V à càng ngày vấn đề TNSP càng được các nước nhất là các nước phát triởn quan tâm nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng tăng trách nhiệm của nhà sản xuất trong việc kiếm soát độ an toàn c
Trang 2ị
T R Ư Ờ N G ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
C H U Y Ê N N G À N H KINH DOANH QUỐC TẾ
BDCQGS
®Ể tài:
LUẬT TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ
VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG CÁC Nước PHÁT TRIỂN
Sinh viên thực hiện
Lớp
Khoa
Giáo viên hướng dẫn
Đặng Anh Đào Anh Ì
43 - QTKD
TS Tăng Văn Nghĩa
\ cMJ
Hà Nội - Tháng 06/2008
Trang 3L Ờ I C Ả M Ơ N
Khoa luận này được hoàn thành dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của TS Tăng Văn Nghĩa, giảng viên bộ môn Pháp luật kinh doanh quốc tế, khoa Quản trị kinh doanh, trường đại học Ngoại Thương Cùng với kiên thức chuyên môn sâu rộng và sự nhiệt tình, thỗy đã giúp tôi tìm hiểu sâu sắc về lĩnh vực mình nghiên cứu và kiên tri giúp tôi hoàn thành khoa luận này Em xin chân thành cảm ơn thỗy
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thỗy cô giáo trường đại học Ngoại Thương đã dạy dỗ em kiến thức, cách nghiên cứu giúp em có thể hiểu và xử lý
đề tài với khả năng của mình
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn các cán bộ thư viện, các cán bộ chuyên môn trong ngành và các bạn cùng khoa đã giúp tôi thu nhập tài liệu để hoàn thành khoa luận này
Hà Nội, tháng 6 /2008
Sinh viên
Đặng Anh Đào
Trang 4li Khái quát về pháp Luật trách nhiệm sỮn phàm 6
1 Những nguyên tắc cơ bản cùa Luật TNSP ố
b Nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà sản xuất 16
c Hậu quả pháp lý do vi phạm Luật TNSP 20
d Giải quyết tranh chấp liên quan đến TNSP 21
e Cơ quan thực thi Luật TNSP 25
C H Ư Ơ N G li: NHỮNG VẤN Đ È ĐẶT RA TRONG KINH TRONG KINH
DOANH QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN T R Á C H NHIỆM SẢN P H À M 30
ì Tổng quan 30
li Những hậu quỮ do vi phạm TNSP trong thực tiễn kinh doanh quốc
1 Vụ đồ chơi của Matteỉ 32
a Giới thiệu sơ lược về tập đoàn Mattel: 32
b Đ ồ chơi của Mattel có vấn đề 32
c Trách nhiệm thuộc về ai? 33
d Hậu quả 34
Trang 5e Vấn đề TNSP trong kinh doanh quốc tế qua "vụ đồ chơi Mattel": 35
2 Cơn lốc thu hồi pin của Matsushita Electric 36
a Sơ lược về hãng Matsushita Electric Industrial: 36
b Khuyết tật của Pin dẫn đến thu hồi 37
c Trách nhiệm sản phẩm thuộc về ai? 37
d Hậu quà 38
e Vấn đề TNSP trong KDQT rút ra từ vụ việc thu hồi pin của hãng
Matshusita 38
3 Bài học rút ra 39
IU vấn đề đòi bồi thường thiệt hại về TNSP không thoa đáng 40
Ì, Vụ Me Donald - Điển hình cho vấn đề đồi bồi thường thiệt hại
không thoa đáng 41
a Hồ sơ vụ kiện 41
b Tiến trình giải quyết vụ việc 41
c Các chứng cứ được đưa ra chống lại Me Donand 42
d Vấn đề bồi thướng thiệt hại không thoa đáng về TNSP rút ra trong kinh
doanh quốc tế qua vụ MC Donald: 45
2 Vấn đề đòi bồi thường thiệt hại không thoa đáng do vi phạm TNSP45
IV Tình hình xuất khấu của Việt Nam sang các nước phát triển dưới
/ Thực trạng của một số ngành xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang
các nước phát triển dưới tác động của các quy định về Luật TNSP 48
2 Nhảng khó khăn liên (ỊUảỉí đèn TNSP mà các DNVN gàp phải khi
xuất khẩu vào thị trường các nước phát triển 57
a Nhểng khó khăn của các D N V N khi xuất khấu thúy sản vào thị trường
Trang 6/ Xu hướng gia tăng các vụ kiện về TNSP: 69
2 Xu hưởng hợp tác nhằm nâng cao khả năng thực thi Luật TNSPgiữa
các quốc gia 70
3 Xu hướng "xử án " bới các phương tiện truyền thông: 71
l i Các giải pháp cụ thể đối với việc xuất khẩu vào thị trường các nươc
phát triển 72
1 Giải pháp mang tinh vĩ mô 72
a Xây dựng Luật về TNSP tại V N và nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về chất lượng sản phẩm 72
b Hỗ trợ các D N trong việc đáp ứng các quy định vê TNSP 77
c Các giải pháp khác 79
2 Giải pháp đối với các doanh nghiệp xuất khẩu 81
a về quản trị TNSP trong kinh doanh quốc tế 81
b Nghiên cứu kỹ về hệ thống pháp luật và các quy định liên quan
c.v ề soạn thảo hợp đồng kinh doanh quốc tế 85
d Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giải quyết
e Các giải pháp khác 88
K É T L U Ậ N 90 TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O 92
Trang 7DANH MỤC CỤM TỪ VIÉT TẮT
Ký hiệu Tiêng Anh Tiêng Việt
AU American Law Ịnstitue Viện luật Mỹ
CE European Conformity Nhãn hiệu CE
CPSC Consumer Product Safety
EU European Union Liên minh Châu Âu
EPCA Environmental Pesticide Control
nguy hiếm FDCA Food, Drug and Cosmetìc Act Đạo luật thực phàm, dược
phẩm và mỹ phẩm FFA Flammable Fabric Act Luật vê vải dê cháy
FDA Food and Drug Administration Cơ quan quản lý dược và thực
phẩm FTC Federal Trade Commission Uy ban thương mại Hên bang GPSD General Product Safety Directive Chỉ thị chung về độ an toàn
sản phẩm HRSA Household Re/regerator Safety Act
đình NHTSA National Highway Trạffìc Safety Cơ quan quán lý an toàn giao
Trang 8Administration thông quác gia
RAPEX Rapìd Alert System Hệ thống cảnh báo nhanh RASFF Rapid Alert System for Food and
Feed
Hệ thống cảnh báo nhanh vê thực phẩm và thức ăn gia súc OEM Orìginal Equipment Manufacturer Uy thác gia cóng
OECD Organisation for Economic
Co-operation and Development
Tồ chức Hợp tác và Phát triền kinh tể
PPPA Poison Prevention Packaging Act Luật vê đóng gói phòng ngộ
độc WTO World Trade Organization To chức thương mại thế giới TNSP Product Liability Trách nhiệm sản phàm
Luật
TNSP
Product Liability Law Luật trách nhiệm sàn phàm
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề trách nhiệm sản phẩm (TNSP) xuất hiện ờ M ỹ từ đầu những năm
1960 và sau đó du nhập vào khối EU với thuật ngữ "trách nhiệm tuyệt đối" Cho đến ngày nay, các khái niệm Luật TNSP hay các quy định về một sản phẩm an toàn trong sử dụng đã phát triởn mạnh mẽ và phổ biến không những chi ở Mỹ, Liên minh Châu  u m à còn ở rất nhiều các quốc gia khác trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc V à càng ngày vấn đề TNSP càng được các nước nhất là các nước phát triởn quan tâm nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng tăng trách nhiệm của nhà sản xuất trong việc kiếm soát độ an toàn của sản phẩm khi đưa vào sử dụng Nhà sản xuất, nhà phân phối hay nhà xuất khẩu nếu vi phạm các quy định của Luật TNSP thì sẽ phải hứng chịu những hậu quả rất nặng nề như thu hồi toàn bộ hàng hoa, đền bù thiệt hại và đặc biệt là người tiêu dùng sẽ mất lòng tin đối với sản phẩm của doanh nghiệp và một khi doanh nghiệp đã có những tiền lệ bị kiện cáo liên quan đến TNSP thỉ khó m à có thế được chấp nhận ở những thị trường này nữa Qua sự kiện chính thức là thành viên của WTO Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới, một kỷ nguyên mới với nhiều cơ hội và thách thức Với các doanh nghiệp đó chính là cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế rộng lớn với hơn
148 thành viên và vị thế thị trường tương đương với tất cả các quốc gia đó Tuy nhiên đi đôi với cơ hội là thách thức Các doanh nghiệp Việt Nam cần hiêu sâu sắc và tuân thủ nghiêm ngặt các quy chế trong kinh doanh quốc tế như tiêu chuân chát lượng, vệ sinh an toàn thực phàm, trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất, nhà xuất khấu, vấn đề đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng Các nước càng phát triởn và thị trường càng hấp dẫn thì họ càng quan tầm đến các vấn đề nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và bản thân người tiêu dùng
ở những thị trường phát triên đó cũng rát kỹ tính và khắt khe trong việc lựa chọn sản phẩm
Trang 10Xuất phát từ các lý do trên em đã chọn vấn đề "Luật TNSP trong kinh doanh quốc tế và giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường các nước phát triển" làm đề tài khoa luận của mình
M ụ c đích nghiên cứu
Khoa luận nghiên cứu kỹ về Luật TNSP ở một số nước phát triển như:
Mỹ, Nhật, EU và đề cập đến một số vụ kiện cũng như các rủi ro liên quan đến Luật TNSP trong kinh doanh quốc tế Đồng thời khoa luận cũng tập trung phân tích tình hình xuất khảu của Việt Nam sang các nước phát triển dưới tác động của các quy định về TNSP và những khó khăn của các D N V N khi xuất khảu vào thị trường các nước phát triển Trên cơ sờ những nghiên cứu đó, khoa luận đề xuất một số giải pháp đối với các D N V N cũng như đối với chính sách thương mại của Nhà nước nhằm giúp các D N V N có thể đáp ứng tốt hơn những yêu cầu khắc khe về TNSP của các nước phát triển
Phương pháp nghiên cứu của khoa luận:
Khoa luận sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích, kết hợp giữa các kết quả thống kê và vận dụng lý luận để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
Đ ố i tượng nghiên cứu của khoa luận
Đối tượng nghiên cứu của khoa luận là Luật TNSP ờ một số nước phát triển như: Mỹ, Nhật, EU và tình hình xuất khảu của Việt Nam sang các nước phát triển dưới tác động của Luật TNSP
Phạm v i nghiên cứu của khoa luận
Phạm v i nghiên cứu của khoa luận là pháp luật trách nhiệm sán phảm ờ một số nước phát triển và những vấn đề có liên quan đến hàng hoa của Việt Nam xuất khấu sang thị trường các nước phát triển
Ngoài lời mờ đầu, kết luận và các phụ lục, khoa luận được chia làm
3 chương
• Chương ì : Tổng quan về Luật TNSP
• Chương li: Thực tiễn áp dụng Luật TNSP trong kinh doanh quốc tế
• Chương IU: Giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khảu vào thị trường các nước phát triển
2
Trang 11Đây là một đê tài có tính mới mẻ cả về lý luận cũng như thực tiễn, đông thời do kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên khoa luận của em không thể tránh khói những thiếu sót cả về nội dung và hình thức Em rất mong nhận
đến vấn đề này để khoa luận nghiên cứu được hoàn chình hơn
3
Trang 12C H Ư Ơ N G 1: TỎNG QUAN VÈ PHÁP LUẬT TRÁCH NHIỆM
SẢN PHẨM
Trách nhiệm sản phẩm (TNSP) là một vấn đề được các nước (nhất là các nước phát triển) quan tâm đặc biệt nhằm bào vệ quyền lợi của khách hàng và tăng trách nhiệm của nhà sản xuất trong việc đưa sản phẩm của mình vào lưu thông trên thị trường Theo đó, TNSP là khái niệm dùng để chỉ trách nhiệm của nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ (kể cả nhà xuất khẩu) liên quan đến việc bồi thường thiệt hụi về tài sản, tính mụng hoặc sức khoe khi sản phấm có khuyết tật Khuyết tật của sản phẩm gây thiệt hụi hoặc nguy hiềm cho người tiêu dùng là nguyên nhân cùa các vụ kiện về TNSP Nhà sản xuất sẽ phải chịu trách nhiệm về những chi phí do tổn hụi về tài sàn hoặc sức khoe khi sản phẩm
m à anh ta cung cấp gây ra (không chì cho người sử dụng m à còn cả những người thứ ba có liên quan) Đ ể có cơ sờ pháp lý cho việc quy kết trách nhiệm bôi thường thiệt hụi đối với nhà sản xuất, nhiều nước đã ban hành Luật về
TNSP
ì Lịch sử phát triển Luật TNSP
Luật TNSP xuất hiện đầu tiên tụi Hoa Kỳ, tiền thân cùa Luật TNSP M ỹ chính là mục 402A trong đụo luật "Restatement o f Torts" được Viện Luật M ỹ
(American Law Institue) ban hành năm 1965 (bản sửa đổi lần thứ ĩ) Đáng chú
ý trong đụo luật này là mục 402 A đã đưa ra định nghĩa và những quy định về trách nhiệm đối với những sản phẩm có khuyết tật Cụ thể là nhà sàn xuất nhà phân phối hay người bán lẻ bán bất kỳ sản phẩm nào trong tình trụng có khuyết tật có thể gây nguy hiểm cao cho người sử dụng, cho khách hàng hoặc cho tài sản của họ sẽ phải chịu trách nhiệm Vào thời điểm đó hầu hết các bang của
Mỹ đều áp dụng mục 402 A của đụo luật này cùng với luật riêng của bang mình để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Trong nhiều năm Luật TNSP cùng với mục 402 A này đã được phát triển và tinh lọc rất nhiều lần Nhưng
4
Trang 13như một tất yếu khách quan của sự phát triển, nhiều người cho rằng mục 402 A của đạo luật " Restatement of Torts" đã không còn phù hợp với thời đại nữa Hơn nữa, bàn thân các khái niệm được nêu ra trong đó còn tồn tại nhiều mâu thuẫn gây ra những hạn chế nhất đửnh trong việc phát triển Luật TNSP nói chung và trong việc thực thi mục 402 A nói riêng
Chính vì những lý do trên m à A L I đã quyết đửnh cần phải sửa đổi những vấn đề liên quan đến TNSP trong đạo luật "Restatement of Torts" D ự án này
đã hoàn thành năm 1997 sau khi được các thành viên của A L I phê chuẩn về
bản sửa đối lần thứ ba của đạo luật "Restatement of Torts": Luật trách nhiệm
sàn phẩm ra đời
Đến năm 1985, Khái niệm TNSP đã du nhập vào khối EU với thuật ngữ
"trách nhiệm tuyệt đối" Thời gian này Nghử viện E U đã ban hành một chỉ thử
về TNSP trong đó nêu rõ: Nhà sản xuất phải chửu trách nhiệm về những thiệt hại xảy ra do khuyêt tật của sản phàm Thuật ngữ nhà sàn xuất ờ đây bao gồm những nhà sản xuất ra sản phẩm,nhà cung cấp linh kiện, nhà nhập khẩu và bất
kỳ ai sử dụng nhãn hiệu thương mại của sản phẩm đó M ộ t sán phẩm được cho
là có khuyết tật khi nó không đảm bảo độ an toàn một cách hợp lý Vài năm sau đó, những vụ kiện liên quan đến TNSP tại EU tăng vọt khiến cho Nghử viện EU đã phải xem xét và xây dựng một khung pháp luật hoàn chình hơn về các vấn đề liên quan đến TNSP Kết quả là đến năm 1992, chì thử chung về độ
an toàn sản phàm ra đời ( General Product Safety Directive ) , sửa đối bổ sung vào năm 2001 và hoàn thiện vào năm 2004 đưa ra những tiêu chuẩn về một sản phẩm như thế nào được coi là an toàn cho người sử dụng trong khối EU Phạm
vi và yêu cầu của chỉ thử bao trùm lên tất cả sản phẩm và những thành tố có liên quan m à trước đó chưa được điều chỉnh trong hệ thống luật pháp cùa EU Trước đây ở Nhật cũng như ờ các nước Châu Á khác, vấn đề TNSP cũng chỉ xuất hiện trong luật dân sự dưới một điều khoản quy đửnh người có hành v i gây thiệt hại phải bồi thường cho người khác Và điều khoản đó chính
5
Trang 14là cơ sở pháp lý để giải quyết mọi khiếu kiện về thiệt hại của người tiêu dùng khi sử dụng sản phàm Tuy nhiên với sự gia tăng không ngừng của sản xuât hàng hoa với quy m ô lớn, tự do hoa thương mại ngày càng cao thì việc xây dựng riêng một bộ luật TNSP để kiểm soát về chất lưững hàng hoa, bảo vệ người tiêu dùng và nâng cao trách nhiệm của nhà sản xuất là một nhu cầu có tính khách quan của nền kinh tế thị trường Chính vì vậy những năm cuối thế
kỷ 20, đầu thế kỷ 21, đa số các nước Châu Á - Thái Bình Dương như : úc, Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc, Đài Loan, Â n Đ ộ , Singapore đã tiếp thu khái niệm TNSP và xây dựng Luật riêng cùa mình trên cơ sờ chỉ thị chung
về độ an toàn sản phàm của EU
Càng ngày Luật TNSP càng trở lên phổ biến và thể hiện vai trò không thể thiếu đưữc của mình trong nền kinh tế thị trường có tính toàn cầu hoa hiện nay Đ ó là lý do m à sau đây em xin giới thiệu cụ thể hơn về những khái niệm cũng như những nội dung chủ yếu của Luật TNSP ờ một số nước phát triển như: Mỹ, Nhật, khối liên minh EU để thấy đưữc Luật TNSP đã bảo vệ quyền lữi chính đáng của người tiêu dùng như thế nào và góp phần tạo ra một
cơ chế sàn xuất hàng hoa an toàn lành mạnh ra sao
li Khái quát về pháp L u ậ t trách nhiệm sản phẩm
1 Những nguyên tắc cơ bản của Luật TNSP
a Khái niệm về sán phàm và TNSP
• Khái niệm TNSP
Trách nhiệm sản phẩm (product liability) là khái niệm dùng để chi trách nhiệm của nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ (kể cà người xuất khâu) liên quan đến việc bồi thường thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khoe khi sản phẩm có khuyết tật Khuyết tật của sản phẩm gây thiệt hại cho người tiêu dùng
là nguyên nhân của các vụ kiện về TNSP Nhà sản xuất sẽ phải chịu trách nhiệm về những chi phí do tổn hại về tài sản hoặc sức khoe khi sản phẩm m à
Trang 15anh ta cung cấp gây ra (không chỉ cho người sử dụng m à cả những người có liên quan)
• Khái niệm sản phàm
Theo Luật TNSP của M ỹ thì sản phẩm là một thuật ngữ khá rộng từ đồ
ăn, đồ gia dụng, dụng cụ làm bếp cho đến máy bay, vật liệu xây dựng và các máy móc công nghiệp khác Tuy nhiên ngày nay, thuật ngữ sản phẩm không chỉ bó hốp ở bản thân sản phẩm ấy m à ở đây nó còn để chỉ tất cả những yếu tố
có liên quan tác động đến nhận thức của khách hàng về sản phẩm hoặc các yếu
tố tạo nên sự an toàn của sản phẩm Ví dụ: Khi người bán hàng bán sản phẩm cho khách hàng, họ có nhiệm vụ hướng dẫn khách hàng sử dụng sản phẩm một cách an toàn và hiệu quả Thường thì thông tin chỉ dẫn sẽ được in vào một cuốn sách nhỏ và đính kèm theo sản phẩm Nếu thông tin được cung cấp trên
tờ hướng dẫn đó quá sơ sài và gây thiệt hại cho khách hàng thì người bán phải chịu trách nhiệm với những thiệt hại đó Sách hướng dẫn trong ví dụ này là một chúc nàng của sàn phẩm, và nó cũng được luật trách nhiệm sản phẩm điều chỉnh Tương tự như vậy, các thông tin quảng cáo, khuyến mại, các tờ rơi cũng là một bộ phận cấu thành sản phẩm và cũng chịu sự điều chỉnh của luật trách nhiệm sản phẩm
Theo luật của Nhật thì thuật ngữ sản phẩm được hiểu đơn giản là tài sản được sản xuât hoặc chế biến có thê di chuyến được N h ư vậy các sản phẩm như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và khoáng sản m à không được chế biến thi không phải là đối tượng điều chỉnh của Luật TNSP
Còn ờ khối liên minh EU, phần lớn các mặt hàng tiêu dùng đều được điều chỉnh bời các chỉ thị riêng, ví dụ như: chỉ thị về đồ chơi, chỉ thị về thiết bị
y học, chỉ thị về các thiết bị thúy lực và khoảng 20 chỉ thị được đánh số khác điều chỉnh các sản phẩm tiêu dùng Trong hệ thống luật chung của EU còn có các chi thị để điều chỉnh về các hoa chất nguy hiểm sử dụng trong các ngành công nghiệp dệt may, thuộc da Tuy nhiên vẫn còn những sản phẩm và
7
Trang 16những yếu tố có liên quan của sản phẩm đó chưa được điều chỉnh bời bát kỳ một chỉ thị chung nào của EU cả đó là lý do m à khối EU xây dựng GPSD Những sản phẩm tiêu dùng chịu sự điều chỉnh của GPSD như: thang, dụng cụ làm vườn, nguyên liệu cho ngành dệt may và những vật dụng để chăm sóc trấ
em hay các thiết bị đồ chơi khác
b Phạm vi điều chỉnh
Theo nguyên tắc trách nhiệm tuyệt đối thì nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lấ có thế phải chịu trách nhiệm đối với những thương tật do khuyết tật của hàng hoa gây ra, bất kể đã áp dụng các biện pháp đề phòng
c Đối tượng áp dụng
Luật TNSP điều chỉnh những đối tượng sau:
- Người chịu trách nhiệm về khuyết tật của sản phẩm trước hết là người sản xuất và chế biến nguyên liệu thô, người sản xuất bán thành phẩm và bất kỳ người nào sử dụng tên thương mại của sản phẩm đó
- Nhà phân phối, bán lấ (hệ thống phân phối) phải chịu trách nhiệm với những thiệt hại do khuyêt tật của hàng hoa gây ra cho người sử dụng hoặc những người ở gần sản phẩm đó
- Công ty nước ngoài có thể phải chịu sự phán quyết của thẩm phán của các nước nhập khâu về trách nhiệm sản phẩm ngay cả khi công ty đó rất ít làm
ăn trực tiếp tại nước đó Ví dụ, một công ty nước ngoài mặc dù không hề có mối liên hệ trực tiếp với nhập khẩu, song nếu chi nhánh của nó phân phối các sản phẩm có khuyết tật tại nước ấy thì công ty đó vẫn có thể phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật
Trang 17Ở M ỹ đó chính là sự xung đột giữa luật liên bang và các quy định dưới luật về độ an toàn của sản phẩm được thiết lập so với luật trách nhiệm sản phẩm chung Bời vậy các nhà sản xuất các sản phẩm phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn về sự an toàn của sản phẩm của bang thường xuyên phàn nàn rằng
hầ không thể đáp ứng được các yêu cầu của luật trách nhiệm sản phẩm Đ ế hiểu rõ hơn vấn đề xung đột luật này chúng ta cần có một số hiểu biết nhất định về các luật liên bang của Mỹ Mỹ là nước có rất nhiều bang nhỏ và trong
sô đó có rất nhiều bang cũng ban hành các đạo luật riêng bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Ví dụ như các luật liên bang thuộc thẩm quyền thực thi của CPSA thì có: Luật an toàn sản phẩm tiêu dùng ( Consumer product safety Act) , luật liên bang về các chất nguy hiểm ( Federal Hazadous Substainces Act), luật về vải dễ cháy ( Flammable Fabric A c t ) , Luật về an toàn tủ lạnh gia đình ( Household reíregerator safety Act ), luật về đóng gói phòng ngộ độc (Poison prevention packaging A c t )
• Uy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng Hoa Kỳ (CPSC) là một cơ quan
liên bang độc lập được thành lập theo Luật A n toàn Sản phẩm Tiêu dùng (CPSA) có trách nhiệm "bảo vệ công chúng tránh nguy cơ bị thương hay tử vong liên quan đến các sản phẩm tiêu dùng" C ơ quan này chịu trách nhiệm quản lý hơn 15 ngàn loại sản phẩm.1
• Cơ quan quản lý dược và thực phàm (FDA) và các luật liên bang thuộc
thẩm quyền quản lý của cơ quan này như: Luật về thực phẩm, dược phẩm mỹ phẩm , luật về chống khủng bố sinh hầc Cơ quan này có nhiệm vụ bảo đảm thực phẩm an toàn và không có độc tố, mỹ phẩm không gây hại, thuốc men các thiết bị y tế, và các sản phẩm tiêu dùng có phát phóng xạ (như lò v i sóng)
an toàn và hiệu quả C ơ quan này cũng kiểm tra thức ăn cho các vật nuôi trong gia đình và tại các nông trường và quy định các loại dược phẩm dùng cho các
1 Danh mục các sàn phẩm này có thể tim thấy trên trang web cùa C P S C tại địa chi: ynmxBx
9
Trang 18súc vật này FDA thực thi Đạo luật về thực phẩm, dược phẩm và mỹ phàm (Food, Drug and Cosmetic Act - FDCA) và một vài luật khác về y tế cộng đồng Hàng năm, cơ quan này kiếm tra việc sản xuất, nhập khấu, vận chuyên, lưu giữ và bán hàng trị giá khoảng Ì nghìn tỷ USD
• Cơ quan bàn vệ môi trường EPA và các luật liên bang thuộc thâm quyên
của cơ quan này như: Luật kiểm soát chất độc, luật kiểm soát thuục trừ sâu môi trường, cục quản lý rượu, thuục lá và súng cầm tay
Nhiệm vụ của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ là bảo vệ sức khỏe con người và bảo vệ môi trường thiên nhiên: không khí, nước và đát
Có một sụ sản phẩm nhập khấu nam dưới sự kiếm soát của EPA Cơ quan này giám sát thực thi Luật kiểm soát chất độc (Toxic Substances Control Act) và Luật kiểm soát thuục trừ sâu môi trường (Environmental Pesticide Control Act)
• Uy ban thương mại liên bang FTC: Bảo vệ người tiêu dùng và luật
chụng độc quyền của liên bang
Trong mụi quan hệ của luật trách nhiệm sản phẩm với các luật này thì
luật (rách nhiệm sản phàm giữ vai trò là luật chung Các bang, các cơ quan
chính phủ sử dụng kết họp luật này và luật riêng của bang mình Khi có xung đột giữa luật liên bang và luật trách nhiệm sản phẩm chung thì ưu tiên áp dụng luật Liên bang trước Trừ phi trong một sụ trường hợp luật liên bang được ưu tiên áp dụng chiểu theo các quy định của chính phủ không trái với luật trách nhiệm sản phẩm chung nhưng lại gây tổn hại cho người tiêu dùng thì nhà sản xuất vẫn có thể bị thua kiện nếu luật sư của bên nguyên có thể đưa ra các bằng chứng chứng minh được sự tổn hại của bên nguyên là thuộc lỗi trách nhiệm sản phẩm Ví dụ điển hình là vụ kiện hãng xe hơi Volvo, mặc dù các xe hơi của hãng này đã vượt qua những tiêu chuẩn khắt khe của luật liên bang về an
Trang 19toàn giao thông đối với xe ô tô nhưng họ vẫn bị khiếu kiện do thiết kế chỗ ngồi quá cứng gây ra trấn thương xương sống cho người lái xe2
là an toàn tại quốc gia đó bời cùng tiêu chí Tuy nhiên giữa các thành viên của
E Ư có thế có sự khác nhau về tiêu chuẩn sản phẩm an toàn, khi đó không bắt buộc các quốc gia phải tự động thẩa nhận sự an toàn của sản phẩm Tuy nhiên một sản phẩm được chế tạo theo các tiêu chuẩn của EU và được GPSD thẩa nhận là an toàn thì cũng được coi là an toàn tại tất cả các nước thành viên Bất
kỳ một nước thành viên nào bị cơ quan có thấm quyền xét hỏi về sự an toàn của sản phẩm đều được công bố trên mạng lưới trao đổi thông tin của E U được biết đến như một hệ thống báo động nhanh Rapid Alert System 3
Tại Nhật Bản vấn đề quản lý việc nhậpO khẩu, sản xuất và sử dụng hoa chát độc hại gây ô nhiễm trong môi trường cũng như trên con người thông qua thực phẩm chế biến là những vấn đề thời sự nóng bỏng và được cơ quan quàn
lý của Nhật như bộ Y tế Nhật Bản, bộ lao động và phúc lợi đặt lên hàng đầu Các đối tượng bị cấm nhập khẩu sẽ bị đưa tên lên mạng cảnh báo của Nhật.4
2 Theo ngài T o m Jayne, " A summay o f Ámerican product liabĩlity law", sách H B Global law trang
16-' C h i tiêt tại \vebsite: R A P E X : hítp://ec.ewopa.eu/consumers/dYỉUỉ/rapex/rapeỵ archives en.cũn
4
C h i tiết tại website: http://www.mhlw.go.ip/topics.him!
Trang 202 Những nội dung chủ yếu của Luật trách nhiệm sản phàm
a Khuyết tật sản phàm
Khuyết tật sản phẩm là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của TNSP Sản phẩm có khuyết tật và khuyết tật đó gây tổn hại đến người tiêu dùng chính là nội dung cơ bản nhất của Luật TNSP Vậy khuyết tật sản phẩm được hiểu như thế nào theo luật của các nước?
Luật của M ỹ đưa ra định nghĩa và các loại khuyết tật sản phẩm như sau: Một sản phẩm có khuyết tật khi sản phẩm đó không đảm bảo an toàn một cách hợp lý cho mặc đích sử dặng của nó
Theo đó khuyết tật được chia thành ba loại cơ bản:
• Khuyết tật sản xuất: khi sàn phẩm sai lệch với thiết kế gốc mặc dù đã
thực hiện tất cả những biện pháp cẩn trọng trong quá trinh sản xuất và marketing
• Khuyết tật do loi thiết kế: khi thiệt hại do sản phẩm gây ra có thể tránh
hoặc được giảm nhẹ bằng một mẫu thiết kế hợp lý khác
Theo nguyên tác này, nhà sản xuất phải thiết kế các sản phẩm sao cho sản phàm phải an toàn đối với mọi mặc đích sử dặng có thể dự đoán trước Cặ thể là luật sư của bên nguyên có thể kiện nhà sân xuất do thân chủ của mình đã
bị tổn hại khi sử dặng sản phẩm của hãng m à đáng ra các tổn thương đó hoàn toàn có thề tránh được nếu nhà sản xuất đưa ra một mẫu thiết kế phù hợp hơn Bên nguyên cần đưa ra các bằng chứng có tính thuyết phặc và có xác nhận cùa các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan về mẫu thiết kế chưa hợp lý của nhà sản xuất
• Khuyết tật do lôi cành báo không đầy đủ: có thể hiểu là thiệt hại lẽ ra có
thê tránh được khi có những chi dẫn hay cảnh báo phù hợp
Một sản phẩm không mắc bất kỳ lỗi nào trong sản xuất hay thiết kế vẫn
có thể bị kiện khi nó gây tổn hại đến cho người tiêu dùng do các chỉ dẫn và cảnh báo đính kém với sản phẩm không đầy đủ, không rõ ràng hoặc quá phức
12
Trang 21tạp Trong trường hợp này chì cần luật sư của nguyên đơn chứng minh được rằng những tổn hại m à bên nguyên hứng chịu chính là do không được chỉ dẫn
và cảnh báo đầy đủ về việc sử dừng sản phẩm
Kể từ những năm 1940 các luật sư và giới chuyên m ô n đã tranh luận rất nhiều về việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật trách nhiệm sản phẩm đồi với những quảng cáo của nhà sản xuất đưa ra về sản phàm trên đài, báo, tờ rơi
hay các phương tiện thông tin đại chúng khác.Tuy nhiên chỉ đến những năm gần đây thì trách nhiệm đối với những khuyết tật như thế này mới có hiệu lực
Có thề diễn giải trách nhiệm đối với khuyết tật này như sau: Nêu tổn hại của khách hàng xảy ra do việc sử dừng các sản phàm với những mừc đích nhu
đã được nhà sản xuất quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng thì nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm bồi thường cho các thương tốn đó Do đó khi đưa ra bất kỳ một quảng cáo nào lên công chúng, nhà sản xuất phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự xác thực cùa quảng cáo đó
Đe minh chứng cho khuyết tật này em xin trích dẫn vừ kiện liên quan đến nhà sản xuất Norplant Trong trường hợp này nguyên cáo là những phừ nữ
là nạn nhân của hang loạt những quảng cáo rầm rộ trên ti vi đài báo cũng như hàng loạt các tạp chí thời trang khác như Glamor, Madermoselle về một sàn phẩm tránh thai bằng việc cấy các miếng film nhỏ tránh thai dưới tay Những
m ô cấy dưới da này bị phát hiện là gây ra rất nhiều các tác dừng phừ có hại tới phừ nữ Những phừ nữ này đã khởi kiện nhà sản xuất Norplant nhưng họ được
miễn trách tại toa án sơ thâm và phúc thâm theo học thuyết trung gian của luật
trách nhiệm sản phẩm Nêu theo học thuyết này thì nhà sản xuất Norplant được miễn trách và các bác sĩ, những người thực hiện việc cấy ghép m ó cho các phừ
nữ này phải chịu trách nhiệm Do họ là những người có tránh nhiệm phải chuyển tải các thông điệp của nhà sân xuất về các tác dừng phừ có thể xảy ra
Trang 22khi cấy ghép m ô hơn nữa họ cũng có tránh nhiệm chi định việc dùng thuốc cho bệnh nhân.5
Tuy nhiên khi vụ việc được đưa lèn toa án tối cao của New Jersy thì toa
án này đã đưa ra các phán quyết ngược lại.Theo đó, cà nhà sản xuất Norplant cũng phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm của mình trong trường hợp này Theo họ, trong thời buổi bùng nổ thông tin như hiện nay thi việc các nhà sản xuất trực tiếp quảng cáo sản phẩm đến các khách hàng của mình phát sinh thêm nghĩa vụ cho họ là phải cảnh báo ngay cho khách hàng những khuyết tằt của sản phàm chứ không chì dựa trên người trung gian (ví dụ như thầy thuốc) nói với bệnh nhân về các tác dụng phụ tiềm tàng
Với vụ việc này của bang New Jersy là bằng chứng rằng các nhà quảng cáo các sản phàm tại Mỹ phải chịu trách nhiệm hơn về những quảng cáo họ đưa ra về sản phẩm của mình
Còn theo Luằt TNSP của Nhằt thì thuằt ngữ "khuyết tằt sàn phẩm" được định nghĩa như sau: "khuyết tằt" có nghĩa là sự thiếu an toàn m à một sản phẩm bình thường cần có, bao gồm bản chất tự nhiên của sản phẩm, cách sử dụng có thế của sản phẩm, thời gian m à người sản xuất có thể đưa sản phẩm vào lưu thông trên thị trường , v.v phân phối sản phẩm, và những trường hợp khác liên quan đến sản phẩm" Trên thực tế, mức độ của mỗi yếu tố là khác nhau và phụ thuộc vào từng tình huống cụ thế của sản phẩm, bao gồm các vấn đề như giới thiệu về sản phẩm (hướng dẫn sử dụng, những điều cần chú ý để sử dụng sản phẩm một cách an toàn), các tính năng, tác dụng của sản phẩm, chi phí mức độ an toàn của sản phàm so với các sàn phẩm cùng một mức giá khả năng gây ra tốn thất và thời gian sử dụng sản phẩm trong điều kiện thông thường Thời gian này được hiểu là việc sử dụng sản phẩm phải đảm bảo an toàn cho người sử dụng kể từ khi sản phẩm đó được sản xuất và đưa vào lưu
Theo Faegre & Bens, sách: us Product lỉability law, Xuất bán năm 2000 trang 25
14
Trang 23thông trên thị trường trong một khoảng thời gian nhất định do nhà sản xuất đưa
ra.6
• Khái niệm về một sản phẩm an toàn
Vậy thế nào là một sản phẩm an toàn theo Luật TNSP? Tuy ta không tìm thấy trong GPSD khái niệm rõ ràng về một sản phẩm có khuyết tật nhưng ngược lại chỉ thị này lại đưa ra khái niệm về một sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng Theo GPSD bất kỳ một sản phẩm nào được cho là an toàn trong điều kiện sử dụng bình thường hay trong những trường hợp có thề dự đoán trưắc được về thời gian, thời điểm thích hợp, về yêu cầu lắp đặt và bảo trì không gây ra bất kỳ rủi ro nào cho người sử dụng loại trừ những rủi ro hiển nhiên do mục đích sử dụng của sản phẩm mang lại Tuy nhiên rủi ro này chỉ ờ mức tối thiểu có thể chấp nhận được và người sản xuất phải có các biện pháp phòng vệ đê bảo vệ sự an toàn cũng như sức khoe người tiêu dùng trưắc những rủi ro như thế này Không chỉ vậy GPSD còn đưa ra các tiêu chí m à nhà sản xuất có thể áp dụng để chứng minh sản phẩm của mình an toàn và được chấp nhận tại thị trường EU
Các nhà sản xuất được phép tự chứng minh (tự cấp chứng chì) sản phẩm của mình là an toàn theo GPSD Quy trinh tự cấp chứng chi GPSD cho sản phẩm của mình bao gồm: phân tích rủi ro, kiểm chứng kết quả và một bản báo cáo thử thách độ an toàn sản phẩm (tất cả quy trình này phải được ghi chép chi tiết bằng văn bản) Các yêu cầu chính xác cho những văn bản đó không được nêu lên trong chỉ thị m à đó là những quy trình thông thường được công nhận
để chứng minh cho các cơ quan có thẩm quyền rằng sản phẩm của mình đã đạt yêu cầu Sự thiếu những tài liệu đó có thể khiến nhà sản xuất gặp phải những câu hỏi của nhà chức trách như:
trang 45
Trang 24- Những đặc trưng của sản phẩm, các bộ phận cấu thành, văn bản hướng dẫn sử dụng cần thiết, sản phẩm thích hợp sử dụng ờ đâu, cách lắp đặt và bảo tri
- Hiẻu ứng trên những sản phẩm khác được sử dụng
- Thuyết trình về sản phẩm, dán nhãn sàn phẩm, các cảnh báo và chi dẫn
về viẻc sử dụng và lắp đặt sản phẩm và bất kỳ các chi dẫn hay lưu ý khác về sản phàm m à có thê ảnh hường tới người sử dụng
- Danh sách những khách hàng m à có thế nguy hiếm khi tiếp cận với sản phàm, đặc biẻt là trẻ em và người già
Những biẻn pháp khác m à nhà sản xuất có thể áp dụng để chứng minh sản phẩm của mình đáp ứng GPSD như:
- Những m ã sản phẩm an toàn trong sử dụng
- Công nghẻ sử dụng để sản xuất sản phẩm
- Kỳ vọng của người tiêu dùng về độ an toàn của sản phẩm
- Cam kết của nhà sản xuất về sự an toàn của sản phẩm
b Nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà sản xuất
* Nghĩa vụ của nhà sàn xuất trong quá trình thiết kế sản phẩm
Những nguyên lý thiết kế sản phẩm đúng quy cách kể từ các sản phẩm công nghiẻp có kết cấu phức tạp cho đến các sản phẩm gia dụng đơn giản nhu kim khâu thường được giảng dạy ờ các trường đại học chuyên ngành kỹ thuật chứ không phải ờ các trường luật Do vậy sản phẩm được bồi thẩm đoàn công nhận là thiết kế đúng quy cách khi có sự xác nhận của các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan Những kỹ sư thiết kế sản phẩm và các nhà sản xuất cần phải tuân thủ tuyẻt đối theo những quy tắc về thiết kế sản phẩm an toàn do các chuyên gia đưa ra nếu sau này họ muốn được toa án chấp nhận rằng sản phẩm của họ không hề có bất kỳ sai sót nào trong thiết kế Các luật sư tư vấn cho các công ty cũng cần phải nắm rõ các quy tắc về thiết kế này khi tiến hành nghiẻp
vụ của mình Các quy tắc căn bản được nêu ra như sau :
Trang 25- ước tính tất cả các rủi ro có thể sảy ra
- Loại bò càng nhiều rủi ro càng tốt bằng cách thay đổi thiết kế phù hợp hơn hay linh kiện của các bộ phận cấu thành
- Tìm cách phòng chống những rủi ro không thế loại bỏ được
- Cành bảo về những rủi ro còn tiềm ân
Những nguyên lý thiết kế sản phẩm an toàn yêu cọu nhà sản xuất phải tính toán trước được khách hàng sẽ sử dụng sản phẩm của mình như thế nào, những tình huống m à họ có thể sử dụng sai sản phẩm hay lạm dụng sản phàm
và ước lượng trước được những tốn thương có thế gây ra cho khách hàng Sau
đó nhà sản xuất phải nỗ lực một cách hợp lý đê giảm thiêu những rủi ro đó
- Đọu tiên, thiệt hại là những thiệt hại thế chất, tính mạng và những thiệt hại về kinh tế tài chính khác
- Mối nguy hiếm là một điều kiện hay sự kiện m à có thế dẫn đến thiệt hại
- Nguy cơ là sự lượng hoa của một mối nguy hiếm Nguy cơ được đánh giá bằng việc ước tính hay đo lường tọn số xuất hiện hay khả năng sảy ra mối nguy hiêm trong mối quan hệ với mức độ nguy hiếm
- Xác định mối nguy hiếm tiềm tàng và lượng hoa rủi ro
Bước đọu tiên trong thiết kế sản phẩm an toàn là đánh giá rủi ro Sản phàm này có thê gây ra thiệt hại như thế nào Đe đánh giá nguy cơ có thể gây thiệt hại một nhà sàn xuât phải hiêu được công dụng và hạn chế của sản phẩm Phải chăng nó chỉ được sử dụng bời những công nhân đã được đào tạo về cách
sử dụng Phải chăng sản phẩm cọn được bảo dưỡng định kỳ liên tục trong mọi trường họp?
Sau khi công việc đánh giá rủi ro hoàn thành, nhà sán xuất phải tập trung vào tìm các giải pháp thiết kế sản phẩm Liệu các mối nguy hiểm có thể được loại trừ bởi cách thiết kế sản phẩm hay không? Ví dụ nếu một chiếc máy có bộ phận làm mát bằng cánh quạt quá lớn, liệu có thể thay thế nó bằng một máy giải nhiệt hay một cơ chế làm mát khác gọn nhẹ hơn không? Sự thay đổi trong
oiuữỉ '
Trang 26thiết kế này nhằm tăng tích tiện ích và mẫu m ã của sản phẩm Nêu một chiêc quạt làm nguội có thề tăng tiến độ công việc của sản phàm thì sản phàm đó không thể bị quy trách nhiệm chỉ đơn giàn vì nó sử dụng quạt làm nguội chứ không phải các cơ chế làm mát khác Tuy nhiên trong mọi trường họp đây phải
là sặ lặa chọn tốt nhất của nhà sản xuất
•S Cành giác vái những môi nguy hiểm
Nếu một số đặc tính thiết kế của sản phẩm bắt buộc phải có để đáp ứng yêu cầu của thị trường thì câu hỏi tiếp theo được đặt ra là làm thế nào đê bảo đảm an toàn cho khách hàng khi sử dụng những đặc tính đó Trong ví dụ nêu
ra ở trên, việc cảnh giác với những chiếc quạt làm nguội như trên là cần thiết Người thiết kế sản phẩm cần phải giả định các trường hợp m à người sử dụng
có thể lại gần chiếc quạt quá mức cho phép Nếu sặ vận hành của sàn phàm yêu cầu người sử dụng phải đến gần chiếc quạt trong khi nó chuyên động thì việc cảnh báo có thế không mang lại nhiều tác dụng Nhà thiết kế phải luôn luôn ghi nhớ và tạo sức ép cho mình về sặ an toàn khi thiết kế sản phẩm Bởi đôi khi nếu những biện pháp phòng thủ gây ra trờ ngại lớn đến quá trinh vận hành cùa chiếc máy thì họ có thể lờ đi việc xây dặng các biện pháp phòng thủ
đó và gây nguy hiêm cho người SŨ dụng
in thật nổi bật ở những vị trí m à mọi người có thể dễ dàng nhìn thấy
18
Trang 27sản xuất tuân thủ chặt chẽ bốn bước này khi tiên hành nghiên cứu, thiết kế và sản xuất sản phẩm của mình thì họ có thế hiếu và quản
lý rủi ro liên quan đến trách nhiệm sản phẩm tốt hơn Tuy nhiên đế tận dụng được hết ưu điểm của những nỗ lục trên thì nhà sản xuất cởn có khả năng dẫn chứng và tạo cơ sở pháp lý cho các nỗ lực của mình trong việc quàn lý rủi ro liên quan đến trách nhiệm sản phẩm Két họp bốn quá trình nêu trên với toàn
bộ chương trình an toàn sản phẩm là điều cởn thiết để giúp nhà sản xuất tránh được hoặc ít nhát là thoát khỏi trách nhiệm trong các vụ kiện liên quan đèn trách nhiệm sản phẩm Bời trong các vụ kiện những thẩm phán của Mỹ thường cho rằng nhà sản xuất phải là chuyên gia trong lĩnh vực sản phẩm của mình khi xem xét những hoạt động về trách nhiệm sản phẩm
• Nghĩa vụ cửa nhà sản xuất trong quá trình sán xuất sản phẩm
Vậy nghĩa vụ của nhà sản xuất trong quá trình sản xuất sản phẩm là gì? Nhà sản xuất có trách nhiệm pháp lý phải tỏ ra quan tâm một cách hợp
lý đến quy trình sản xuất sản phẩm Đ ế đòi bồi thường thiệt hại thông qua luận
cứ "sự bất cẩn của nhà sàn xuất" bên bị tổn thương phải chứng minh được rằng nhà sản xuất đã vi phạm nghĩa vụ phải quan tâm một cách hợp lý đến quy trình sản xuất và chính sự thiếu quan tâm đó đã gây ra sự tồn thương cho người sử dụng sản phàm "Sự bất cẩn" được định nghĩa là sự không quan tởm một cách hợp lý Sự quan tâm một cách hợp lý thể hiện khi một người quan tâm một cách hợp lý khác sẽ cư xử như thế nào trong các trường hợp tương tự Do đó nhà sản xuất bị quy trách nhiệm là bất cẩn khi anh ta thực hiện một việc m à trong những trường họp tương tự những người cẩn thận một cách họp lý không làm như vậy hay ngược lại anh ta đã không làm một việc m à đáng ra một người cẩn thận một cách hợp lý đã làm Theo điều 283 bản sửa đổi lởn thứ 2 năm 1965 đạo luật "Restatement of torts" Ví dụ một nhà sàn xuất mỹ phẩm tung một loại mỹ phẩm mới ra thị trường m à chưa tiến hành các thử nghiệm
Trang 28một cách toàn diện thì khi gây ra các tác dụng phụ không tốt cho người sử dụng nhà sản xuất đó sẽ bị kiện vì lỗi bất cẩn
Hay trong trường hợp máy phát chạy bằng khí gas, nếu nhà sản xuất chiếc máy này "quên" không dán một nhãn cảnh báo trên sản phẩm là chiếc máy này thải ra một lượng khí o xít các bon độc và không được sử dụng máy này trong phòng kín thì nhà sản xuất đó sẽ bị quy trách nhiệm do đã bất cẩn với sàn phẩm của mình gây tển thương cho khách hàng khi anh ta sử dụng chiếc máy này trong phòng kín và không có các bộ phận thông gió
• Nghĩa vụ của nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ sản phàm trong quá trình phân phối sản phẩm
Những người phân phối sản phẩm có trách nhiệm quản lý những rủi ro liên quan đến sản phẩm m à mình phân phối trên thị trường thông qua việc truyền đạt những thông tin liên quan đến rủi ro có thể xảy ra của sản phàm, cung cấp các văn bản cẩn thiết về sản phàm ban đầu, hợp tác chặt chẽ với nhà sản xuất, các chi nhánh phân phối sản phàm khác nhằm quản trị tốt rủi ro Nhà sản xuất cũng như nhà phân phối có trách nhiệm phải báo cáo với cơ quan có thẩm quyền bất cứ khi nào họ phát hiện ra trên thị trường có những sản phẩm tiềm ẩn rủi ro cho người sử dụng hay những sàn phẩm không đạt những tiêu chuẩn về an toàn sản phẩm theo các tiêu chuẩn TNSP
c Hậu quả pháp lý do vi phạm Luật TNSP
- Cấm các sản phẩm tiêu dùng nếu các sản phẩm đó không có các tiêu chuân có tính khả thi đê bảo vệ thích đáng công chúng
- Kiểm tra và đưa ra lệnh thu hồi sản phẩm có khuyết tật hoặc yêu cầu những sản phẩm đó được sửa chữa
- Khi xác định một sản phẩm nguy hiểm, nhà sản xuất có thể bị yêu cầu thông báo cho công chúng biết khuyết tật hoặc sự không phù hợp của sản phẩm đó và yêu cầu nhà sản xuất hoặc phải sửa chữa, thay thế sản phẩm hoặc trả lại tiên cho người tiêu dùng
20
Trang 29- Ở Liên minh EU các doanh nghiệp sản xuất các sản phàm không an toàn ngay lập tức sẽ bị công bố trên hai vvebsite thuộc Product Safety Network: Mạng lưới về an toàn sản phẩm và Rapid Alert System: Hệ thống cảnh báo nhanh
Một khi đã bị cảnh báo trên hai website trên thì uy tín của doanh nghiệp ngay lập tức sẽ bị giảm sút nghiêm trọng và người tiêu dùng sẽ không châp nhận hàng hoa cùa các doanh nghiệp đó nữa
- Đ ố i với các D N xuất khẩu:
+ Nêu chưa thông quan, cơ quan quản lý sẽ yêu cựu nhà nhập khâu loại
bỏ, trà hàng hoặc thực hiện các thủ tục cựn thiết khác
+ Nếu đã thông quan: Cơ quan thẩm quyền địa phương sẽ hướng dẫn nhà nhập khẩu triệu hồi hàng hoa
+ Điều tra nguyên nhân v i phạm
+ Nếu muốn tiếp tục được nhập khấu lô hàng đã v i phạm nhà nhập khâu phải chứng minh rằng mình đã xác định được khuyết tật và có biện pháp khắc phục
- Nhà nhập khâu sẽ bị cấm hoặc đình chỉ kinh doanh nếu vi phạm nhiều lựn và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoe cộng đồng
- Đ ố i với những nhà xuất khâu sản phàm của mình vào Mỹ cựn chú ý các quy định nghiêm ngặt về luật trách nhiệm sản phẩm hoặc các luật liên bang về bảo vệ quyên lời người tiêu dùng Nếu không tuân thủ đúng có thể hang hoa đó
sẽ không được phép nhập khẩu vào Mỹ
- Ngoài ra, nhà sản xuất v i phạm luật lệ và có sản phẩm gây tổn thương cho người sử dụng có thể bị phạt về dân sự hay hình sự
ả Giải quyêt tranh chấp liên quan đến TNSP
• Khiếu nại TNSP
Khiếu nại TNSP là việc khi người bị thiệt hại hoặc người đại diện của
họ yêu cựu người sản xuất hoặc nhà cung cấp phải bồi thường thiệt hại do sản
21
Trang 30phẩm có khuyết tật hoặc gây nguy hiểm C ơ sờ của việc khiếu nại hay kiện nhà sản xuất về TNSP thường được dựa trên lỗi cẩu thả dẫn đến sản phẩm có khuyết tật hoặc đơn thuần là do sàn phẩm có khuyết tật Hầu hết các quốc gia phát triển đã ban hành Luật TNSP, theo đó quyền khiếu nại của người bộ thiệt hại đối với sản phẩm có khuyết tật hoặc trách nhiệm bắt buộc đối với nhà sản xuất được xác lập Tuy nhiên, quyền yêu cầu khiếu nại của bên bộ thiệt hại chi
có thể được thoa mãn khi họ chứng minh được rang sản phẩm có khuyêt tật gây thiệt hại cho người sử dụng
Khi khiếu nại, theo quy độnh của Luật TNSP, người bộ thiệt hại cần phải chỉ ra rằng nhà sản xuất, người bán hàng có nghĩa vụ phải thực hiện quy trinh sản xuất hoặc bán một sản phàm một cách đúng đắn, cân thận, tuy nhiên đã không hoàn thành nghĩa vụ đó (cố ý hoặc cấu thả), dẫn đèn tôn hại cho người khiếu nại Sự cấu thả thể hiện trong những hành vi m à một người với sự cấn trọng thông thường trong những hoàn cảnh tương tự sẽ không làm; hoặc đã không quan tâm hoặc không quan tâm một cách đúng mức đến việc thực hiện nghĩa vụ của mình Trong mối quan hệ với TNSP, sự cấu thả có thể xảy ra trong rất nhiều khâu của quá trình sản xuất sản phẩm, chẳng hạn, trong việc kiểm soát chất lượng sản phẩm, hoặc sử cẩu thả trong khi bảo dưỡng máy móc sản xuất sản phẩm trong việc dự đoán khả năng tác động, ảnh hường của sản phẩm, trong việc không đưa ra khuyến cáo hoặc chỉ dẫn hoặc đưa ra khuyến cáo, chỉ dẫn kém đầy đủ, cẩu thả trong việc đưa sản phẩm ra thộ trường buôn bán, hoặc bất kỳ khâu nào khác trong quá trinh sản xuất hoặc phân phối m à ờ
đó không có sự cân thận cần thiết và hợp lý
• Các trường hợp miễn trách
Trong một số trường hợp ngoại lệ nhà sản xuất có thể được miễn trách nhiệm về những thiệt hại xảy ra đối với người sử dụng do sản phẩm của nhà sản xuất có khuyết tật Trước hết, nếu sản phẩm chưa được đưa vào lưu thông bời nhà sân xuất, nhưng do một sự nhầm lẫn, lỗi cố ý của người thứ ba đã đưa
22
Trang 31sản phẩm vào lưu thông thi nhà sản xuất được miễn trách nhiệm Thứ đèn là những sản phẩm còn đang trong giai đoạn nghiên cứu, phát triên hoặc thử nghiệm, những khuyết tật của sản phẩm còn có thể chưa được loại bỏ hoàn toàn thì nhà sản xuất cũng được miễn trách nhiệm nếu khách hàng cũng được biết trước về những thông tin bản chất của sản phẩm Trong thốc tiễn giải quyết tranh chấp về TNSP, người ta chấp nhận quan điểm "rủi ro do sản phẩm đang trong gian đoạn đuợc hoàn thiện" hoặc sản phẩm chưa được đưa vào lưu thông chính thức trên thị trường Điều này có nghĩa là người sản xuất sản phàm
sẽ không chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại nếu như chứng minh được rằng thốc trạng kiến thức khoa học và công nghệ tại thời điểm m à họ không đủ khả năng phát hiện ra được số tồn tại của khuyết tật trong sán phàm Kiên thức khoa học và công nghệ ở đây là tất cả những kiến thức đã có từ trước đó m à có thể ảnh hường có tính quyết định đến số tồn tại của khuyết tật sản phẩm Ngoài ra nhà sàn xuất cũng không phải chịu trách nhiệm về những thương tật do sản phàm của mình gây ra trong mọi trường hợp trừ khi sản phẩm đó có khuyết tật và khuyết tật đó phải là nguyên nhân dẫn đến tổn thương cho người sử dụng sản phẩm Nói cách khác, một sàn phẩm có thể có khuyết tật nhưng nếu khuyết tật ấy không là nguyên nhân gây ra số tổn thương cho người sử dụng thì cũng không thê buộc lỗi về trách nhiệm sản phẩm cho người sản xuất được Chúng ta hãy xem xét trường hợp về một chiếc máy phát chạy bằng khí gas Một chiếc máy phát chạy bằng khí gas có thể thải ra các khí độc oxit các bon gây chết người nếu sử dụng nó trong phòng đóng kín (ví dụ như bật bếp gas m à không đánh lửa và đóng chặt cửa cũng có thể gây ra ngạt khí gas m à chết do thiếu oxi) Nếu người sản xuất sản phẩm đó không có các biện pháp cảnh báo dễ hiểu và dễ dàng nhìn thấy qua một nhãn mác nào đó dán kèm trên sản phẩm rằng không được sử dụng các sản phẩm này trong nhà hay trong một môi trường đóng kín nào đó thì đấy là khuyết tật do không cảnh báo đầy đủ Tuy nhiên nếu người sử dụng sản phẩm làm tràn gas lên động cơ cốc
23
Trang 32nóng gây cháy nổ và dẫn đến thương tích thì đó là lỗi vận hành của người sử dụng sản phẩm chứ không phải khuyết tật của sản phẩm gây ra tôn thương cho người sử dụng Trong trường hợp này không thê kiện nhà sản xuât được
Sự nguy hiểm hiển nhiên của sản phẩm không đồng nghĩa vắi khuyết tật Ví dụ một lưỡi dao sắc nhọn được sản xuất nhằm mục đích cắt gọt, một khẩu súng được sản xuất nhằm mục đích sát thương hay thậm chí giết người Trong trường hợp này nhà sản xuất súng và dao không thể bị quy trách nhiệm nếu những thương tổn gây ra cho người sử dụng là do mục đích chê tạo và sử dụng của sàn phẩm gây nên
Theo Luật TNSP của Nhật nhà sản xuất sẽ được miễn trách nếu anh ta chứng minh được rằng: tình trạng kiến thức về khoa học và kỹ thuật vào thời điểm m à người sản xuất, v.v phân phối sản phàm không đù khả năng đê phát hiện ra khuyết tật trong sàn phẩm Hoặc trong trường hợp sản phàm được sử dụng như là thành phẩn hoặc nguyên liệu thô của một sản phẩm khác, nếu anh
ta chứng minh được rằng: khuyết tật này về thực chất có thế quy cho việc tuân theo đúng chỉ dẫn trong bản kê chi tiết kỹ thuật do nhà sản xuất cung cấp của một sản phẩm khác tương tự, và rằng người sản xuất, v.v không hề sao nhãng đối vắi sự xuất hiện của khuyết tật
• Thời hiệu khới kiện
Thời hạn m à người bị thiệt hại có thế khởi kiện nhà sàn xuất đối vắi những thiệt hại do khuyết tật của sàn phàm theo pháp luật của đa số các nưắc
là 3 năm kề từ thời điếm người bị thiệt hại hoặc đại diện pháp luật của họ phát
hiện ra thiệt hại và l o năm kể từ thời điểm người sản xuất, người bán hàng đưa
sản phẩm vào lưu thông trên thị trường Điều kiện bắt đầu của thời hiệu khởi kiện chính là người bị thiệt hại có đủ cơ sở đế nhận biết về thiệt hại, về lỗi của sản phẩm và về người sản xuất hoặc phân phối Nhưng kể từ sau 10 năm đưa sản phẩm vào lưu thòng trên thị trường, nhà sản xuất không còn phải chịu trách nhiệm bồi thường đối vắi khuyết tật hàng hoa do mình sản xuất
Trang 33e Cơ quan thực thi Luật TNSP
Cụ thê như sau:
+ ủ y ban A n toàn Sản phẩm Tiêu dùng Hoa Kỳ
+ C ơ quan bảo vệ môi trường
+ Cục quản lý rượu, thuốc lá, và súng cịm tay
+ ủ y ban thương mại liên bang
• Tại EU
Với các doanh nghiệp xuất khâu sản phàm của mình vào thị trường EU thì cịn phải nghiên cứu một cách địy đủ toàn bộ hệ thông các chì thị áp dụng chung cho EU Địu tiên doanh nghiệp cịn tìm hiếu xem sản phàm của mình được điều chỉnh bời một chỉ thị sản phàm đặc biệt nào không Ví dụ núm vú giả cùa trẻ em sẽ được điều chình bời chỉ thị đồ chơi (Toys Directive) và bắt buộc phải dán nhãn CE Tuy nhiên một sản phàm và các yếu tố liên quan của sản phẩm đó nếu chưa được điều chình bời bất kỳ một chỉ thị sản phẩm đặc biệt nào thì sẽ phải tuân theo các yêu cịu của GPSD
• Tại Nhật
- Cơ quan quản lý chất lượng sản phẩm xuất nhập khẩu
- Cục quản lý Chất lượng, An toàn, Vệ sinh và Thú y thúy sản
HI K h ả năng áp dụng Luật TNSP trong kinh doanh quốc tế
Trong kinh doanh quốc tế hiện nay chưa có bất kỳ một điều ước quốc
tế nào điều chinh vấn đề trách nhiệm của nhà sản xuất hoặc của người xuất khẩu đối với sản phẩm có khuyết tật Ngay cả Công ước Viên 1980 về mua
Trang 34bán hàng hoa quốc tế cũng không ràng buộc TNSP đối với người xuất khâu Điều 5 của Công ước quy định rõ: những thiệt hại rõ ràng do TNSP chăng hạn như chết người, bị thương, theo Công ước sẽ không được bồi thường Vấn đề đặt ra ở đây là khi người xuất khẩu bán hàng sang một nước khác nước mình mang quốc tịch và ở đó lại gây ra thiệt hại về con người và vê vật chất thì TNSP ở đây được giựi quyết theo luật nước nào khi m à không có một Công ước chung nào điều chình và chịu trách nhiệm về sàn phàm thông thường được quy định bời một điều luật cụ thể của nước người bị thiệt hại nên các nguyên lý của tư pháp quốc tế khó có thể được áp dụng cho những
vụ kiện về TNSP
Theo tư pháp quốc tế, ờ đa số các nước khi quy kết TNSP người ta dựa trên nguyên tác Luật nơi thực hiện hành vi đê áp dụng cho trường hợp cụ thê Nơi thực hiện hành vi có thể là nơi sựn xuât, chế biến, bán hàng, cho đến nơi xựy ra thiệt hại trong phạm vi của một quốc gia Tuy nhiên trong kinh doanh quốc tế hàng hoa được chuyến từ nước này sang nước khác, nơi thực hiện hành
vi sàn xuất nhưng thiệt hại lại xựy ra tại nước người nhập khấu Điều này dẫn đến một hệ quự là nhà sựn xuất của hàng hoa có khuyết tật có thế phựi chịu trách nhiệm không chỉ theo pháp luật tại nơi m à họ có cơ sở sựn xuất m à còn chịu trách nhiệm tại nước nhập khâu, nơi m à thiệt hại về con người và tài sựn thường xựy ra Chăng hạn, nêu hàng hoa được sựn xuất tại CHLB Đức và bán tại Hoa Kỳ thì luật của Đức và luật của Hoa Kỳ đều có khá năng áp dụng Điều này dẫn đến những xung đột nhất định trong việc giựi quyết những vụ việc cụ thề vì pháp luật các nước có thể quy định không giống nhau Thông thường, vấn đề TNSP theo luật pháp của nước người xuất khẩu lại ít nghiêm ngặt hơn luật pháp của nước người nhập khẩu, thậm chí là sựn phẩm không được coi là
có khuyết tật khi nó gây ra thiệt hại tại nước nhập khẩu Các vụ kiện thường xựy ra khi xuất khẩu vào thị trường khó tính, nhất là thị trường Mỹ, EU, Nhật Bựn Trên thực tế, tại các nước công nghiệp phát triển, người bị thiệt hại
26
Trang 35thường kiện trực tiếp đến toa án có thầm quyền của nước họ và toa án sẽ căn
cứ vào luật nước toa án để giải quyết
Ở M ỹ một vụ kiện liên quan đến TNSP có thể được xét xấ ờ toa án liên bang hoặc toa án tiểu bang Bên nguyên đơn muốn lựa chọn toa án liên bang hay tiểu bang thì phải thoa mãn được hai điều kiện là toa án có thấm quyền đối với các vấn đề trong vụ kiện đó không và nơi đặt trụ sờ của toa án có đáp ứng được các điều kiện để giải quyết vụ việc hay không? Tuy nhiên ngay cả khi vụ
án thoa mãn cả hai điều kiện về thẩm quyền và nơi cư trú thì trong một số trường hợp toa án được bên nguyên yêu cầu vẫn có thể chuyến vụ kiện này cho một toa án khác trong các bang của nước Mỹ hoặc bãi đơn kiện nếu toa án của nước khác có thể đưa ra một diễn đàn thích hợp hơn đế giải quyết vụ việc và các hậu quả của nó
• Vấn đề vé thấm quyển xét xử:
Một toa án chỉ có thấm quyền xét xấ một vụ án khi toa án đó có thâm quyền về chủ đề, lĩnh vực được đưa ra xét xấ và thấm quyền đối với các bên liên quan trọng vụ kiện Lĩnh vực xét xấ của toa án là khả năng của toa án giải quyết các vấn đề liên quan trong lĩnh vực đó Ví dụ vụ kiện đó là dân sự hay hình sự Toa án có thể bãi đơn kiện nếu sau khi xem xét hồ sơ họ thấy rằng
họ không có thầm quyền xét xấ vụ việc này
Nếu chỉ có một vài hạn chế đế vụ kiện có thể được xét xấ ờ toa án tiểu bang thì có rất nhiều yêu cầu khác để vụ kiện có thể được xét xấ bời toa án liên bang Một vụ việc chỉ được xét xấ bời toa án liên bang nếu nó thoa mãn hai điều kiện sau:
- Vụ việc xảy ra được điều chỉnh bới luật liên bang
- Vụ kiện cáo là một trường hợp đặc biệt trong đó các bên liên quan là công dân của những tiểu bang khác nhau và giá trị tài sản của vụ kiện lên tới hơn 75 000$
27
Trang 36Khi cả toa án liên bang và toa án tiểu bang đều có thầm quyền xét xử đôi với lĩnh vực được đưa ra và nguyên đơn đệ đơn lên toa án tiểu bang thì vụ án vẫn có thể bị chuyển lên toa án liên bang nếu như bị cáo không là công dân của tiểu bang đó Thông thường bị đơn chỉ có thể đưa vụ kiện lên toa án liên bang trong vòng 30 ngày sau khi nhận được bản copy đầu tiên những căn cố m à bên nguyên đưa ra để khiếu nại Tuy nhiên trong một số trường họp việc chuyên vụ kiện lên toa án liên bang là không thực hiện được khi bên nguyên đơn và bên
bị đơn cùng cư trú tại một tiểu bang Lợi dụng kẽ hờ này đôi khi nguyên đơn
và bị đơn cố tạo dựng những chống cử giả chống minh họ là công dân của cùng một tiểu bang để vụ kiện được xét xử tại toa án tiểu bang vi một mục đích nào đó Trong trường hợp này toa án sẽ bác bỏ quyền yêu cầu của bị đơn trong lĩnh vực liên quan vì đã có tình liên kết toa chống cố giả
• Thẩm quyền liên quan đến đương sự:
Thẩm quyền về con người là quyền lực của toa án buộc bị đơn phải tuân theo quyền hạn xét xử của toa án Quyền hạn xét xử của toa án tiểu bang bị hạn chế bời bản sửa đổi lần thố 14 của Hiến pháp Mỹ về quy trình thủ tục pháp lý cần thiết Những yêu cầu của thủ tục pháp lý được thoa mãn khi thâm quyên liên quan đến đương sự được xác nhận thông qua một công ty của bị cáo không cùng nơi cư trú m à có ít mối quan hệ nhất với tòa án tiếu bang như sự duy trì của các vụ kiện không vi phạm các quan điểm truyền thống và sự thực thi luật pháp Ví dụ: Một công ty thực thi toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình ờ New York thì nguyên đơn bị thiệt hại do sản phẩm cùa công ty đó không có quyền bắt buộc công ty đó phải đèn hầu toa tại toa án ở Alaska kế cà nguyên đơn sống ờ Alaska
- Nêu việc bán sản phẩm của nhà sản xuất hay nhà phân phối như Audi hoặc Volkswagen không đơn giản là một sự kiện duy nhất, nhưng phát sinh từ những nỗ lực của nhà sản xuất hay nhà phân phối đế phục vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp cho thị trường của họ ờ các bang khác thì không phải là vô
Trang 37lý khi khởi kiện tại một trong các bang đó nếu các lý lẽ đưa ra về hàng hoa có khuyết tật là căn nguyên gây ra tổn thương cho người sử dụng hoặc cho những người có liên quan Toa án cùa bang không vượt quá thầm quyền cùa mình khi xác nhận thẩm quyền về con người thông qua một doanh nghiệp tiến hành phân phối sản phẩm trên thằ trường và kỳ vọng rằng khách hàng ờ các bang sẽ mua nó
- Trường hợp của tập đoàn tầm cỡ toàn cầu như Volksvvagen toa án tôi cao Mỹ đã cho rằng toa án tại Oklahoma không có thẩm quyền về con người khi xét xử vụ án Bởi chi nhánh bán lẻ của Volkswagen nơi m à nguyên đơn mua xe ô tô có khuyết tật thì đóng tại New York Tuy nhiên toa án cũng nhân mạnh rằng bằ cáo hoàn toàn có thể dự đoán được rằng khách hàng mua xe của mình có thế đi về Oklahoma
Trang 38C H Ư Ơ N G li: NHỮNG VẤN ĐÈ ĐẶT RA TRONG KINH TRONG KINH DOANH QUỐC TÉ LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH
NHIỆM SẢN PHẨM
ì Tổng quan
Song hành với sự phát triển của Luật TNSP là sự gia tăng các vụ kiện về TNSP và gia tăng những rủi ro về khả năng bị kiện liên quan tới trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất, các nhà xuất nhập khấu, các nhà phân phôi trên nước M ỹ cũng như trên các quốc gia khác Đặc biệt những nhà sản xuât và phân phối sản phàm ở M ỹ phải đối mặt với những rủi ro liên quan đèn trách nhiệm sàn phẩm do mình sản xuất ra Điều đó có nghĩa là các nhà sản xuât sản phẩm có thể bị kiện ở bất kợ nơi đâu họ bán sàn phẩm của mình và một khi đã
có tiền lệ bị kiện thì sản phàm khó m à được chấp nhận ở thị trường này nữa Các nhà sản xuất khi đó có thể bị buộc phải áp dụng một số quy định ngặt nghèo của chính phủ hoặc bị buộc phải sửa chữa các khuyết tật sán phẩm hoặc
tệ hơn nữa là thu hồi toàn bộ sản phẩm
Ngoài việc gia tăng khả năng bị kiện cáo thì một vấn đề nữa đặt ra trong kinh doanh quốc tế liên quan đến TNSP chính là rủi ro của nhà sản xuất bị thu hồi sản phẩm và buộc phải sửa chữa các khuyết tật của sản phẩm M ộ t khi sản phẩm đã bị thu hồi ở bất cứ quốc gia nào thì phát sinh thêm trách nhiệm cho nhà sản xuât sản phàm đó phải báo cáo về vụ việc đó cho các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia khác m à sản phẩm của họ cũng đang được bày bán Ví
dụ một sản phẩm bị thu hồi ờ EU thì chưa chắc sản phẩm đó đã phải thu hồi ờ
Mỹ tuy nhiên nhà sản xuất sản phẩm bị thu hồi vẫn phải báo với cơ quan có thẩm quyền M ỹ việc sàn phẩm của mình bị EU triệu hồi và chứng minh cho cơ quan có thẩm quyền M ỹ rằng việc triệu hồi sản phẩm của mình ở nước M ỹ là hoàn toàn không cần thiết Tuy nhiên nếu trong tương lai sàn phẩm có khuyết tật của nhà sản xuất gây tổn thương cho khách hàng thì việc sản phẩm cùa nhà
30
Trang 39sản xuất đã từng bị triệu hồi sẽ là một bằng chứng thuyết phục chống lại nhà sản xuất Lúc này ngoài việc đền bù thiệt hại cho khách hàng nhà sản xuât còn đối mặt với nguy cơ bị triệu hồi sản phẩm tại nước đó là rát cao
Trong thời đại toàn cữu hoa hiện nay, thế giới dường như trờ lên nhỏ bé hơn đồng nghĩa với việc gia tăng rủi ro cho các nhà sản xuất và phân phôi sản phẩm trên toàn cữu phải có trách nhiệm hơn với sàn phẩm của minh Các cơ quan có thẩm quyền của các nước khác nhau trên thế giới luôn có những môi liên hệ chặt chẽ với nhau về các vấn đề liên quan đến trách nhiệm sản phàm và việc quản lý an toàn sản phàm cho người tiêu dùng Các luật sư chuyên vê trách nhiệm sản phàm trên toàn thế giới cũng không ngừng thảo luận với nhau
về các vụ kiện tụng trách nhiệm sản phẩm Két quả là các nhà sản xuất phải đặc biệt lưu tâm đến an toàn sản phẩm và các vấn đề liên quan đến TNSP ờ tất
cả các nước m à họ dự định bán sản phẩm của mình Nhà sản xuất không chỉ có trách nhiệm phải đáp ứng các quy định về an toàn sản phẩm và trách nhiệm sàn phẩm ở mỗi nước m à họ bán sản phẩm của mình m à còn phải xem xét hiệu ứng của các quy định này trong mối liên hệ với luật TNSP ờ nước khác, đặc biệt là các nước có Luật TNSP phát triển
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng có thể gặp phải vấn đề đòi bồi thường thiệt hại không thoa đáng tù phía người nhập khẩu, người tiêu dùng
nước ngoài liên quan đến TNSP v ấ n đề này phát sinh do sự thiếu hiểu biết về
Luật TNSP của D N và sự lạm dụng Luật TNSP của các luật sư phụ trách các
vụ kiện liên quan đến TNSP Hậu quả của việc đòi bồi thường thiệt hại không thoa đáng có thể khiến các doanh nghiệp điêu đứng, phá sản
Dưới đây là những vấn đề về trách nhiệm sản phẩm phát sinh trong thực tiễn kinh doanh quốc tế thông qua những trường hợp điển hình
31
Trang 40l i Những hậu quả do v i phạm TNSP trong thực tiễn k i n h doanh quốc tế:
/ Vụ đồ chơi của Matteỉ
a Giới thiệu sơ lược vê tập đoàn Mattel:
Tập đoàn sản xuất đồ chơi trẻ em khổng lồ, có doanh thu lớn nhất nước
Mỹ Thành lập năm 1945 do hai ông Harold "Matt" Matson và Elliot Handler(vì vậy tên công ty là ghép lại 2 chữ "matt-el") V ợ ông Handler sau này làm chủ tịch tập đoàn, bà là ngưểi sáng tạo ra búp bê Barbie năm 1959 tạo
ra 9 0 % lợi nhuận cho Cty
Mattel là một trong những xí nghiệp của Mỹ sớm đưa sản xuất ra nước ngoài và hiện nay là Trung quốc để sản xuất đưa về Mỹ tiêu thụ mạnh nhát Doanh sô 5.179 tỷ USD(năm 2005)
Lợi nhuận 664.529 triệu USD
Lãi ròng 417.019 triệu USD
Nhân viên 26,000 ngưểi
b Đồ chen của Mattel có vấn đê
Đầu tháng 8/2007 cả thế giới, đặc biệt là các nước tiêu thụ đồ chơi trẻ
em của TQ với số lượng lớn như ở Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada), châu  u (Pháp, Đức, Tây ban Nha, Anh ) và một số nước Châu Mỹ la tinh các bà mẹ vội vàng thu hồi, thâu tóm vào thùng rác những búp bê Barbie, hình nộm bằng nhựa Ngưểi dơi (Batman) hay xe la bằng gỗ, ò tô nhựa đúc bị nhiễm sơn pha chì với hàm lượng có thể gây hại (trên 0.06% theo tiêu chuẩn của Mỹ) đến
hệ thân kinh của trê nhỏ hay cục nam châm gân vào đồ chơi bị tách rểi, gây tử vong khi các bé nuốt vào bụng Công ty Mattel (Hoa Kỳ) ra thông báo ngày 2/8 chính thức thừa nhận vụ việc, công khai xin lỗi và thông báo thu hồi tất cả sản phẩm nói trên trên các quầy hàng bán lẻ cũng như lập đưểng dây nóng để các bà mẹ liên hệ trả lại khi phát hiện loại đồ chơi này trong gia đình Ngày 15/8/2007 gần 20 triệu món hàng của Mattel (và của các công ty phân phối trong tập đoàn này) được lệnh thu hồi trong đó 9 triệu ể nội địa nước Mỹ và 11