Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc từ 1991 đến 2001
Trang 1Hồ Chí Minh
nguyễn danh tiên
Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
từ 1991 đến 2001
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
M số : 62.22.56.01
tóm tắt luận án tiến sĩ Lịch sử
hà nội - 2008
Trang 2tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trịnh Nhu
PGS,TS Trần Thị Thu Hương
Phản biện 1: GS.TS Đỗ Thanh Bình
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Phản biện 2: PGS.TS Đoàn Ngọc Hải
Học viện Chính trị Quân sự Phản biện 3: PGS.TS Vũ Quang Hiển
Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước,
họp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hội trường
số 106B, nhà A14
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2008
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Những công trình của tác giả đ6 công bố
có liên quan đến luận án
1 Nguyễn Danh Tiên (1996), "Một số quan điểm của Đảng về văn hóa
trong giai đoạn hiện nay", Lịch sử Đảng, (7), tr 18-20
2 Nguyễn Danh Tiên (2002), "Quan điểm của Đảng về giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ đổi mới", Lịch sử Đảng, (5),
tr 27-30
3 Nguyễn Danh Tiên (2005), "Mấy suy nghĩ về việc giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Lịch sử Đảng, (1), tr 57-60
4 Nguyễn Danh Tiên (2005), "Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
mở rộng giao lưu văn hóa trong thời kỳ đổi mới", Lịch sử Đảng, (12), tr 49-52
5 Nguyễn Danh Tiên (2006), "Đảng lVnh đạo xây dựng, phát triển văn
hóa thời kỳ đổi mới - Một số thành tựu và hạn chế", Lịch sử
Đảng, (12), tr 43-46
Trang 3Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có một nền văn hóa lâu đời và đậm đà bản sắc dân tộc, giàu
tinh hoa và giá trị cổ truyền Trải qua nghìn năm bị các thế lực ngoại bang đô
hộ, những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc không những không mất mà
còn ngày càng phát triển Từ khi ra đời và gánh vác sứ mệnh giải phóng
dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đ< l<nh đạo nhân dân ta dựng xây một
nền văn hóa đặc sắc Sức mạnh của nền văn hóa đó đ< giúp dân tộc ta
đánh thắng kẻ thù xâm lược và không bị đồng hóa bởi nền văn hóa ngoại
lai Nghiên cứu sự l<nh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa trong các thời kỳ
cách mạng là việc làm cần thiết, song cho đến nay vấn đề này vẫn còn là
khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử Đảng Do vậy, việc nghiên cứu đề
tài Đảng l<nh đạo văn hóa càng trở nên cấp bách nhằm tái hiện trung thực
sự l<nh đạo toàn diện của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Công cuộc đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế tạo ra nhiều thuận lợi
cho sự phát triển mọi mặt của đất nước, song cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ
mà một trong những nguy cơ đó là sự mai một giá trị truyền thống và bản
sắc dân tộc dẫn đến trở thành bóng mờ và bản sao chép của người khác
Chưa bao giờ việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được đặt
ra như một vấn đề vừa cơ bản, lâu dài vừa cấp bách, quyết định sự tồn
vong của dân tộc trong cuộc đua tranh với các dân tộc khác trên thế giới
như hiện nay Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với việc chăm lo phát triển
kinh tế, Đảng chú trọng xây dựng và phát triển văn hóa Văn hóa được coi
là năng lực nội sinh của sự phát triển; nhiệm vụ xây dựng và phát triển
văn hóa là một trong ba nhiệm vụ chính cùng với nhiệm vụ phát triển
kinh tế và xây dựng Đảng nhằm tạo ra sự phát triển bền vững của đất
nước Trong xây dựng và phát triển văn hóa, Đảng chủ trương xây dựng
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nhằm phát huy những giá
trị, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tăng cường hội
nhập và giao lưu văn hóa để tiếp thu tinh hoa toàn nhân loại nhằm làm
phong phú và hiện đại, làm đậm đà và bền vững thêm bản sắc dân tộc, qua đó sắp xếp lại các bậc thang giá trị cho phù hợp; cải biến và sáng tạo
ra các hình thức mới để biểu đạt sâu sắc nội dung giá trị văn hóa dân tộc trong muôn vàn vòng sáng đa sắc của văn hóa toàn nhân loại
Sự l<nh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ đổi mới là nhân tố quan trọng đem lại những thành tựu to lớn mà một trong những thành tựu quan trọng là góp phần tạo nên sự ổn định về tư tưởng, chính trị, x< hội để thúc đẩy kinh tế phát triển, đồng thời từng bước khẳng định
vị thế (bản sắc) Việt Nam trên trường quốc tế
Có thể nói, nghiên cứu sự l<nh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là 10 năm (1991 - 2001) là một vấn đề có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm chứng minh sự l<nh đạo toàn diện của Đảng đối với cách mạng Việt Nam hiện đại Đồng thời, khẳng
định sự l<nh đạo của Đảng đối với lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm này là yêu cầu cấp bách để Việt Nam "hòa nhập" mà không "hòa tan", phát triển
đất nước bền vững theo đúng định hướng x< hội chủ nghĩa (XHCN) và góp phần hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI Với những lý do trên, tôi chọn vấn đề "Đảng lnh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc từ
1991 đến 2001" làm đề tài luận án của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về sự l0nh đạo của Đảng đối với văn hóa đ< có nhiều công trình khoa học đề cập đến Đó là: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng văn hóa góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Phạm Khắc Khánh, Một số suy nghĩ về phương thức l0nh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8-1998; Nguyễn Duy Bắc, Về l0nh đạo, quản lý văn học - nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Nxb Chính trị quốc
Trang 4gia, Hà Nội, 2002; Đỗ Đình H<ng, Nâng cao năng lực l0nh đạo của Đảng
trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6-2004; Ban Tư
tưởng - Văn hóa Trung ương, Công tác tư tưởng văn hóa phải trở thành
nguồn lực x0 hội góp phần tích cực thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, Hà Nội, 2004; Nội dung chủ yếu của các công trình này đề cập
đến phương thức l<nh đạo và các giải pháp nâng cao sự l<nh đạo của Đảng
trên lĩnh vực văn hóa
Về thực trạng văn hóa những năm đổi mới, có một số tác giả và công
trình khoa học đề cập đến Tiêu biểu là các tác giả, tác phẩm: Vũ Khiêu,
Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng và văn hóa, Nxb Khoa học x<
hội, Hà Nội, 1987; Đỗ Mười, Thể hiện khát vọng của nhân dân về cái
chân, cái thiện, cái mỹ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1993; Phạm Văn Đồng, Văn
hóa và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa Văn hóa x< hội chủ nghĩa, Văn hóa dân tộc
trong quá trình mở cửa ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1996; Từ Sơn, Dõi theo tiến trình đổi mới văn hóa văn nghệ, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1998; Lê Quang Thiêm, Văn hóa với sự phát triển của x0
hội Việt Nam theo định hướng x0 hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1998; Hoàng Vinh, Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở
nước ta, Nxb Văn hóa - thông tin, Hà Nội, 1999; Hồ Sĩ Vịnh, Văn hóa Việt
Nam trong tiến trình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999;
Nguyễn Khoa Điềm, Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Phạm
Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên), Về phát triển văn hóa và xây
dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2003; Phạm Quang Nghị, Ngành văn hóa thông tin lớn
lên cùng cách mạng, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 9-2005
Các công trình khoa học nghiên cứu về văn hóa đ< phác họa những nét
chính về tình hình văn hóa Việt Nam thời kỳ đổi mới và trong một chừng
mực nhất định đề cập đến sự l<nh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa Tuy
nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách
toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng l<nh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc những năm 1991-2001
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 3.1 Mục đích
Thông qua việc nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam l<nh
đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nhằm chứng minh sự l<nh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam nói chung và công cuộc đổi mới nói riêng là toàn diện Qua đó, khẳng định
sự l<nh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa là một bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước 3.2 Nhiệm vụ
- Trình bày có hệ thống những chủ trương, đường lối văn hóa của Đảng những năm 1991 - 2001
- Nêu bật sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng đối với những vấn đề cơ bản
và then chốt của văn hóa thời kỳ này
- Phác họa chân thực và khách quan những nét cơ bản tình hình văn hóa trong năm năm (1991 - 2001)
- Nêu rõ những thành tựu, hạn chế của Đảng trong quá trình l<nh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc
4 Phạm vi nghiên cứu của luận án Văn hóa là một đề tài rộng lớn và rất phức tạp nên luận án không nghiên cứu văn hóa dưới góc độ văn hóa học và cũng không đi sâu nghiên cứu những vấn đề thuộc về sự nghiệp văn hóa mà chỉ tập trung nghiên cứu quá trình Đảng l<nh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc thể hiện qua sự hình thành và phát triển, đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình Đảng l<nh đạo những vấn đề cơ bản và cốt lõi của văn hóa như: xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống; gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; xây dựng đời sống văn hóa cơ sở; phát triển văn học - nghệ thuật và báo chí, xuất bản
Trang 5Về thời gian:
Luận án nghiên cứu quá trình Đảng l<nh đạo xây dựng và phát triển
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc từ 1991 đến 2001 Bởi lẽ,
đây là thời kỳ thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - x0 hội
đến năm 2000
5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả dựa trên: Lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn
hóa mác-xít, văn hóa XHCN; quan điểm, đường lối của Đảng về xây
dựng nền văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới toàn diện,
mở cửa, hội nhập quốc tế
5.2 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được sử dụng chủ yếu trong luận án bao gồm: Những
tác phẩm kinh điển của C.Mác - Ph Ăngghen, V.I Lênin, Hồ Chí Minh;
những văn kiện của Đảng và Nhà nước về văn hóa; các bài nói, bài viết
của các đồng chí l<nh đạo Đảng và Nhà nước; báo cáo hàng năm của Ban
Tư tưởng - Văn hóa Trung ương và Bộ Văn hóa - Thông tin; các công
trình nghiên cứu về văn hóa của các nhà khoa học trong và ngoài nước
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic,
đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành: thống
kê, đối chiếu, so sánh, đồng đại, lịch đại, phân tích - tổng hợp, phương
pháp chuyên gia và điều tra x< hội học
6 Đóng góp khoa học của luận án
Luận án phân tích, chỉ rõ những bước phát triển trong tư duy lý luận
và đường lối văn hóa của Đảng những năm 1991 - 2001 Đồng thời, nêu bật sự
chỉ đạo linh hoạt, kịp thời của Đảng trên những lĩnh vực văn hóa cơ bản Qua
đó, khẳng định những thành tựu, hạn chế và đúc kết những kinh nghiệm
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình l<nh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Những kết quả của luận án đóng góp vào công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 3 chương, 8 tiết
nội dung cơ bản của luận án
Chương 1
Đảng Cộng sản Việt Nam lnh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa trong những năm đất nước tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện, từ 1991 đến 6-1996 1.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa trước đổi mới
1.1.1 Khái niệm văn hóa Luận án tổng hợp một số khái niệm văn hóa của phương Đông và phương Tây về văn hóa qua các thời kỳ lịch sử, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến các quan điểm của Mác - Lênin về văn hóa Luận án cũng trình bày một số quan niệm về văn hóa của UNESCO và các nhà nghiên cứu văn hóa trong nước như: Đào Duy Anh, Vũ Khiêu, Phạm Văn Đồng Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn và rất phức tạp nên sự l<nh đạo của
Đảng đối với văn hóa có những đặc thù riêng Luận án trình bày khái niệm Đảng l<nh đạo văn hóa, nội hàm, quy trình và tính đặc thù trong quá trình Đảng l<nh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc
1.1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa trước đổi mới
Luận án nêu những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng
ta về văn hóa được đề cập trong Đề cương về văn hóa Việt Nam, tác phẩm
Trang 6Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam và những quan điểm của Đảng qua
các thời kỳ lịch sử từ khi Đảng ra đời đến năm 1991
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt
Nam, mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn
hóa) mà ở đó người cộng sản phải hoạt động; văn hóa không thể đứng
ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị Nguyên tắc vận động của văn
hóa Việt Nam là: dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa Trong
công cuộc xây dựng x< hội mới, văn hóa phải XHCN về nội dung và dân
tộc về hình thức Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng tư tưởng - văn hóa
là xây dựng nền văn hóa mới, con người mới
Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam
về văn hóa trước đổi mới là cơ sở và tiền đề để Đảng ta tiếp tục đổi mới tư duy
lý luận về văn hóa và không ngừng hoàn thiện đường lối văn hóa trong thời kỳ
đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng
1.2 Từng bước bổ sung, phát triển đường lối văn hóa
1.2.1 Những đổi mới bước đầu trong tư duy, đường lối văn hóa của
Đảng và tình hình văn hóa đất nước những năm đầu đổi mới
Bước vào thời kỳ đổi mới, với quan điểm đổi mới toàn diện, ngày
28-11-1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 05-NQ/TW Về đổi mới và
nâng cao trình độ l0nh đạo, quản lý văn học nghệ thuật và văn hóa Nghị
quyết khẳng định: văn hóa là bộ phận trọng yếu của cuộc cách mạng tư
tưởng văn hóa, là một lực lượng mạnh mẽ, đồng thời là mục tiêu lớn trong
sự nghiệp xây dựng CNXH
Những đổi mới đầu tiên trong tư duy và đường lối văn hóa của Đảng
đ< tạo ra bước phát triển mới trong hoạt động văn hóa - nghệ thuật những
năm 1986 - 1990, đồng thời tạo tiền đề cho sự đổi mới mạnh mẽ trên lĩnh
vực văn hóa những năm đầu thập kỷ 90
1.2.2 Tiếp tục đổi mới tư duy và phát triển đường lối văn hóa
Bước vào những năm đầu thập kỷ 90, xu thế toàn cầu hóa và mở rộng
giao lưu, hợp tác quốc tế tạo điều kiện để văn hóa dân tộc tiếp xúc và thụ
hưởng các giá trị văn hóa toàn nhân loại Song quá trình mở cửa, hội nhập với thế giới bên ngoài và công cuộc đổi mới theo cơ chế thị trường đang làm nảy sinh nguy cơ phá hoại những giá trị nhân bản, những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, làm suy yếu và mờ dần bản sắc dân tộc Tình hình đó đặt ra một vấn đề cấp thiết cho Đảng và Nhà nước là phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận văn hóa để kịp thời hoạch định đường lối văn hóa cho phù hợp với tình hình mới
Tiếp nối tư duy đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI và Nghị quyết
số 05 của Bộ Chính trị, các văn kiện Đại hội VII, Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ đều khẳng định: kinh tế và văn hóa là hai mặt tác động qua lại lẫn nhau nhằm xây dựng một x0 hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, từng bước vươn tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, x0 hội công bằng, văn minh Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCHTW khóa VII Về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt đánh dấu sự phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng về
vị trí, vai trò của văn hóa khi khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của x0 hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - x0 hội, đồng thời
là mục tiêu của CNXH
Cùng với bước phát triển trong nhận thức, Đảng chỉ rõ, phải xây dựng và phát triển nền văn hóa mới theo định hướng XHCN - một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCHTW khóa VII xác định 5 nguyên tắc và tư tưởng chỉ đạo, đồng thời chỉ ra các giải pháp phát triển văn hóa trong những năm giữa thập kỷ 90
Sự đổi mới trong tư duy lý luận văn hóa, đồng thời cũng là bước phát triển trong đường lối văn hóa của Đảng thể hiện ở những điểm sau: Một là, với quan niệm văn hóa là nền tảng tinh thần của x0 hội, vừa
là mục tiêu, động lực thúc đẩy kinh tế - x0 hội phát triển, Đảng đ< nhìn nhận ngày càng đúng đắn vị trí, vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước Quan niệm này chứng tỏ tư duy lý luận văn hóa của Đảng đ< bắt kịp xu thế phát triển của thời đại
Trang 7Hai là, trong bối cảnh mới, Đảng chủ trương xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Điều đó thể hiện tầm nhìn chiến lược của
Đảng nhằm hội nhập toàn diện với tất cả các nước và các dân tộc trên thế
giới để qua đó tiếp thụ tinh hoa văn hóa toàn nhân loại, góp phần làm
giàu, đẹp và phong phú nền văn hóa dân tộc
Ba là, với quan niệm độc lập dân tộc và CNXH là cốt lõi, tư tưởng
văn hóa, văn nghệ nước ta, mục tiêu phát triển văn hóa mà Đảng đề ra
trùng hợp với mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng, văn
minh, đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đ< nói: Văn hóa là đổi
mới, đổi mới là văn hóa
1.3 Quá trình Đảng chỉ đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa
trong những năm 1991 - 1996
1.3.1 Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh
Trong những năm tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện, trước những
tác động tiêu cực sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông
Âu, trước nguy cơ chệch hướng và âm mưu "diễn biến hòa bình" của các
thế lực thù địch, ngày 18-2-1995, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 09-NQ/TW Về
một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay Nghị quyết nêu
6 định hướng lớn chỉ đạo công cuộc đổi mới theo đúng định hướng XHCN
Trong chỉ đạo thực tiễn, Đảng l<nh đạo nhân dân ta kiên định chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên trì định hướng XHCN; kiên trì
chế độ một đảng và sự l<nh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; kiên quyết
đổi mới song không "đổi màu", hòa nhập nhưng không "hòa tan"
Cùng với việc coi trọng xây dựng chính trị, tư tưởng, Đảng luôn quan
tâm xây dựng đạo đức, lối sống; kiên quyết chống những hiện tượng và
hành vi thô bạo, lai căng, phản văn hóa, phi đạo đức; kế thừa và phát huy
những truyền thống nhân ái, nghĩa tình cùng những thuần phong mỹ tục
của dân tộc
Sự l<nh đạo chặt chẽ của Đảng đ< tạo nên sự chuyển biến tích cực
đến tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống của các tầng lớp nhân dân
Tuy nhiên, trong x< hội đang xuất hiện những nguy cơ đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước Đó là nguy cơ chệch hướng lý tưởng, suy thoái đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ
có chức, có quyền; lối sống lai căng, đua đòi, thiếu lý tưởng ở một bộ phận thanh, thiếu niên
1.3.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước cũng như trong chỉ đạo thực tiễn, Đảng luôn chú trọng và giữ gìn, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể); các lễ hội và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; những thuần phong, mỹ tục và các vốn văn hóa cổ của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Song song với việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, Đảng
và Nhà nước chú trọng lập lại trật tự, kỷ cương trên lĩnh vực văn hóa Trong tháng 12-1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 87/ NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 64/CT-TTg về Tăng cường l0nh đạo, quản lý; lập lại trật tự kỷ cương trong các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn x0 hội nghiêm trọng
Đi đôi với việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, Đảng chủ trương mở rộng giao lưu, tiếp thụ tinh hoa văn hóa thế giới Nhà nước
ký hiệp định văn hóa với hơn 20 nước và gần 100 dự án về hợp tác văn hóa 1.3.3 Từng bước đổi mới hoạt động văn học - nghệ thuật, thông tin đại chúng
Trong những năm tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện, Đảng đề cao vị trí, vai trò của văn hóa - nghệ thuật Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCHTW khóa VII khẳng định: Sự nghiệp văn nghệ là một bộ phận khăng khít của sự nghiệp đổi mới Nhận thức rõ vị trí, vai trò của văn học - nghệ thuật, Chính phủ ban hành nhiều chính sách như: Hỗ trợ 100% kinh phí cho việc xây dựng các tiết mục cho các đơn vị nghệ thuật dân tộc; chế độ
đặt hàng đối với các nhà văn, nhà thơ về đề tài thiếu nhi, đề tài chiến tranh cách mạng; tài trợ các tài năng văn hóa - nghệ thuật
Trang 8Sự l<nh đạo của Đảng và sự đầu tư kinh phí, đổi mới cơ chế, chính
sách của Nhà nước bước đầu tạo ra sự chuyển biến trong lĩnh vực văn hóa -
nghệ thuật Hoạt động văn học - nghệ thuật phong phú hơn về nội dung,
đa dạng hơn về hình thức thể hiện và bước đầu có sự cách tân về thi pháp,
phong cách
Tuy nhiên, hoạt động văn học - nghệ thuật những năm 1991 - 1996
còn một số lệch lạc, biểu hiện ở các khuynh hướng: phủ định quá khứ hào
hùng của dân tộc; xuyên tạc sự thật; đối lập chính trị với văn nghệ và
thương mại hóa nghệ thuật
Lĩnh vực báo chí xuất bản nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng
và Nhà nước Ngày 31-3-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số
08-CT/TW Về tăng cường sự l0nh đạo và quản lý nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả công tác báo chí, xuất bản Ngày 19-7-1993, Chủ tịch
nước Cộng hòa XHCN công bố Luật xuất bản Nhà nước đầu tư hàng
trăm tỷ đồng phát triển hệ thống thông tin đại chúng
Hoạt động báo chí, xuất bản có bước phát triển cả về số lượng và
chất lượng Nếu năm 1991, cả nước mới có 350 tờ báo thì đến năm 1996,
có tổng số 449 cơ quan báo chí với 562 ấn phẩm báo chí; 8.263 cuốn sách
với 167.091.000 bản sách Hoạt động báo chí đi đầu trong định hướng tư
tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, x< hội; thực hiện dân chủ hóa
đời sống x< hội, đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực và âm mưu "diễn
biến hòa bình" của các thế lực thù địch
1.3.4 Tăng cường xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước xác định xây dựng đời
sống văn hóa cơ sở là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng và
phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, các cấp ủy đảng, chính
quyền tập trung chỉ đạo, đầu tư nhân, vật lực cho việc xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở Nhiều địa phương đ< sáng tạo ra các mô hình văn hóa mới
như: ấp văn hóa ở Cần Thơ; Thuyền văn hóa ở các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long và Huế; Chợ văn hóa ở Lào Cai, Khu văn hóa gia đình ở vùng
đồng bào Khơme Phong trào xây dựng làng văn hóa phát triển mạnh ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ Hà Bắc có 300 làng văn hóa, Hà Tây xây dựng 120 làng, Thanh Hóa có 10/23 huyện thị xây dựng làng văn hóa Phong trào xây dựng gia đình văn hóa phát triển tại tất cả các tỉnh, thành phố theo tiêu chí: Xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ
Chương 2
Đảng Cộng sản Việt Nam lnh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
từ 7-1996 đến 2001 2.1 Xây dựng chiến lược văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.1.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng và những
định hướng xây dựng, phát triển văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Những thành tựu đạt được sau 10 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới
đ< đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - x< hội và tạo tiền đề để chuyển đất nước bước sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước
Trong thời kỳ mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ: Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển x< hội Đại hội xác định những định hướng xây dựng và phát triển văn hóa trong những năm đầu CNH, HĐH đất nước Những quan điểm chỉ đạo của Đại hội VIII là cơ
sở, tiền đề cho việc hình thành chiến lược văn hóa trong thời kỳ mới
Trang 92.1.2 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương, khóa
VIII - bước phát triển mới trong đường lối văn hóa của Đảng
Sau 10 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, cùng với những thành tựu
kinh tế, trong x< hội xuất hiện nhiều nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng
đến sự phát triển bền vững của đất nước và đe dọa sự tồn vong của nền
văn hóa dân tộc Đó là sự suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ sùng
bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa truyền thống; nạn quan
liêu, tham nhũng làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự l<nh đạo của
Đảng Trước thực trạng đó, nhằm chấn hưng nền văn hóa dân tộc, Đảng
chủ trương tập trung trí tuệ toàn Đảng, toàn dân xây dựng chiến lược văn
hóa trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Từ ngày 6 đến 16-7-1998 diễn ra Hội nghị lần thứ năm BCHTW
khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc Hội nghị nêu 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ và 4
giải pháp nhằm tạo ra sự chuyển biến thực sự trên lĩnh vực văn hóa Nghị
quyết hội nghị thể hiện tập trung, toàn diện những đổi mới tư duy của
Đảng trên lĩnh vực văn hóa, đồng thời là bước phát triển trong đường lối
văn hóa của Đảng, biểu hiện ở những điểm sau:
Một là, khái niệm văn hóa được đề cập trên bình diện rộng
Hai là, nhận thức của Đảng về vai trò, vị trí của văn hóa ngày càng rõ
hơn do xác lập mối quan hệ khăng khít giữa kinh tế và văn hóa: văn hóa là kết
quả của kinh tế, đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế
Ba là, khẳng định rõ tính chất đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam là
tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời xác định những tiêu chí của nền
văn hóa tiên tiến và các yếu tố cấu thành bản sắc dân tộc
Bốn là, khẳng định tính thống nhất và đa dạng của nền văn hóa dân tộc
Năm là, Đảng đề cao và khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ
trí thức trong việc chấn hưng nền văn hóa dân tộc
Sáu là, Đảng xác định văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát
triển văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài của toàn Đảng, toàn dân
Trong quá trình tiến hành cách mạng văn hóa phải kiên trì, thận trọng và
có bước đi thích hợp
Hội nghị lần thứ năm BHCTW khóa VIII đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về văn hóa Nghị quyết hội nghị là văn kiện có tính cương lĩnh về văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước 2.2 Quá trình Đảng chỉ đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa trong những năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2001)
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương chỉ đạo các bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trong cả nước xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện các định hướng phát triển văn hóa trong thời kỳ mới
Ngay sau khi kết thúc Hội nghị lần thứ năm BCHTW khóa VIII, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 38-CT/TW về việc thực hiện nghị quyết và xác
định đây là nghị quyết có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới Ngày 17-9-1998, Chính phủ thông qua Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCHTW khóa VIII Chương trình hành động của Chính phủ là sự cụ thể một bước nghị quyết Trung ương 5, đồng thời là sự khởi động để đưa nghị quyết vào cuộc sống
Sự chỉ đạo chặt chẽ, đồng bộ của Đảng đ< tạo ra sự chuyển biến sâu rộng trên một số lĩnh vực văn hóa cơ bản
2.2.1 Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh Tiếp theo Hội nghị lần thứ năm BCHTW khóa VIII, Hội nghị lần thứ sáu BCHTW (lần 2, tháng 11-1999) tập trung bàn thảo những vấn đề cơ bản và cấp bách về nhận thức, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và một số vấn đề về tổ chức Nghị quyết hội nghị đ<
định hướng chính trị, tư tưởng trong Đảng và toàn x< hội, thiết thực xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân
Trang 10Ngày 12-5-1999, Bộ Chính trị ban hành quy định số 55-QĐ/TW Về
những điều đảng viên không được làm
Nhờ sự l<nh đạo trực tiếp của Đảng, công tác xây dựng tư tưởng, đạo
đức, lối sống có sự chuyển biến tích cực Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh được vận dụng sáng tạo trong tình hình mới trở thành nền tảng,
kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam Nhiều nét
mới trong các giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành
Tuy nhiên, một số người vẫn hoài nghi về chế độ XHCN và con đường đi lên
CNXH ở Việt Nam Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức,
lối sống ở một số cán bộ, đảng viên Trong x< hội xuất hiện lối sống sùng
ngoại, thực dụng, cá nhân, vị kỷ, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc
2.2.2 Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCHTW khóa VIII, kỳ họp
thứ 9 Quốc hội khóa X thông qua Luật di sản văn hóa Chính phủ giao
cho Bộ Văn hóa - Thông tin đẩy nhanh tiến độ tổng điều tra di sản văn
hóa Đến năm 2001, Nhà nước xếp hạng 2.504 di tích lịch sử, văn hóa cấp
quốc gia và tiến hành bảo tồn trên 300 dự án văn hóa phi vật thể
Bên cạnh việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, hàng năm
Đảng và Nhà nước khôi phục các lễ hội dân gian truyền thống Năm
2000, lần đầu tiên giỗ tổ Hùng Vương được coi là "quốc lễ", Đảng và
Nhà nước cũng tổ chức 20 lễ hội tầm quốc gia
Cùng với việc gìn giữ các di sản văn hóa và các lễ hội truyền thống,
Đảng và Nhà nước luôn coi trọng bảo tồn các giá trị văn hóa của các dân
tộc thiểu số; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;
đồng thời đẩy mạnh cuộc đấu tranh bài trừ văn hóa phẩm phản động, đồi trụy
Sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức
năng đ< thiết thực góp phần vào việc "xây" và "chống" trên lĩnh vực văn
hóa Đồng thời, tăng cường năng lực nội sinh của nền văn hóa dân tộc
trong quá trình mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực văn hóa
Đến năm 2000, Nhà nước đ< ký Hiệp định văn hóa với hơn 30 nước, hàng
chục tổ chức quốc tế và trên 100 dự án hợp tác về văn hóa
2.2.3 Xây dựng và phát triển văn học - nghệ thuật, thông tin đại chúng theo tiêu chí tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng chủ trương
"tăng nguồn đầu tư thích đáng cho khu vực sáng tạo văn hóa, văn học - nghệ thuật", đồng thời định hướng nền văn học - nghệ thuật theo tiêu chí tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong những năm 1996 - 2001, hoạt động sáng tạo văn học - nghệ thuật
đ< phản ánh sinh động công cuộc đổi mới; biểu dương những nhân tố mới và phê phán những hiện tượng tiêu cực Công tác lý luận phê bình văn hóa - nghệ thuật tích cực đấu tranh với các quan điểm sai trái Tuy nhiên, văn học - nghệ thuật chưa có tác phẩm xứng đáng với tầm vóc của công cuộc đổi mới Nhằm tạo động lực thúc đẩy hoạt động báo chí xuất bản, ngày 01-10-1997,
Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 22-CT/TW về việc Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự l0nh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản Từ ngày 22 đến 24-8-1997, Thường vụ Bộ Chính trị và Thường trực Chính phủ triệu tập Hội nghị báo chí, xuất bản toàn quốc Kỳ họp thứ năm, quốc hội khóa X (6-1999) thông qua Luật báo chí (sửa đổi)
Hoạt động báo chí, xuất bản trong những năm 1996 - 2001 có nhiều chuyển biến tích cực Đến năm 2001, cả nước có 486 cơ quan báo chí với trên 600 ấn phẩm, xuất bản hơn 550 triệu tờ báo Hệ thống xuất bản hàng năm phát hành hàng chục ngàn cuốn sách và hàng trăm triệu bản sách Báo chí, xuất bản đ< làm tốt chức năng là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước
và là diễn đàn của nhân dân; mạnh dạn đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực
và các tệ nạn x< hội, những lối sống trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc 2.2.4 Đẩy mạnh phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"
Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 23-12-1999, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 235/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạo quốc gia, chỉ
đạo thống nhất toàn quốc theo mô hình bốn cấp Ngày 21-4-2000, Bộ Văn hóa - Thông tin phối hợp với các bộ, ngành và các địa phương tổ chức lễ phát động trên phạm vi toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,