Giá thành định mứcđược xác định dựa trên cơ sở các định mức kinh tế - kỹ thuật của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ...14 - Giá thành sản phẩm thực tế: Giá thành sản phẩm thực tế là g
Bản chất của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Dựa theo quan điểm của Mác bất kỳ hoạt động sản xuất nào để tiến hành thực hiện được đều phải kết hợp đủ ba yếu tố cơ bản đó là: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra sản phẩm, lao vụ và dịch vụ Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi phí tương ứng, đó là chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao động và chi phí về lao động sống Vấn đề của mọi doanh nghiệp để có thể tồn tại và phát triển đó là phải tối thiểu hóa chi phí và có lợi nhuận Để quản lý chi phí một cách có hiệu quả, chúng ta trước hết phải hiểu rõ bản chất của chi phí là gì? Làm thế nào để quản lý chi phí có hiệu quả nhất?
Trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp cần thiết phải quan tâm đúng mức tới chi phí và chi phí sản xuất bởi chi phí chính là giới hạn tối thiểu mà doanh nghiệp cần phải bù đắp để tránh lâm vào tình trạng phá sản, đồng thời nó cũng là căn cứ để doanh nghiệp có thể xác định giá bán sản phẩm có lợi nhuận Mặt khác, sau mỗi kỳ hoạt động doanh nghiệp nào cũng cần phải nắm được tổng chi phí mà mình đã bỏ ra là bao nhiêu? Nó được bù đắp như thế nào? Kết quả kinh doanh từ việc sản xuất sản phẩm ra sao? Như vậy chi phí và chi phí sản xuất là một vấn đề quan trọng và cần thiết trong quá trình quản lý Do đó, kế toán với tư cách là một công cụ quản lý của doanh nghiệp phải hạch toán và cung cấp đầy đủ thông tin về chi phí của doanh nghiệp nói chung và chi phí sản xuất nói riêng để phục vụ tốt nhất cho quá trình quản lý doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định
Như vậy bản chất chi phí sản xuất của doanh nghiệp là:
- Những phí tổn (hao phí) về các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
- Lượng chi phí phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí.
- Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh của doanh nghiệp phải được đo lường bằng thước đo tiền tệ và được xác định trong một khoảng thời gian nhất định.
Mặt khác, xét về thực chất, chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá thành nhất định, nó là vốn mà doanh nghiệp đã bỏ vào quá trình sản xuất Mục đích chủ yếu của việc xác định chi phí sản xuất chính là để xác định giá thành sản phẩm, một yêu cầu không thể thiếu trong doanh nghiệp sản xuất.
Giá thành sản xuất sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác tính cho một sản phẩm, lao vụ dịch vụ sản xuất hoàn thành
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan Giá thành phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao để sản xuất hoàn thành và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí Việc giới hạn chi phí tính vào giá thành sản phẩm còn phụ thuộc vào quan điểm tính toán xác định chi phí, cũng như quy định của chế độ quản lý kinh tế, chế độ kế toán hiện hành vì vậy giá thành sản xuất cũng mang tính chủ quan.
Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 8 1.1.3 Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, để thực hiện mục tiêu đó, một trong những biện pháp quan trọng là tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Để tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm thì doanh nghiệp cần nắm được nguồn gốc cũng như nội dung cấu thành nên giá thành sản phẩm để từ đó biết được nguyên nhân cơ bản, những nhân tố cụ thể làm tăng giá thành Trên cơ sở đó nhà quản trị mới đề ra được những biện pháp cần thiết để hạn chế những nhân tố tiêu cực, thúc đẩy khai thác những nhân tố tích cực Để từ đó không chỉ hạ giá thành của một đơn vị sản phẩm mà còn hạ giá thành của toàn bộ sản phẩm.
Kế toán là một công cụ quản lý đắc lực trong hoạt động quản lý doanh nghiệp và cụ thể, kế toán chi phí giá thành là công cụ chủ yếu trong quản lý chi phí, giá thành Vì thế yêu cầu chủ yếu đặt ra cho công tác kế toán hạch toán CPSX và GTSP là xác định đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp và thỏa mãn yêu cầu quản lý đặt ra Đồng thời vận dụng các phương pháp hạch toán chi phí hợp lý nhất, tổ chức hạch toán một cách logic, chính xác, đầy đủ và kịp thời.
Cụ thể, cần thực hiện tốt những yêu cầu sau:
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất ở từng bộ phận trong doanh nghiệp.
- Căn cứ vào đặc điểm, tình hình sản xuất của doanh nghiệp, đặc điểm sản xuất và quy trình công nghệ để xác đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành phù hợp.
- Tổ chức tập hợp, phân bổ từng loại CPSX theo đúng đối tượng đã xác định bằng phương pháp thích hợp để trên cơ sở đó tính giá thành thực tế cho từng đối tượng, từng đơn vị sản phẩm phẩm theo đúng quy định, đúng kỳ hạn, đúng phương pháp quy định và đảm bảo sự chính xác.
- Kiểm tra việc thực hiện định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, dự toán chi phí phục vụ quản lý sản xuất nhằm thúc đẩy việc sử dụng tiết kiệm và hợp lý mọi chi phí, phục vụ yêu cầu hạch toán doanh nghiệp.
- Định kỳ kiểm tra việc thực hiện kế hoạch GTSX và nhiệm vụ hạ giá thành sản phẩm hoặc chưa hoàn thành nhiệm vụ Những khả năng tiềm tàng có thể khai thác và phương hướng cần phấn đấu để không ngừng hạ giá thành trong doanh nghiệp một cách hợp lý.
- Xác định kết quả kinh tế ở từng bộ phận và toàn doanh nghiệp.
1.1.3 Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Việc tổ chức kiểm tra tính hợp lý của chi phí phát sinh tại doanh nghiệp,góp phần tăng cường quản lý chi phí một cách tiết kiệm, có hiệu quả Mặt khác tạo điều kiện phấn đấu hạ giá thành sản phẩm, đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo cho doanh nghiệp ưu thế cạnh tranh Giá thành sản phẩm còn là cơ sở để xác định giá bán sản phẩm hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí và xác định kết quả kinh doanh, cung cấp thông tin cho kế toán quản trị, phục vụ cho yêu cầu quản lý doanh nghiệp Vì những ý nghĩa trên mà kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là thực sự quan trọng và đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kế toán, quản lý doanh nghiệp.
Kế toán chi phí giá thành cần phải thực hiện với những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Trước hết cần nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối liên hệ với các bộ phận kế toán có liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chi phí là tiền đề cho kế toán chi phí và giá thành
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán, yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp.
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm của sản phẩm, khả năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định đối tượng tính giá thành phù hợp.
- Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm đối với từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt bộ phận kế toán các yếu tố chi phí.
- Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kế toán phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán để đảm bảo yêu cầu thu thập - xử lý - hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp một cách tốt nhất.
- Tổ chức lập và phân tích các báo cáo kế toán về chi phí, giá thành sản phẩm, cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm, giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp.
1.2 Nội dung của kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Phân loại chi phí sản xuất và phân loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiêp sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất 1.10 Phân loại CPSX theo nội dung tính chất kinh tế của
1.2.1.1.1 Phân loại CPSX theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí.
Theo cách phân loại này, người ta sắp xếp chi phí có cùng nội dung và tính chất kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào Cách phân loại này còn được gọi là phân loại chi phí theo yếu tố Theo chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam khi hạch toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp sản xuất các doanh nghiệp phải theo dõi được chi phí theo năm yếu tố:
- Chi phí nguyên liệu và vật liệu.
- Chi phí khấu hao máy móc thiết bị.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Chi phí bằng tiền khác.
Cách phân loại này cho biết nội dung, kết cấu tỷ trọng từng loại chi phí mà doanh ngiệp sử dụng trong quá trình sản xuất trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Đồng thời đây cũng là cơ sở để xây dựng các dự toán chi phí sản xuất, xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, xây dựng các kế hoạch về vật tư, lao động, tiền vốn…trong doanh nghiệp sản xuất.
1.2.1.1.2 Phân loại CPSX theo hoạt động và công dụng của chi phí.
Theo tiêu thức phân loại này, những chi phí sản xuất có chung công dụng được sắp xếp vào cùng một khoản mục mà không phân biệt tính chất kinh tế của nó Chi phí sản xuất được chia làm các loại (thường gọi là các khoản mục) sau đây:
- Chi phí NVLTT: Là toàn bộ các khoản chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, được sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm.
- Chi phí NCTT: Là các chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ, …trích theo tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí SXC: Là các khoản chi phí ngoại trừ chi phí NVLTT, NCTT đã kể trên như chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác, chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho sản xuất.
Phân loại theo tiêu thức này có tác dụng xác định được số chi phí đã bỏ ra cho từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc tính giá thành Nó phục vụ cho nhu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, là cơ sở để lập kế hoạch giá thành cho kỳ sau.
1.2.1.1.3 Phân loại CPSX theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí.
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành hai loại: Chi phí gián tiếp và chi phí trực tiếp.
- Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể qui nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí được mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát sinh, sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp Khi thực hiện phân bổ chi phí cho từng đối tượng, doanh nghiệp cần phải lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ cho từng đối tượng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn.
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí (như từng loại sản phẩm, công việc, hoạt động, đơn đặt hàng ) chúng có thể được quy nạp cho từng đối tượng chịu chi phí.
Cách phân loại này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật quy nạp chi phí vào đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Tuy nhiên, thông qua cách phân loại chi phí này các nhân viên kế toán quản trị có thể tư vấn để các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra và thực hiện một cơ cấu tổ chức sản xuất, kinh doanh hợp lý để đa số các khoản chi phí có thể qui nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí Từ đó giúp cho việc kiểm soát chi phí được thuận lợi hơn.
1.2.1.1.4 Phân loại CPSX kinh doanh theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh.
Chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành 2 loại: Chi phí cơ bản và chi phí sản xuất chung.
- Chi phí cơ bản: Là các chi phí có liên quan trực tiếp đến quy trình công nghệ sản xuất và chế tạo sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chí phí nhân công trực tiếp, chi phí công cụ dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng trực tiếp sản xuất sản phẩm…
- Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý sản xuất có tính chất chung như chi phí quản lý ở các phân xưởng sản xuất, chi phí quản lý doanh nghiệp.
Với cách phân loại chi phí này có thể giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xác định phương hướng tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
1.2.1.1.5 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động.
Theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động, chi phí được chia thành:
- Chi phí khả biến: Là những chi phí thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi mức hoạt động của doanh nghiệp Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất; số lượng sản phẩm tiêu thụ; số giờ máy hoạt động; doanh thu bán hàng thực hiện… Gồm có:
Biến phí không tỉ lệ trực tiếp
- Chi phí bất biến (định phí): Định phí là những chi phí mà xét về tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của đơn vị Nếu xét về tổng chi phí thì định phí không đổi Ngược lại, nếu xét về định phí trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Định phí có các hình thức:
Định phí không bắt buộc.
- Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố định phí và biến phí.
Việc phân loại chi phí theo cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế, xây dựng mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng lợi nhuận, xác định điểm hòa vốn cũng như ra các quyết định kinh doanh quan trọng Ngoài ra còn giúp xác định đúng đắn phương hướng nâng cao hiệu quả chi phí.
1.2.1.2 Phân loại giá thành sản xuất sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất.
1.2.1.2.1 Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành.
Giá thành được chia thành 3 loại:
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất trong doanh ngiệp sản xuất bao gồm nhiều nội dung công dụng khác nhau, phát sinh ở những thời điểm, địa điểm khác nhau theo các quy trình công nghệ sản xuất khác nhau Do đó chi phí sản xuất của doanh ngiệp phải được tập hợp theo yếu tố, khoản mục chi phí, theo những phạm vi giới hạn nhất định phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm. Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi, giới hạn mà chi phí sản xuất cần được tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát chi phí và giá thành sản phẩm Để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất cần phải dựa trên những căn cứ cơ bản sau:
Căn cứ tính chất sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
- Nếu doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình sản xuất.
- Nếu doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp:
Phức tạp kiểu chế biến liên tục: Đối tượng tập hợp chi phí có thể là sản phẩm cuối cùng hoạc có thể từng giai đoạn công nghệ.
Phức tạp kiểu chế biến song song: Đối tượng tập hợp chi phí có thể là từng sản phẩm hoặc từng bộ phận, chi tiết hoặc nhóm chi tiết cùng loại.
Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh ngiệp: Xem xét doanh nghiệp có tổ chức sản xuất thành phân xưởng hay không có phân xưởng Nếu doanh ngiệp tổ chức theo phân xưởng thì tập hợp chi phí sản xuất theo phân xưởng hoặc theo sản phẩm.
Căn cứ vào loại hình sản xuất sản phẩm: Các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tập hợp chi phí có thể là từng sản phẩm, từng công trình hoặc từng hạng mục công trình Các doanh ngiệp thuộc loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tượng tập hợp chi phí có thể là từng loại hàng hoặc từng đơn đặt hàng.
Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý của doanh ngiệp: Nếu trình độ hạch toán cao thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất càng cụ thể chi tiết hơn.
Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã quy định hợp lý có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm kịp thời, đúng đắn.
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng để tập hợp, phân loại các khoản chi phí phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định để mở sổ kế toán nhằm ghi chép, phản ánh các chi phí phát sinh theo đúng các đối tượng hoặc tính toán, phân bổ phần chi phí phát sinh cho các đối tượng đó Tùy thuộc vào khả năng quy nạp chi phí vào đối tượng tập hợp chi phí, kế toán sẽ áp dụng các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất thích hợp.
- Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp:
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các loại chi phí liên quan trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định Khi đó, chi phí sản xuất xác định được liên quan đến đối tượng nào thì được tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó.
- Phương pháp phân bổ gián tiếp:
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp chi phí gián tiếp, đó là các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp các chi phí cho từng đối tượng đó Để xác định chi phí cho từng đối tượng cụ thể phải lựa chọn các tiêu chuẩn hợp lý và tiến hành phân bổ cho từng đối tượng.
Việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng thường được tiến hành theo hai bước sau: Bước 1 : Xác định hệ số phân bổ theo công thức sau:
Trong đó H : Hệ số phân bổ chi phí
C : Tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng
T : Tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng phân bổ chi Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể:phí
Ci : Phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
Ti : Đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để phân bổ cho chi phí đối tượng i
Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các khoản chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ…sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế trong kỳ được xác định căn cứ vào các yếu tố sau:
- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các lao vụ dịch vụ trong kỳ.
- Trị giá nguyên vật liệu còn lại đầu kỳ ở các bộ phận, phân xưởng sản xuất.
- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp còn lại cuối kỳ ở các bộ phận, phân xưởng sản xuất được xác định dựa vào phiếu nhập kho nguyên vật liệu không sử dụng hết hoặc phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ ở các bộ phận, phân xưởng.
- Giá trị phế liệu thu hồi (nếu có)
Chi phí NVL trực tiếp trong kỳ được xác định theo công thức sau:
Trị giá NVL trực tiếp còn lại đầu kỳ
Trị giá trực tiếp NVL xuất dùng trong kỳ
Trị giá NVL trực tiếp còn lại cuối kỳ
Trị giá phế liệu thu hồi (Nếu có)
Trị giá trực tiếp NVL thực tế trong kỳ
Chứng từ sử dụng: Chứng từ sử dụng để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các phiếu xuất kho vật tư, bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ, các phiếu chi (nếu NVL mua ngoài về không nhập kho mà xuất dùng trực tiếp ngay cho sản xuất).
Tài khoản sử dụng: Kế toán chi phí NVL trực tiếp sử dụng
Tài khoản 1541- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Sơ đồ kế toán nguyên vât liệu trực tiếp
Xuất NL,VL,dụng cụ Nhập kho nguyên liệu
Chi phí dịch vụ mua Sản phẩm hoàn thành nhập và chi phí bằng tiền kho
Sản phẩm hoàn thành xuất bán ngay trong kỳ
Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí tiền lương được xác định cụ thể tùy thuộc vào hình thức trả lương sản phẩm hay lương thời gian mà doanh ngiệp áp dụng Trả cho công nhân sản xuất cũng như các đối tượng khác được thể hiện trên bảng tính và thanh toán lương, được tổng hợp và phân bổ cho các đối tượng kế toán chi phí sản xuất trên bảng phân bổ tiền lương Trên cơ sở đó các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN) tính vào chi phí nhân công trực tiếp được tính toán căn cứ vào số tiền lương công nhân sản xuất của từng đối tượng và tỷ lệ trích quy định theo quy chế tài chính hiện hành.
- Chứng từ sử dụng: Chứng từ để hạch toán chi phí nhân công trực tiêp là bảng thanh toán lương, bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội.
- Tài khoản sử dụng: Để kế toán chi phí nhân công trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản:Tk 1542- Chi phí nhân công trực tiếp
Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp:
Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất Chi phí sản xuất chung bao gồm: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
- Chứng từ sử dụng: Các bảng phân bổ như bảng phân bổ nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ, bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội, bảng tính và phân bổ khấu hao…
- Tài khoản sử dụng: Kế toán chi phí sản xuất chung sử dụng tài khoản TK1543- Chi phí sản xuất chung để phản ánh chi phí sản xuất chung trong kỳ.
Tiền lương bộ phận sản xuất
Trích trước tiền lương của công nhân nghỉ phép
Trích BHXH,BHYT,KPCĐ, BHTN
Kết chuyển vào giá thành sản phẩm
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất chung.
Đánh giá sản phẩm dở dang
Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp
Theo phương pháp này sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (chi phí NVL chính trực tiếp), chi phí gia công chế biến là chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính hết cho sản phẩm hoàn thành.
- Theo phương pháp bình quân
- Theo phương pháp nhập trước xuất trước:
D ck , D đk là chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ và đầu kỳ
C v : Chi phí phát sinh trong kỳ
Q ht : Khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
Q dck : Khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
Q dck : Khối lượng sản phẩm bắt đầu sản xuất hoàn thành trong kỳ
Trường hợp doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm phức tạp kiểu chế biến liên tục gồm nhiều giai đoạn công nghệ sản xuất kế tiếp nhau thì sản phẩm dở dang ở giai đoạn công nghệ đầu tiên tính theo chi phí NVL trực tiếp (Chi phí NVL chính trực tiếp), còn sản phẩm dở dang ở các giai đoạn sau được tính theo chi phí nửa thành phẩm của giai đoạn trước đó chuyển sang.
1.2.3.2.Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương.
Theo phương pháp này, trước hết cần căn cứ khối lượng sản phẩm dở dang và mức độ chế biến của chúng để quy đổi khối lượng sản phẩm dở dang về khối lượng hoàn thành tương đương Sau đó, tính toán xác định từng khoản mục chi phí cho sản phẩm dở dang như sau:
Theo phương pháp bình quân:
Theo phương pháp nhập trước xuất trước:
D ck , D đk : là chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ và đầu kỳ
C: Chi phí phát sinh trong kỳ
Q ht : Khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ
Q dck : Khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
Q dck : Khối lượng sản phẩm bắt đầu sản xuất hoàn thành trong kỳ m c , m d : Mức độ chế biến hoàn thành của sản phẩm dở đầu kỳ, cuối kỳ
Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức
Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức áp dụng thích hợp với hệ thống kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo định mức Trong hệ thống kế toán chi phí và giá thành theo chi phí thực tế, phương pháp này chỉ thích hợp với những sản phẩm đã xây dựng được định mức chi phí sản xuất hợp lý.
=CPSX của x x sản phẩm dở dang cuối kỳ giai đoạn i
Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ giai đoạn i
Mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang Định mức chi phí giai đoạn i
Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị Việc xác định đối tượng tính giá thành cần căn cứ vào:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất
- Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
- Yêu cầu quản lý và tính chất từng loại sản phẩm.
+ Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng sản phẩm được xác định là đối tượng tính giá thành.
+ Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì từng loại sản phẩm là một đối tượng tính giá thành.
+ Đối với quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì đối tượng tính giá thành sẽ là sản phẩm hoàn thành cuối cùng của quy trình công nghệ.
+ Đối với quy trình công nghệ sản xuất phức tạp thì đối tượng tính giá thành có thể là nửa thành phẩm ở từng giai đoạn và thành phẩm ở giai đoạn công nghệ cuối cùng và cũng có thể là từng bộ phận, từng chi tiết sản phẩm và sản phẩm đã lắp ráp hoàn thành.
Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là mốc thời gian mà bộ phận kế toán giá thành phải tổng hợp số liệu để tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành.
Căn cứ để xác định kỳ tính giá thành là:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm.
- Chu kỳ sản xuất sản phẩm.
- Yêu cầu của công tác quản lý ở từng doanh nghiệp.
Do đó mà kỳ tính giá thành rất khác nhau ở các doanh nghiệp, kỳ tính giá thành có thể là hàng tháng, hàng quý, hàng năm hay khi kết thúc chu kỳ sản xuất sản phẩm.
Các phương pháp tính giá thành
Phương pháp tính giá thành là một phương pháp hoặc hệ thống phương pháp được sử dụng để tính giá thành sản phẩm hoặc đơn vị sản phẩm, nó mang tính thuần túy kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành
Có 7 phương pháp tính giá thành sản phẩm:
- Phương pháp tính giá thành giản đơn.
- Phương pháp loại trừ chi phí sản xuất sản phẩm phụ.
- Phương pháp tính giá thành phân bước.
- Phương pháp tính giá thành theo công việc. Để tính giá thành sản phẩm có hiệu quả, kế toán sử dụng phương pháp tính giá thành phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp của mình
Trong phạm vi đề tài của mình, em xin trình bày một vài phương pháp tính giá thành trên.
Phương pháp tính giá thành giản đơn:
Căn cứ vào chi phí tập hợp được trong kỳ và căn cứ vào giá thành sản phẩm làm dở đâu kỳ, cuối kỳ ( nếu có ) để tính tổng giá thành sản phẩm hoàn thành theo công thức
Zsx : Tổng giá thành sản xuất thực tế của loại sản phẩm
Ddk, Dck: Chi phí SXDD đầu kỳ và cuối kỳ.
C : Chi phí sản xuất tập hợp được trong kỳ q: Khối lượng sản phẩm hoàn thành.
Giá thành đơn vị được tính : z Phương pháp tính giá thành phân bước:
Zsx q Điều kiện áp dụng:
Phương pháp này được áp dụng đối với những doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất kiểu chế biến liên tục, sản phẩm phải trải qua nhiều giai đoạn công nghệ. Kết thúc mỗi giai đoạn công nghệ, bán thành phẩm hoàn thành được chuyển sang chế biến ở giai đoạn công nghệ tiếp theo.
Phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm:
Áp dụng đối với những doanh ngiệp có yêu cầu hạch toán cao, có quy trình công nghệ phức tạp, nữa thành phẩm tự chế cũng là hàng hóa Phương pháp này cũng được áp dụng với doanh ngiệp mà nữa thành phẩm tự chế có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế quốc dân.
Trình tự tính giá thành:
Kế toán căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp theo từng phân xưởng, từng giai đoạn và khối lượng nửa thành phẩm (NTP) giai đoạn trước để tính giá thành sản phẩm và giá thành đơn vị của NTP giai đoạn trước Sau đó, kết chuyển chi phí của NTP giai đoạn trước sang giai đoạn sau cùng với chi phí giai đoạn sau bỏ thêm để tính giá thành NTP giai đoạn sau, từ đó tính ra giá thành đơn vị của NTP giai đoạn sau Cứ như vậy, đến bước công nghệ cuối cùng ra tính được giá thành sản phẩm và giá thành đơn vị của sản phẩm.
Việc kết chuyển chi phí của giai đoạn trước sang giai đoạn sau được tiến hành một cách liên tục, tuần tự nên phương pháp này còn gọi là phương pháp kết chuyển tuần tự.
Theo phương pháp này, giá thành NTP và giá thành đơn vị NTP ở từng giai đoạn được tính như sau: Ở giai đoạn 1: Z1 = DĐK1 + C1 – DCK1 Khi đó Ở giai đoạn 2: Z2 = Z1 + DĐK2 + C2 – DCK2 Khi đó
Tuần tự như vậy cho đến giai đoạn cuối cùng sẽ tính được giá thành thành phẩm z1 = Z1
ZTP = Zn-1 + DĐKn + Cn - DCKn Khi đó
- Việc kết chuyển chi phí từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau có thể được thực hiện tuần tự theo từng khoản mục chi phí hoặc thực hiện tuần tự tổng hợp chung cho tất cả các khoản chi phí.
Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm
Căn cứ vào số liệu CPSX đã tập hợp được ở từng giai đoạn sản xuất để tính toán phần CPSX của giai đoạn đó nằm trong giá thành của thành phẩm theo từng khoản mục chi phí Kết chuyển song song từng khoản mục chi phí của từng giai đoạn sản xuất riêng biệt nằm trong giá thành của thành phẩm để tổng hợp và tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị của thành phẩm.
Trong đó: CiTP: là chi phí sản xuất giai đoạn i tính trong giá thành thành phẩm
Ci: là chi phí sản xuất giai đoạn i
QTP: là khối lượng thành phẩm
+ Qi: Sản lượng sản phẩm giai đoạn i đầu tư chi phí
+ H: là tỷ lệ quy đổi thành phẩm
Tổng giá thành thì được tính theo công thức: ZTP =
Giá thành đơn vị được tính như sau:
Phương pháp tính giá thành theo công việc (ĐĐH) Điều kiện áp dụng: Đối với các doanh ngiệp sản xuất đơn chiếc, sản xuất từng mặt hàng riêng biệt hay sản xuất từng đơn đặt hàng. Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng Công tác tính giá thành là từng đơn đặt hàng hoàn thành Khi mỗi ĐĐH bắt đầu được sản xuất, kế toán mở cho ĐĐH đó một phiếu tính giá thành theo ĐĐH Khi ĐĐH còn trong quá trình sản xuất thì toàn bộ các chi phí được phản ánh trên phiếu tính giá thành là CPSXDD z = ZTP
QTP của ĐĐH đó, khi ĐĐH hoàn thành thì kế toán tổng hợp các chi phí đã phản ánh trên phiếu tính giá thành theo ĐĐH thành giá thành sản xuất thực tế của ĐĐH đó
Kế toán tổng hợp chi phí và tính giá thành
Trường hợp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Kế toán sử dụng tài khoản TK 154 - "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang" để tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp.
Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên. xuất thành phẩm,bán trao đổi k/c CPNVLTT xuất thành phẩm đem góp vốn
TK 711 k/c CPNCTT chênh lệch chênh lệch đánh đánh giá lại giá lại < giá trị
> GT ghi sổ ghi sổ k/c CPSXC TK 157 xuất thành phẩm gửi bán
Thành phẩm phát hiện thiếu khi kiểm kê
Trường hợp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
Phương pháp này khác với phương pháp kiểm kê thường xuyên là kế toán sử dụng tài khoản 631 để tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ k/c thành phầm tồn kho cuối kỳ k/c thành phầm
TK 1521 tồn kho cuối kỳ k/c CPNVLTT
Nhập kho trong kỳ kế toán
1.2.5 Tổ chức hệ thống sổ kế toán để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Tùy thuộc vào hình thức kế toán doanh nghiệp áp dụng mà các nghiệp vụ kế toán phát sinh liên quan đến kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được phản ánh trên các sổ kế toán sau:
Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán "Nhật Ký Chung" :
+ Sổ nhật ký chung, nhật ký đặc biệt.
+ Sổ kế toán tổng hợp các tài khoản TK 155, 1541,1542,1543,111,112…
+ Sổ kế toán chi tiết các tài khoản 154 (631), 1541,1542,1543…
Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán " Nhật ký _ sổ cái":
+ Sổ kế toán chi tiết các TK 155 (631), 1541,1542,1543…
Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán " Chứng từ ghi sổ":
+ Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
+ Sổ kế toán tổng hợp tài khoản 155 (631), 1541, 1542, 1543, 111, 112, 141, 152,
+ Sổ kế toán chi tiết các tài khoản 155 (631), 1541,1542,1543…
Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán " Nhật ký chứng từ":
+ Nhật ký chứng từ số 7
+ Các nhật ký chứng từ liên quan khác: NKCT số 1,2,4,5…
+ Sổ kế toán tổng hợp các tài khoản 155(631),1541, 1542, 1543,111,112, 141,
+ Sổ kế toán chi tiết các tài khoản 155(631), 1541,1542,1543…
Mỗi hình thức kế toán có đặc điểm riêng và phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau.
1.3 Tổ chức công tác kế toán chi phí và tính giá thành trong điều kiện sử dụng phần mềm kế toán.
Kế toán máy chỉ có hiệu quả khi sử dụng phần mềm thích hợp và dùng đúng phương pháp Người sử dụng cần nắm được các công việc khi sử dụng phần mềm: Cài đặt và khởi độngchương trình, xử lý nghiệp vụ, nhập dữ liệu, xử lý dữ liệu, xem/in sổ sách báo cáo.
1.3.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí NVL trực tiếp có thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí, vì vậy khi phát sinh phải chỉ ra đối tượng chi phí Kế toán chi phí NVL thường xuyên phải sử dụng đến chứng từ xuất vật liệu, thường thì người sử dụng chỉ cần nhập số lượng xuất là bao nhiêu còn trị giá xuất kho là do máy tự động tính theo công thức doanh nghiệp đã đặt ở hệ thống của chương trình.
Với nghiệp vụ xuất nguyên vật liệu cho sản xuất, thông tin cần khai báo đặc biệt chính xác để phục vụ cho tập hợp chi phí và tính giá thành gồm các yếu tố sau:
+ Loại chứng từ: phiếu xuất kho vật tư cho sản xuất
+ Bộ phận: (nếu muốn tập hợp chi phí theo bộ phận)
+ Khoản mục: chỉ ra NVL chính trực tiếp hoặc NVL phụ trực tiếp để tập hợp chi phí theo khoản mục
+ Hợp đồng: nếu sản xuất theo vụ việc (ĐĐH) để tập hợp trực tiếp
+ Phân xưởng: (chỉ ra địa điểm phát sinh chi phí, làm cơ sở lập báo cáo chi phí theo phân xưởng)
+ Nhập tên vật liệu và tên kho trong danh mục tương ứng và số lượng
+ Tài khoản: nhập Nợ TK1541/Có TK152 (có thể đặt ngầm định) Số tiền phát sinh không phải nhập do giá vốn tự động tính và đưa giá trị tính được vào bút toán.
1.3.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công có thể tập hợp trực tiếp hoặc phân bổ tuỳ theo phương thức tính lương của từng doanh nghiệp Phương thức tính lương được xây dựng tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp và tiện ích của phần mềm.
- Nhập dữ liệu: sau khi lập phương thức tính lương thì chỉ cần nhập một số mục như: ngày công, giờ công, lương cơ bản, máy sẽ tự động tính toán.
- Sổ sách báo cáo: với khoản chi phí nhân công yêu cầu kết xuất thông tin trên sổ sách, báo cáo như sau:
+ Bảng tính lương và các khoản trích theo lương.
+ Bảng phân bổ tiền lương.
+ Sổ chi tiết và sổ cái TK 1542
+ Sổ nhật ký, chứng từ ghi sổ,…
1.3.3 Kế toán chi phí sản xuất chung
Các khoản mục chi phí thuộc về chi phí sản xuất chung có liên quan trực tiếp đến các phân hệ nghiệp vụ khác Do vậy việc tập hợp chi phí sản xuất chung liên quan đến các phần hành kế toán khác do chương trình tự động kết chuyển và tập hợp dữ liệu từ các phân hệ khác như tiền mặt, vật tư, tài sản cố định… Khi tập hợp được chi phí sản xuất chung theo địa điểm hoặc các đối tượng tính giá thành thì chương trình cho phép kết chuyển trực tiếp hoặc phân bổ gián tiếp cho các đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức phân bổ đã xác định.
Sau khi xử lý nghiệp vụ liên quan đến chi phí sản xuất chung, có thể xem in báo cáo
- Bảng phân bổ chi phí sản xuất chung
- Sổ chi tiết và sổ cái TK1543
- Bảng kê tập hợp chi phí sản xuất chung
- Sổ nhật ký chung, chứng từ ghi sổ,…
1.3.4 Tập hợp chi phí sản xuất cuối kỳ
Khi thực hiện kết chuyển phải tuân thủ trình tự kết chuyển sau:
1 Kết chuyển các TK (1541, 1542, 1543) sang TK1155/TK631
2 Kết chuyển TK155/TK631 sang TK1542 đích danh: với các chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí và đã chỉ ra đối tượng chi phí khi nhập liệu
3 Kết chuyển TK154/TK631 sang TK155/TK1542 không đích danh: với các chi phí không chỉ ra trực tiếp đối tượng chịu chi phí khi nhập liệu.
1.3.5 Tính giá thành sản phẩm
Với doanh nghiệp có sản phẩm dở dang thì phải tiến hành kiểm kê đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ Công việc này kế toán phải xây dựng phương pháp, tính toán xác định chi phí sản xuất tính cho sản phẩm dở cuối kỳ dựa trên số lượng và mức độ sản xuất hoàn thành rồi nhập giá trị sản phẩm dở vào máy.
Thực hiện tính giá thành với phần mềm kế toán máy như sau:
+ Tập hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
+ Cập nhật sản phẩm làm dở đầu kỳ (máy tự động chuyển từ cuối kỳ trước)
+ Nhập số lượng từng thứ thành phẩm
+ Nhập giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
+ Tổng hợp số liệu, In báo cáo
1.4 Trình bày thông tin trên báo cáo tài chính:
Trên bảng cân đối kế toán
- Hàng quý doanh nghiệp phải lập Báo cáo tài chính (theo Biểu mẫu 01 và 09) và báo cáo kế toán quản trị (theo thông tư 53).
- Các khoản hàng tồn kho trên Báo cáo tài chính, được tổng hợp dựa trên số liệu trên các sổ cái tài khoản và thể hiện thông qua các chỉ tiêu:
- Trên phần Tài sản: A.IV.1 hàng tồn kho(mã 141) :tổng hợp số dư nợ của các TK 152 “nguyên liệu vật liệu”, TK 153 “công cụ dụng cụ”,
TK 154 chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”, TK 155 “thành phẩm”
- Chỉ tiêu B.I.2 giá trị hao mòn lũy (kế mã số 212): phản ánh toàn bộ giá trị đã hao mòn của các loại TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính lũy kế tại thời điểm báo cáo Số liệu này chỉ tiêu này được ghi bằng số âm dưới hình thức ghi trong ngoặc đơn ( )
Số liệu để ghi vào chi tiêu “giá trị hao mòn lũy kế” là số dư Có TK
2141, TK2142, TK 2143 trên sổ chi tiết TK 2141, TK 2142, TK 2143
Trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
- Chỉ tiêu A.4 giá vốn hàng bán (mã số 11) : chỉ tiêu này phản ánh tổng giá vốn của hàng hóa, BĐS đầu tư, giá thành sản xuất của thành phẩm đã bán, chi phí trực tiếp của khối lượng dịch vụ hoàn thành đã cung cấp, chi phí khác được tính vào giá vốn hoặc ghi giảm giá vốn hàng bán trong năm báo cáo Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là lũy kế số phát sinh bên Có của TK 632 “ giá vốn hàng bán” trong năm báo cáo đối ứng với bên nợ TK 911 “xác định kết quả kinh doanh” trên sổ cái hoặc nhật ký sổ cái. Điểm khác nhau trong hạch toán kế toán theo QĐ48/2006và theo QĐ15/2006
Việt Nam hiện nay các doanh ngiệp chủ yếu là các doanh ngiệp vừa và nhỏ.Vì vậy, trong hệ thống các chuẩn mực kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp hiện nay có hai hệ thống chuẩn mực kế toán mà các doanh nghiệp có thể áp dụng đó là Chuẩn mực kế toán theo QĐ15/2006/QĐ-BTC áp dụng cho tất cả các doanh ngiệp và QĐ48/2006/QĐ- BTC được ban hành dựa trên quyết định 15 bằng cách thu hẹp một số quy định để phù hợp với hạch toán kế toán trong các doanh ngiệp vừa và nhỏ Một số điểm khác nhau giữa QĐ48/2006 và QĐ15/2006 đó là: Về phần tập hợp chi phí xác định giá thành, theo quyết định QĐ48/2006 thì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung không được theo dõi riêng theo từng tài khoản tương ứng là TK621,622,627 như QĐ/2006 mà được theo dõi chung trên tài khoản TK154 nhưng được chi tiết theo tài khoản cấp hai tương ứng với từng đối tượng chi phí như sau: TK 154(1) - Chi phí nhân công trực tiếp 154(2) - Chi phí nhân công trực tiếp, 154(3) - Chi phí sản xuất chung Cuối kỳ, không cần kết chuyển chi phí mà chỉ cần tổng hợp chi phí từ các tài khoản chi tiết cấp hai để xác định chi phí sản xuất trong kỳ, phí sản xuất dở dang và từ đó xác định giá thành sản phẩm QĐ48/2006 đã rút gọn một số tài khoản và được chi tiết tùy theo yêu cầu quản lý của doanh ngiệp giúp cho việc đơn giản hơn trong hạch toán kế toán trong các doanh ngiệp vừa và nhỏ Việc hạch toán kế toán trong Công ty TNHH thương mại dịch vụ và xây dựng Đức Hà được áp dụng theo quyết định QĐ48/2006 vì vậy việc tập hợp chi phí và xác định giá thành cũng không ngoại lệ những theo quy định trên