1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975

27 788 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 318,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975

Trang 1

Trường đại học sư phạm hμ nội

-

Phạm tuấn anh

Sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi việt nam sau 1975

Chuyên ngành: Lí luận văn học Mã số : 62.22.32.01

Tóm tắt Luận án tiến sĩ ngữ văn

Hμ Nội - 2009

Trang 2

Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trường ĐH Văn hóa Hà Nội

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp

Viện Văn học

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước

Họp tại: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2009

Có thể tìm đọc luận án tại:

- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

DANH MỤC CÁC CễNG TRèNH ĐÃ CễNG BỐ

LIấN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

1 Phạm Tuấn Anh ( 2005), “Văn xuôi Việt Nam sau 1975 dưới cái nhìn mĩ

học”, Việt Nam 1954 – 2005, 21 năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước và

30 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, NXB Giáo dục

xuôi Việt Nam hiện đại”, Ngữ học trẻ – diễn đàn nghiên cứu và học tập,

NXB Đại học Sư phạm

Nam sau 1975 qua Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa, Tạp chí Giáo dục

(194, kì 2)

sau 1975, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (689)

hoá Nghệ thuật (291, tháng 09)

chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Vol 53, N o 6

Trang 4

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tμi

Văn học Việt Nam kể từ sau 1975 đã bước sang một thời kì mới, đặc biệt

là từ giữa thập kỉ 80, khi ý thức văn hoá mới hình thành, hệ thống giá trị biến đổi thì văn học đã thực sự chuyển sang một hình thái khác trước đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Văn xuôi

đóng vai trò chủ đạo trong bước ngoặt của dòng chảy hiện đại ấy Tuy vậy, cho đến nay tình hình nghiên cứu văn xuôi thời kì này đang còn hết sức bề bộn Thực trạng đó có nguyên nhân từ chính sự phức tạp của thực tiễn văn học và cả thực tiễn lí thuyết phương pháp nghiên cứu

Sáng tạo văn học là sáng tạo ra những giá trị thẩm mĩ Văn học đổi mới, tất nhiên các giá trị thẩm mĩ không thể không thay đổi Sự đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 nói chung, văn xuôi nói riêng càng chứng tỏ mạnh

mẽ cho quy luật đó Vì vậy, muốn nắm bắt được đặc trưng của văn xuôi thời kì văn học này không thể không nghiên cứu hệ thống thẩm mĩ mới của nó

Đây là một hướng nghiên cứu mới

Hơn nữa, mọi nỗ lực nhằm trả lời câu hỏi Đâu là đặc trưng thẩm mĩ của

văn xuôi Việt Nam sau 1975? không chỉ có ý nghĩa với quá khứ văn học mà

còn giúp ta nhận thức cái bây giờ, đang tiếp diễn của xu hướng thẩm mĩ hiện tại trong văn xuôi, từ đó góp phần tìm lời giải cho những câu hỏi lớn của văn học đương đại, của thị hiếu và hoạt động tiếp nhận thẩm mĩ hiện đại

Văn xuôi Việt Nam sau 1975 có mặt ở hầu hết các chương trình giáo dục:

từ Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông đến Cao đẳng, Đại học chuyên ngành Ngữ văn hoặc có liên quan như ngành Việt Nam học Những kết quả nghiên cứu đã có vẫn cần được tiếp tục mở rộng, đào sâu để phục vụ tốt hơn cho các nhiệm vụ giáo dục nói trên Như vậy, nghiên cứu đặc trưng thẩm mĩ của văn xuôi thời kì đang còn mang tính thời sự này có nhu cầu ứng dụng rất lớn, đòi hỏi người học, người nghiên cứu và giảng dạy phải có thêm những góc nhìn trong đánh giá về đặc điểm, thành tựu của nó; qua đó, tích cực hoá hoạt động đối chiếu, kiểm nghiệm, điều chỉnh, làm giàu thêm những kinh nghiệm, những tri thức lí luận trên cơ sở một đối tượng ứng dụng mới

Từ những lí do trên, có thể khẳng định việc nghiên cứu đề tài Sự đa dạng thẩm

mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975 là có tính cấp thiết cả về thực tiễn và lí luận

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề Sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975 là một đề

tài nghiên cứu mới Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã được nghiên cứu ở

Trang 5

những phương diện tổng quan Những nghiên cứu ở cấp độ cụ thể chủ yếu

về thi pháp tác giả, tác phẩm Có một số chuyên luận, luận văn, bài nghiên cứu trực tiếp bàn đến đặc trưng thẩm mĩ của văn xuôi giai đoạn này nhưng chỉ ở phạm vi từng vấn đề cục bộ

Trên phương diện tổng quát, những đổi mới của hệ thống giá trị thẩm

mĩ và sự đa dạng của văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã bước đầu được đề

cập đến Tiêu biểu là các ý kiến của Diệp Minh Tuyền, Nguyễn Văn Long,

Trần Đình Sử, Nguyễn Thị Bình, Nguyên Ngọc Tuy nhiên, hầu như chưa

có ý kiến trực tiếp bàn đến đặc trưng đa dạng hoá, với những phẩm chất thẩm mĩ cụ thể

Hướng nghiên cứu thẩm mĩ, sự chuyển đổi các phạm trù thẩm mĩ, đã

xuất hiện trong những phân tích về vị thế, tính chất của cái bi và cái hài

Trong cái nhìn so sánh lịch sử, La Khắc Hoà, Phong Lê, Nguyễn Thị Bình đã bàn đến cái bi và cái hài như một cặp giá trị đóng vai trò quan trọng trong vận động đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975

Nhận định về cái bi, các ý kiến đánh giá chủ yếu gắn với mảng sáng tác

về đề tài chiến tranh Tiêu biểu là các ý kiến của Trần Đình Sử, Hồ Phương, Tôn Phương Lan, Nguyễn Tri Nguyên Cái bi được xem như một biểu hiện thẩm mĩ nổi bật của xu hướng đổi mới quan niệm, cách nhìn về hiện thực

đời sống trong tương quan với văn học cách mạng trước 1975

Nhận định về cái hài, tiêu biểu là các ý kiến của Lã Nguyên, Đào Tuấn ảnh Tuy nhiên, cái hài – tiếng cười đã không được tiếp cận trong quan điểm đa dạng hoá thẩm mĩ, vì thế những sắc thái và ý vị sâu sắc của cái hài trong tương tác với các phẩm chất thẩm mĩ khác chưa được chú ý làm rõ

Tóm lại, các phạm trù thẩm mĩ cơ bản tạo nên phẩm chất thẩm mĩ mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975 bước đầu đã được đề cập Có một số công trình đã chuyên biệt đi vào nghiên cứu một số phạm trù thẩm mĩ song chưa

đặt trong cái nhìn về bản chất đa dạng hoá của hệ thống thẩm mĩ mới Các ý kiến chủ yếu bàn đến hai phạm trù cái bi và cái hài như là sự khác biệt cơ bản giữa văn xuôi trước và sau 1975 Có người đã tiến tới việc xem xét những yếu

tố thẩm mĩ độc đáo từ cái hài và cái phi lí Nhìn chung, hệ thống thẩm mĩ mới của văn xuôi sau 1975 vẫn chưa được tiếp cận nghiên cứu một cách chuyên biệt và toàn diện

Chúng tôi sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài để

tiến tới làm rõ Sự đa dạng hoá thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975

Trang 6

3 Đối tượng nghiên cứu vμ phạm vi của đề tμi

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống giá trị thẩm mĩ mới của

văn xuôi Việt Nam sau 1975 với những biểu hiện cụ thể ở các phạm trù cái

đẹp, cái cao cả, cái bi, cái cảm thương, cái hài, cái phi lí

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chọn các tác phẩm thuộc hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn của các tác giả tiêu biểu cho văn xuôi Việt Nam từ sau 1975, nhất là

kể từ sau 1986 cho đến khoảng 2006, làm đối tượng khảo sát chính Tiểu

thuyết và truyện ngắn không phải là toàn bộ nội hàm của khái niệm văn

xuôi Nhưng rõ ràng, đây là hai thể loại trung tâm làm nên diện mạo của văn xuôi Việt Nam sau 1975 Ngoài ra còn có kí sự, tuỳ bút những thành

tố góp phần tạo nên vận động đổi mới Chúng tôi không loại trừ song chỉ

mở rộng khảo sát đến chúng trong những trường hợp cần thiết, ở những phẩm chất thẩm mĩ mà các thể loại này có đóng góp quan trọng

4 Mục tiêu vμ nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục tiêu của đề tài: Phân tích, khái quát về sự đa dạng thẩm mĩ của

văn xuôi Việt Nam sau 1975 theo các phạm trù thẩm mĩ và sự tương tác, chuyển hoá giữa các tính chất thẩm mĩ trong hệ thống

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu từ

sau 1975 đến 2006, phân tích, khái quát các phẩm chất thẩm mĩ nổi bật;

xác định các khái niệm công cụ: đa dạng thẩm mĩ, cái đẹp, cái cao cả, cái

bi, cái cảm thương, cái hài, cái phi lí; trình bày các luận điểm về sự đa

dạng hoá thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975

5 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài các phương pháp được sử dụng như những thao tác thường xuyên trong nghiên cứu văn học như so sánh, phân loại, phân tích, tổng hợp… luận

án sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp phân tích thẩm mĩ,

Phương pháp tiếp cận thi pháp học, Phương pháp tiếp cận hệ thống

6 Những đóng góp mới của luận án

(1) Lần đầu tiên phân tích trực tiếp sự đa dạng thẩm mĩ ở cả cấp độ hệ thống và cấp độ từng phạm trù thẩm mĩ, qua đó nhận định về đặc trưng và xu hướng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam kể từ sau 1975

(2) Bước đầu hệ thống hoá các khái niệm lí thuyết về thẩm mĩ và góp phần làm rõ hơn các khái niệm đó trong quá trình vận dụng vào phân tích một đối tượng cụ thể

Trang 7

(3) Góp phần khẳng định thêm tính hữu dụng, hiệu quả của hướng nghiên cứu văn học từ góc độ thẩm mĩ, trên cơ sở phân tích hệ thống giá trị thẩm mĩ

7 Giới thiệu bố cục luận án

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ

lục tác phẩm, nội dung của luận án được cấu trúc thành 4 chương: Chương 1

(Từ trang 19 đến trang 47): Sự thay đổi hệ thống giá trị thẩm mĩ trong văn

xuôi Việt Nam sau 1975; Chương 2 (Từ trang 48 đến trang 96): Các sắc điệu của cái đẹp và cái cao cả trong văn xuôi Việt Nam sau 1975; Chương 3 (Từ

trang 97 đến trang 138): Các hình thái của cái bi và cái cảm thương trong

văn xuôi Việt Nam sau 1975; Chương 4 (Từ trang 139 đến trang 186): Những biểu hiện của cái hài và cái phi lí trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

Chương 1

Sự thay đổi hệ thống giá trị thẩm mĩ

trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

1.1 Bối cảnh lịch sử – x∙ hội vμ nhu cầu thay đổi hệ thống giá trị

1.1.1 Bối cảnh lịch sử – xã hội mới

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã trở thành một dấu mốc, để từ đây

một thời kì mới trong lịch sử dân tộc bắt đầu Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) với những chủ trương đổi mới toàn diện, đồng bộ đã tạo ra bước chuyển biến hệ trọng Trải qua thế kỉ XX, bối cảnh lịch sử – xã hội Việt Nam tuy có những thăng trầm nhất định, song sự hình thành và phát triển một đời sống xã hội hiện đại đã ngày một hiện hình rõ nét Tính hiện đại ấy, suy cho cùng, được thể hiện ở hệ thống giá trị mới như một thang chuẩn tiến bộ cho sự sống của con người

1.1.2 Nhu cầu thay đổi hệ thống giá trị trong đời sống

Sự thay đổi toàn diện đời sống xã hội tất yếu dẫn đến sự đổi thay hệ thống giá trị của đời sống Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, hệ giá trị của đời sống tất yếu đổi thay Từ kinh tế tập trung, bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường, hệ giá trị của đời sống tất yếu đổi thay Từ quan hệ hầu như chỉ khép kín trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đến chủ trương

mở cửa, hội nhập toàn diện với thế giới, tất yếu nảy sinh nhu cầu thay đổi hệ giá trị của đời sống

Trang 8

1.2 Đổi mới Văn học – sự hình thμnh hệ thống giá trị thẩm mĩ mới

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, với Nghị quyết 05 về văn hoá văn nghệ, đã tạo ra một động lực mạnh mẽ mang ý nghĩa quyết định đến bước ngoặt của dòng chảy lịch sử văn học Việt Nam Văn học đổi mới trên cơ sở một hệ thống giá trị thẩm mĩ đã khác trước

1.2.2 Sự hình thành hệ thống giá trị thẩm mĩ mới

1.2.2.1 Quan niệm về “giá trị thẩm mĩ”

Cái đẹp là phạm trù chi phối quy luật, hướng mọi sáng tạo nghệ thuật tới giá trị đích thực của cuộc sống con người, cho cuộc sống con người Tuy nhiên, phạm trù cái đẹp không trùng với khái niệm “giá trị thẩm mĩ” Khái niệm “giá trị thẩm mĩ” chỉ tương đồng với phạm trù cái đẹp ở nghĩa rộng, khái quát Trên thực tế, người ta thường xuyên phải đối mặt với vấn

đề hết sức phức tạp là khác với các phạm trù như cái cao cả, cái bi hay cái hài, cái đẹp luôn tồn tại nhiều tầng bậc, phạm vi ý nghĩa

Hệ thống giá trị thẩm mĩ là hệ thống các phẩm chất thẩm mĩ cao nhất cần có cho cuộc sống mà khát vọng người nghệ sĩ hướng tới, nó vừa bộc lộ cá tính, vừa đại diện cho nhu cầu của thời đại, vừa có tính dân tộc đồng thời mang ý nghĩa nhân loại Cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái cảm thương, cái hài, cái phi lí… là những dạng phẩm chất thẩm mĩ khác nhau Hệ thống thẩm mĩ của mỗi thời kì nghệ thuật chịu sự chi phối của hệ thống giá trị thẩm mĩ được hình thành trong bối cảnh lịch sử – xã hội của thời kì đó

1.2.2.2 Từ cao cả thuần khiết, đơn trị sang đời thường phồn tạp, đa trị

Đến thời kì đổi mới sau 1975, phù hợp với vận động của lịch sử – xã hội

từ thời chiến chuyển sang thời bình, chịu sự tác động và đòi hỏi của quy luật kinh tế thị trường, thích ứng với nhu cầu đa dạng hoá của tiếp xúc, giao lưu trong thời mở cửa, một hệ giá trị thẩm mĩ mới đã được hình thành trong văn xuôi Đó là sự chuyển đổi từ hệ giá trị cao cả thuần khiết, đơn trị sang hệ giá trị đời thường phồn tạp, đa trị

Trang 9

1.3 Sự thay đổi cục diện các giá trị thẩm mĩ trong văn xuôi

Thay đổi hệ giá trị thẩm mĩ cũng tức là sự thay đổi cục diện các giá trị thẩm mĩ, một sự thay đổi cấu trúc Khi hệ giá trị đã chuyển đổi thì cục diện thẩm mĩ mới cũng đã xuất hiện Đó là cục diện đa dạng với sự mở rộng chưa từng có những khả năng tương tác, chuyển hoá giữa các phạm trù thẩm mĩ

Tiếp cận sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975 là tiếp cận

sự đa dạng của các phạm trù thẩm mĩ, đi tìm sự đa dạng trong sự chuyển đổi

hệ thống các phạm trù thẩm mĩ trên hai cấp độ: sự phong phú của các phạm trù thẩm mĩ và những sắc thái khác nhau của mỗi phạm trù

Các cấp độ đa dạng thẩm mĩ nói trên được chúng tôi xem xét qua hai

cơ chế vận động chủ yếu: tương tác thẩm mĩ và chuyển hoá thẩm mĩ Đa

dạng hoá thẩm mĩ của văn xuôi sau 1975 biểu hiện ở nhiều cấp độ, nhiều khả năng của cơ chế tương tác thẩm mĩ và chuyển hoá thẩm mĩ

Trong hệ thống các phẩm chất thẩm mĩ cơ bản của văn xuôi Việt Nam sau 1975, có những phạm trù chiếm vị thế ưu trội, đóng vai trò là chủ âm

thẩm mĩ Chủ âm thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975 là cái bi và

cái hài hước Tương tác hay chuyển hoá thẩm mĩ, như vậy, được xem xét

chủ yếu ở tương quan với hai phạm trù ở có vị thế chủ âm thẩm mĩ này

Chương 2

trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

2.1 Cái đẹp

2.1.1 Những tiền đề truyền thống

Sự đổi mới nào cũng dựa trên cơ sở của một truyền thống Sự đa dạng của cái đẹp trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 cũng có tiền đề từ trong dòng mạch vận động của kinh nghiệm thẩm mĩ, từ truyền thống đến hiện đại, qua các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử văn học, văn hoá Việt Nam

2.1.2 Tương tác mới và sự phô diễn đối cực

Chưa bao giờ, một cách trực tiếp, những đối cực đẹp lại phô diễn mạnh

mẽ, hồn nhiên như trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 Điều đó có lí do cơ bản từ sự tương tác giữa cái đẹp và cái bi trong hệ thống thẩm mĩ mới

2.1.2.1 Gần gũi, trần tục và xa vời, mộng ảo

Những đối cực đẹp đã sớm được Nguyễn Minh Châu thể nghiệm qua

Bến quê và Chiếc thuyền ngoài xa như một cặp biểu tượng cho sự thức

Trang 10

nhận mới về vẻ đẹp của cuộc đời

Đẹp đa dạng trong tính đối cực gần – xa, trần tục – mộng ảo được thể hiện ở nhiều tác phẩm Có cái đẹp mộng ảo, hư huyễn, đưa người ta đến với hành trình kiếm tìm cái tuyệt đối ngay trong cái thường nhật, một hành trình

phi lí mà làm thành ý nghĩa của sự sống nhân văn như ở Con gái thuỷ thần (Nguyễn Huy Thiệp), ánh trăng (Nguyễn Bản) Có khi đối cực đẹp kiểu này

được đẩy thành sự đối đầu giữa những thành kiến, tị hiềm về giá trị như

trong Những phiên bản của đời (Hồ Thị Hải Âu) hay Bầy hươu nhảy múa

(Võ Thị Xuân Hà) Chất thơ của đời thường gắn liền với số phận cá nhân, với sự tự do trải nghiệm giá trị đời sống, nên cái lãng mạn trong văn xuôi thời đổi mới cũng khác với cái cái lãng mạn trong văn học cách mạng Khát vọng về cái đẹp chân thực toát lên từ những tình huống khi cái đẹp dám là chính mình, "chỉ thực và thực", dù là cái đẹp đã tồn tại hay chưa từng tồn tại

2.1.2.2 Yếu đuối, thuần thục và mạnh mẽ, “bất kham”

Cái đẹp qua cái nhìn đa trị, phồn tạp được hiển hiện thành những tính

chất đối cực đa dạng: yếu đuối, thuần thục – mạnh mẽ, “bất kham”

Những đối cực đẹp kiểu này thường được mô tả cùng với môtip số phận

bất hạnh Các nhân vật chính các tác phẩm Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp), Seo Ly – kẻ khuấy động tình trường, Chọn chồng, Chị Thiên của tôi (Ma

Văn Kháng), Xưa kia chị đẹp nhất làng (Tạ Duy Anh)… đều tuyệt đẹp và

bất hạnh Chính trong những tình huống bi kịch, cái đẹp trở nên "bất kham" Cái đẹp phá vỡ mọi lề thói, để sống chân thực trong cuộc đời Cái

đẹp không thoả hiệp và chung thân với phai tàn, nghiệt ngã, xô bồ của cuộc

đời bằng cả sức mạnh bí ẩn, bất diệt của nó Ngô Thị Vinh Hoa, Seo Ly, Quý, Thiên, Túc, đều không chịu đánh mất mình trong những kết cục cay

đắng, thương tâm Đối cực tồn tại trong mỗi bản thể đẹp, chúng đan cài, chuyển hoá và tạo nên những sắc thái đa dạng đến cá biệt

2.1.3 Sự bừng thức của thân thể

2.1.3.1 Thiên nhiên trong cảm quan mới

Chúng tôi quan niệm vẻ đẹp của thiên nhiên cũng là một biểu hiện của

vẻ đẹp thân thể Thiên nhiên vừa bao dung vừa khắc nghiệt, vô sự mà chất chứa, xoa dịu mà khơi gợi, giản dị mà kì bí Tính đa trị trong quan niệm

về thế giới cũng được thể hiện rõ nét ở vẻ đẹp của thiên nhiên Vẻ đẹp của thiên nhiên được nhân lên trong sự đa dạng, phong phú của hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong các tác phẩm Cái mới mẻ trong văn xuôi đổi mới sau 1975 cũng được tạo nên bởi sự mới mẻ của những biểu tượng thiên nhiên qua một cảm quan đã thay đổi

Trang 11

2.1.3.2 Thân thể phồn thực

Trong lịch sử văn học Việt Nam, chưa bao giờ vẻ đẹp thân thể con người, đặc biệt là thân thể người phụ nữ lại được miêu tả trực tiếp, táo bạo như trong văn xuôi đổi mới sau 1975 Cái đẹp – nhân vật đẹp, không chỉ

được đo bằng tiêu chí đạo đức, và vẻ đẹp của con người trần tục tràn trề trên các trang viết, có khi là vẻ đẹp lõa thể được tô đậm với nhiều sắc thái

Vẻ đẹp lõa thể trong văn xuôi đổi mới thấm đẫm chất phồn thực, kí thác

và thoả mãn khát khao về hồi sinh, hằng tồn của sự sống ở một sứ xở liên tiếp phải đối mặt với sự huỷ diệt của bom đạn chiến tranh: Seo Ly trong

Seo Ly – kẻ khuấy động tình trường, những người đàn bà trong Những người đàn bà, Quý trong Chọn chồng, Thiên trong Chị Thiên của tôi,

Bướm trong Cánh bướm tung tăng của Ma Văn Kháng, Đào trong Mảnh

đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Hai Hợi trong Ăn mày

dĩ vãng của Chu Lai, Túc trong Xưa kia chị đẹp nhất làng của Tạ Duy Anh,

“chị” trong ánh trăng của Nguyễn Bản, Thịnh trong Đàn đom đóm bay lên

trời của Tô Đức Chiêu, người dì trong Hoa bưởi đầu mùa của Thuỳ Dương,

Loan trong Đùa của tạo hoá của Phạm Hoa…

Thân thể người phụ nữ là thân thể của “người mẹ, người sinh sản, người mang nguyên lí phồn thực” Không phải ngẫu nhiên mà trong sự mô tả vẻ đẹp

thân thể của người phụ nữ, các hình ảnh như vú (ngực), eo, hông, mông

thường được tô đậm với những đường nét vừa tả thực, vừa giàu tính tượng trưng Những hình ảnh đó đẹp trong tính thiêng của những bộ phận gắn với chức năng sinh sản và gợi dục Phồn thực gắn với ý niệm về sự sống nảy nở, sinh sôi có cơ sở để bộc lộ mạnh mẽ trong văn xuôi Việt Nam thời hậu chiến, thể hiện bản năng, khát vọng sống mạnh mẽ, nhu cầu tái sinh, hồi sinh

2.1.3.3 Thân thể tính dục

Vẻ đẹp thân thể trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 còn là vẻ đẹp đậm màu tính dục Vẻ đẹp tính dục không trực tiếp gắn với nhu cầu “sinh nở”,

“truyền giống”, mà gắn với nhu cầu về hưởng thụ khoái cảm tính giao Vẻ

đẹp thân thể của người phụ nữ trong văn xuôi đổi mới sau 1975 đặc biệt tươi tắn, gợi cảm chính ở hoạt động tính giao “để tìm lạc thú”, “khoái cảm” Đặc điểm phồn thực trên cơ thể người phụ nữ mang tính thẩm mĩ cao khi nó gắn với tình dục – tình yêu Trong thời bình, trình độ văn hoá, trong

đó có cả văn hoá yêu đương, mà sâu xa là quan niệm xã hội và nhu cầu sống trọn vẹn, thuận theo quy luật tự nhiên của con người đã khiến tình yêu

với ý nghĩa đầy đủ, bình thường của nó, trở thành yếu tố then chốt mở cánh

cửa thầm kín dẫn vào thế giới của hoan lạc tính giao nhân bản

Trang 12

Vẻ đẹp tính dục chỉ có thể có được khi thân thể không chỉ là xác thịt mà còn là tâm hồn, xúc cảm Khi ý thức về con người cá nhân bùng phát, có khi vẻ đẹp thân thể mang chiều sâu tâm hồn, xúc cảm được biểu hiện thành

trạng thái ái kỉ (narcissism) Nhan sắc ở trạng thái ái kỉ thường đặt con

người vào ranh giới mong manh giữa tính tích cực của ý thức tự tin về vẻ

đẹp, phẩm giá với tính ích kỉ, sự tha hoá nhân cách

2.2 Cái cao cả

2.2.1 Quan niệm về đặc trưng thẩm mĩ của cái cao cả

Trong tự nhiên và xã hội luôn có những sự vật, hiện tượng với quy mô

to lớn, vượt ra khỏi khả năng giác quan của cá thể Đó là những cái không thể diễn tả được Những chiều kích cực lớn trở thành phẩm chất thẩm mĩ cao cả khi con người cá thể tự nâng mình lên, thoát khỏi cảm giác choáng ngợp để có thể cảm nhận được vẻ đẹp của chiều kích đó Sự biểu hiện cái cao cả trong nghệ thuật là sự biểu hiện cái không thể biểu hiện được, miêu tả cái không thể miêu tả được Cái cao cả, với bản chất siêu việt của nó luôn là giá trị cần thiết cho sự sống nhân văn của con người, nó nâng đỡ con người, là điểm tựa để con người vượt lên cái hữu hạn, tính bất toàn của thế giới và cuộc đời Biểu hiện cái cao cả, nghệ thuật một mặt khẳng định

về tính bất tận của thế giới, mặt khác mài sắc giác quan, mở rộng khả năng tri nhận của con người đối với đặc tính đó của thế giới

2.2.2 Vị trí của cái cao cả trong hệ thống thẩm mĩ mới

Cái cao cả sử thi đã không còn chiếm vị trí chủ đạo trong những tác phẩm văn xuôi thấm đẫm chất tiểu thuyết hiện đại

Trong văn học sử thi, con người đã tự nâng mình lên, đồng nhất mình với những phạm trù lớn lao Chiều kích của con người cá nhân đã được thay thế bằng chiều kích lí tưởng của Tổ quốc, nhân dân, giai cấp, lí tưởng cách mạng… Trong văn xuôi đổi mới sau 1975 cũng không hiếm những

hình tượng cao cả như thế Cánh đồng phía Tây của Hồ Phương, Lõm của Sơn Tùng, Khúc bi tráng cuối cùng của Chu Lai, truyện lịch sử của Ngô

Văn Phú, kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường… vẫn âm vang chất cao cả sử thi như những giá trị bất diệt, trường tồn Tuy nhiên, chỉ thấy cái cao cả của

Tổ quốc, của sự nghiệp cách mạng, của giai cấp… văn học sẽ dễ lãng quên những giá trị cá nhân, cái cao cả từ những giá trị sống của cá thể

Trước cái cao cả, con người luôn thấy mình bé nhỏ, bị lấn át Khi đó, con người phải tự nâng mình lên để chiếm lĩnh Quá trình tự nâng mình lên ấy

có thể diễn ra ở nhân vật như Dũng (Cánh đồng phía tây), Lân (Đỉnh lũ), người con gái (Gánh xương trâu)… Nhiều khi, quá trình tự nâng mình lên

Trang 13

ấy không diễn ra trực tiếp trong tác phẩm mà được thực hiện ở hình tượng

tác giả hay chính người đọc: Mùa lá rụng trong vườn, Khi hoàng hôn bình

yên, Người thổi kèn trom-pet…; khi đó, cái cao cả thường được thể hiện

trong những tình huống trớ trêu của số phận, những nghịch lí của cuộc đời Tất nhiên, giá trị cao cả đích thực cuối cùng bao giờ cũng được nhân lên trong thế giới tinh thần của người tiếp nhận, dù tác phẩm có sử dụng theo phương thức nào đi chăng nữa

2.2.3 Cái hùng trong hoà phối mới

Cái hùng trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 thể hiện mối liên hệ bản

chất đối với cái bi Đó là tính cao cả của hành động và quá trình khắc phục

những mâu thuẫn gay gắt, có khi là không thể điều hoà, bằng chính những mất mát, hi sinh thường là không tránh khỏi Cái hùng chỉ bộc lộ vẻ đẹp

đích thực của nó khi có sự đụng độ giữa cái lí tưởng lớn lao với tính cá nhân của hành động, tư tưởng trong những tình huống ngặt nghèo Chất anh hùng thực sự mạnh mẽ trong chính tính cá nhân của tồn tại đời thường Hoá giải cái anh hùng sử thi thần thánh, văn xuôi sau 1975 đã thể hiện một lộ trình mới trong nhận thức về cái hùng

Nguyễn Minh Châu, người tiên phong trong công cuộc đổi mới, cũng chính là người sớm có tư tưởng hoá giải cái hùng của văn học cách mạng

1945 – 1975: Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Lực trong

Cỏ lau… Sự hoá giải cái anh hùng sử thi còn có thể thấy ở Nguyễn Vạn trong Bến không chồng của Dương Hướng, Tám Tính trong Ăn mày dĩ vãng của

Chu Lai… Triết luận anh hùng mới gắn liền với ý thức về con người cá nhân,

sự phát hiện ra đời sống bên trong phong phú, bí ẩn và đầy những xung đột

của con người: Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh) Tuấn (Không phải trò đùa), Quy (Chim én bay), Sư già và ông đại tá về hưu (Sư già chùa Thắm và ông đại tá hưu)… Có khi, sự hoá giải cái hùng thần

thánh được thực hiện khi nhà văn lùi xa hơn về quá khứ lịch sử: Đề Thám

(Mưa Nhã Nam), Trần Khát Chân và đặc biệt là Hồ Quý Ly (Hồ Quý Ly)…

Chương 3

trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

3.1 Cái bi

3.1.1 Vị thế chủ âm của cái bi trong hệ thống thẩm mĩ mới

Cái bi chiếm vị thế ưu trội, cùng với cái hài làm thành chủ âm của hệ thống thẩm mĩ mới Có thể từ nhiều góc độ để lí giải về vị thế ưu trội của

Ngày đăng: 04/04/2014, 09:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w