1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng lãnh đạo xây dựng và hoạt động của vành đai diệt Mỹ ở chiến trường miền Nam (1965-1975)

14 569 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 248,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng lãnh đạo xây dựng và hoạt động của vành đai diệt Mỹ ở chiến trường miền Nam (1965-1975)

Trang 1

Hồ Chí Minh

trịnh thị hồng hạnh

Đảng lãnh đạo xây dựng vμ hoạt động

của vμnh đai diệt mỹ ở chiến trường miền nam

(1965-1973)

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số : 62 22 56 01

tóm tắt luận án tiến sĩ lịch sử

hμ nội - 2008

tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Triệu Quang Tiến PGS,TS Trần Thị Thu Hương

Phản biện 1: GS,TS Phan Ngọc Liên

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Phản biện 2: PGS,TS Ngô Đăng Tri

Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội

Phản biện 3: PGS,TS Nguyễn Mạnh Hà

Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước, họp tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hội trường số 106B Nhà A14

Vào hồi giờ ngày tháng năm 2008

Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia và Thư viện Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 2

liên quan tới đề tμi luận án

1 Hồng Hạnh (2002), “Thế trận Vành đai diệt Mỹ - thế trận lòng

dân”, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,

Vành đai diệt Mỹ trên chiến trường Khu 5, Một sáng tạo của

chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,

tr 545-555

2 Trịnh Hồng Hạnh (2003), “Đấu tranh chống chiến dịch “Bình

định cấp tốc” của Mỹ - ngụy ở miền Đông Nam Bộ 1968-1969”,

Tạp chí Lịch sử Đảng, (9), tr.42-44, 52

3 Trịnh Hồng Hạnh (2004), “Vành đai diệt Mỹ - nhân tố góp phần

đánh bại chính sách bình định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở

Đông Nam Bộ”, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 - Tỉnh ủy Tây Ninh: Vành

đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến

tranh giải phóng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr 635-641

4 Trịnh Hồng Hạnh (2006), “Quá trình hình thành Vành đai diệt Mỹ

trên chiến trường Khu 5”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (10), tr 49-53

5 Trịnh Thị Hồng Hạnh (2007), “Quá trình xây dựng Vành đai diệt

Mỹ Củ Chi”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (4), tr 18-21

6 Trịnh Hồng Hạnh (2008), “Tìm hiểu vai trò của vành đai diệt Mỹ

trong Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968”, Bộ Quốc phòng,

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Về cuộc Tổng tiến công và nổi

dậy Tết Mậu Thân 1968, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,

tr 446-460

7 Trịnh Thị Hồng Hạnh (2008), “Bám sát thực tiễn, kịp thời tổng

kết kinh nghiệm của quân và dân miền Nam trên vành đai diệt

Mỹ”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (4), tr 9-14

Trang 3

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giữa năm 1965, trước sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”,

đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” Biện

pháp chủ yếu của chiến lược này là đưa quân viễn chinh Mỹ vào chiến

trường miền Nam trực tiếp tham chiến, mở các cuộc tiến công “tìm và diệt”

chủ lực ta, sử dụng quân đội cùng bộ máy đàn áp của chính quyền Sài Gòn

tiến hành “bình định” miền Nam Việt Nam, dùng không quân và hải quân

Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc

Đây là những năm tháng đọ sức vô cùng quyết liệt, toàn diện giữa lực

lượng cách mạng với bộ máy chiến tranh và lực lượng quân sự hùng hậu của

Mỹ - ngụy, là giai đoạn thử thách lớn đối với sự nghiệp cách mạng nước ta

Một vấn đề quan trọng đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta: Việt

Nam có đương đầu được với quân Mỹ không? Đánh Mỹ và thắng Mỹ bằng

cách nào?

Trước tình hình vô cùng khó khăn và phức tạp, toàn Đảng, toàn quân,

toàn dân ta nhất trí cao độ, sẵn sàng đương đầu và tìm cách đánh thắng quân

Mỹ Thực hiện quyết tâm kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược

của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào của Đảng, ở Khu 5, hệ thống

làng xã chiến đấu hình thành và phát triển trong những năm chống chiến

lược “Chiến tranh đặc biệt” được tổ chức lại, trở thành vành đai du kích bao

quanh và áp sát các căn cứ quân sự của quân Mỹ Từ Khu 5, nơi quân xâm

lược Mỹ có mặt đầu tiên, và từ thực tiễn đánh Mỹ, thắng Mỹ, vành đai diệt

Mỹ (VĐDM) nhanh chóng xuất hiện ở Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu

Long, bao vây những căn cứ xuất phát hành quân, căn cứ hậu cần - kỹ

thuật… của quân Mỹ được thiết lập trên những địa bàn có tầm quan trọng

chiến lược

Ngay từ khi xuất hiện và trong suốt quá trình tồn tại (từ 1965 đến 1973),

VĐDM đã phát huy vai trò, tác dụng quan trọng của nó Cuộc chiến đấu của

quân dân vành đai đã ghìm chặt một bộ phận quan trọng lực lượng quân Mỹ

ở miền Nam trong các căn cứ, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực Quân

giải phóng mở các chiến dịch lớn ở những hướng chiến lược

Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, sự lãnh đạo của Đảng, sự chủ

động sáng tạo của các cấp bộ đảng trong quá trình xây dựng, phát triển và

phát huy vai trò, tác dụng của VĐDM sẽ góp phần tái hiện đầy đủ hơn cuộc

đấu tranh anh dũng của quân dân ta ở miền Nam, lý giải rõ hơn một trong những nhân tố làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Từ đó, đúc rút một số kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn trong xây dựng thế trận quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Chính vì thế, tôi

chọn vấn đề: “Đảng l∙nh đạo xây dựng và hoạt động của vành đai diệt

Mỹ ở chiến trường miền Nam (1965-1973)” làm đề tài luận án tiến sĩ lịch

sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

VĐDM là một hình thức đánh giặc độc đáo, sáng tạo, là chủ đề thu hút sự quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu của các nhà sử học trong nước và nước ngoài, được đề cập ở các sách, báo, hội thảo khoa học về cuộc chiến tranh giữa đế quốc Mỹ và nhân dân Việt Nam Có thể tìm hiểu theo các cụm sau:

2.1 Các công trình lịch sử về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã

được xuất bản: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954-1975) của

Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb

CTQG, HN, 1995; Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975,

của Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tập IV, Nxb CTQG,

HN, 1999, tập V (2001), tập VI (2003), tập VII (2007) Những công trình này tổng kết sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong đó VĐDM được đề cập đến là một hình thức

đánh Mỹ sáng tạo tại các địa phương có căn cứ quân sự Mỹ

Một số công trình nghiên cứu, biên soạn về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lịch sử truyền thống của địa phương miền Nam đề cập khá cụ thể, sinh động về một số sự kiện, hoạt động tiêu biểu của các lực lượng trên VĐDM

Một số công trình chuyên khảo nghiên cứu về chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã đề cập tới các vấn đề

thuộc về hoặc liên quan tới VđDM: Chiến tranh nhân dân địa phương

trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) của Bộ Quốc phòng,

Nxb QĐND, HN, 1998; Chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng

chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Chuyên đề Vành đai diệt Mỹ trên

địa bàn Khu 5 của Bộ Tổng Tham mưu, Nxb QĐND, HN, 1997; Báo cáo

Trang 4

tổng kết về Vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn của Huyện uỷ Châu Thành, Tây

Ninh, 1984; Vành đai diệt Mỹ Bình Đức của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng

tỉnh Tiền Giang, xuất bản năm 1985… Những công trình này, ở từng chừng

mực, đã đề cập tới quá trình xây dựng, hoạt động của VĐDM ở một số địa

phương, rút ra những kinh nghiệm đúc kết từ quá trình đó

2.2 Trong một số kỷ yếu hội thảo khoa học về VĐDM trên chiến trường

Khu 5, miền Đông Nam Bộ, một số tham luận đã trình bày các khía cạnh

thuộc về sự chỉ đạo của Khu ủy 5, Bộ Chỉ huy Miền, đảng bộ các địa

phương đối với quá trình hình thành, xây dựng, củng cố thế trận và lực

lượng trên một số vành đai tiêu biểu

2.3 Một số luận văn thạc sĩ lịch sử nghiên cứu về một VĐDM hoặc

VĐDM ở một vùng

2.4 Một số bài công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành đã trình

bày khái quát hoặc đề cập tới một số khía cạnh thuộc về VĐDM, trên từng

mặt và ở từng địa bàn cụ thể

2.5 Trong một số sách, báo của các tác giả nước ngoài, đặc biệt là của

các tác giả Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam được đề cập khá cụ thể từ nhiều

chiều cạnh ở khối tài liệu này, người nghiên cứu nắm thêm được tư liệu

mới, những nhận xét, đánh giá về quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam,

về chính sách, chiến lược quân sự của Chính phủ Mỹ, nhất là về “chiến lược

đóng chốt”, phát triển các căn cứ quân sự Mỹ ở miền Nam; những nỗ lực

cũng như sự ứng phó lúng túng, bị động của quân Mỹ trên chiến trường, ở

ngay cả xung quanh hệ thống căn cứ quân sự Mỹ

Tóm lại, những tư liệu trong và ngoài nước thuộc về hoặc liên quan tới

chủ đề VĐDM đã được công bố là tương đối đa dạng, phong phú Nhiều

vấn đề liên quan đến quá trình hình thành, đấu tranh trên VĐDM đã được

đặt ra để phân tích, đánh giá Song, các tài liệu đó chỉ đề cập đến VĐDM ở

một mức độ nhất định trong việc nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Mỹ từ

1965 đến 1973, chủ yếu trên góc độ nghiên cứu lịch sử quân sự, lịch sử

chiến tranh, lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh Đến nay chưa có một công trình

nào nghiên cứu một cách hệ thống sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với

quá trình hình thành, xây dựng, đấu tranh của các lực lượng trên VĐDM,

làm nổi bật sự sáng suốt, tài tình của Trung ương Đảng, sự sáng tạo của các

cấp bộ đảng địa phương trong quá trình tìm cách đánh Mỹ, thắng Mỹ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

3.1 Mục đích

- Làm rõ thêm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng; nêu bật sự vận dụng sáng tạo và chủ động đường lối chiến tranh nhân dân (CTND) của các cấp bộ đảng miền Nam trong quá trình đề ra chủ trương, chỉ đạo thực hiện việc xây dựng, phát huy vai trò các VĐDM trên chiến trường

- Làm rõ hơn cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt của quân và dân ta trên mặt trận vành đai

3.2 Nhiệm vụ

- Trình bày tổng quát âm mưu, thủ đoạn, biện pháp của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong khoảng thời gian từ 1965 đến 1973

- Trình bày quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Trung

ương Cục miền Nam (TƯCMN), Bộ Chỉ huy Miền; sự chỉ đạo của các Khu

uỷ và Quân khu uỷ, của các cấp bộ đảng địa phương trên địa bàn có căn cứ quân Mỹ trong quá trình hình thành, xây dựng và phát huy vai trò, tác dụng của các VĐDM

- Phân tích vai trò của VĐDM đối với cách mạng miền Nam; đúc rút một số kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Nghiên cứu đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng; chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo của TƯCMN, Bộ Chỉ huy Miền các Khu uỷ và các cấp bộ đảng địa phương trong quá trình tổ chức, xây dựng và hoạt động của VĐDM

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian, tìm hiểu quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với việc xây dựng, phát triển thế trận và lực lượng của CTND xung quanh hệ thống căn cứ quân sự Mỹ, tập trung vào những VĐDM tiêu biểu cho từng vùng, cụ thể là Đà Nẵng, Chu Lai, An Khê, Trảng Lớn, Củ Chi, Rạch Kiến, Bình Đức

- Về thời gian: từ đầu năm 1965 đến tháng 1-1973 Nghiên cứu sinh chọn mốc kết thúc là thời gian Hiệp định Pari được ký kết, xác định việc chấm dứt vai trò của quân Mỹ trên chiến trường miền Nam Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, mốc kết thúc vai trò của mỗi VĐDM là ngày quân Mỹ rút khỏi mỗi căn cứ cụ thể

Trang 5

5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên: Lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những quan điểm cơ bản của

Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh cách mạng, CTND; vai trò của

Đảng và quần chúng nhân dân trong lịch sử

5.2 Nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu được sử dụng chủ yếu trong luận án bao gồm: các nghị

quyết, chỉ thị, điện văn, báo cáo của Trung ương Đảng, TƯCMN, các Khu

uỷ, các cấp bộ đảng địa phương, chủ yếu từ 1965-1973; các công trình

nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ; các bài nói, viết, hồi ký của

một số đồng chí lãnh đạo, lão thành cách mạng, nhân chứng lịch sử; tài

liệu của Chính quyền Việt Nam cộng hòa, Chính phủ Mỹ; sách, báo,

phim, ảnh tư liệu nước ngoài, chủ yếu là của các tác giả Mỹ, về cuộc chiến

tranh Việt Nam

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp

lôgíc, đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, so

sánh, đối chiếu

6 Đóng góp khoa học của luận án

- Xây dựng hệ thống tư liệu tương đối hoàn chỉnh về quá trình Trung

ương Đảng, các cấp bộ đảng địa phương lãnh đạo xây dựng và chỉ đạo hoạt

động của VĐDM

- Nêu bật quá trình lãnh đạo chủ động, linh hoạt, sáng tạo của Trung

ương và các cấp bộ đảng

- Làm nổi bật các hình thức tổ chức, lực lượng, phương thức hoạt

động và xây dựng thế trận, vai trò, tác dụng của VĐDM trên chiến

trường miền Nam

- Đúc kết một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng VĐDM

của Đảng và ý nghĩa thực tiễn trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,

luận án có 3 chương, 6 tiết

Nội dung cơ bản của luận án

Chương 1

Đảng lãnh đạo xây dựng vμ phát huy thế trận Vμnh Đai diệt mỹ, chống chiến lược

“chiến tranh cục bộ” (1965 – 1968)

1.1 Chủ trương của Đảng trước thách thức mới

1.1.1 Đế quốc Mỹ đưa quân vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam

Luận án khái quát sự thay đổi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ

đầu của năm 1965 Nguy cơ bị thất bại hoàn toàn trước cuộc đấu tranh cách mạng của quân và dân miền Nam buộc chính quyền Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đổ hàng chục vạn quân chiến đấu và

mở rộng qui mô cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam

Một hệ thống căn cứ quân sự dày đặc cùng nhiều căn cứ quân sự liên hợp quy mô lớn được thiết lập, bố trí trên các địa bàn trọng yếu ven biển, đô thị, các khu vực khống chế giao thông huyết mạch, đặc biệt tập trung ở Khu

5, Tây Nguyên, Trị Thiên, Đông Nam Bộ Với một binh lực hùng hậu, trang

bị vũ khí và phương tiện chiến tranh dồi dào, hiện đại, Mỹ và chính quyền Sài Gòn triển khai thực hiện chiến lược “tìm và diệt” cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam và chủ lực Quân giải phóng miền Nam

1.1.2 Đảng chủ trương quyết tâm đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ”

Chủ động, quyết tâm đánh thắng Mỹ xâm lược được thể hiện tại Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa III) tháng 3-1965, tiếp đó là tại Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng

12-1965 Hội nghị hạ quyết tâm đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân

chống Mỹ, cứu nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ chống

Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước, kêu gọi nhân dân cả nước “hãy đoàn kết nhất trí triệu người

như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”

Trang 6

Trong khoảng thời gian đó, tại Khu 5, trước tình hình Mỹ ồ ạt đổ quân,

tiến hành càn quét, bắn phá, lập “vành đai trắng”, xây dựng căn cứ quân sự,

Thường vụ Khu uỷ, Quân khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 kịp thời đề ra

nhiệm vụ về công tác tư tưởng và tổ chức, chủ động chuẩn bị đón đánh quân

Mỹ VĐDM nhanh chóng hình thành ở những địa phương có căn cứ quân

Mỹ, trước hết là Đà Nẵng, Chu Lai Chủ trương xây dựng VĐDM chứng tỏ

sự nhạy bén, sáng tạo trước tình hình cách mạng cấp bách của Đảng bộ Khu

5, thể hiện tinh thần táo bạo trong chỉ đạo CTND ở địa bàn đầu tiên phải

trực diện đối mặt với quân Mỹ

VĐDM là hệ thống những làng xã chiến đấu áp sát, bao quanh các căn

cứ quân sự Mỹ, được tổ chức thành thế trận vây hãm và tiến công địch ngay

tại căn cứ trên chiến trường miền Nam

Theo dõi sát diễn biến tình hình chiến trường, Bộ Chính trị, Quân ủy

Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh đã có những chỉ thị quan trọng cho TƯCMN,

cho lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, các địa phương miền Nam Trong

thư gửi TƯCMN tháng 11-1965, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban

Chấp hành Trung ương Đảng, đã chỉ đạo cụ thể nhiều vấn đề về CTND,

trong đó có công tác mở rộng, phát triển vành đai diệt Mỹ

Việc đánh giá cao sáng kiến lập VĐDM của địa phương vừa khích lệ

tinh thần đấu tranh của cán bộ, đảng viên và nhân dân, vừa chỉ ra những

phương hướng quan trọng để các địa phương trên toàn miền Nam tiếp tục

xây dựng và phát huy hiệu quả của VĐDM

1.2 Xây dựng, phát huy sức mạnh vành đai diệt Mỹ, góp phần đánh

thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968)

1.2.1 Quá trình hình thành vành đai diệt Mỹ

Luận án trình bày quá trình hình thành các VĐDM tiêu biểu trên chiến

trường miền Nam, từ Trung Trung Bộ đến Nam Bộ Công tác chỉ đạo và

xây dựng thế trận được tiến hành trên các mặt: tư tưởng; tổ chức lãnh đạo,

chỉ đạo; hệ thống làng xã chiến đấu liên hoàn, tổ chức lực lượng trên các

tuyến vành đai

Vành đai hình thành đầu tiên là VĐDM Đà Nẵng Các cấp ủy đảng địa

phương đã có những sáng tạo trong chỉ đạo xây dựng lực lượng và tổ chức

thế trận đánh Mỹ, tạo nên cơ sở quan trọng để Trung ương Đảng chỉ đạo các

địa phương trên toàn miền Nam phát triển VĐDM, phát huy sức mạnh của

CTND địa phương

Căn cứ vào thực tiễn của từng địa phương, phát huy cao độ sức mạnh của CTND, các cấp bộ đảng (khu ủy, tỉnh ủy, huyện ủy) đã chỉ đạo, lãnh đạo quân và dân xây dựng VĐDM, điển hình là VĐDM An Khê (Gia Lai), VĐDM Trảng Lớn (Châu Thành, Tây Ninh), VĐDM Củ Chi (Gia Định), VĐDM Bình Đức (Mỹ Tho), VĐDM Rạch Kiến (Long An) Đặc điểm từng chiến trường: Khu 5, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Trung Nam Bộ ảnh hưởng rõ nét đến đặc thù của vành đai tại mỗi địa phương

Vành đai diệt Mỹ nhanh chóng hình thành ở các địa phương có căn cứ quân Mỹ, tạo nên hệ thống VĐDM trên chiến trường miền Nam Bên cạnh

những nét đặc thù, các VĐDM có những điểm chung

Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo: có Ban chỉ huy chung, đặt dưới sự lãnh

đạo của Thường vụ Tỉnh uỷ, sự điều hành của Ban chỉ huy quân sự tỉnh Nhiệm vụ chủ yếu của Ban chỉ huy vành đai là tổ chức xây dựng vành đai,

điều hành hoạt động đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị (ĐTCT) và binh vận của toàn bộ lực lượng vũ trang (LLVT), lực lượng chính trị (LLCT) Thế trận vành đai thường được phân chia thành tuyến hoặc khu vực Quân và dân vành đai thực hiện nhiều cách đánh giặc linh hoạt, sáng tạo,

điển hình là “bám thắt lưng địch mà đánh”, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân

sự và ĐTCT, binh vận

Những điều kiện dẫn tới sự ra đời và phát huy vai trò của Vành đai

diệt Mỹ:

Điều kiện đầu tiên có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, kịp thời của Đảng trong chiến tranh cách mạng miền Nam, trực tiếp là

sự chủ động, sáng tạo của tổ chức Đảng các cấp trên chiến trường

Điều kiện thứ hai là sự phát triển của phong trào cách mạng ở địa phương

Điều kiện thứ ba là xây dựng thế trận vành đai liên hoàn, vững chắc, bảo đảm cho các lực lượng trụ bám đánh địch VĐDM không phải là một

tập hợp đơn giản những làng xã chiến đấu, thôn ấp chiến đấu có sẵn, mà

được tổ chức lại để trở thành một hệ thống gắn bó, liên hoàn và tăng khả năng chiến đấu trên tất cả các phương diện liên quan Điều có ý nghĩa quyết

định đảm bảo sức mạnh và tính bền vững của các VĐDM là hình thành và

củng cố ban chỉ huy chung VĐDM còn có cả một mặt trận CTND rộng

lớn, bao gồm các thôn, xã ở trong khu vực căn cứ và các vùng xung quanh

Trang 7

Điều kiện thứ tư là tổ chức xây dựng các lực lượng chiến đấu, công tác

trên vành đai Trước hết, đó là xây dựng bộ máy lãnh đạo, chỉ huy bao gồm

Ban chỉ huy vành đai (BCHVĐ), các chi bộ, tổ đảng và đảng viên, các chi

đoàn và đoàn viên, lực lượng nòng cốt trong các tổ chức quần chúng (Thanh

niên, Nông hội, Phụ nữ…) Thứ hai là xây dựng LLCT quần chúng Thứ ba

là xây dựng LLVT của phong trào CTND

1.2.2 Vành đai diệt Mỹ góp phần đánh thắng chiến lược “Chiến

tranh cục bộ”

Luận án trình bày quá trình các cấp bộ đảng lãnh đạo xây dựng và đấu

tranh trên vành đai qua 2 cuộc phản công mùa khô, Tổng tiến công và nổi

dậy năm 1968

Trong cuộc phản công lần thứ nhất, mùa khô 1965-1966, địch tiến hành

“tìm và diệt” vô cùng ác liệt Cùng với phong trào CTND tại các địa

phương, quân và dân vành đai tiến công địch về quân sự, chính trị, binh vận

Đây là quá trình từng bước tìm cách đấu tranh với quân Mỹ và đồng minh,

tìm ra cách đánh hiệu quả

Phong trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” với những sự kiện tiêu

biểu cho thấy tác dụng bàn đạp của vành đai, hiệu quả tham gia của nhân

dân vành đai với các lực lượng tham gia đánh Mỹ Qua các cuộc ĐTCT,

binh vận, quần chúng đã lợi dụng phong tục tập quán, vận dụng nhiều

phương pháp linh hoạt, phân hoá giữa quân Mỹ và quân ngụy, đưa ra nội

dung đấu tranh ngày càng sâu sắc hơn, mức độ yêu sách cao hơn

Quá trình lãnh đạo đấu tranh trên vành đai là quá trình rút kinh nghiệm

về lãnh đạo, tổ chức và xây dựng lực lượng đánh Mỹ, xây dựng làng xã

chiến đấu Thời gian đầu, các địa phương có nhiều lúng túng và thiếu sót

như chưa nhận rõ được sự phức tạp của tình hình, dẫn đến thực hiện công

tác tư tưởng chưa tốt, tình hình cán bộ, nhân dân chạy dạt, không dám đánh

Mỹ xuất hiện

Qua thực tiễn, các phương thức đánh Mỹ bằng quân sự, chính trị, binh

vận; phương thức hoạt động trong vùng Mỹ đóng quân dần dần được xác

định rõ Sự chỉ đạo của các cấp bộ đảng ngày càng sát hợp hơn

Trong cuộc phản công lần thứ hai, mùa khô 1966-1967, Mỹ và chính

quyền Sài Gòn tập trung binh lực đánh vào một hướng là miền Đông Nam

Bộ, mục tiêu “tìm diệt” cơ quan lãnh đạo và các đơn vị chủ lực của ta, phá

căn cứ, kho tàng Gọng kìm “bình định” được nâng ngang tầm với gọng kìm

“tìm diệt”

Trước tình hình chiến tranh ngày càng ác liệt, ngày 17 tháng 7 năm

1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nước vượt mọi gian

khổ, hy sinh, đánh thắng Mỹ xâm lược Lời kêu gọi thiêng liêng Không

có gì quý hơn độc lập, tự do là ý chí, nguyện vọng của toàn dân Việt

Nam, là chân lý của thời đại, động viên mạnh mẽ lòng yêu nước, dũng khí cách mạng của nhân dân ta

Tháng 10-1966, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, đề ra nhiệm vụ cụ thể trước mắt cho quân dân miền Nam Nhiệm vụ

lập vành đai diệt Mỹ, phát triển chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị

được Bộ Chính trị đề ra cho vùng tranh chấp và vùng nông thôn do địch

kiểm soát Hội nghị chiến tranh du kích toàn miền Nam lần thứ ba (26-9 đến

6-10-1966) tổng kết 12 kinh nghiệm và khả năng to lớn của phong trào chiến tranh du kích ở miền Nam, trong đó đề cập đến “Vành đai diệt Mỹ”

Trung ương Cục miền Nam ra chỉ thị: “Phát huy mạnh mẽ thế chủ động tấn

công quyết đánh bại âm mưu bình định nông thôn năm 1967 của Mỹ - ngụy” (1-1-1967)

ở Đông Nam Bộ, quân dân vành đai góp phần cùng quân dân các địa phương đánh bại 3 cuộc hành quân cấp quân đoàn là áttơnborơ, Xêđaphôn

và Gianxơn City, nỗ lực đấu tranh chống “tìm diệt” và “bình định”

VĐDM ở đồng bằng sông Cửu Long phát triển với những nét đặc thù Phong trào “toàn dân đánh giặc” phát triển mạnh mẽ, sáng tạo nhiều cách

đánh Mỹ, nhiều Dũng sĩ diệt Mỹ xuất hiện

ở Trung Trung Bộ, đấu tranh quân sự phát triển các hình thức: bắn bia, bắn tỉa, đánh phá giao thông, cơ giới, đặc công , LLVT sử dụng các loại vũ khí Mỹ, cải tiến diệt xe tăng, máy bay Mỹ

Phong trào ĐTCT buộc địch phải đối phó ngay tại hậu phương, góp phần quan trọng vào chống phá kế hoạch “bình định” Công tác binh vận cũng có bước phát triển, cùng với hình thức phát tán truyền đơn, viết khẩu hiệu bằng năm thứ tiếng BaNa, Jrai, Việt, Anh, Triều Tiên, ta huy động lực lượng quần chúng vận động binh lính, tạo thuận lợi cho hoạt động quân sự và ĐTCT

Trang 8

Vấn đề tổ chức sản xuất lương thực, đảm bảo hậu cần cho các lực lượng

chiến đấu trên vành đai được đặt thành nhiệm vụ quan trọng, góp phần

quyết định vào thắng lợi chung trên VĐDM Các công tác khác trên vành

đai được các cấp bộ đảng địa phương quan tâm đúng mức

Qua thời gian xây dựng, tổ chức lực lượng, lãnh đạo đấu tranh, hệ

thống VĐDM phát triển, phát huy vai trò, thể hiện những đặc thù trên

từng chiến trường

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên vành đai là sự tìm tòi, kiểm nghiệm từng

bước, nhằm tìm ra những phương thức lãnh đạo phù hợp Quán triệt chủ

trương của Trung ương Đảng, TưCMN, khu ủy, các cấp bộ đảng đã khẩn

trương, tích cực chuẩn bị và sẵn sàng đánh lâu dài Trong quá trình xây

dựng vành đai, các địa phương lãnh đạo kiên trì phương châm kết hợp

ĐTCT và ĐTVT, kịp thời khắc phục tình trạng chuệch choạc về ĐTCT

trong một số địa phương, cán bộ đảng viên, mục tiêu là chống càn, chống

bình định, chống lấn chiếm, kéo dân, cướp lúa Các địa phương nỗ lực xây

dựng kinh tế tự túc, tự cấp, trọng tâm là sản xuất và giải quyết lương thực,

bảo đảm đời sống nhân dân và nhu cầu kháng chiến

Xuất phát từ những điều kiện cụ thể như đặc điểm địa hình, tình hình

dân cư, quy mô tổ chức của các căn cứ Mỹ…, mà tính chất và hình thức tổ

chức của các VĐDM có một số điểm khác nhau, thể hiện rõ tính đặc thù

của các VĐDM Sự khác nhau đó đã tạo ra những cách đánh đặc trưng phù

hợp ưu thế từng vành đai, bên cạnh những điểm chung về cách đánh như:

“Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”; “bám thắt lưng địch mà đánh”, vận

dụng tốt các phương châm đấu tranh như “ba bám”, “bốn bám”, “hai chân

ba mũi giáp công”

Qua 2 năm tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, mặc dù chính

quyền Mỹ rất nỗ lực, huy động sức mạnh tối đa của nền công nghiệp quân

sự hiện đại vào hai cuộc phản công chiến lược ở miền Nam, đánh phá,

phong toả miền Bắc, song đã bị thất bại nặng nề cả về quân sự, chính trị và

ngoại giao Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ chuẩn bị mở cuộc phản công chiến lược

lần thứ ba (dự định từ tháng 12-1967 đến tháng 4-1968)

Đầu tháng 12-1967, Bộ Chính trị họp, ra Nghị quyết về tổng công kích,

tổng khởi nghĩa, quyết tâm chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân

dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành

thắng lợi quyết định Trong tháng 1-1968, Trung ương Cục và Quân uỷ

Miền gấp rút hoàn thành kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa

Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương, dưới sự lãnh đạo của Khu ủy, tỉnh

ủy, cùng với toàn chiến trường, công tác chuẩn bị trên mặt trận VĐDM

được xúc tiến khẩn trương

Trong dịp Tết Mậu Thân, trong khi LLVT ta tiến công mạnh vào hàng loạt mục tiêu trong khu vực nội thành, đặc biệt là ở Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế, thì ở vùng ven và vùng đồng bằng, rừng núi, nhất là ở khu vực VĐDM, quân và dân các địa phương đã dốc sức phục vụ, tham gia cuộc Tổng tiến công

Thắng lợi to lớn và toàn diện của quân dân ta trong cuộc Tổng tiến công

và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược

“Chiến tranh cục bộ”, buộc đế quốc Mỹ phải bắt đầu quá trình xuống thang chiến tranh, chủ trương “phi Mỹ hoá chiến tranh” rồi chuyển sang

chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, rút dần quân Mỹ về nước

Sau những thất bại trong Tết Mậu Thân, quân Mỹ và quân Sài Gòn mở các chiến dịch phản kích quy mô lớn hòng đẩy lùi chủ lực Quân giải phóng

ra khỏi vùng ven, các căn cứ quân sự và hậu cần, các đầu mối giao thông huyết mạch; tăng cường đàn áp, khủng bố quyết liệt các cơ sở cách mạng, ráo riết tiến hành “bình định cấp tốc” tranh chấp vùng nông thôn đồng bằng rộng lớn với ta

Trên các VĐDM, mặc dù LLVT và các cơ sở cách mạng bị tổn thất rất nặng nề, quân và dân vành đai vẫn cố gắng khắc phục khó khăn, tích cực phối hợp với các đơn vị Quân giải phóng đẩy mạnh tiến công, ra sức chiến

đấu bảo vệ địa bàn

Dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ đảng, quân và dân vành đai đã tổ chức thành công các trận đánh phủ đầu quân Mỹ, thực hiện “3 mũi giáp công”, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng, góp phần quan trọng cùng quân và dân ta ở miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” - đỉnh cao nhất trong toàn bộ nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam

Trang 9

Chương 2

Đảng l∙nh đạo quân vμ dân trên Vμnh Đai

giữ vững thế tiến công, chống chiến lược

“Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 - 1/1973)

2.1 Lãnh đạo toàn dân khắc phục khó khăn, khôi phục thế trận và

lực lượng, quyết tâm giành thắng lợi

2.1.1 Tình hình chiến trường miền Nam sau năm 1968

Chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đế quốc

Mỹ tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản là bám giữ miền Nam Việt Nam,

giảm dần vai trò chiến đấu của quân Mỹ nhưng phải giành thế mạnh trên

chiến trường để kết thúc chiến tranh theo điều kiện của Mỹ Địch tăng

cường phòng thủ các đô thị rất chặt chẽ, đặc biệt là các vùng ven; dồn sức

bình định vùng nông thôn, xem đây là “xương sống” của chiến lược “Việt

Nam hóa chiến tranh”

Vùng nông thôn, đặc biệt là các khu vực trọng điểm xung quanh Sài

Gòn, vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Khu 5 trở thành địa bàn

tranh chấp quyết liệt Phong trào CTND địa phương sa sút, gặp vô vàn khó

khăn Bộ đội chủ lực mất nhiều căn cứ đứng chân Cơ sở cách mạng bị tổn

thất Trong khi đó, về tư tưởng, một số cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo khu,

tỉnh chủ quan cho rằng quân Mỹ đã rút, quân ngụy không thể đương đầu nổi

với ta, dẫn đến coi thường các biện pháp và thủ đoạn đánh phá của địch

2.1.2 Đảng l∙nh đạo toàn dân khắc phục khó khăn, khôi phục thế

trận và lực lượng

Tháng 11-1968, trong Chỉ thị gửi Đảng bộ miền Nam, Bộ Chính trị

Trung ương Đảng vạch rõ khuyết điểm là chưa đánh giá hết âm mưu thâm

độc và hành động phản kích điên cuồng của địch vào nông thôn, vì vậy

không kịp thời chuyển hướng chiến lược khi tình hình đã thay đổi

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8

Trung ương Cục miền Nam (10-1968) về phát huy thắng lợi của cuộc Tổng

tiến công và nổi dậy Xuân 1968, ngày 31-1-1969, TƯCMN ra Chỉ thị:

“Nắm vững thời cơ, kiên quyết xốc tới, giành thắng lợi to lớn Xuân 1969,

khẩn trương giành thắng lợi quyết định trong thời gian tới”

Ngày 10-5-1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp, ra Nghị quyết Về

tình hình và nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, trong đó nêu

rõ một trong các nhiệm vụ là đánh vào hệ thống căn cứ quân sự của Mỹ,

những vị trí cuối cùng của chiến lược phòng ngự của chúng, có tác dụng rất quan trọng trợ lực cho tiến công quân sự và khởi nghĩa ở thành thị và nông thôn, có ý nghĩa quan trọng đối với việc đập tan âm mưu của địch duy trì

lâu dài một số căn cứ quân sự ở miền Nam

Nghị quyết này là cơ sở cho việc tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Hội nghị lần thứ 9 Trung ương Cục miền Nam (7-1969) đề ra phương hướng, nhiệm vụ nhằm hoàn thành các mục tiêu của cách mạng miền Nam

TƯCMN chỉ rõ các cấp ủy đảng phải tăng cường lãnh đạo đấu tranh vũ

trang và xây dựng lực lượng vũ trang, nắm vững đối tượng tác chiến là quân

Mỹ và cả quân ngụy, đồng thời, phải đánh mạnh vào hệ thống kho tàng, căn

cứ, cơ sở hậu phương của địch

Trên mặt trận ngoại giao, Trung ương Đảng vừa tập trung chỉ đạo mở các cuộc tiến công lớn để gây áp lực, vừa tìm cách tạo lập thế chính trị ở miền Nam thông qua Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, vừa chỉ đạo phái đoàn đàm phán của ta ở Pari kiên quyết, khôn khéo đấu tranh nhằm tạo thế đứng mới cho cách mạng miền Nam

2.2 Đấu tranh toàn diện trên vành đai diệt Mỹ, góp phần đánh bại cơ bản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 - 1/1973)

Luận án trình bày quá trình các đảng bộ địa phương lãnh đạo quân và dân vành đai khôi phục, duy trì lực lượng, đấu tranh chống “bình định”

Thực hiện chủ trương của Đảng, các đảng bộ miền Đông Nam Bộ chỉ

đạo sát sao công tác chính trị, tư tưởng, động viên tinh thần vượt khó khăn, thực hiện hai nhiệm vụ trọng tâm là diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch; đánh phá bình định, diệt ác phá kìm, phá thế chia cắt

Tuy nhiên, trên mặt trận chống bình định, ta chưa ngăn chặn, hạn chế

được địch giành dân, giành đất Nhiều chi bộ đảng bị thiệt hại, số lượng

đảng viên, cán bộ phát triển không bù đắp được so với sự hy sinh

ở đồng bằng sông Cửu Long, Thường vụ Khu uỷ 8 triệu tập Hội nghị cán bộ toàn Khu, đánh giá khó khăn, thuận lợi, tìm phương hướng lãnh đạo kháng chiến

Trang 10

ở Trung Trung Bộ, đến cuối năm 1969, tổng số quân Mỹ, quân đội Sài

Gòn và quân đồng minh ở Khu 5 đông nhất cho đến thời điểm đó Thế trận

CTND xung quanh vành đai gặp vô vàn khó khăn

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Khu uỷ, các Hội nghị của Đặc khu uỷ

Quảng Đà (8-1969, 11-1969, 5-1970) đề ra nhiệm vụ động viên toàn Đảng

bộ, toàn quân, toàn dân nỗ lực cao nhất, đánh bại âm mưu “bình định” nông

thôn của địch

Cuộc đấu tranh chống “bình định”, lấn đất, giành dân và giữ dân, giữ

quyền làm chủ diễn ra vô cùng quyết liệt, giằng co, dai dẳng Cuộc chiến

đấu diễn ra thầm lặng, ác liệt, kéo dài Từ giữa năm 1970 trở đi, CTND trên

vành đai dần dần hồi phục Tuy nhiên, phong trào bộc lộ một số hạn chế

như đấu tranh chống địch bình định chưa hiệu quả, có nơi đấu tranh làm

lỏng thế kìm kẹp nhưng lại chưa cương quyết lãnh đạo quần chúng nổi dậy

phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ

Nhìn chung, trước sự phản kích của địch, các địa phương không còn đủ

các điều kiện để duy trì hoạt động và áp lực vành đai mạnh như trước (thiếu

lực lượng, thiếu địa hình, thiếu tổ chức và chậm chuyển hướng về nông

thôn…) Từ năm 1969, quân Mỹ bắt đầu rút, một số VĐDM (Bình Đức,

Rạch Kiến, Củ Chi) chấm dứt vai trò đánh Mỹ Trong khi đó, tại những nơi

khác, dưới sự lãnh đạo của các khu uỷ, tỉnh uỷ, từ cuối năm 1970, quân và

dân trên các VĐDM vượt qua khó khăn gian khổ, từng bước phục hồi lực

lượng, khôi phục thế trận CTND, tiếp tục bao vây, tấn công các căn cứ cho

đến khi quân Mỹ buộc phải rút hết khỏi chiến trường miền Nam

Tháng 5-1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp, đề ra nhiệm vụ giành

thắng lợi quyết định trong năm 1972 Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị

lần thứ 20 Ban chấp hành Trung ương Đảng (họp từ ngày 27-1 đến ngày

11-2-1972) nêu rõ nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của

toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, mục tiêu buộc Mỹ rút khỏi miền Nam

toàn bộ lực lượng quân sự, không còn căn cứ quân sự, không còn nhân viên

quân sự hoặc cố vấn

Ngày 30-3-1972, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 chính thức mở

màn trên hướng Trị - Thiên, sau đó các hướng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ,

Tây Nam Bộ cũng nổ súng tấn công địch Quán triệt sự chỉ đạo của Trung

ương Đảng, cuộc đấu tranh trên các VĐDM nhằm tiêu hao sinh lực địch,

đánh phá các căn cứ tiếp tục được đẩy mạnh

Các đơn vị quân Mỹ tiếp tục rút khỏi An Khê, Chu Lai, Đà Nẵng, Trảng Lớn Sau khi quân Mỹ rút đi, các lực lượng trên vành đai tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tiến công, tiêu diệt sinh lực quân ngụy

Trong thời kỳ khó khăn nhất, ở một số VĐDM như Đà Nẵng, Chu Lai, Bình Đức…, các cấp ủy Đảng, các Ban chỉ huy vành đai vẫn lãnh đạo duy trì những đòn tiến công vào căn cứ quân sự Mỹ Mặc dù sự chỉ đạo của Trung ương, của khu ủy thời gian này không sát như thời gian trước đó, các

địa phương này vẫn cố gắng bảo tồn lực lượng, duy trì các hoạt động trong

điều kiện có thể trên các vành đai Sáng tạo của các cấp lãnh đạo trong thời gian này là nhấn mạnh nhiệm vụ chống phá bình định để giữ thế bám trụ, khôi phục phong trào

Ngày 27-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở

Việt Nam được chính thức ký kết Ngày 29-3-1973, đơn vị cuối cùng của

quân đội Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam VĐDM đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình và chuyển sang hình thức mới trong thế trận CTND

Chương 3

Vai trò của vμnh đai diệt Mỹ trong chiến tranh cách mạng ở miền nam

vμ Kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng

3.1 Vai trò của vành đai diệt Mỹ

3.1.1 Hoạt động trên các vành đai diệt Mỹ

Đấu tranh quân sự

Ngay khi quân Mỹ vừa đặt chân tới lập căn cứ, các đảng bộ địa phương chỉ đạo lực lượng vũ trang đánh địch, bảo đảm đánh thắng trận đầu Kết

hợp với phong trào ĐTCT chống âm mưu dồn dân, xúc dân của Mỹ - ngụy, các LLVT sáng tạo những cách thức đánh địch thích hợp: khi chúng cố thủ trong căn cứ, ngoài căn cứ, khi chúng tấn công vùng giải phóng, ở mọi nơi, mọi lúc Các cách đánh phát triển trên VĐDM là đánh xe cơ giới Mỹ trên

đường giao thông, gài lựu đạn ở những nơi quân Mỹ đi qua, bắn tỉa, đánh bằng bẫy chông, mìn, bằng pháo cối luồn sâu…

Ngày đăng: 04/04/2014, 09:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w