức để phòng ngừa, đấu tranh với những hành vi làm suy
thoái đạo đức, xói mòn lối sống trong sạch, lành mạnh của đội ngũ cán
bộ toà án Cần có những biện pháp, hình thức thích hợp để xây dựng
môi trường học tập, tạo nên một xã hội học tập thu nhỏ ngay tại cơ quan
mình Thông qua các buổi giao ban hàng tuần, hàng tháng đưa ra các
chuyên đề nên có kết luận để mỗi người tự giác nâng cao tinh thần tự
học và tự xây dựng cho mình phương pháp tự học có hiệu quả nhất
TAND các cấp phải xây dựng và thực hiện nghiêm túc chế độ
trách nhiệm cá nhân phụ trách, phát huy có hiệu quả chế độ dân chủ
trong cơ quan Để mỗi TP phát huy được ý thức và làm chủ bản thân thì
lãnh đạo TAND các cấp thường xuyên hoặc định kỳ thực hiện tốt công
tác kiểm tra, kịp thời biểu dương khen thưởng những tấm gương điển
hình, phê phán nhắc nhở thậm chí kỷ luật đối với những hành vi, vi
phạm
2.4 Đối với việc xây dựng những văn bản pháp quy liên
quan đến hoạt động của ngành toà án nói chung, TP nói riêng
Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sớm xây dựng những văn
bản quy định việc tăng cường, nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp
hành pháp luật của lãnh đạo các cơ quan toà án nói chung, TP nói riêng
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với hoạt động của toá án nói
chung, TP nói riêng Để giúp cho mỗi TP có thể hoàn thành nhiệm vụ
Nhà nước và cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành những văn bản
quy định việc tăng quyền hạn, trách nhiệm tố tụng cho TP Để TP có thể
chủ động thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm
của họ trong hoạt động tố tụng
mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 1.1 Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa
học Trong tâm lý học (TLH), là nhân cách đã được nhiều tác giả trong
và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và đã hình thành nên nhiều luận thuyết, tạo ra những hệ thống khái niệm cơ bản
Thẩm phán (TP) là một trong những người tiến hành tố tụng, có vai trò quan trọng trong hội đồng xét xử đề ra một bản án hay quyết
định về việc công dân có tội hay vô tội, giải quyết các tranh chấp trong lĩch vực kinh tế, lao động, hôn nhân, và gia đình, giải quyết định hành chính khác theo quy định của pháp luật Nghiên cứu mô hình nhân cách thành phố từ đó xác định được cấu trúc tâm lý của nó là một yêu cầu cần thiết đối với việc cải cách nền tư pháp nhằm góp phần xây dựng kiện toàn đội ngũ cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật trong sạch, có phẩm chất chính trị tư tưởng đạo đức trong sáng, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay
1.2 Báo cáo chính trị của ban chấp hành Trung ương Đảng tại
Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X của Đảng, đã khẳng định: “ Xây
dựng hệ thống các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh dân chủ, văn minh, bảo vệ công lý, quyền con người Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Cải cách khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm ”
Như vậy, trong hoạt động của toà án thì hoạt động xét xử (HĐXX) được coi là khâu trọng tâm TP là đối tượng quan trọng nhất trong việc đổi mới và tăng cường chất lượng xét xử của toà án Trong thực tế hiện nay đại đa số TP giữ vững phẩm chất chính trị - tư tưởng,
đạo đức, có lối sống trong sạch, lành mạnh; có tinh thần trách nhiệm trong công tác, có ý thức kỷ luật và tích cực tư dưỡng, rèn luỵên trau dồi nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận TP thiếu tu dưỡng, rèn luyện
đạo đức - lối sống, bản lĩnh chính trị, thiếu tinh thần cầu thị, phấn đấu học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nên dẫn
đến việc đưa ra những nhất định không đúng với sự thật khách quan; từ
đó ra quyết định, bản án sai lầm quyết án oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm; hoặc ra những bản án, quyết định gây nên thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân
Trang 52
Nghị quyết số 49- NQTW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị đã
xác định đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung và TP nói riêng “còn thiếu, trình
độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận còn yếu, thậm chí một
số cán bộ sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp”
Trước tình hình đó, đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng phải có
những tác động tích cực vào quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách TP
1.3 Về TP đã có một số tác giả nghiên cứu một số khía cạnh
khác nhau; tuy nhiên ở nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu sâu
về các thành phần trong cấu trúc nhân cách, chỉ ra được các tiêu chuẩn
cũng như các tiêu chí cụ thể để có thể kiểm chứng và đo lường được
trong nghiên cứu cấu trúc nhân cách TP Với ý nghĩa nêu trên luận án
chọn đề tài “Nghiên cứu mô hình nhân cách TP trong HĐXX” làm
vấn đề nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng mô hình nhân cách TP trên cơ sở nghiên cứu lý luận
và thực tiễn và nhân cách của TP trong HĐXX
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Khái quát hoá một số vấn đề lý luận về nhân cách, về mô hình
nhân cách, HĐXX của TP là cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài này
3.2 Khảo sát thực trạng những nét nhân cách của thẩm phán
3.3 Xây dựng mô hình nhân cách thẩm phán trong HĐXX
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Khách thể chính: Thẩm phán Khách thể phụ bao gồm: Học viên lớp
đào tạo nghiệp vụ xét xử, thư ký toà án, điều tra viên, kiểm sát viên
4.2.Đối tượng nghiên cứu
Mô hình nhân cách thẩm phán trong hoạt động xét xử
5 Giả thuyết khoa học
Mô hình nhân cách TP gồm năm mặt: Chính trị tư tưởng, đạo
đức- lối sống, năng lực chuyên môn, tự ý thức làm chủ bản thân và trạng
thái tinh thần Nếu khẳng định được năm mặt và chỉ ra được những nội
dung cơ bản của từng mặt thì sẽ định hướng cho công tác bồi dưỡng, đào
tạo, đào tạo lại đội ngũ TP
6 Giới hạn của đề tài
6.1 Luận án tập trung nghiên cứu những nét, những mặt cơ bản
của nhân cách để từ đó xây dựng mô hình nhân cách TP trong TAND tối
cao và một số TAND địa phương đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam
6.2 Luận án tập trung nghiên cứu TP ở TAND tối cao và một số
23
vi phạm pháp luật hoặc vi phạm kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp
2.2 Đối với việc đào tạo, tự đào tạo và bồi dưỡng TP
Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần có cơ chế, chính sách
và đầu tư ngân sách thích đáng nhằm khuyến khích cán bộ toà án nói chung và TP nói riêng hoàn thiện và nâng cao kiến thức mọi mặt mọi mặt bằng cách gửi đi đào tạo không những ở trong nước mà cả ở nước ngoài Trong chương trình đào tạo lớp nghiệp vụ xét xử cho TP tương lai của học viện tư pháp cần bổ sung thêm chuyên đề "Nhân cách TP - một
số vấn đề lý luận và thực tiễn"
TAND tối cao cần phối hợp với Bộ tư pháp (Học viện tư pháp) thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng và tập huấn nghiệp vụ cho các
TP, trang bị cho họ những kiến thức chuyên môn cần thiết, cập nhật những thông tin, những văn bản pháp luật mới ban hành; đặc biệt chú ý rèn luyện kỹ năng nghề (chẳng hạn: kỹ năng điều khiển phiên toà, kỹ năng điều chỉnh các quá trình giao tiếp với các đối tượng khác nhau, kỹ năng giải quyết vấn đề, tình huống xảy ra khi tiến hành HĐXX…) Bên cạnh đó TAND địa phương trên cơ sở tổng kết toàn ngành cũng như tổng kết hàng năm của đơn vị mình, tổ chức những sinh hoạt chuyên đề
về những hướng dẫn mới cần áp dụng, những vấn đề mới phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án để đội ngũ TP thường xuyên cập nhật những thông tin, những vấn đề mới vào hoạt động thực tiễn của mình Tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn ngắn ngày ngoài nội dung chuyên môn phải đặc biệt quan tâm lồng ghép các kỹ năng tự học một cách có hiệu quả, cụ thể là hướng dẫn phương pháp tự học, tạo cho người học có khả năng tự phát triển học vấn của bản thân
TP phải thường xuyên cập nhật văn bản pháp luật để hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu đầy đủ và chính xác các quy phạm pháp luật Ngoài ra
TP còn phải thường xuyên cập nhật và nâng cao vốn hiểu biết về văn hoá - xã hội, kinh tế để ứng xử một cách linh hoạt và phù hợp với từng tình huống, từng đối tượng trong quá trình giải quyết vụ án Mỗi TP phải tự trang bị cho mình một phương pháp học tập có hiệu quả nhất, làm chủ được quỹ thời gian, không bị động và phải hoàn thành nhiệm vụ được giao đúng thời hạn; tự trang bị cho mình kiến thức pháp luật, các kiến thức xã hội, văn hoá, kinh tế và nhất là kiến thức tin học Từ đó vận dụng một cách hiệu quả vào việc hoàn thành nhiệm
vụ trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN và hội nhập TP phải tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của mình Thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ TP tự rèn
Trang 6những gì gọi là văn hoá Việt Nam Một số TP tự đánh giá , đôi lúc cũng
đánh mất tính trung thực, chưa chấp hành pháp luật một cách nghiêm
chỉnh; không chỉ chú ý đến việc áp dụng công nghệ thông tin nhằm hỗ
trợ cho công tác xét xử… Có một số TP được khảo sát khẳng định khi
xét xử phải chú ý đến chất lượng xét xử, còn giáo dục pháp luật cho
đương sự và những người tham dự phiên toà là không cần thiết Có
không ít TP cho rằng phương pháp tự học của mình thường kém hiệu
quả; một số ít TP tự đánh giá là người hay nóng nảy, dễ phản ứng, nhiều
lúc cảm thấy căng thẳng, bất an…
1.3 Đề tài đã xây dựng được bộ công cụ đảm bảo độ tin cậy, độ
hiệu lực để nghiên cứu những mặt, những nét trong nhân cách TP Từ
đó, khẳng định mô hình nhân cách của TP ngoài những nét, những mặt
chung như bao con người bình thường khác phải có những mặt cơ bản
đáp ứng với yêu cầu đặc trưng của HĐXX
Lần đầu tiên trong quá trình nghiên cứu nhân cách, luận án đã
xác định được 5 tiêu chuẩn trong nhân cách TP đó là các tiêu chuẩn về
mặt: chính trị tư tưởng; đạo đức lối sống; năng lực chuyên môn; tự ý
thức làm chủ bản thân và trạng thái tinh thần
Các tiêu chuẩn này được cụ thể hoá bằng 22 tiêu chí như: lý
tưởng phấn đấu, bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp, yêu nước, tự
hào dân tộc, tôn trọng và tuân thủ pháp luật, trung thực, thẳng thắn;
công bằng, vô tư, khách quan, năng lực xét xử, năng lực tự học, tính
mục đích có kết hoạch, ý thức trách nhiệm cá nhân, tính kỷ luật, điềm
tĩnh cân bằng, ổn định về mặt xúc cảm, tình cảm… Những tiêu chuẩn và
tiêu chí này có thể định lượng, đo lường và kiểm nghiệm trong thực tế
2 Kiến nghị
2.1 Đối với công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, tái bổ nhiệm: Để
tuyển chọn, bổ nhiệm TP không chỉ có hội đồng tuyển chọn, bổ nhiệm
mà phải thành lập hội đồng sát hạch bao gồm các chuyên gia luật học,
tâm lý học, giáo dục học, xã hội học…để tuyển chọn được những TP
đảm bảo được 5 tiêu chuẩn và 22 tiêu chí như đã nêu trên
Đối với việc tái bổ nhiệm TP, ngoài tiêu chuẩn cơ bản về
năng lực chuyên môn; cần chú trọng đến tiêu chí bản lĩnh chính
trị, bản lĩnh nghề nghiệp Để TP yên tâm công tác nên kéo dài
nhiệm kỳ bổ nhiệm TP hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không
thời hạn Mặt khác, cần đơn giản hoá trình tự thủ tục tái bổ
nhiệm TP theo định kỳ hội đồng chỉ nên xem xét những TP
TAND địa phương đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu 7.2 Phương pháp điều tra: sử dụng điều tra hệ thống các
phương pháp như quan sát, phỏng vấn sâu Trong đó phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính
7.3 Phương pháp phân tích số liệu: Phương pháp thống kê
toán học và phương pháp phân tích định tính
8 Những đóng góp mới của luận án
8.1 Về lý luận
Luận án đã góp phần bổ sung thêm lý luận cho phân ngành TLH tư pháp vẫn còn non trẻ ở nước ta; bước đầu phân tích, làm rõ các khái niệm “mô hình nhân cách”, “mô hình nhân cách TP” và cấu trúc nhân cách TP trong HĐXX
8.2 Về mặt thực tiễn
Những nét, những mặt cơ bản trong nhân cách TP được nghiên cứu một cách có hệ thống, có cơ sở khoa học nhằm đánh giá thực trạng
đội ngũ TP Xây dựng mô hình nhân cách TP, chỉ ra được những tiêu chuẩn cũng như những tiêu chí cụ thể có thể định lượng hoặc đo lường
được trong nhân cách TP Từ đó góp phần bồi dưỡng, đào tạo, đạo tạo lại đội ngũ TP ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cải cách tư pháp hiện nay
9 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 185 trang Ngoài phần mở đầu, và kết luận, luận
án gồm 3 chương, 6 biểu đồ, sơ đồ; 36 bảng số liệu, 89 danh mục tài liệu tham khảo, 3 mẫu phiếu điều tra và lập sử lý số liệu trên phần mềm chuyên dụng SPSS phiên bản 11.0
chương 1 cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu
mô hình nhân cách TP trong HĐXX 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu nước ngoài
1.1.1.1 Những nghiên cứu về mô hình nhân cách nói chung Nếu tính từ Aristoteles với “cấp độ linh hồn” thì cho đến nay có rất nhiều cấu trúc nhân cách được xem xét trên các bình diện khác nhau W.Wundt khi nghiên cứu nhân cách đi theo nhân cách thức thực nghiệm của khoa học tự nhiên Nhân cách mất đi sự thống nhất và bị chia thành những bộ
Trang 74
phận riêng lẻ thoát ly khỏi những điều kiện, hoàn cảnh sống cụ thể, đa
dạng của nó Sang đầu thế kỷ XX có một loạt trường phái TLH ra đời,có
thể tồn tại một số khuynh hướng sau đây về nhân cách: Khuynh hướng
sinh vật hoá nhân cách mà đaị diện là một số tác giả Ernst Kretschmer,
W,H.Scheldon, S.Freud Theo xu hướng này có TLH hành vi mà người
sáng lập là Watson, và một số đại diện của nó là G.M.Mead,
E.RL.Thorndiker, E.C.Tolman, C.L.Hull, K.S.Lashley, E.G.Guthrie
Khuynh hướng xã hội hoá nhân cách mà đại diện là A.Adler, K.Horney,
G.Allport, H.Murray, G.H.Mead, C.Rozers, K.Lewin, E.Eromm Mỗi
tác giả đưa ra những lý giải khác nhau về nhân cách, nhưng đều nhấn
mạnh yếu tố xã hội trong việc hình thành nhân cách
Cũng trong thời kỳ này, TLH Mác xit và TLH xô viết trước đây
ra đời đại diện là một số tác giả sau đây: X.L.Rubinstein, B.G.Ananhiev,
K.K Platonov, A.G.Kovaliov, A.N.Lêonchiev
Trong thế kỷ XX, các nhà TLH phương Tây nghiên cứu về nhân
cách đã đưa ra các lý thuyết khác nhau Theo nhà TLH nhân cách
Burger (2000), có 6 cách tiếp cận như: Cách tiếp cận phân tâm, cách tiếp
cận nét nhân cách, cách tiếp cận sinh học, cách tiếp cận nhân văn hiện
sinh, cách tiếp cận hành vi/học tập xã hội, cách tiếp cận nhận thức Luận
án chỉ đi sâu phân tích các lý thuyết về nét nhân cách của một số tác giả
như: G.W.Allport, R.B.Cattell, Hans Eysenck, Costa và McCrae- là cơ
sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài này
Qua việc phân tích cho thấy, các lý thuyết về nhân cách có
nhiều ứng dụng cho việc nghiên cứu, chẩn đoán tâm lý con người Trong
đó cách tiếp cận của lý thuyết “Mô hình năm mặt lớn của nhân cách”
của Costa và McCrae có nhiều ưu thế trong nghiên cứu cấu trúc nhân
cách Mặt khác trắc nghiệm NEOPI- R lần đầu tiên được nhóm chuyên
giaTLH thích nghi hoá, chuẩn hoá để nghiên cứu tại Việt Nam Kế thừa
kết quả trên, luận án sử dụng trắc nghiệm này nghiên cứu nhân cách TP
để từ đó đưa ra những nhận định về những đặc điểm chung trong nhân
cách TP như những con người bình thường khác trong sự so sánh với kết
quả nghiên cứu 1000 lao động trẻ (công nhân, nông dân, trí thức, doanh
nhân) trong đề tài KX.05.07
Chính vì vậy, luận án sử dụng trắc nghiệm NEOPI- R của Costa
và McCrae là một trong các phương pháp để nghiên cứu các đặc điểm
chung trong nhân cách TP Ngoài ra luận án còn học tập phương pháp và
cách tiếp cận của Costa và McCrae trong xây dựng bảng hỏi để nghiên
cứu mô hình nhân cách TP trong HĐXX
1.1.1.2 Những nghiên cứu về mô hình nhân cách nghề nghiệp
21
tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính, còn các phương pháp khác có ý nghĩa bổ trợ, giải thích cho phương pháp chính đó
Qua phân tích thực trạng cho thấy TP có những đặc điểm chung thể hiện ở những điểm mạnh, điểm yếu như sau:
Điểm mạnh: Đại bộ phận TP giữ được sự cân bằng cần thiết trong xúc cảm, tình cảm; luôn bình tĩnh và có thể ứng phó hiệu quả với hầu hết các tình huống gây streess thường gặp trong cuộc sống Có một
bộ phận không nhỏ TP có lòng nhân hậu, tin tưởng người khác, thẳng thắn, chân tình, vị tha Đa số TP có ý thức hoàn thành công việc, có trách nhiệm với bổn phận của mình
Điểm yếu: Có những biểu hiện mất cân bằng về cảm xúc ở một
bộ phận TP, có chút lo lắng, trầm cảm cũng như cảm giác tự ti, mặc cảm Một bộ phận có xúc cảm tích cực không cao Có một bộ phận không nhỏ có tính nóng nảy, dễ cáu giận; chưa có tính ngăn nắp, trật tự
Ngoài những đặc điểm chung có ở TP còn có những nét, những mặt nhân cách phù hợp với đặc trưng của HĐXX; thể hiện ở những điểm mạnh, yếu cơ bản sau đây:
Điểm mạnh: Đội ngũ TP ở nước ta hiện nay, về cơ bản là những người có lý tưởng phấn đấu lành mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, bản lĩnh nghề nghiệp kiên định, có tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc,
có tính tích cực xã hội Phần lớn TP là những người tôn trọng và tuân thủ pháp luật; có lối sống trung thực, thẳng thắn, giản gị, tiết kiệm; trong công việc luôn rèn luyện mình thành người công bằng, vô tư, khách quan; thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng khi giải quyết công việc; thể hiện tác phong công nghiệp
Một bộ phận đáng kể TP là những người có năng lực xét xử, khả năng giải quyết vấn đề; biết thiết lập những mối quan hệ giao tiếp trong HĐXX; chú ý đến công tác giáo dục trong hoạt động nghề nghiệp, có ý thức tự học để nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ Hầu hết TP là những người xác định rõ mục đích và kế hoạch cho hoạt động nghề nghiệp của mình; biết tự chịu trách nhiệm cao với vụ án mà mình giải quyết, có ý thức tổ chức kỷ luật trong công việc Đa số TP là những người điềm tĩnh, làm chủ được tình cảm của mình khi tiếp xúc với
đương sự của vụ án; có khă năng đương đầu với hầu hết những khó khăn, bình tĩnh trong những tình huống bất ngờ…
Tuy nhiên, vẫn còn một số ít TP thiếu nhiệt tình và niềm tin vào
sự thắng lợi của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay; có cảm giác tự ty về
Trang 8Sơ đồ: 3.6: Mô hình nhân cách TP trong HĐXX
Ghi chú:
CT-TT: Mặt chính trị - tư tưởng
ĐĐ-LS: Mặt đạo đức - Lối sống
TYTLCBT: Mặt tự ý thức làm chủ bản thân
NLCM: Mặt năng lực chuyên môn
TTTT: Mặt trạng thái tinh thần
kết luận - kiến nghị
1 Kết luận
1.1 Tự việc khái quát lý luận về nhân cách theo hướng tiếp cận
nét nhân cách luận án đã nêu những khái niệm công cụ của đề tài như:
các khái niệm nhân cách, nét nhân cách, mô hình nhân cách, HĐXX,
mô hình nhân cách TP trong HĐXX
1.2 Để tiếp cận nghiên cứu mô hình nhân cách TP luận án sử dụng
phối hợp một hệ thống phương pháp khác nhau trong đó phương pháp điều
tytlcbt
-Tự ý thức trách nhiệm cá
nhân
- Tính kỷ luật
- Tính mục đích và kế hoạch
Đb - ls
- Tôn trọng, tuân thủ PL
- Công bằng, vô tư, kh
quan
- Trung thực, thẳng thắn
- Thận trọng, cân nhắc
- Tác phong công nghiệp
- Giản gị tiết kiệm
tttt
- ổn định về xúc cảm tình cảm
- Điềm tĩnh, cân bằng
- Bình tĩnh giải quyết khó kh
ct - tt
- Lý tưởng phấn đấu
- Bản lĩnh chính trị
- Bản lĩnh nghề nghiệp
- Yêu nước, tự hào dân
tộc
- Tính tích cực xã hội
Đb - ls
- Năng lực TH
- Năng lực GQVĐ
- Năng lực XX
- Năng lực GTTT
- Năng lực GDPL
Đã có các tác giả như A.V.Petrovski, V.L.Vaxiliev có những nghiên cứu khác nhau về cấu trúc nhân cách của người giáo viên, của
điều tra viên
1.1.1.3 Những nghiên cứu về mô hình nhân cách thẩm phán A.V.Đulôv trong cuốn “TLH pháp lý” đã khẳng định tầm quan trọng, vị trí của TP trong HĐXX Tác giả nêu những phẩm chất tâm lý của TP như: ý thức và tinh thần trách nhiệm cao trong hoạt động, ý thức pháp luật XHCN, khả năng thiết lập mối quan hệ tâm lý với những người tiến hành tố tụng ở trung Quốc, nghiên cứu nhân cách TP dưới góc độ nghiên cứu vấn đề đạo đức nghề nghiệp, trên cơ sở đó tháng 10/2001, TAND tối caoTrung Quốc đã ban hành “Bộ nguyên tắc đạo
đức nghề nghiệp” đối với các thành phố nhằm tăng cường kỷ cương của toà án và nâng cao tính công bằng trong HĐXX Các nhà nghiên cứu Mĩ
đã nghiên cứu và đề ra 7 tiêu chuẩn đạo đức của TP (giữ vững tính nhất quán và độc lập của tư pháp, phải tránh xa những gì không phù hợp và các biểu hiện không phù hợp trong tất cả mọi hoạt động phải hoàn thành các bổn phận của mình một cách vô tư và chuyên cần )
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Những nghiên cứu về mô hình nhân cách Các tác giả như Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Bùi Văn Huệ, Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ngọc Phú, Đỗ long, Lê
Đức Phúc, Nguyễn Ngọc Bích, MạcVăn Trang đã đề cập đến khái niệm, đặc điểm, cấu trúc nhân cách trong các công trình nghiên cứu khác nhau
1.1.2.2 Những nghiên cứu về mô hình nhân cách nghề nghiệp Nghiên cứu cấu trúc nhân cách nghề nghiệp, một số tác giả đề cập đến như; Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Bùi Văn Huệ, đã đề cập những phẩm chất nhân cách người thầy giáo; Nguyễn Ngọc Phú, nêu mô hình tổng thể các phẩm chất nhân cách người cán bộ, sỹ quan quân đội Mạc Văn Trang và các cộng sự đã xác định 8 phẩm chất tâm lý cơ bản của nghề y, 7 đặc điểm tâm lý phù hợp nghề khảm trai Nguyễn Bá Dương nghiên cứu những phẩm chất, các thuộc tính cơ bản của điều tra viên; tác giả Trương Quang Học nêu
ra 26 phẩm chất tâm lý cần có của cán bộ chính trị cấp phân đôi Quân
đôi nhân dân Việt Nam Đỗ văn Thọ nêu 22 phẩm chất tâm lý cơ bản để
đáp ứng yêu cầu của nghề cảnh sát hình sự
1.1.2.3 Những nghiên cứu về mô hình nhân cách thẩm phán
Trang 96
Nghiên cứu nhân cách TP được một số tác giả đề cập ở một vài
khía cạnh như Nguyễn Văn Hiển viết về “phẩm chất đạo đức của người
TP” Phan Hữu Thư trong nghiên cứu của mình có đề cập đến mối quan
hệ giữa văn hoá tư pháp với đạo đức nghề nghiệp của TP Lê Xuân Thân
nghiên cứu các yếu tố cơ bản tạo thành tư cách của người TP Trong
giáo trình TLH pháp lý các tác giả Nguyễn Hồi Loan và Đặng Thanh
Nga đã nêu 6 nhóm phẩm chất nhân cách TP
Tóm lại: Các nghiên cứu trên đây mới dừng lại ở mặt lý luận,
nghiên cứu những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, những phẩm chất
tâm lý,những yếu tố cơ bản tạo thành tư cách người TP chưa có sự kết
hợp với những trắc nghiệm mang tính khách quan, cũng như tính thực
nghiệm mang tính kiểm chứng về một nét nhân cách nào đó; chưa đưa
ra đồng bộ công cụ có thể đo lường được trong thực tế nên cần một quá
trình kiểm chứng và nghiên cứu tiếp theo để hình thành nên những lý
thuyết hoàn chỉnh
1.2 Mô hình nhân cách thẩm phán trong hoạt động xét xử
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm nhân cách
Có nhiều tác giả đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về nhân
cách tuỳ theo từng góc độ nghiên cứu: Các tác giả X.L.Rubinstein,
B.G.Ananiev, A.N.Leonchiev, K.K.Platonov đã đưa ra nhiều định nghĩa
khác nhau về nhân cách nhưng tựu chung lại họ đều coi nhân cách là
một phạm trù tâm lý- xã hội và có mối quan hệ với các đặc điểm tự
nhiên của con người, con người sinh ra chưa phải là nhân cách Các tác
giả như Thomae, Lersch, G.W.Allport, R.B.Cattell, L.A.Pervin nêu ra
những định nghĩa khác nhau, mỗi định nghĩa đều có những nét đặc
trưng riêng, nhưng tựu chung lại họ đều coi trọng các đặc điểm tâm lý
cá nhân
ở Việt Nam các tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, Trần
Trọng Thuỷ, Lê Đức Phúc, Đỗ Long, Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Quang
Uẩn, Đặng Xuân Hoài, Trần Hiệp, Vũ Dung đã đưa ra những định nghĩa
khác nhau về nhân cách
Các nhà TLH như Burger (2000); Schultz (2001) tập chung vào
các nét nhân cách như là đơn vị phân tích trong khi mô tả nhân cách;
các nét nhân cách là là những đặc trưng của cá nhân, có tính ổn định qua
thời gian và qua các tình huống
Luận án đồng tình với quan điểm trên và sử dụng khái niệm nhân
cách của Burger làm khái niệm công cụ để nghiên cứu đề tài này, bởi vì đây
19
nhau Mối tương quan của các "biến" đạo đức lối sống, năng lực chuyên môn, tự ý thức làm chủ bản thân với "biến" nhân cách tổng cao hơn so với các biến còn lại Trong đó: Mặt đạo đức lối sống giải thích cho 87,3% sự biến thiên của nhân cách tổng Mặt năng lực chuyên môn giải thích cho 85,6% sự biến thiên của nhân cách tổng Mặt tự ý thức làm chủ bản thân giải thích cho 73,8% sự biến thiên của nhân cách tổng; còn mặt chính trị tư tưởng con số này là 64,1%, mặt trạng thái tinh thần là 43,6%
Kết quả trên cho thấy, đạo đức lối sống, năng lực chuyên môn,
tự ý thức làm chủ bản thân có ảnh hưởng lớn nhất và giải thích nhiều nhất cho cấu trúc nhân cách TP trong HĐXX; các mặt còn lại là có ý thức cơ sở, nền tảng, điều kiện cho ba mặt trên
Tương tự như vậy, luận án đã sử dụng phép hồi quy tuyến tính tìm hiểu xem trong từng mặt cơ bản của nhân cách thì các nét nhân cách nào sẽ có ảnh hưởng lớn nhất và giải thích nhiều nhất cho mặt nhân cách đó
ở mặt đạo đức lối sống, các nét nhân cách như: Tôn trọng và tuân thủ pháp luật (Adjusted R Square=.776), công bằng vô tư khách quan (Adjusted R Square=.770) và trung thực thẳng thắn (Adjusted R Square=.684) có ảnh hưởng lớn nhất và giải thích nhiều nhất cho mặt này ở mặt năng lực chuyên môn, các nét nhân cách như: Năng lực tự học (Adjusted R Square=.862), năng lực giải quyết vấn đề (Adjusted R Square=.861) và năng lực xét xử (Adjusted R Square=.758) có ảnh hưởng lớn nhất và giải thích nhiều nhất cho mặt này ở mặt tự ý thức làm chủ bản thân , các nét nhân cách như: Tự ý thức trách nhiệm cá nhân (Adjusted R Square=.835), tính kỷ luật (Adjusted R Square=.813)
có ảnh hưởng lớn nhất và giải thích nhiều nhất cho mặt này Trong mặt chính trị tư tưởng, các nét nhân cách như: Lý tưởng phấn đấu (Adjusted
R Square=.862), bản lĩnh chính trị (Adjusted R Square=.861) và bản lĩnh nghề nghiệp (Adjusted R Square=.758) có ảnh hưởn lớn nhất và giải thích nhiều nhất cho mặt này ở mặt trạng thái tinh thần, các nét nhân cách như: Điềm tĩnh, cân bằng (Adjusted R Square=.735), ổn định về mặt xúc cảm, tình cảm (Adjusted R Square=.713) có ảnh hưởng lớn nhất
và giải thích nhiều nhất cho mặt này Tóm lại: Qua vịêc phân tích trên cho thấy, giữa các mặt cũng như các nét nhân cách đều có mối quan hệ biện chứng và ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau đến cấu trúc nhân cách cũng như đến từng mặt nhân cách Có ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau
đến cấu trúc nhân cách cũng như đến từng mặt nhân cách Có thể biểu diễn mối quan hệ đó bằng sơ đồ 3.6 sau đây:
Trang 102,3
1,5 2,2
1,4 2,2
1,2
1,4
1,6
1,8
2
2,2
2,4
TH HèNH SỰ TH DAN SỰ TH HÀNH CHÍNH
DC TN
Biểu đồ 3.5: So sánh điểm trung bình cộng nhóm TN trước và sau TN
3.3.3.3 Để tạo ra sự chuyển biến, nâng cao năng lực giải quyết
vấn đề của học viên các lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử cần có sự phối hợp
giữa giáo viên với học viên; sao cho tất cả học viên đều tham gia tích
cực vào những buổi học giải quyết tình huống cũng như diễn án
3.3.3.4 Kết quả thực nghiệm cũng cho phép kết luận: cách thức
tác động của chúng tôi nhằm huấn luyện phát triển năng lực giải quyết
tình huống có vấn đề là thích hợp, có thể áp dụng cho cac lớp đào tạo
nghiệp cụ xét xử ở các khoá tiếp theo
3.4 Xây dựng mô hình nhân cách thẩm phán
Luận án sử dụng phương pháp phân tích yếu tố để tính hệ số
tương quan giữa các mặt trong cấu trúc nhân cách cho thấy, giữa các
mặt có mối tương quan đáng kể r ≥ 409 Kết quả cho thấy mặt đạo
đức nối sống có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối mạnh nhất đến các
mặt nhân cách khác ; tiếp theo lần lượt là các mặt tự ý thức làm chủ bản
thân, năng lực chuyên môn, chính trị tư tưởng; mặt trạng thái tinh thần
có mối tương quan và chi phối đến các mặt khác ở mức độ thấp hơn
Luận án sử dụng phép hồi quy tuyến tính trên phần mềm chuyên
dụng SPSS phiên bản 11.0 để xem xét mối quan hệ giữa nhân cách
tổng(cấu trúc nhân cách) - biến độc lập với các mặt nhân cách - những
biến phụ thuộc; thiết lập ma trận tương quan giữa các chỉ báo của các
mặt trong nhân cách TP như chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống, năng
lực chuyên môn … với phép đo nhân cách tổng
Như vậy, năm mặt nhân cách của TP trong HĐXX đều có tương quan
tuyến tính với nhân cách tổng (Adjustd R Square≥ 436), mức độ có khác
là khái niệm đã có công cụ có thể đo lường được, có mô tả nhân cách về mặt cấu trúc cho nên phù hợp với hướng nghiên cứu của luận án Khi
nói về nhân cách tác giả cho rằng: “Nhân cách như là những mặt và
trong các mặt này chứa các nét nhân cách”
Để tiếp cận, nghiên cứu đề tài này luận án xuất phát từ quan
điểm cho rằng nhân cách được cấu trúc bởi các nét nhân cách ; hay nói
khác đi các nét nhân cách là đơn vị của nhân cách Mà theo Cattel:”Nét
nhân cách là những khuynh hướng đáp ứng của một người được đo băng phương pháp phân tích nhân tố, chúng là những bộ phận có tính bền vững của nhân cách”
1.2.1.2 Khái niệm mô hình và mô hình nhân cách thẩm phán
* Khái niệm mô hình: Các tác giả như, Hoàng Phê, Nguyễn Khắc Viện, Paul Albou, Lưu xuân Mới đưa ra những khái niệm khác
nhau về mô hình Từ những khái niệm đó luận án cho rằng: “Mô hình
nhân cách là hình thức diễn đạt ngắn gọn cấu trúc nhân cách bằng những mặt cơ bản trong nhân cách Những mặt này mang tính đặc trưng, tính ổn định tương đối và có mối quan hệ qua lại với nhau”
* Khái niệm mô hình nhân cách TP:
Để xây dựng mô hình lý thuyết, từ đó xác định khái niệm mô hình nhân cách TP trong HĐXX, chúng tôi tiến hành khảo sát hoạt động của toà án nói chung, TP nói riêng Trong quá trình gặp gỡ, trao đổi và phỏng vấn mở với các đồng chí Chánh án, phó Chánh án Chánh toà, phó Chánh toà, các TP lâu năm trong ngành, các chuyên viên và các nghiên cứu viên, các giảng viên về các mặt và các nét cơ bản trong nhân cách TP Chúng tôi đề nghị với các khách thể nêu trên (57 khách thể) liệt kê các mặt cơ bản trong nhân cách TP khi tham gia HĐXX, những mặt nào có trên 30% số khách thể nêu ra trong phiếu trả lời, được ghi nhận lại Từ đó chúng tôi phát phiếu phỏng vấn mở lần hai đề nghị các khách thể liệt kê các biểu hiện cụ thể trong từng mặt nhân cách mà họ
đã nêu
Trên cơ sở đó tổng kết, phát hiện và giả thiết trong HĐXX,
TP thường thể hiện những mặt cơ bản trong nhân cách như: Chính trị- tư tưởng, đạo đức - lối sống, năng lực chuyên môn, tự ý thức làm chủ bản thân và trạng thái tinh thần (những mặt này được trên 50% số khách thể lựa chọn) và liệt kê thành những nét nhân cách như: lý tưởng phấn đấu, bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp; tôn trọng và tuân thủ pháp luật, trung thực thẳng thắn, công bằng vô tư khách quan, năng lực xét xử, năng lực giải quyết vấn đề