1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành Tây Đô và vùng đất Vĩnh Lộc ( Thanh Hoá ) từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX

14 535 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thành Tây Đô và vùng đất Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX
Tác giả Nguyễn Thị Thúy
Người hướng dẫn PGS.TS Đào Tố Uyên, TS. Phạm Văn Đấu
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 230,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành Tây Đô và vùng đất Vĩnh Lộc ( Thanh Hoá ) từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX

Trang 1

Trường đại học sư phạm hμ nội

nguyễn thị thúy

thμnh tây đô vμ vùng đất vĩnh lộc (thanh hóa)

từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại

tóm tắt luận án tiến sĩ lịch sử

hμ nội - 2009

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Tố Uyên

TS Phạm Văn Đấu

Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Quang Ngọc

Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển - ĐHQGHN

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Trọng Văn

Đại học Vinh

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Văn Nhật

Viện Nghiên cứu Lịch sử

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước tại

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2009

Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia

và Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

những công trình của tác giả đ∙ công bố

liên quan tới luận án

1 Nguyễn Thị Thúy (2002), "Tìm hiểu về sự thay đổi đơn vị hành chính ở

Thanh Hóa thời Nguyễn", Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia:

Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thời Nguyễn, Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội

2 Nguyễn Thị Thúy (2006), "Về sự thay đổi đơn vị hành chính vùng đất

Tây Đô từ thế kỷ X đến nay", Đặc san khoa học, (3), Trường Đại

học Hồng Đức, tr 65- 68

3 Nguyễn Thị Thúy (2007), "Về mối quan hệ giữa họ Trịnh- họ Nguyễn

qua gia phả họ Đỗ (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa)", Nghiên

cứu lịch sử, 5(373), tr 43- 48

4 Nguyễn Thị Thúy (2007), "Thành Tây Đô và những biến đổi của vùng

đất Vĩnh Lộc xưa", Nghiên cứu lịch sử, 9(377), tr 63- 68

5 Nguyễn Thị Thúy (2007), "Bàn thêm về giá trị quân sự của thành Tây

Đô", Lịch sử quân sự, 9(189), tr 47- 50

6 Nguyễn Thị Thúy (2007), "Thành Tây Đô: Những ẩn số cần giải mã",

Nghiên cứu Đông Nam á, 10(91), tr 68- 71

7 Nguyễn Thị Thúy (2008), "Thành Tây Đô - Về việc khai thác và vận

chuyển đá", Nghiên cứu Đông Nam á, 3(96), tr 61- 67

8 Nguyễn Thị Thúy (2008), "Tình hình ruộng đất khu vực thành Tây Đô (Qua

một số địa bạ Minh Mạng)", Nghiên cứu lịch sử, 6(386), tr 59- 65

9 Nguyễn Thị Thúy (2008), "Không gian văn hóa Tây Đô (Một số biến

đổi từ khi trở thành Tây Đô)", Khoa học, Đại học Quốc gia Hà

Nội, (4), tập 23, tr 203-209

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Triều Hồ tồn tại không lâu, nhưng là sự kiện lớn và quan trọng trong

lịch sử Việt Nam Trong số các di sản nhà Hồ để lại, thành Tây Đô là một

công trình kiến trúc có giá trị về nhiều mặt Nét đặc sắc của tòa thành

không chỉ ở quy mô đồ sộ, cấu trúc kiên cố mà còn là vì trình độ cao của

kỹ thuật xây dựng và mức độ tinh xảo của nghệ thuật thẩm mỹ Một công

trình đặc biệt như vậy lại được hoàn thành trong một thời gian rất ngắn là

một hiện tượng độc đáo và do đó, xung quanh việc xây dựng và bản thân

tòa thành có rất nhiều điều bí ẩn mà cho đến nay những kiến giải vẫn còn

đang để ngỏ

Việc đi sâu nghiên cứu về thành Tây Đô và những diễn biến lịch sử

liên quan đến công trình kiến trúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Tây Đô đã từng một thời giữ vai trò là kinh đô của cả nước Đồng thời

đây là một căn cứ quân sự kiên cố vào bậc nhất trong số các thành lũy

được dựng lên trong lịch sử trung đại Việt Nam, là nơi đã diễn ra những

trận chiến ác liệt trong cuộc kháng chiến chống Minh và sau này còn

tham dự vào nhiều sự kiện lịch sử quan trọng khác

Mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng sự kiện Tây Đô trở

thành kinh đô đã có tác động nhiều mặt đến địa phương, ngay cả trong

các giai đoạn lịch sử tiếp theo Nghiên cứu về thành Tây Đô và diễn biến

lịch sử vùng đất Vĩnh Lộc từ khi trở thành kinh đô (thế kỷ XV) đến giữa

thế kỷ XIX sẽ góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề của lịch sử đất nước mà

trước hết là lịch sử huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa

Tây Đô không chỉ là một công trình kiến trúc đặc sắc của Việt Nam

mà còn được đánh giá là một trong những tòa thành đá đẹp và lớn nhất

Đông Nam á Hiện nay, chúng ta đang tích cực chuẩn bị hồ sơ đề nghị

UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới Việc nghiên cứu toàn

diện Tây Đô sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá tổng

hợp giá trị của di sản văn hóa độc đáo này

Việc nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến thành Tây

Đô và vùng đất Vĩnh Lộc- nhất là giai đoạn từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX còn góp phần vào việc giảng dạy lịch sử địa phương và nâng cao nhận thức về văn hóa - con người trong quá trình xây dựng, phát triển vùng đất Vĩnh Lộc

Là một cán bộ giảng dạy môn lịch sử Việt Nam tại trường Đại học Hồng Đức có nhiều gắn bó với vùng đất Vĩnh Lộc, đã từng có dịp tìm

hiểu về thành Tây Đô, tôi mạnh dạn chọn vấn đề Thành Tây Đô và vùng

đất Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX làm

đề tài luận án tiến sĩ lịch sử với mong muốn sẽ góp một phần vào việc nâng cao thêm một bước nhận thức khoa học về thành Tây Đô và vùng

đất Vĩnh Lộc, Thanh Hóa

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thành Tây Đô và gắn với nó là vùng đất Vĩnh Lộc đã được các học giả trong và ngoài nước đề cập đến ở từng khía cạnh khác nhau Nhìn chung, các công trình này chủ yếu khảo sát những vấn đề nổi bật như di tích lịch sử thành Tây Đô, nhân vật lịch sử, đặc sản địa phương Nhưng cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào của các học giả trong nước cũng như ngoài nước nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về thành Tây Đô và vùng đất Vĩnh Lộc như một không gian văn hóa trong suốt thời kỳ cổ trung đại, nhất là từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

1 Nghiên cứu về quá trình xây dựng và diện mạo thành Tây Đô đồng thời khôi phục lại sự phát triển của vùng đất Vĩnh Lộc trên một số phương diện chủ yếu qua các giai đoạn lịch sử từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX

2 Tìm ra mối liên hệ giữa việc xây dựng thành Tây Đô, sự biến đổi của vùng đất từng được chọn làm kinh đô với những đặc điểm về lịch sử,

văn hóa của huyện Vĩnh Lộc qua các thời kỳ

Trang 4

3 Xây dựng một hệ thống tư liệu lịch sử địa phương, từ đó nâng cao

chất lượng dạy- học lịch sử Việt Nam - lịch sử địa phương, giáo dục truyền

thống lịch sử dân tộc

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là thành Tây Đô như một

di tồn lịch sử tiêu biểu của thời Trần - Hồ và vùng đất Vĩnh Lộc như một

không gian văn hóa có mối quan hệ tương tác gắn bó với thành Tây Đô

3.3 Giới hạn nghiên cứu

Không gian nghiên cứu được giới hạn trong địa bàn huyện Vĩnh Lộc

theo địa giới hành chính hiện nay và trong một chừng mực nhất định, mở

rộng tìm hiểu đến các vùng đất trong lịch sử đã từng thuộc huyện Vĩnh

Lộc xưa với trung tâm là khu vực thành nội và các vùng phụ cận

Thời gian nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giai đoạn từ sau khi vùng đất

trở thành kinh đô (cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV) đến giữa thế kỷ XIX

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Luận án được xây dựng trên cơ sở một hệ thống tư liệu từ nhiều

nguồn khác nhau, chủ yếu là các loại hình sau:

- Nguồn tài liệu thành văn là các sử liệu gốc, bao gồm các bộ sử do

triều đình phong kiến hoặc các cá nhân như bộ sách Đại Việt sử ký toàn

thư (thời Lê), Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử thông

giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí (thời Nguyễn) Các nguồn tư

liệu địa phương bao gồm các sách lịch sử, địa chí, địa bạ các làng liên

quan, gia phả của các dòng họ lớn, các bia ký, sắc phong và thần phả

- Nguồn tư liệu vật chất bao gồm các hiện vật khảo cổ, bia ký trên

đất Vĩnh Lộc được phát hiện qua các thời kỳ, đặc biệt là những kết quả

khai quật khảo cổ học thành Tây Đô gần đây của các chuyên gia trong

chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Đại học Quốc gia Hà Nội với

trường Đại học Showa (Nhật Bản) Các di tích, di vật lịch sử liên quan

đến tòa thành cũng được sử dụng làm tư liệu nghiên cứu

- Nguồn tư liệu văn hóa dân gian được sưu tầm, thu thập tại vùng

quanh thành như ca dao, dân ca, tục ngữ, truyền thuyết là nguồn bổ sung quan trọng cho các tài liệu thành văn

- Nguồn tài liệu điền dã là những ghi chép tại thực địa của tác giả trong

các đợt khảo sát tại hiện trường được sử dụng để đối chiếu, xác minh những thông tin chưa rõ ràng hoặc thiếu chính xác của các tài liệu thành văn Ngoài ra, luận án còn kế thừa được nhiều tư liệu đã công bố trong các công trình nghiên cứu đã công bố, nhất là các tài liệu do Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa và Ban Văn hóa huyện Vĩnh Lộc biên soạn

4.2 Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp tiếp cận lịch sử (chủ yếu) và một số phương pháp chuyên ngành khác như khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học

2 Phương pháp giám định và phân tích tư liệu

3 Phương pháp nghiên cứu khu vực học

4 Phương pháp so sánh, thống kê, phân tích định lượng

5 Đóng góp của luận án

1 Là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống về di tích lịch

sử thành Tây Đô, bổ sung thêm nhận thức về giá trị và thành tựu của văn minh Đại Việt đặc biệt là dưới thời Trần - Hồ, góp phần phục vụ công tác chuẩn bị tư liệu cho hồ sơ khoa học đề nghị UNESCO công nhận thành Tây Đô là Di sản văn hóa Thế giới

2 Đưa ra một số tư liệu mới có giá trị khoa học để lý giải thêm về vị trí vùng đất Vĩnh Lộc và nguyên nhân Hồ Quý Ly chọn làm kinh đô, góp phần nâng cao hiểu biết khoa học về những vấn đề có liên quan đến thành Tây Đô

3 Nghiên cứu toàn diện về thành Tây Đô, vùng đất Vĩnh Lộc từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX, luận án góp một cái nhìn tổng quan về vùng đất này trong suốt 5 thế kỷ, lấp chỗ trống về nhận thức trong nhận thức khoa học và làm cơ sở cho việc xây dựng cuốn lịch sử vùng đất Vĩnh Lộc trong tương lai

Trang 5

4 Tìm ra được mối quan hệ, tác động giữa việc xây dựng thành Tây Đô

và những biến chuyển, đặc điểm của vùng đất đã từng là kinh đô phong kiến

cũng như sau khi trở thành cố đô Đó sẽ là cơ sở cho việc hoạch định đường

lối phát triển kinh tế, văn hóa và du lịch của khu vực thành Tây Đô

5 Luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên và sinh viên

trường Đại học Hồng Đức và các trường phổ thông trung học khi dạy và học

bộ môn lịch sử Việt Nam - lịch sử địa phương, dân tộc học, văn hóa học

6 Cấu trúc của luận án

- Luận án có 199 trang, ngoài phần mở đầu (từ trang 1 - trang 14) và

kết luận (từ trang 195 - trang 199), có 3 chương:

Chương 1 Khái quát về vùng đất Vĩnh Lộc và việc chọn vị trí xây

thành Tây Đô của Hồ Quý Ly (từ trang 15 - trang 59)

Chương 2 Thành Tây Đô (từ trang 60 - trang 131)

Chương 3 Vĩnh Lộc từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX (từ

trang 132 - trang 194)

- Có 239 tài liệu tham khảo: 168 tài liệu tiếng Việt, 3 tài liệu tiếng

Pháp và 68 tài liệu Hán Nôm (sử dụng bản dịch tiếng Việt)

- Phụ lục: 51 bản đồ, sơ đồ và ảnh; 44 trang tư liệu

Chương 1

Khái quát về vùng đất Vĩnh Lộc vμ việc chọn vị trí

xây thμnh Tây Đô của hồ Quý Ly

1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông

Tiếp cận từ góc độ địa - văn hóa, tác giả luận án trình bày điều kiện

tự nhiên, môi trường sinh thái trong mối quan hệ tương tác với quá trình

tộc người và hoàn cảnh lịch sử để trên cơ sở đó lý giải đặc trưng văn hóa

của vùng đất Vĩnh Lộc

Vĩnh Lộc là một huyện ở về phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, nằm

trong khu vực chuyển tiếp từ vùng núi xuống đồng bằng với những dãy

núi đá vôi bị phong hóa mạnh, đồi núi đất thấp xen kẽ các cánh đồng phù

sa cổ do các con sông Mã, sông Bưởi bồi đắp

Vĩnh Lộc là vùng đất bán sơn địa có núi đá vôi, núi thấp, đồi, có sông suối xen kẽ với đồng bằng Tính đa dạng và phức hợp về địa hình đã tạo nên hình thế hiểm yếu, thuận tiện cho việc xây dựng một căn cứ phòng thủ với tòa thành đá kiên cố, phù hợp với tầm nhìn quân sự của Hồ Quý

Ly Môi trường tự nhiên đó còn là tác nhân tạo nên đặc trưng kinh tế - xã hội và văn hóa của huyện

ở vị trí hiểm yếu nhưng Vĩnh Lộc lại là nơi gắn với hệ thống giao thông thủy, bộ thuận tiện Ngược sông Mã có thể lên thượng nguồn qua các huyện miền núi Thanh Hóa sang tận đất Lào, xuôi dòng nối với Thăng Long Từ trung tâm Vĩnh Lộc còn có trục đường bộ liên huyện, liên tỉnh

và có thể liên hệ với phía Bắc hoặc phía Nam bằng con đường thượng đạo

Điều kiện tự nhiên, môi trường đa dạng và phức tạp không những tạo nên diện mạo tự nhiên và thế hiểm yếu mà còn tác động đến việc hình thành, phát triển của Vĩnh Lộc và việc Hồ Quý Ly quyết định xây dựng

tòa thành đá với chiến lược phòng thủ

1.2 Sự thay đổi đơn vị hành chính qua các thời kỳ lịch sử

Thời kỳ dựng nước đây là vùng đất thuộc Bộ Cửu Chân Trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, tuy có sự thay đổi về tên gọi cũng như địa giới hành chính vùng đất này vẫn thuộc quận Cửu Chân Đến thời Ngô - Đinh - Tiền Lê thuộc về huyện Nhật Nam của Châu ái

Thời Lý, Vĩnh Lộc cũng như các vùng đất thuộc Thanh Hóa do Tổng trấn Lý Thường Kiệt cai quản Đến thời Trần, Vĩnh Lộc thành một huyện riêng- huyện Vĩnh Ninh thuộc trấn Thanh Đô

Quyết định xây thành và dời đô cuối thế kỷ XIV đã tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của vùng đất Vĩnh Lộc Từ huyện Vĩnh Ninh vùng đất này đã trở thành kinh đô

Thời Minh thuộc, Vĩnh Ninh trở lại vị thế một huyện trực thuộc phủ Thanh Hóa Thời Lê Sơ, Vĩnh Lộc vẫn là huyện Vĩnh Ninh thuộc trấn

Trang 6

Thanh Đô Thời Trung Hưng đổi là Vĩnh Phúc lệ vào phủ Thiệu Thiên,

thời Tây Sơn huyện Vĩnh Phúc đổi thành huyện Vĩnh Lộc, địa giới hành

chính vẫn giữ nguyên như thời Lê

Thời Gia Long, Vĩnh Lộc lệ thuộc phủ Thanh Hóa đến năm Minh

Mệnh 16 (1835) tách huyện Vĩnh Lộc khỏi phủ Thiệu Hóa để cho phủ

Quảng Hóa kiêm lý và địa giới của huyện được phân định cụ thể

1.3 Dân cư

Trong các thành phần dân tộc ở Vĩnh Lộc, ngoài người Kinh có tỷ lệ

cao nhất, còn có người Mường và Chăm Người Kinh có nguồn gốc bản

địa, địa bàn cư trú cổ của người Mường là vùng giáp ranh huyện Thạch

Thành và Cẩm Thủy Người Chăm chủ yếu là tù binh và nghệ nhân, hoặc

vũ nữ bị triều đình phong kiến đưa về đây sau các cuộc chiến tranh

Người Chăm ở xen kẽ cùng người Kinh và người Mường Địa bàn cư

trú trước kia thuộc hương Đại Lại và các vùng đất lân cận, vốn là các trại, sở

đồn điền sử dụng lao động của tù binh, sau dần biến thành các làng Chăm

1.4 Mục đích và việc chọn vị trí xây thành, dời đô của Hồ Quý Ly

Trên cơ sở phân tích tình hình cuối thế kỷ XIV, khi Đại Việt lâm vào

cuộc khủng hoảng sâu sắc và đất nước đứng trước nguy cơ ngoại xâm

đang cận kề, tác giả đã chỉ ra tính tất yếu của một cuộc cải cách sâu sắc

Lĩnh nhận sứ mệnh cải cách là Hồ Quý Ly, người đã nắm gần như toàn

bộ quyền lực triều đình Với vị thế, trọng trách của mình và để thực hiện

những tham vọng chính trị cá nhân, ông đã đưa ra những quyết định táo

bạo có ý nghĩa sống còn với vương triều và bản thân ông Xây thành và

dời đô về Thanh Hóa là một trong những quyết định đó

Với ý nghĩa này, dời đô không chỉ nhằm mục đích tạo điều kiện cho

việc đoạt ngôi, mà còn xuất phát từ nhu cầu củng cố sức mạnh của chính

quyền trung ương và gấp rút củng cố quốc phòng chuẩn bị chống ngoại xâm

Mặc dù công việc xây thành, dời đô diễn ra trong một thời gian tương

đối ngắn, nhưng sự kiện này đã được chuẩn bị khá kỹ lưỡng Trong hoàn

cảnh "Thiên không thời" (tiến hành cải cách không đúng thời điểm)á

"Nhân không hòa" (chính sách gây bất bình với một số tầng lớp xã hội,

nhất là quý tộc họ Trần), Hồ Quý Ly chọn An Tôn như một vùng được

coi là "Địa lợi" để định đô Vị trí nơi đây phù hợp với ý tư duy chính trị -

quân sự và cả quan niệm về tâm linh, phong thủy của Hồ Quý Ly

Để hiểu rõ thêm về tòa thành, luận án cũng đã tiến hành khảo cứu sự thay đổi tên gọi của nó qua các thời kỳ lịch sử Trong các thành cổ Việt Nam, đây là tòa thành có nhiều tên gọi khác nhau Ngoài tên gọi Tây Đô,

thành còn được biết đến với các tên gọi khác như An Tôn, Tây Kinh, Tây

Giai, thành nhà Hồ Mỗi tên gọi đều gắn với những sự kiện, quan điểm

và ý nghĩa khác nhau Đây chính là một trong những lý do tạo nên nét

đặc biệt của tòa thành này

Từ khảo cứu điều kiện tự nhiên, dân cư cho thấy Vĩnh Lộc là một huyện có vị thế đặc biệt quan trọng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Đặc

điểm phong phú về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, đa dạng về dân cư đã có tác động không nhỏ đến kinh tế và tạo nên những đặc trưng văn hóa của các cộng đồng cư dân Vĩnh Lộc

Trải qua các thời kỳ lịch sử, địa dư và danh xưng huyện Vĩnh Lộc cũng nhiều lần thay đổi Việc dời kinh đô từ Thăng Long về Vĩnh Lộc đã khẳng

định vị thế quan trọng của vùng đất này trong chiến lược quân sự phòng thủ của Hồ Quý Ly, đồng thời còn tạo điều kiện cho Vĩnh Lộc có những bước phát triển về kinh tế, văn hóa

Chương 2

Thμnh Tây Đô

2.1 Sự ra đời của thành Tây Đô

2.1.1 Vị thế của thành Tây Đô trong vùng đất Vĩnh Lộc

Luận án không đi sâu khảo tả di tích mà tập trung làm rõ vị thế của thành Tây Đô trong vùng đất Vĩnh Lộc và đối với vương triều Hồ Theo cách phân chia địa giới hiện nay, thành Tây Đô nằm ở Bắc Trung Bộ thuộc phần đất phía Tây của huyện Vĩnh Lộc

Trang 7

Lựa chọn vị thế này, Hồ Quý Ly đã có những tính toán về: điều kiện

tự nhiên, vị trí quân sự, hệ thống giao thông thủy - bộ và cả cái nhìn theo

thuật phong thủy

2.1.2 Quá trình xây dựng thành Tây Đô

Tây Đô về cơ bản được hoàn tất ít nhất trong khoảng hơn một năm

(từ tháng giêng năm 1397 đến tháng 3 âm lịch năm 1398) chứ không phải

chỉ trong vòng 3 tháng như vẫn thường được quan niệm Với quy mô và

độ tinh xảo của kiến trúc, đây vẫn là một thời gian kỷ lục

Nguồn nhân lực được huy động vào công việc xây dựng, ngoài các

kiến trúc sư, thợ kỹ thuật đến từ nhiều nơi (không loại trừ có cả những

nghệ nhân Chăm) lực lượng lao động phổ thông chủ yếu vẫn là dân địa

phương và các vùng phụ cận

Vật liệu xây thành gồm đá vôi khối lớn được khai thác tại ngọn núi

phía Tây và Tây Bắc thành, đất lấy từ các quả đồi xung quanh (hoặc tận dụng

từ việc đào hệ thống hào) trộn với cát sỏi khai thác ở sông Mã Phần trên

tường thành được xây bằng gạch

giản Kết quả phân tích kỹ thuật và những di vật còn lại cho phép đoán

định đá được khai thác bằng phương pháp thủ công và vận chuyển bằng

cộ (một loại xe kéo) và bi (một dạng con lăn) Đối với phương pháp vận

chuyển bằng bi phải kết hợp với kỹ thuật làm nền đường phẳng cứng

Khi tiến hành nghiên cứu kỹ thuật xây dựng tường thành, có một

phát hiện khá lý thú là từ trước tới nay vật liệu xây thành Tây Đô thường

được cho rằng chủ yếu là đá khối lớn, nhưng thực tế lại không phải như

vậy Đá tảng lớn ốp kín các mặt tường, nhưng chỉ chiếm khoảng 1/3 khối

lượng vật liệu Cả bốn bức tường thành đều được kết hợp kỹ thuật xếp đá

phiến ốp mặt ngoài với việc chèn đá mồ côi ở giữa và đắp tường đất trộn

cát sỏi bên trong, tạo thành ba lớp với các chất liệu, kỹ thuật và các chức

năng khác nhau Như vậy, phần chủ yếu của các bức tường lại là đá nhỏ

và đất trộn với cát sỏi làm cốt bên trong

Nếu toàn bộ mặt thành ngoài được ghép đá phẳng dựng đứng đòi hỏi trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao thì mặt trong lại được đắp dốc thoải dần bằng kỹ thuật ghép đá thô sơ hơn

Kỹ thuật xây dựng tinh xảo được thể hiện tập trung ở cổng thành Tại hạng mục công trình này, đá khối lớn được ghè đẽo tinh vi, đạt mức độ chuẩn xác cao theo kích cỡ và hình dáng định sẵn Để xây dựng được các vòm cửa cuốn riềm tò vò bằng đá, trước hết người ta đắp đất, cát sỏi thành hình vòm cửa bên trong làm cốt, làm bệ đỡ và tạo dáng các vòm cửa, sau đó chỉ việc lắp đặt đá tảng bên trên theo hình vòm đất Khi xây xếp đá xong, lõi

đất được khoét ra và vòm cuốn đồ sộ đã hình thành Phần trụ của cổng thành làm theo hình thang cân, dưới choãi rộng trên thu dần nên rất vững chãi Cổng thành, vì vậy, có thể còn được xem là một công trình nghệ thuật

2.2 Cấu trúc tòa thành

2.2.1 La thành và hào thành

Ngoài tòa thành bằng đá, chỉnh thể toàn bộ công trình còn có hệ thống bảo vệ vòng ngoài, bao gồm la thành và hào thành

La thành chính là lũy đất cách thành nội khoảng 2 km, chu vi ước chừng

khoảng 4 km được đắp men theo bờ sông Mã phía Tây và sông Bưởi phía Đông, nhập với các dãy đồi phía Bắc và chạy qua cánh đồng rộng ở phía Nam, tạo nên một bức tường thành Để tăng độ hiểm trở, trên lũy đất được trồng tre gai Việc lợi dụng triệt để các địa hình địa vật để xây dựng, tạo nên hình dáng độc đáo của La Thành cho thấy sự tiếp nối của kỹ thuật xây thành truyền thống từng được thể hiện trong nhiều công trình thành lũy trước đó Ngoài hệ thống hào tự nhiên (sông Mã và sông Bưởi) vừa sâu vừa rộng hình vòng cung vây bọc kinh thành, Hồ Quý Ly đã cho đào một hệ thống hào sâu bao quanh và cho rải chông sắt phía trong lòng

2.2.2 Thành nội

Xuất phát từ quan niệm truyền thống nên tất cả các tòa thành ở Việt Nam đều mở hướng Nam Thành Tây Đô cũng không ngoài quy luật đó Những số liệu mới nghiên cứu về Tây Đô cho thấy hướng của tòa thành lệch

Trang 8

Nam 120 Hướng lệch Nam của tòa thành không chỉ chịu chi phối trực tiếp

bởi địa thế sông suối mà còn xuất phát theo cái nhìn của thuật phong thủy

Trước nay, các nguồn tư liệu đều không thống nhất về kích thước,

chênh lệch số đo giữa các cạnh và dẫn đến nhận định về cấu trúc thành

nội có sự khác nhau Số liệu đo trực tiếp bằng phương tiện thủ công hoặc

hiện đại đều cho biết Tây Đô có bình đồ gần vuông (chênh lệch giữa

chiều dài và rộng là 3m) Cấu trúc gần vuông của tòa thành là ảnh hưởng

từ quan niệm phong thủy của người thiết kế

Tường thành đều được cấu tạo theo hình thang vuông; bên trong đắp

dốc bằng đất thoải dần, ở giữa được chèn bằng lớp đá nhỏ và bên ngoài

được ốp bằng đá tảng theo phương thẳng đứng Cấu trúc tường thành đã

đáp ứng một trong hai yêu cầu của một kinh đô phong kiến mang nặng

tính quân sự phòng thủ (thành cao và hào sâu)

Bốn cổng thành Tây Đô (Đông, Tây, Nam và Bắc) đều được mở tại

trung điểm các mặt thành, riêng cửa Nam (cửa Tiền) với 3 vòm cửa cuốn

(vòm giữa to cao hơn, hai vòm bên nhỏ hơn), các cửa còn lại được xây theo

kiểu đơn môn (một vòm cuốn) Toàn bộ cổng thành đều được xây ghép bằng

đá phiến khéo léo, vòm cửa xây cuốn tò vò trên những tường trụ hơi nghiêng

theo hình thang cân (trên nhỏ, dưới to) Phía trên cửa Nam và cửa Bắc (cửa

Tiền và cửa Hậu) được xây lầu canh, dấu tích còn lại là các hàng lỗ cột

Cấu trúc cổng thành đã tạo nên nét độc đáo của thành Tây Đô

2.2.3 Các công trình kiến trúc trong thành

Các công trình kiến trúc trong thành nội hiện không còn, nhưng kết

hợp các nguồn tư liệu với dấu tích nền móng cũ còn lại trên bề mặt có thể

hình dung phần nào kiến trúc của hệ thống cung điện xưa, theo đó,

Hoàng thành được chia làm 4 phần bởi hai trục đường nối 2 cổng Bắc -

Nam và 2 cổng Đông - Tây Di tích còn lại trên mặt đất là hai thành bậc

cung điện chạm rồng (đã bị cụt đầu) mang phong cách nghệ thuật thời

Trần, song ít nhiều vẫn thể hiện sự hồi tưởng nghệ thuật thời Lý tạo nên

nét đặc biệt ở buổi giao thời Trần - Hồ

2.2.4 Một số công trình kiến trúc có liên quan

Ngoài hệ thống thành lũy, khu vực thành Tây Đô còn phải kể đến

một số công trình kiến trúc có liên quan, trong đó trước phải kể đến cung

Bảo Thanh Đây là kiến trúc có từ trước khi xây thành Tây Đô Hồ Quý

Ly đã cho xây dựng cung Bảo Thanh với dự định ban đầu là dời đô đến

đây Hiện các kiến trúc cung Bảo Thanh chỉ có dấu vết nền móng chìm trong lòng đất được phát hiện qua các đợt khai quật khảo cổ học

Trong tiến trình dời đô, cung Bảo Thanh có vai trò như là hành cung

của nhà Trần Cùng với khu hoàng thành Tây Đô, cung điện Bảo Thanh nằm trong hệ thống cung thất của một kinh đô thời Trần - Hồ

Một công trình quan trọng khác là Đàn Nam giao Công trình được

xây dựng trên núi Đốn sau khi vương triều Hồ thiết lập (1402), hiện chỉ còn dấu vết của nền móng Dựa vào dấu tích được khảo cổ học phát hiện,

có thể biết Đàn Nam giao không chỉ có hình dáng gần vuông như bình đồ thành nội Tây Đô, mà còn là đặc trưng của kiến trúc triều Hồ trong việc

sử dụng chất liệu đá phiến

Cũng như cung Bảo Thanh, Đàn Nam giao là một bộ phận nằm trong quy hoạch kiến trúc của kinh thành

2.3 Giá trị của thành Tây Đô

Với vai trò là kinh thành, Tây Đô từng là trung tâm chính trị, văn hóa và

kinh tế của cả nước Tại đây triều Hồ đã ban hành và thực thi nhiều chính sách chính trị, quân sự và văn hóa Tuy nhiên, tòa thành được biết đến nhiều

hơn với vai trò là một thành lũy quân sự Tây Đô thực sự là một trong những

công trình kiến trúc quân sự độc đáo và kiên cố trong lịch sử Việt Nam Vượt qua thời gian hơn 6 thế kỷ, công trình thành Tây Đô đã khẳng

được giá trị trên cả hai phương diện trình độ kỹ thuật và nghệ thuật kiến

trúc Có thể nói kỹ thuật xây dựng thành đã đạt tới trình độ cao nhờ có sự

kế thừa những tinh hoa đúc kết trong kỹ thuật xây thành của người Việt với kỹ thuật đương đại So với các thành lũy Việt Nam trước đó, Tây Đô

là bước phát triển sáng tạo vượt bậc trong kỹ thuật xây dựng thành lũy

Trang 9

Thành Tây Đô là công trình kiến trúc có giá trị văn hóa đặc sắc, biểu

hiện một giá trị thẩm mỹ đặc biệt, một cảm quan nghệ thuật cao của dân

tộc Không chỉ là một công trình kiến trúc quân sự kiên cố, thành Tây Đô

còn là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo

Bên cạnh những giá trị vật thể, công trình thành Tây Đô còn để lại

những kinh nghiệm và bài học lịch sử như những giá trị phi vật thể Trước

hết là kinh nghiệm về tổ chức xây dựng và huy động sức dân Để có thể xây

dựng được một trình kiến trúc đồ sộ đòi hỏi trình độ tổ chức rất cao Cho đến

nay, đây vẫn còn là điều còn rất nhiều bí ẩn Kinh nghiệm về việc tiếp thu kỹ

thuật truyền thống và tri thức đương đại để xây dựng một tòa thành đạt giá trị

cao về kỹ thuật và nghệ thuật cũng là những vấn đề cần được nghiên cứu

thêm Ngoài ra còn cần phải kể đến những kinh nghiệm về khai thác, vận

chuyển vật liệu một cách hợp lý để tiết kiệm được thời gian và công sức

Tuy nhiên, bài học lịch sử lớn nhất có thể rút ra từ công trình kiến

trúc quân sự đồ sộ này là không một tòa thành nào vững chắc hơn lòng

dân Đó cũng chính là căn nguyên sâu xa dẫn tới sự thất bại của Hồ Quý

Ly Bài học xương máu từ thất bại của họ Hồ là đã không hiểu được một

quy luật giản dị trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc Việt Nam là

"thành trì kiên cố không bằng bức thành của lòng dân"

2.4 Thành Tây Đô sau vương triều Hồ

Cuộc kháng chiến chống Minh của Hồ Quý Ly bị thất bại (1407), kể

từ đây, thành Tây Đô chấm dứt vai trò là kinh đô

Trong gần 20 năm đất nước dưới ách đô hộ, Tây Đô từ một kinh đô

trở thành căn cứ của quân Minh

Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, thành Tây Đô đã trở thành phế tích

Thời Trung hưng, Tây Đô có vai trò quan trọng, trở thành "hành

doanh", một căn cứ quân sự lợi hại trong sự nghiệp "phò Lê diệt Mạc"

Đến giữa thế kỷ XIX cấu trúc thành Tây Đô không thay đổi nhiều so

với hiện trạng

Như vậy, trong số các thành lũy Việt Nam thời kỳ trung đại, có thể nói Tây Đô là tòa thành kiên cố bậc nhất với kiến trúc độc đáo và xây dựng trong thời gian nhanh nhất Tòa thành là sự kết tinh sức lao động và trí sáng tạo của người Việt Sự độc đáo của thành Tây Đô chính là bình đồ gần vuông với hệ thống tường và các vòm cổng bằng đá đồ sộ, kiên cố Cấu trúc tòa thành đã chú ý kết hợp yếu tố thành và yếu tố thị của một kinh đô, đồng thời là sự kết hợp kinh nghiệm truyền thống với kỹ thuật đương đại Dù không hoàn thành sứ mệnh một kinh đô kháng chiến, nhưng Tây Đô xứng đáng được

đánh giá cao như một công trình kiến trúc quân sự đặc sắc

Chương 3

vĩnh lộc từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XiX 3.1 Vĩnh Lộc từ cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XV

3.1.1 Tình hình khai phá đất đai và lập làng trước thời điểm xây thành dời đô

Quá trình khai phá đất đai và lập làng đã diễn ra từ nhiều thế kỷ trước khi vùng đất Vĩnh Lộc trở thành kinh đô Đây là vùng đất cổ từng

có con người sinh sống qua các thời đại

Dấu tích văn hóa Sơn Vi được phát hiện ở Vĩnh Lộc đã khẳng định đây là

địa bàn hoạt động của người nguyên thủy Dấu tích văn hóa Đông Sơn cho thấy vai trò của vùng đất này trong thời kỳ vua Hùng dựng nước Văn Lang Cùng với quá trình di dân, định cư, khai phá đất đai và sự hình thành nên các cánh đồng bãi được bồi đắp phù sa là sự hình thành làng xã Trải qua các thời kỳ phát triển, đến thời Trần vùng đất Vĩnh Ninh là thái ấp của dòng họ Lê Phụ Trần, góp phần mở mang vùng đất Vĩnh Lộc

3.1.2 Vĩnh Lộc thời kỳ là kinh đô

Sự kiện xây thành, dời đô vào cuối thế kỷ XIV đã tạo nên bước ngoặt trong quá trình phát triển của huyện Vĩnh Lộc Vị thế chính trị mới

Trang 10

không chỉ làm thay đổi về kết cấu hạ tầng, tạo ra những nhu cầu mới kích

thích sự phát triển kinh tế - xã hội mọi mặt, đặc biệt là sự biến đổi về

ruộng đất và sự hình thành phát triển làng xã mà còn là cơ sở để khẳng

định vị thế quan trọng của vùng đất này

Cùng với khu Hoàng thành, một trung tâm chính trị - quân sự đã hình

thành nên khu hành chính kinh đô và kích thích kinh tế phát triển Khi trở

thành kinh đô, vùng đất Vĩnh Lộc "từ một làng quê đã dần dần trở thành

một đô thị, một trung tâm của trấn Thanh Đô"

3.2 Vĩnh Lộc từ đầu thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII

3.2.1 Từ đầu thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI

Sau khi mất vị trí là kinh đô, vùng đất Vĩnh Lộc cũng như thành Tây

Đô là nơi chiếm đóng của quân xâm lược Minh Quân Minh đã biến tòa

thành này thành một căn cứ quân sự và một trị sở chính trị nhằm áp đặt chế

độ cai trị hà khắc và đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta

Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra trên đất Thanh Hóa, tiêu biểu là cuộc

khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng (1418) đã thu hút nhân tài vật

lực ở nhiều nơi tham gia Trong số những người sớm gia nhập cuộc khởi

nghĩa có nhiều người quê ở Vĩnh Lộc, tiêu biểu nhất là Trịnh Khả

Trong suốt cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vùng đất Vĩnh Lộc là trọng

điểm của cuộc chiến, nhân dân Vĩnh Lộc đã tham gia và góp phần quan

trọng làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc

Kháng chiến chống Minh thắng lợi, nhà Lê thành lập, Vĩnh Lộc bước

vào thời kỳ phát triển mới Về kinh tế, do là quê hương của nhiều khai quốc

công thần và là vùng đất có đóng góp quan trọng cho triều Lê nên Vĩnh Lộc

được hưởng một số chính sách ưu đãi về ruộng đất Điều này đã có tác động

đến ruộng đất công làng xã cũng như các loại hình sở hữu đất tư và đồn điền

Chính sách ban cấp ruộng đất cho khai quốc công thần và chế độ lộc

điền cho quý tộc quan lại của vương triều Lê mà Vĩnh Lộc là vùng đất có

nhiều khai quốc công thần nên ruộng đất được ban cấp ở đây chiếm một

khối lượng đáng kể Đây là cơ sở để ruộng tư ngày càng phát triển và nhiều làng mới ra đời trên cơ sở trại ấp

Triều đình đặc biệt quan tâm đến vấn đề thủy lợi nên Vĩnh Lộc vốn

là vùng đất bị tàn phá nặng nề nhưng cũng đã nhanh chóng ổn định được

đời sống và sản xuất nông nghiệp sau chiến tranh

Trên cơ sở phát triển kinh tế nông nghiệp, các ngành nghề thủ công

và thương nghiệp ở Vĩnh Lộc tiếp tục được duy trì và mở rộng

Về tổ chức hành chính, văn hóa và xã hội, mặc dù trải qua một số

lần thay đổi tên gọi và diên cách, vùng đất này luôn được triều Lê đặc biệt quan tâm Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của Nho học trên quy mô

cả nước nên giáo dục khoa cử ở Vĩnh Lộc có điều kiện phát triển Đây là

một trong những đất học của xứ Thanh Vĩnh Lộc từng có nhiều người đỗ

đạt cao và hiển đạt trong chốn quan trường

Văn hóa vật chất và tinh thần ở Vĩnh Lộc có nhiều nét đặc sắc, với nhiều công trình kiến trúc có giá trị, đóng góp vào kho tàng văn hóa xứ Thanh

3.2.2 Từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII

Không chỉ là đất phát tích của chúa Trịnh mà Vĩnh Lộc còn có vị trí giao thông thủy - bộ quan trọng nên vùng đất này đã trở thành mắt xích quan trọng bậc nhất trong cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc

Vùng đất Vĩnh Lộc mà trung tâm là thành Tây Đô - Biện Thượng đã trở thành căn cứ, địa bàn quan trọng cho lực lượng phò Lê đứng đầu là Nguyễn Kim sau đó là họ Trịnh khôi phục lại vương triều Lê

Từ nửa đầu thế kỷ XVI, Vĩnh Lộc trở thành chiến trường nóng bỏng, khốc liệt trong cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều nên dân cư loạn lạc, ruộng vườn bỏ hoang Tuy có nhiều khó khăn nhưng kinh tế nông nghiệp Vĩnh Lộc vẫn có bước phát triển đáng kể, nhất là khi chính quyền Lê - Trịnh có những đặc ân đối với vùng đất này

Trong suốt thời Lê Trung hưng, Vĩnh Lộc vẫn duy trì được sự phát triển trên mọi phương diện Một trong những tác nhân tạo nên sự phát

Ngày đăng: 04/04/2014, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w