1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điển hình hoá trong văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam (giai đoạn 1930-1945)

26 2,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 202,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điển hình hoá trong văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam (giai đoạn 1930-1945)

Trang 1

đại học quốc gia hμ nội trường đại học khoa học x∙ hội vμ nhân văn

nguyễn thị thu thủy

điển hình hoá trong văn xuôi hiện thực phê phán việt nam

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn

Người hướng dẫn khoa học: TSKH Đỗ Văn Khang

Phản biện 1: PGS TS Nguyễn Bích Thu

Phản biện 2: PGS TS Hà Văn Đức

Phản biện 3: TS Chu Văn Sơn

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Nhà nước chấm luận án tiến sĩ

họp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

vào hồi: giờ ngày tháng năm 2006

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội

- Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội

Danh mục các công trình đ∙ công bố

có liên quan đến đề tμi luận án

1 Nguyễn Thị Thu Thủy (2003), Quá trình cá nhân hoá cá thể

và xã hội hoá nhân cách qua văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945,

Văn hoá nghệ thuật (số 2), tr 66 - 70

2 Nguyễn Thị Thu Thủy (2004), Nghệ thuật góp phần hoàn

thiện nhân cách, Văn hoá nghệ thuật (số 9), tr 78 - 82

3 Nguyễn Thị Thu Thủy (2005), Tiến trình nhận thức vai trò

nhân vật điển hình của văn học, Văn hoá nghệ thuật (số 8), tr 91 - 94

4 Nguyễn Thị Thu Thủy (2005), Những tiền đề dẫn tới chủ

nghĩa hiện thực phê phán 1930 - 1945, Văn hoá nghệ thuật (số 10), tr

81 - 85

5 Nguyễn Thị Thu Thủy (2006), Cái tôi trong văn học hiện thực

phê phán, Văn hoá nghệ thuật (số 10), tr 74 - 76

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tμi

1.1 Điển hình hoá là thành tựu nghệ thuật nổi bật của chủ nghĩa hiện thực phê phán, là đặc trưng cơ bản để phân biệt chủ nghĩa hiện thực phê phán với chủ nghĩa lãng mạn Nghiên cứu điển hình hoá trong văn xuôi hiện thực phê phán ở Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 sẽ giúp ích cho những khám phá mới của chủ nghĩa hiện thực trong văn học đương đại Luận án đi sâu khám phá thêm vấn đề này ở những góc nhìn thẩm mỹ mới trong sử dụng sức mạnh liên ngành: lý luận văn học và mỹ học

1.2 Đầu thế kỉ XX, lịch sử văn học Việt Nam phân hóa thành hai dòng chính: văn học lãng mạn và văn học hiện thực Hai dòng văn học này quả đã có những đóng góp quan trọng cho tiến trình lịch sử văn học dân tộc Luận án chọn chủ nghĩa hiện thực phê phán để nghiên cứu, vì đây là một trong những nghệ thuật tiền cách mạng, bám sát đời sống, có giá trị thức tỉnh nhân dân, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bằng những

điển hình văn học bất hủ Nó đã khơi dậy được lòng bất bình, không chịu

đựng được với xã hội cũ và bồi dưỡng ý thức cần bứt phá, vươn lên đón chào một cuộc sống mới.Dòng văn học này ngay từ khi mới ra đời cũng đã

được giới nghiên cứu rất quan tâm và đề cao, đặc biệt là nhà phê bình mác-xít Hải Triều

1.3 Điển hình hóa trong văn xuôi hiện thực phê phán là phương thức nghệ thuật tiêu biểu của dòng văn học này Nó là một kiểu xây dựng nghệ thuật mới, góp vào tiến trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam, đặc biệt ở phương diện khám phá mâu thuẫn thời đại

1.4 Hiện nay, thành tựu của văn học hiện thực phê phán đã được đưa vào chương trình giảng dạy ở khoa Ngữ văn các trường Đại học sư phạm,

Đại học khoa học xã hội và nhân văn và các trường phổ thông trung học Vấn đề nghiên cứu của luận án có thể đóng góp vào công tác giảng dạy và nghiên cứu ở các cấp học nói trên

Trang 4

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

a) Trước năm 1945

Giới nghiên cứu văn học lúc này mới chỉ tập trung vào bản chất hiện

thực của văn học Đáng chú ý hơn cả là ý kiến của Vũ Ngọc Phan trong bộ

Nhà văn hiện đại Trên những nét lớn, ông đã đề cập đến những khuôn mặt

của các nhà văn hiện thực đương thời; ý kiến của ông chủ yếu thiên về phương diện nghệ thuật và ý nghĩa nhân bản của các hình tượng Hải Triều

biểu dương Kép Tư Bền và khẳng định vai trò của khuynh hướng văn học tả

thực Vũ Trọng Phụng, Trần Minh Tước, Phú Hương cũng nhiệt liệt ca ngợi

Tắt đèn

b) Từ 1945- 1986

Vấn đề điển hình hoá trong văn xuôi hiện thực phê phán ngày càng

được giới nghiên cứu văn học quan tâm Mở đầu là công trình nghiên cứu

của nhóm Lê Quý Đôn (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam-1957), chuyên luận của Hà Minh Đức(Nam Cao-nhà văn hiện thực xuất sắc, 1961), công trình của nhà nghiên cứu Hồng Chương(Phương pháp sáng tác

trong văn học nghệ thuật, 1962), Nguyễn Đức Đàn và Phan Cự Đệ (Bước

đường phát triển tư tưởng và nghệ thuật của Ngô Tất Tố, 1962) Các công

trình của Viện văn học (Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945, 1964), chuyên luận của Nguyễn Đức Đàn (Mấy vấn đề văn học hiện thực

phê phán Việt Nam, 1968), và công trình của nhóm các tác giả Huỳnh Lý,

Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn

Trác(Lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945, 1973), đã thực sự lưu tâm đến

những vấn đề lý luận chung về chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam

Công trình nghiên cứu của Phan Cự Đệ với cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện

đại (1974); Từ điển văn học (1984) của Nguyễn Hoành Khung là những

công trình tiêu biểu

Trang 5

Thời kỳ này giới nghiên cứu mác-xít đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu thành tựu của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nhiều công trình có tính khoa học cao, có sự phân tích đánh giá thoả đáng Tuy nhiên, việc vận dụng quan điểm, phương pháp nghiên cứu mác-xít cũng có lúc rơi vào kiểu vận dụng máy móc công thức của Ph.Ăngghen về tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình Bởi vậy, có ý kiến đề cao

giá trị của Tắt đèn nhưng lại hạ thấp giá trị của Sống mòn và phê phán nặng

nề tác phẩm của Vũ Trọng Phụng

ở Sài Gòn trước 1975, các nhà nghiên cứu chưa thực sự quan tâm

đến dòng văn học này với tư cách là một phương pháp sáng tác, một trào lưu

2001) là những hướng nghiên cứu mới

Điểm qua một số công trình nghiên cứu trên, bước đầu luận án nhận

thấy chưa có một công trình nào đứng ở liên ngành lý luận văn học và mỹ học khảo sát một cách trực tiếp về thành tựu điển hình hoá trong văn xuôi hiện thực phê phán

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

a Luận án dùng phương pháp liên ngành để nghiên cứu nghệ thuật

điển hình hóa của văn học hiện thực phê phán Việt Nam như hệ thống quan điểm thẩm mỹ, hệ thống kiểu nhân vật, hệ thống điều khiển chất liệu của nghệ thuật Đồng thời, luận án còn phát hiện thêm tác động của các

điển hình này tới sự hoàn thiện nhân cách con người

b Đối tượng của luận án là văn xuôi hiện thực phê phán Luận án chỉ tập trung vào những tác phẩm có thành tựu cao về nghệ thuật của Ngô Tất

Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng

Trang 6

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chung: Luận án dựa trên cơ sở phương pháp duy vật

biện chứng và duy vật lịch sử coi văn học là một hình thái ý thức thẩm mỹ

đặc thù của xã hội

- Phương pháp cụ thể:

a Luận án dùng phương pháp liên ngành: lý luận văn học và mỹ học

b Phương pháp hệ thống: Đặt điển hình hoá trong văn xuôi hiện thực

phê phán trong hệ thống điển hình hoá của văn học nói chung để thấy được

tính phổ biến và đặc thù của điển hình hoá hiện thực chủ nghĩa

c Phương pháp so sánh văn học qua các thời kỳ để thấy được bước tiến của điển hình hoá trong văn xuôi hiện thực phê phán

5 Đóng góp của luận án

a) Khi vận dụng phương pháp liên ngành, luận án đã cố gắng tìm ra

quy luật vận động của cả một hệ thống xã hội: từ sự thay đổi văn minh, thay đổi tư tưởng sáng tạo thời đại, thay đổi tâm thế xã hội, thay đổi văn tự, tất yếu dẫn đến xuất hiện đối tượng thẩm mỹ mới; trong đó xuất hiện những vùng văn học khác nhau, có vùng chất liệu đặc sắc tạo nên dòng văn học hiện thực phê phán

b) Luận án chú ý đến mối quan hệ giữa quan điểm thẩm mỹ với nghệ

thuật điển hình và nghệ thuật xây dựng các kiểu nhân vật điển hình của văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 Luận án lần đầu tiên đã dựa vào tiêu chí "Tha hoá" để phân loại nhân vật điển hình

c) Luận án làm sáng tỏ hơn vấn đề "cái Tôi" của nhà văn và "cái tôi"

của nhân vật trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam mà bấy lâu giới nghiên cứu chỉ dành " cái tôi" cho văn học lãng mạn

d) Luận án cũng đã cố gắng phát hiện thêm mặt sau của điển hình

nghệ thuật, nghĩa là phần tác động của các điển hình này tới xã hội, đối

Trang 7

với nhân cách con người theo quy luật thiết lập một sự thanh lọc bên trong tâm hồn con người

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được tổ chức thành ba chương; 10 mục

Chương 1 những tiền đề x∙ hội vμ văn học dẫn tới chủ nghĩa hiện thực phê phán 1930 - 1945 1.1 Cơ sở văn minh của văn hoá

1.1.1 Văn minh được phát động theo hướng công nghiệp phương Tây

Trong làn sóng Âu hóa (từ sau hiệp ước Patơnốt - 1884), ở Việt Nam

đã hình thành nên một số đô thị mới, tạo ra con người đô thị và lối sống đô thị Vì vậy, văn học có điều kiện để gần gũi với quần chúng và quần chúng cũng có nhiều điều kiện để tiếp nhận thành tựu của văn hóa, văn học mới Hơn thế, văn học hiện thực phê phán lại hướng về số đông, hướng về tầng lớp bình dân, cho nên được quần chúng chú ý hơn các nghệ thuật khác Tầng lớp trí thức tiểu tư sản cũng bắt đầu phát triển Họ cũng là tầng lớp mấp mé dưới đáy xã hội Chính vì thế, giải tần quần chúng hâm mộ văn học hiện thực phê phán rộng hơn giải tần của văn học lãng mạn, siêu thực Ngay cả các tầng lớp trên khi bị văn học hiện thực phê phán chĩa mũi nhọn vào thì họ không thể không chú ý Văn học hiện thực phê phán không chỉ

có khối bạn đọc "thuận" mà còn có cả khối quần chúng "nghịch" Đời sống thẩm mỹ thay đổi, tất yếu dẫn đến sự đổi thay của văn học

1.1.2 Văn hoá chủ yếu là nền văn hoá nô dịch "trong hành lang của văn hoá Pháp"

Xâm chiếm nước ta, Pháp chủ trương dùng văn hoá để nô dịch dân Việt (mở một số trường Cao đẳng và Đại học) Từ 1902 đến 1922, Pháp đã

Trang 8

đào tạo được một lớp trí thức cao cấp kiểu Tây ở Việt Nam Một tầng lớp tri thức mới xuất hiện, cũng làm xuất hiện một đội ngũ nhà văn mới Lúc này đã hội đủ khách thể thẩm mỹ và chủ thể sáng tạo, tạo ra hai dòng

chính là hiện thực và lãng mạn Trong đó xu hướng nghệ thuật "tả

chân"càng ngày càng nhiều thành tựu, khi họ hướng về con người trong cảnh lầm than để thức tỉnh vị thế của cá nhân và qua đó cả dân tộc

1.1.3 Sự thay đổi kiểu tư duy thẩm mỹ

Các nhà Nho yêu nước đầu thế kỷ đã nhận thức được sự thua kém của văn minh Việt Nam so với văn minh phương Tây ở chỗ một bên có tính chất "luôn luôn tĩnh" và một bên có tính chất "luôn luôn động" Đây chính

là nguyên nhân mà phương Tây đã tiến nhanh hơn phương Đông và khi Pháp đưa văn minh phương Tây vào Việt Nam đã nhanh chóng làm thay

đổi cả kinh tế và đặc biệt là làm thay đổi cả cơ cấu xã hội và kiến trúc thượng tầng trong đó có sự thay đổi kiểu tư duy từ tư duy tĩnh (Sphèrique) sang tư duy phân tích, khám phá (Lingnère) - một yếu tố tạo nên sự hình thành của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam: phân tích mạch ngầm của các quan hệ xã hội bằng hình tượng thẩm mỹ

1.2 ảnh hưởng của văn học và văn hoá phương Tây

1.2.1 Những mầm mống của chủ nghĩa hiện thực trước 1930

Văn học dân gian, văn học cổ điển về cơ bản là một nền văn học nhân

đạo, mang tính dân chủ Những tiền đề này là cơ sở rất quan trọng để văn học hiện thực phê phán Việt Nam phát triển Đến cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa hiện thực phát triển thành khuynh hướng văn học "lật xới" hiện thực qua tác phẩm của Nguyễn Khuyến, Tú Xương Nhưng phải đến sau 1920, người ta mới chứng kiến một sự chuyển mình thực sự của văn học với tên tuổi của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Bửu Mọc, Trần Quang Nghiệp,v.v "Văn dĩ tải đạo" là quan niệm chính thống của văn học

phong kiến, nay được thay thế bằng quan niệm văn học phản ánh hiện

thực Các cây bút miền Bắc như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học cũng đã

Trang 9

có thành tựu Nguyễn Công Hoan mới xứng đáng là "người đầu tiên có công khai phá con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực phê phán" (Phan Cự Đệ)

1.2.2 Văn học nửa đầu thế kỷ XX chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây, trong" hành lang của văn hóa Pháp"

Hoạt động của lý luận văn học cũng có nhiều đổi thay theo hướng duy lý Biểu hiện là lý luận văn học đã tiến tới khám phá các mối quan hệ cơ bản của văn chương với đời sống xã hội: văn học với hiện thực, nhưng

là hiện thực thẩm mỹ; văn học có tác dụng khai mở dân trí Các quan điểm

lý luận trên đây cho thấy rõ ý thức cách tân của văn học đầu thế kỷ XX

Văn học ngày càng hướng tới những tư tưởng mới, quan điểm cách mạng

xã hội, văn học phải gắn với cuộc đời, vừa tiếp thu tinh hoa của văn hoá truyền thống vừa hướng tới văn hoá nhân loại Bám sát đời sống, gắn với

tồn vong của dân tộc, định hướng này đã góp vào thúc đẩy nền văn học hiện

thực phê phán phát triển

1.2.3 Nền văn học Việt Nam từ 1900 trở đi phát triển trong một điều kiện hoàn thiện dần một văn tự mới: chữ Quốc ngữ

Văn học hiện thực Việt Nam sinh ra trong thời đại mà văn học cổ

điển đã được xếp hạng và chấm dứt; cái hay ở đây là còn có sự chấm dứt của văn tự cũ để sang Quốc ngữ, văn tự mới Hơn nữa, xã hội Việt Nam lại phát triển rất đa dạng Cho nên, ngôn ngữ mới lại mang thêm nhiều màu sắc mới Đấy chính là cơ sở cực kỳ thuận lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực phê phán ở nước ta Bởi vì, chủ nghĩa hiện thực phê phán lấy chính đời sống với những mâu thuẫn đa dạng, bộn bề của nó làm đối

tượng miêu tả, mà đời sống một nửa được biểu đạt bằng ngôn ngữ

Trang 10

khi khám phá điển hình đời sống, điển hình xã hội bao giờ cũng đặt chúng

vào cái Tôi trải nghiệm đầy ý thức của mình trong xu hướng muốn vượt thoát khỏi vũng lầy cuộc sống đương thời để đi tới một ngày mai tốt đẹp hơn Đây chính là đặc điểm thẩm mỹ quan trọng nhất khiến chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945 khác hẳn “cái Tôi nội cảm” của văn học lãng mạn

1.3.2 Cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng tư sản và vô sản nhằm khẳng

định hệ tư tưởng văn hoá dân chủ mới là chủ nghĩa Mác - Lê nin

Những năm 30 của thế kỉ XX, xã hội Việt Nam phát triển trong hoàn cảnh hội nhập và tiếp biến với văn hoá phương Tây, đồng thời luôn ý thức

đặt văn học vào cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp hết sức gay gắt, nhằm đi tới phá bỏ chế độ thực dân phong kiến, xây dựng một hệ thống chế

độ mới Hoàn cảnh đó đã dẫn đến những cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, ý thức hệ, hình thành những quan điểm, những tâm lý thẩm mỹ và khuynh hướng, trào lưu văn học khác nhau Cuộc tranh luận nghệ thuật

1935 - 1939 giữa hai phái "nghệ thuật vị nghệ thuật" và "nghệ thuật vị nhân sinh", định hướng cho văn học hiện thực phê phán giữ được bản chất

của mình Đồng thời với Đề cương văn hoá Việt Nam (1943), nhóm Văn hoá

cứu quốc đã nâng tầm cao cho những tác phẩm văn học hiện thực phê phán

1.3.3 Một chủ nghĩa nhân văn mới được hình thành (với những ý nguyện và khát vọng sống mới, tinh thần độc lập dân tộc)

Chủ nghĩa nhân văn ở nước ta đã thành tựu phần lớn trong văn học lãng mạn Đặc trưng mới mẻ của chủ nghĩa nhân văn trong văn hiện thực phê phán

Trang 11

là hướng đến những con người cùng khổ, hướng đến sự yêu thương những

con người lao động, những con người bé nhỏ trong xã hội với khát vọng đổi

thay, mong muốn có một cuộc đời mới

* * *

Văn minh công nghiệp tạo ra lối sống đô thị, đến lượt nó, đô thị làm thay đổi toàn bộ lối sống cá nhân của văn minh lúa nước Kéo theo đó, nó làm thay đổi cả tâm trạng, tâm thế của con người thời đại; đặc biệt nó đã làm thay đổi nhịp sống của con người, thay đổi trình độ dân trí Đấy cũng

là nguyên nhân làm thay đổi cả hệ tư tưởng văn hoá, thay đổi cách sáng tạo văn học, nghệ thuật Vì vậy, chủ nghĩa hiện thực phải đợi đến giai đoạn 1930-1945 mới phát triển rực rỡ

Trang 12

2.1.2 Những quan điểm thẩm mỹ cụ thể của các nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam trong sáng tạo nhân vật điển hình

1/ Văn học phải phản ánh sự thật, nhưng đó lại là sự thật trái chiều của đời sống; cái sự thật ngang trái, bất công Văn học phải hướng tới số phận của con người, nhưng không phải con người nói chung mà là con người thuộc tầng lớp thứ ba

2/ Văn học phải góp phần làm thay đổi xã hội trên hai phương diện: xoá nỗi bất công và hướng đến tình thương, tạo một chỗ đứng mới thanh cao cho con người

3/ Văn học với bản chất là sáng tạo

2.2 Tiến trình dẫn văn học tới vấn đề nhận thức vai trò của nhân vật

điển hình

Văn học cổ thường xây dựng các nhân vật có chức năng thực hiện quan điểm thẩm mỹ truyền thống trên cơ sở "văn dĩ tải Đạo" Đây là kiểu

nhân vật điển hình của một phương diện, điển hình về loại, chưa phải là

điển hình về tính cách Văn học lãng mạn lại chú ý đến cái riêng, đến cá

tính, tâm trạng bên trong của nhân vật Nhân vật của chủ nghĩa hiện thực lại là con người bình thường, con người lịch sử cụ thể Giai đoạn 1930 -

1945 là giai đoạn sự phát triển "nhảy vọt" của cá nhân, của ý thức "cái Tôi" Văn học phản ánh nhân vật như một tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình tạo nên nghệ thuật đặc sắc của văn học hiện thực phê phán

2.3 Thành tựu xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình của văn xuôi hiện thực phê phán 1930 - 1945

2.3.1 Về khái niệm " điển hình" và "điển hình hóa"

"Phạm trù điển hình là phạm trù quan trọng nhất của mỹ học hiện thực" (X.M Pêtơrốp)" Trần Đình Sử xác định:"Điển hình là một sự khái

quát cao của sáng tạo nghệ thuật" "Về bản chất, cái điển hình không phải

Trang 13

là cái cá biệt nhưng điển hình nghệ thuật thì phải đồng thời là cái cá biệt" Muốn xây dựng được một điển hình văn học, nhà văn phải tuân theo nguyên tắc điển hình hóa Điển hình hóa theo nghĩa rộng là "con đường

đưa sáng tạo nghệ thuật tới chất lượng cao" Bản chất của điển hình hóa là một phương thức để tạo ra hình tượng nghệ thuật, để xây dựng nhân vật

điển hình Trong nghĩa hẹp, điển hình hóa là" hình thức khái quát hóa đặc trưng của phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa, hình thành trên cơ sở quan sát tính lắp đi lắp lại tương đối ổn định của các hiện tượng tính cách

và quá trình cuộc sống cùng loại trong thực tế" Hai cách hiểu trên đều

được sử dụng trong luận án

2.3.2 Những phương diện cơ bản quy định việc xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình của chủ nghĩa hiện thực phê phán

- Phương pháp lấy chất liệu văn học:

Chủ nghĩa hiện thực phê phán rất chú trọng yếu tố khách quan- đối tượng phản ánh của tác phẩm văn học Các nhà văn hiện thực phê phán đều

lấy những điển hình đời sống, điển hình xã hội cộng với cái Tôi có tính

khuynh hướng để xây dựng nên những điển hình văn học Họ đặc biệt chú ý

đến nguyên mẫu

- Thế giới quan của nhà văn:

Trong một điều kiện lịch sử mới, các nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam đã nhìn thấy mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc đó là mâu

thuẫn giữa nông dân và địa chủ Tắt đèn, Bước đường cùng, Chí Phèo đã

chĩa mũi nhọn đả kích vào giai cấp thống trị phong kiến và bước đầu thấy

được sự chuyển biến theo hướng tích cực của một số nhân vật chính

- ý thức về phương pháp sáng tác:

Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan đều dùng phương pháp phân tích lịch sử, cụ thể qua các chi tiết chân thực để xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình Các nhà văn trẻ như Vũ Trọng Phụng,

Ngày đăng: 04/04/2014, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w