Thành Tây Đô và vùng đất Vĩnh Lộc ( Thanh Hoá ) từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX
Trang 1Trường đại học sư phạm hμ nội
nguyễn thị thúy
thμnh tây đô vμ vùng đất vĩnh lộc (thanh hóa)
từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại
tóm tắt luận án tiến sĩ lịch sử
hμ nội - 2009
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Tố Uyên
TS Phạm Văn Đấu
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Quang Ngọc
Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển - ĐHQGHN
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Trọng Văn
Đại học Vinh
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Văn Nhật
Viện Nghiên cứu Lịch sử
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước tại
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2009
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia
và Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
những công trình của tác giả đ∙ công bố
liên quan tới luận án
1 Nguyễn Thị Thúy (2002), "Tìm hiểu về sự thay đổi đơn vị hành chính ở
Thanh Hóa thời Nguyễn", Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia:
Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thời Nguyễn, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội
2 Nguyễn Thị Thúy (2006), "Về sự thay đổi đơn vị hành chính vùng đất
Tây Đô từ thế kỷ X đến nay", Đặc san khoa học, (3), Trường Đại
học Hồng Đức, tr 65- 68
3 Nguyễn Thị Thúy (2007), "Về mối quan hệ giữa họ Trịnh- họ Nguyễn
qua gia phả họ Đỗ (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa)", Nghiên
cứu lịch sử, 5(373), tr 43- 48
4 Nguyễn Thị Thúy (2007), "Thành Tây Đô và những biến đổi của vùng
đất Vĩnh Lộc xưa", Nghiên cứu lịch sử, 9(377), tr 63- 68
5 Nguyễn Thị Thúy (2007), "Bàn thêm về giá trị quân sự của thành Tây
Đô", Lịch sử quân sự, 9(189), tr 47- 50
6 Nguyễn Thị Thúy (2007), "Thành Tây Đô: Những ẩn số cần giải mã",
Nghiên cứu Đông Nam á, 10(91), tr 68- 71
7 Nguyễn Thị Thúy (2008), "Thành Tây Đô - Về việc khai thác và vận
chuyển đá", Nghiên cứu Đông Nam á, 3(96), tr 61- 67
8 Nguyễn Thị Thúy (2008), "Tình hình ruộng đất khu vực thành Tây Đô (Qua
một số địa bạ Minh Mạng)", Nghiên cứu lịch sử, 6(386), tr 59- 65
9 Nguyễn Thị Thúy (2008), "Không gian văn hóa Tây Đô (Một số biến
đổi từ khi trở thành Tây Đô)", Khoa học, Đại học Quốc gia Hà
Nội, (4), tập 23, tr 203-209
Trang 3Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Triều Hồ tồn tại không lâu, nhưng là sự kiện lớn và quan trọng trong
lịch sử Việt Nam Trong số các di sản nhà Hồ để lại, thành Tây Đô là một
công trình kiến trúc có giá trị về nhiều mặt Nét đặc sắc của tòa thành
không chỉ ở quy mô đồ sộ, cấu trúc kiên cố mà còn là vì trình độ cao của
kỹ thuật xây dựng và mức độ tinh xảo của nghệ thuật thẩm mỹ Một công
trình đặc biệt như vậy lại được hoàn thành trong một thời gian rất ngắn là
một hiện tượng độc đáo và do đó, xung quanh việc xây dựng và bản thân
tòa thành có rất nhiều điều bí ẩn mà cho đến nay những kiến giải vẫn còn
đang để ngỏ
Việc đi sâu nghiên cứu về thành Tây Đô và những diễn biến lịch sử
liên quan đến công trình kiến trúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Tây Đô đã từng một thời giữ vai trò là kinh đô của cả nước Đồng thời
đây là một căn cứ quân sự kiên cố vào bậc nhất trong số các thành lũy
được dựng lên trong lịch sử trung đại Việt Nam, là nơi đã diễn ra những
trận chiến ác liệt trong cuộc kháng chiến chống Minh và sau này còn
tham dự vào nhiều sự kiện lịch sử quan trọng khác
Mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng sự kiện Tây Đô trở
thành kinh đô đã có tác động nhiều mặt đến địa phương, ngay cả trong
các giai đoạn lịch sử tiếp theo Nghiên cứu về thành Tây Đô và diễn biến
lịch sử vùng đất Vĩnh Lộc từ khi trở thành kinh đô (thế kỷ XV) đến giữa
thế kỷ XIX sẽ góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề của lịch sử đất nước mà
trước hết là lịch sử huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa
Tây Đô không chỉ là một công trình kiến trúc đặc sắc của Việt Nam
mà còn được đánh giá là một trong những tòa thành đá đẹp và lớn nhất
Đông Nam á Hiện nay, chúng ta đang tích cực chuẩn bị hồ sơ đề nghị
UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới Việc nghiên cứu toàn
diện Tây Đô sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá tổng
hợp giá trị của di sản văn hóa độc đáo này
Việc nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến thành Tây
Đô và vùng đất Vĩnh Lộc- nhất là giai đoạn từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX còn góp phần vào việc giảng dạy lịch sử địa phương và nâng cao nhận thức về văn hóa - con người trong quá trình xây dựng, phát triển vùng đất Vĩnh Lộc
Là một cán bộ giảng dạy môn lịch sử Việt Nam tại trường Đại học Hồng Đức có nhiều gắn bó với vùng đất Vĩnh Lộc, đã từng có dịp tìm
hiểu về thành Tây Đô, tôi mạnh dạn chọn vấn đề Thành Tây Đô và vùng
đất Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX làm
đề tài luận án tiến sĩ lịch sử với mong muốn sẽ góp một phần vào việc nâng cao thêm một bước nhận thức khoa học về thành Tây Đô và vùng
đất Vĩnh Lộc, Thanh Hóa
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thành Tây Đô và gắn với nó là vùng đất Vĩnh Lộc đã được các học giả trong và ngoài nước đề cập đến ở từng khía cạnh khác nhau Nhìn chung, các công trình này chủ yếu khảo sát những vấn đề nổi bật như di tích lịch sử thành Tây Đô, nhân vật lịch sử, đặc sản địa phương Nhưng cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào của các học giả trong nước cũng như ngoài nước nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về thành Tây Đô và vùng đất Vĩnh Lộc như một không gian văn hóa trong suốt thời kỳ cổ trung đại, nhất là từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
1 Nghiên cứu về quá trình xây dựng và diện mạo thành Tây Đô đồng thời khôi phục lại sự phát triển của vùng đất Vĩnh Lộc trên một số phương diện chủ yếu qua các giai đoạn lịch sử từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX
2 Tìm ra mối liên hệ giữa việc xây dựng thành Tây Đô, sự biến đổi của vùng đất từng được chọn làm kinh đô với những đặc điểm về lịch sử,
văn hóa của huyện Vĩnh Lộc qua các thời kỳ
Trang 43 Xây dựng một hệ thống tư liệu lịch sử địa phương, từ đó nâng cao
chất lượng dạy- học lịch sử Việt Nam - lịch sử địa phương, giáo dục truyền
thống lịch sử dân tộc
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là thành Tây Đô như một
di tồn lịch sử tiêu biểu của thời Trần - Hồ và vùng đất Vĩnh Lộc như một
không gian văn hóa có mối quan hệ tương tác gắn bó với thành Tây Đô
3.3 Giới hạn nghiên cứu
Không gian nghiên cứu được giới hạn trong địa bàn huyện Vĩnh Lộc
theo địa giới hành chính hiện nay và trong một chừng mực nhất định, mở
rộng tìm hiểu đến các vùng đất trong lịch sử đã từng thuộc huyện Vĩnh
Lộc xưa với trung tâm là khu vực thành nội và các vùng phụ cận
Thời gian nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giai đoạn từ sau khi vùng đất
trở thành kinh đô (cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV) đến giữa thế kỷ XIX
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Luận án được xây dựng trên cơ sở một hệ thống tư liệu từ nhiều
nguồn khác nhau, chủ yếu là các loại hình sau:
- Nguồn tài liệu thành văn là các sử liệu gốc, bao gồm các bộ sử do
triều đình phong kiến hoặc các cá nhân như bộ sách Đại Việt sử ký toàn
thư (thời Lê), Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử thông
giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí (thời Nguyễn) Các nguồn tư
liệu địa phương bao gồm các sách lịch sử, địa chí, địa bạ các làng liên
quan, gia phả của các dòng họ lớn, các bia ký, sắc phong và thần phả
- Nguồn tư liệu vật chất bao gồm các hiện vật khảo cổ, bia ký trên
đất Vĩnh Lộc được phát hiện qua các thời kỳ, đặc biệt là những kết quả
khai quật khảo cổ học thành Tây Đô gần đây của các chuyên gia trong
chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Đại học Quốc gia Hà Nội với
trường Đại học Showa (Nhật Bản) Các di tích, di vật lịch sử liên quan
đến tòa thành cũng được sử dụng làm tư liệu nghiên cứu
- Nguồn tư liệu văn hóa dân gian được sưu tầm, thu thập tại vùng
quanh thành như ca dao, dân ca, tục ngữ, truyền thuyết là nguồn bổ sung quan trọng cho các tài liệu thành văn
- Nguồn tài liệu điền dã là những ghi chép tại thực địa của tác giả trong
các đợt khảo sát tại hiện trường được sử dụng để đối chiếu, xác minh những thông tin chưa rõ ràng hoặc thiếu chính xác của các tài liệu thành văn Ngoài ra, luận án còn kế thừa được nhiều tư liệu đã công bố trong các công trình nghiên cứu đã công bố, nhất là các tài liệu do Ban Nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa và Ban Văn hóa huyện Vĩnh Lộc biên soạn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp tiếp cận lịch sử (chủ yếu) và một số phương pháp chuyên ngành khác như khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học
2 Phương pháp giám định và phân tích tư liệu
3 Phương pháp nghiên cứu khu vực học
4 Phương pháp so sánh, thống kê, phân tích định lượng
5 Đóng góp của luận án
1 Là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống về di tích lịch
sử thành Tây Đô, bổ sung thêm nhận thức về giá trị và thành tựu của văn minh Đại Việt đặc biệt là dưới thời Trần - Hồ, góp phần phục vụ công tác chuẩn bị tư liệu cho hồ sơ khoa học đề nghị UNESCO công nhận thành Tây Đô là Di sản văn hóa Thế giới
2 Đưa ra một số tư liệu mới có giá trị khoa học để lý giải thêm về vị trí vùng đất Vĩnh Lộc và nguyên nhân Hồ Quý Ly chọn làm kinh đô, góp phần nâng cao hiểu biết khoa học về những vấn đề có liên quan đến thành Tây Đô
3 Nghiên cứu toàn diện về thành Tây Đô, vùng đất Vĩnh Lộc từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX, luận án góp một cái nhìn tổng quan về vùng đất này trong suốt 5 thế kỷ, lấp chỗ trống về nhận thức trong nhận thức khoa học và làm cơ sở cho việc xây dựng cuốn lịch sử vùng đất Vĩnh Lộc trong tương lai
Trang 54 Tìm ra được mối quan hệ, tác động giữa việc xây dựng thành Tây Đô
và những biến chuyển, đặc điểm của vùng đất đã từng là kinh đô phong kiến
cũng như sau khi trở thành cố đô Đó sẽ là cơ sở cho việc hoạch định đường
lối phát triển kinh tế, văn hóa và du lịch của khu vực thành Tây Đô
5 Luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên và sinh viên
trường Đại học Hồng Đức và các trường phổ thông trung học khi dạy và học
bộ môn lịch sử Việt Nam - lịch sử địa phương, dân tộc học, văn hóa học
6 Cấu trúc của luận án
- Luận án có 199 trang, ngoài phần mở đầu (từ trang 1 - trang 14) và
kết luận (từ trang 195 - trang 199), có 3 chương:
Chương 1 Khái quát về vùng đất Vĩnh Lộc và việc chọn vị trí xây
thành Tây Đô của Hồ Quý Ly (từ trang 15 - trang 59)
Chương 2 Thành Tây Đô (từ trang 60 - trang 131)
Chương 3 Vĩnh Lộc từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX (từ
trang 132 - trang 194)
- Có 239 tài liệu tham khảo: 168 tài liệu tiếng Việt, 3 tài liệu tiếng
Pháp và 68 tài liệu Hán Nôm (sử dụng bản dịch tiếng Việt)
- Phụ lục: 51 bản đồ, sơ đồ và ảnh; 44 trang tư liệu
Chương 1
Khái quát về vùng đất Vĩnh Lộc vμ việc chọn vị trí
xây thμnh Tây Đô của hồ Quý Ly
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông
Tiếp cận từ góc độ địa - văn hóa, tác giả luận án trình bày điều kiện
tự nhiên, môi trường sinh thái trong mối quan hệ tương tác với quá trình
tộc người và hoàn cảnh lịch sử để trên cơ sở đó lý giải đặc trưng văn hóa
của vùng đất Vĩnh Lộc
Vĩnh Lộc là một huyện ở về phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, nằm
trong khu vực chuyển tiếp từ vùng núi xuống đồng bằng với những dãy
núi đá vôi bị phong hóa mạnh, đồi núi đất thấp xen kẽ các cánh đồng phù
sa cổ do các con sông Mã, sông Bưởi bồi đắp
Vĩnh Lộc là vùng đất bán sơn địa có núi đá vôi, núi thấp, đồi, có sông suối xen kẽ với đồng bằng Tính đa dạng và phức hợp về địa hình đã tạo nên hình thế hiểm yếu, thuận tiện cho việc xây dựng một căn cứ phòng thủ với tòa thành đá kiên cố, phù hợp với tầm nhìn quân sự của Hồ Quý
Ly Môi trường tự nhiên đó còn là tác nhân tạo nên đặc trưng kinh tế - xã hội và văn hóa của huyện
ở vị trí hiểm yếu nhưng Vĩnh Lộc lại là nơi gắn với hệ thống giao thông thủy, bộ thuận tiện Ngược sông Mã có thể lên thượng nguồn qua các huyện miền núi Thanh Hóa sang tận đất Lào, xuôi dòng nối với Thăng Long Từ trung tâm Vĩnh Lộc còn có trục đường bộ liên huyện, liên tỉnh
và có thể liên hệ với phía Bắc hoặc phía Nam bằng con đường thượng đạo
Điều kiện tự nhiên, môi trường đa dạng và phức tạp không những tạo nên diện mạo tự nhiên và thế hiểm yếu mà còn tác động đến việc hình thành, phát triển của Vĩnh Lộc và việc Hồ Quý Ly quyết định xây dựng
tòa thành đá với chiến lược phòng thủ
1.2 Sự thay đổi đơn vị hành chính qua các thời kỳ lịch sử
Thời kỳ dựng nước đây là vùng đất thuộc Bộ Cửu Chân Trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, tuy có sự thay đổi về tên gọi cũng như địa giới hành chính vùng đất này vẫn thuộc quận Cửu Chân Đến thời Ngô - Đinh - Tiền Lê thuộc về huyện Nhật Nam của Châu ái
Thời Lý, Vĩnh Lộc cũng như các vùng đất thuộc Thanh Hóa do Tổng trấn Lý Thường Kiệt cai quản Đến thời Trần, Vĩnh Lộc thành một huyện riêng- huyện Vĩnh Ninh thuộc trấn Thanh Đô
Quyết định xây thành và dời đô cuối thế kỷ XIV đã tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của vùng đất Vĩnh Lộc Từ huyện Vĩnh Ninh vùng đất này đã trở thành kinh đô
Thời Minh thuộc, Vĩnh Ninh trở lại vị thế một huyện trực thuộc phủ Thanh Hóa Thời Lê Sơ, Vĩnh Lộc vẫn là huyện Vĩnh Ninh thuộc trấn
Trang 6Thanh Đô Thời Trung Hưng đổi là Vĩnh Phúc lệ vào phủ Thiệu Thiên,
thời Tây Sơn huyện Vĩnh Phúc đổi thành huyện Vĩnh Lộc, địa giới hành
chính vẫn giữ nguyên như thời Lê
Thời Gia Long, Vĩnh Lộc lệ thuộc phủ Thanh Hóa đến năm Minh
Mệnh 16 (1835) tách huyện Vĩnh Lộc khỏi phủ Thiệu Hóa để cho phủ
Quảng Hóa kiêm lý và địa giới của huyện được phân định cụ thể
1.3 Dân cư
Trong các thành phần dân tộc ở Vĩnh Lộc, ngoài người Kinh có tỷ lệ
cao nhất, còn có người Mường và Chăm Người Kinh có nguồn gốc bản
địa, địa bàn cư trú cổ của người Mường là vùng giáp ranh huyện Thạch
Thành và Cẩm Thủy Người Chăm chủ yếu là tù binh và nghệ nhân, hoặc
vũ nữ bị triều đình phong kiến đưa về đây sau các cuộc chiến tranh
Người Chăm ở xen kẽ cùng người Kinh và người Mường Địa bàn cư
trú trước kia thuộc hương Đại Lại và các vùng đất lân cận, vốn là các trại, sở
đồn điền sử dụng lao động của tù binh, sau dần biến thành các làng Chăm
1.4 Mục đích và việc chọn vị trí xây thành, dời đô của Hồ Quý Ly
Trên cơ sở phân tích tình hình cuối thế kỷ XIV, khi Đại Việt lâm vào
cuộc khủng hoảng sâu sắc và đất nước đứng trước nguy cơ ngoại xâm
đang cận kề, tác giả đã chỉ ra tính tất yếu của một cuộc cải cách sâu sắc
Lĩnh nhận sứ mệnh cải cách là Hồ Quý Ly, người đã nắm gần như toàn
bộ quyền lực triều đình Với vị thế, trọng trách của mình và để thực hiện
những tham vọng chính trị cá nhân, ông đã đưa ra những quyết định táo
bạo có ý nghĩa sống còn với vương triều và bản thân ông Xây thành và
dời đô về Thanh Hóa là một trong những quyết định đó
Với ý nghĩa này, dời đô không chỉ nhằm mục đích tạo điều kiện cho
việc đoạt ngôi, mà còn xuất phát từ nhu cầu củng cố sức mạnh của chính
quyền trung ương và gấp rút củng cố quốc phòng chuẩn bị chống ngoại xâm
Mặc dù công việc xây thành, dời đô diễn ra trong một thời gian tương
đối ngắn, nhưng sự kiện này đã được chuẩn bị khá kỹ lưỡng Trong hoàn
cảnh "Thiên không thời" (tiến hành cải cách không đúng thời điểm)á
"Nhân không hòa" (chính sách gây bất bình với một số tầng lớp xã hội,
nhất là quý tộc họ Trần), Hồ Quý Ly chọn An Tôn như một vùng được
coi là "Địa lợi" để định đô Vị trí nơi đây phù hợp với ý tư duy chính trị -
quân sự và cả quan niệm về tâm linh, phong thủy của Hồ Quý Ly
Để hiểu rõ thêm về tòa thành, luận án cũng đã tiến hành khảo cứu sự thay đổi tên gọi của nó qua các thời kỳ lịch sử Trong các thành cổ Việt Nam, đây là tòa thành có nhiều tên gọi khác nhau Ngoài tên gọi Tây Đô,
thành còn được biết đến với các tên gọi khác như An Tôn, Tây Kinh, Tây
Giai, thành nhà Hồ Mỗi tên gọi đều gắn với những sự kiện, quan điểm
và ý nghĩa khác nhau Đây chính là một trong những lý do tạo nên nét
đặc biệt của tòa thành này
Từ khảo cứu điều kiện tự nhiên, dân cư cho thấy Vĩnh Lộc là một huyện có vị thế đặc biệt quan trọng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Đặc
điểm phong phú về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, đa dạng về dân cư đã có tác động không nhỏ đến kinh tế và tạo nên những đặc trưng văn hóa của các cộng đồng cư dân Vĩnh Lộc
Trải qua các thời kỳ lịch sử, địa dư và danh xưng huyện Vĩnh Lộc cũng nhiều lần thay đổi Việc dời kinh đô từ Thăng Long về Vĩnh Lộc đã khẳng
định vị thế quan trọng của vùng đất này trong chiến lược quân sự phòng thủ của Hồ Quý Ly, đồng thời còn tạo điều kiện cho Vĩnh Lộc có những bước phát triển về kinh tế, văn hóa
Chương 2
Thμnh Tây Đô
2.1 Sự ra đời của thành Tây Đô
2.1.1 Vị thế của thành Tây Đô trong vùng đất Vĩnh Lộc
Luận án không đi sâu khảo tả di tích mà tập trung làm rõ vị thế của thành Tây Đô trong vùng đất Vĩnh Lộc và đối với vương triều Hồ Theo cách phân chia địa giới hiện nay, thành Tây Đô nằm ở Bắc Trung Bộ thuộc phần đất phía Tây của huyện Vĩnh Lộc
Trang 7Lựa chọn vị thế này, Hồ Quý Ly đã có những tính toán về: điều kiện
tự nhiên, vị trí quân sự, hệ thống giao thông thủy - bộ và cả cái nhìn theo
thuật phong thủy
2.1.2 Quá trình xây dựng thành Tây Đô
Tây Đô về cơ bản được hoàn tất ít nhất trong khoảng hơn một năm
(từ tháng giêng năm 1397 đến tháng 3 âm lịch năm 1398) chứ không phải
chỉ trong vòng 3 tháng như vẫn thường được quan niệm Với quy mô và
độ tinh xảo của kiến trúc, đây vẫn là một thời gian kỷ lục
Nguồn nhân lực được huy động vào công việc xây dựng, ngoài các
kiến trúc sư, thợ kỹ thuật đến từ nhiều nơi (không loại trừ có cả những
nghệ nhân Chăm) lực lượng lao động phổ thông chủ yếu vẫn là dân địa
phương và các vùng phụ cận
Vật liệu xây thành gồm đá vôi khối lớn được khai thác tại ngọn núi
phía Tây và Tây Bắc thành, đất lấy từ các quả đồi xung quanh (hoặc tận dụng
từ việc đào hệ thống hào) trộn với cát sỏi khai thác ở sông Mã Phần trên
tường thành được xây bằng gạch
giản Kết quả phân tích kỹ thuật và những di vật còn lại cho phép đoán
định đá được khai thác bằng phương pháp thủ công và vận chuyển bằng
cộ (một loại xe kéo) và bi (một dạng con lăn) Đối với phương pháp vận
chuyển bằng bi phải kết hợp với kỹ thuật làm nền đường phẳng cứng
Khi tiến hành nghiên cứu kỹ thuật xây dựng tường thành, có một
phát hiện khá lý thú là từ trước tới nay vật liệu xây thành Tây Đô thường
được cho rằng chủ yếu là đá khối lớn, nhưng thực tế lại không phải như
vậy Đá tảng lớn ốp kín các mặt tường, nhưng chỉ chiếm khoảng 1/3 khối
lượng vật liệu Cả bốn bức tường thành đều được kết hợp kỹ thuật xếp đá
phiến ốp mặt ngoài với việc chèn đá mồ côi ở giữa và đắp tường đất trộn
cát sỏi bên trong, tạo thành ba lớp với các chất liệu, kỹ thuật và các chức
năng khác nhau Như vậy, phần chủ yếu của các bức tường lại là đá nhỏ
và đất trộn với cát sỏi làm cốt bên trong
Nếu toàn bộ mặt thành ngoài được ghép đá phẳng dựng đứng đòi hỏi trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao thì mặt trong lại được đắp dốc thoải dần bằng kỹ thuật ghép đá thô sơ hơn
Kỹ thuật xây dựng tinh xảo được thể hiện tập trung ở cổng thành Tại hạng mục công trình này, đá khối lớn được ghè đẽo tinh vi, đạt mức độ chuẩn xác cao theo kích cỡ và hình dáng định sẵn Để xây dựng được các vòm cửa cuốn riềm tò vò bằng đá, trước hết người ta đắp đất, cát sỏi thành hình vòm cửa bên trong làm cốt, làm bệ đỡ và tạo dáng các vòm cửa, sau đó chỉ việc lắp đặt đá tảng bên trên theo hình vòm đất Khi xây xếp đá xong, lõi
đất được khoét ra và vòm cuốn đồ sộ đã hình thành Phần trụ của cổng thành làm theo hình thang cân, dưới choãi rộng trên thu dần nên rất vững chãi Cổng thành, vì vậy, có thể còn được xem là một công trình nghệ thuật
2.2 Cấu trúc tòa thành
2.2.1 La thành và hào thành
Ngoài tòa thành bằng đá, chỉnh thể toàn bộ công trình còn có hệ thống bảo vệ vòng ngoài, bao gồm la thành và hào thành
La thành chính là lũy đất cách thành nội khoảng 2 km, chu vi ước chừng
khoảng 4 km được đắp men theo bờ sông Mã phía Tây và sông Bưởi phía Đông, nhập với các dãy đồi phía Bắc và chạy qua cánh đồng rộng ở phía Nam, tạo nên một bức tường thành Để tăng độ hiểm trở, trên lũy đất được trồng tre gai Việc lợi dụng triệt để các địa hình địa vật để xây dựng, tạo nên hình dáng độc đáo của La Thành cho thấy sự tiếp nối của kỹ thuật xây thành truyền thống từng được thể hiện trong nhiều công trình thành lũy trước đó Ngoài hệ thống hào tự nhiên (sông Mã và sông Bưởi) vừa sâu vừa rộng hình vòng cung vây bọc kinh thành, Hồ Quý Ly đã cho đào một hệ thống hào sâu bao quanh và cho rải chông sắt phía trong lòng
2.2.2 Thành nội
Xuất phát từ quan niệm truyền thống nên tất cả các tòa thành ở Việt Nam đều mở hướng Nam Thành Tây Đô cũng không ngoài quy luật đó Những số liệu mới nghiên cứu về Tây Đô cho thấy hướng của tòa thành lệch
Trang 8Nam 120 Hướng lệch Nam của tòa thành không chỉ chịu chi phối trực tiếp
bởi địa thế sông suối mà còn xuất phát theo cái nhìn của thuật phong thủy
Trước nay, các nguồn tư liệu đều không thống nhất về kích thước,
chênh lệch số đo giữa các cạnh và dẫn đến nhận định về cấu trúc thành
nội có sự khác nhau Số liệu đo trực tiếp bằng phương tiện thủ công hoặc
hiện đại đều cho biết Tây Đô có bình đồ gần vuông (chênh lệch giữa
chiều dài và rộng là 3m) Cấu trúc gần vuông của tòa thành là ảnh hưởng
từ quan niệm phong thủy của người thiết kế
Tường thành đều được cấu tạo theo hình thang vuông; bên trong đắp
dốc bằng đất thoải dần, ở giữa được chèn bằng lớp đá nhỏ và bên ngoài
được ốp bằng đá tảng theo phương thẳng đứng Cấu trúc tường thành đã
đáp ứng một trong hai yêu cầu của một kinh đô phong kiến mang nặng
tính quân sự phòng thủ (thành cao và hào sâu)
Bốn cổng thành Tây Đô (Đông, Tây, Nam và Bắc) đều được mở tại
trung điểm các mặt thành, riêng cửa Nam (cửa Tiền) với 3 vòm cửa cuốn
(vòm giữa to cao hơn, hai vòm bên nhỏ hơn), các cửa còn lại được xây theo
kiểu đơn môn (một vòm cuốn) Toàn bộ cổng thành đều được xây ghép bằng
đá phiến khéo léo, vòm cửa xây cuốn tò vò trên những tường trụ hơi nghiêng
theo hình thang cân (trên nhỏ, dưới to) Phía trên cửa Nam và cửa Bắc (cửa
Tiền và cửa Hậu) được xây lầu canh, dấu tích còn lại là các hàng lỗ cột
Cấu trúc cổng thành đã tạo nên nét độc đáo của thành Tây Đô
2.2.3 Các công trình kiến trúc trong thành
Các công trình kiến trúc trong thành nội hiện không còn, nhưng kết
hợp các nguồn tư liệu với dấu tích nền móng cũ còn lại trên bề mặt có thể
hình dung phần nào kiến trúc của hệ thống cung điện xưa, theo đó,
Hoàng thành được chia làm 4 phần bởi hai trục đường nối 2 cổng Bắc -
Nam và 2 cổng Đông - Tây Di tích còn lại trên mặt đất là hai thành bậc
cung điện chạm rồng (đã bị cụt đầu) mang phong cách nghệ thuật thời
Trần, song ít nhiều vẫn thể hiện sự hồi tưởng nghệ thuật thời Lý tạo nên
nét đặc biệt ở buổi giao thời Trần - Hồ
2.2.4 Một số công trình kiến trúc có liên quan
Ngoài hệ thống thành lũy, khu vực thành Tây Đô còn phải kể đến
một số công trình kiến trúc có liên quan, trong đó trước phải kể đến cung
Bảo Thanh Đây là kiến trúc có từ trước khi xây thành Tây Đô Hồ Quý
Ly đã cho xây dựng cung Bảo Thanh với dự định ban đầu là dời đô đến
đây Hiện các kiến trúc cung Bảo Thanh chỉ có dấu vết nền móng chìm trong lòng đất được phát hiện qua các đợt khai quật khảo cổ học
Trong tiến trình dời đô, cung Bảo Thanh có vai trò như là hành cung
của nhà Trần Cùng với khu hoàng thành Tây Đô, cung điện Bảo Thanh nằm trong hệ thống cung thất của một kinh đô thời Trần - Hồ
Một công trình quan trọng khác là Đàn Nam giao Công trình được
xây dựng trên núi Đốn sau khi vương triều Hồ thiết lập (1402), hiện chỉ còn dấu vết của nền móng Dựa vào dấu tích được khảo cổ học phát hiện,
có thể biết Đàn Nam giao không chỉ có hình dáng gần vuông như bình đồ thành nội Tây Đô, mà còn là đặc trưng của kiến trúc triều Hồ trong việc
sử dụng chất liệu đá phiến
Cũng như cung Bảo Thanh, Đàn Nam giao là một bộ phận nằm trong quy hoạch kiến trúc của kinh thành
2.3 Giá trị của thành Tây Đô
Với vai trò là kinh thành, Tây Đô từng là trung tâm chính trị, văn hóa và
kinh tế của cả nước Tại đây triều Hồ đã ban hành và thực thi nhiều chính sách chính trị, quân sự và văn hóa Tuy nhiên, tòa thành được biết đến nhiều
hơn với vai trò là một thành lũy quân sự Tây Đô thực sự là một trong những
công trình kiến trúc quân sự độc đáo và kiên cố trong lịch sử Việt Nam Vượt qua thời gian hơn 6 thế kỷ, công trình thành Tây Đô đã khẳng
được giá trị trên cả hai phương diện trình độ kỹ thuật và nghệ thuật kiến
trúc Có thể nói kỹ thuật xây dựng thành đã đạt tới trình độ cao nhờ có sự
kế thừa những tinh hoa đúc kết trong kỹ thuật xây thành của người Việt với kỹ thuật đương đại So với các thành lũy Việt Nam trước đó, Tây Đô
là bước phát triển sáng tạo vượt bậc trong kỹ thuật xây dựng thành lũy
Trang 9Thành Tây Đô là công trình kiến trúc có giá trị văn hóa đặc sắc, biểu
hiện một giá trị thẩm mỹ đặc biệt, một cảm quan nghệ thuật cao của dân
tộc Không chỉ là một công trình kiến trúc quân sự kiên cố, thành Tây Đô
còn là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo
Bên cạnh những giá trị vật thể, công trình thành Tây Đô còn để lại
những kinh nghiệm và bài học lịch sử như những giá trị phi vật thể Trước
hết là kinh nghiệm về tổ chức xây dựng và huy động sức dân Để có thể xây
dựng được một trình kiến trúc đồ sộ đòi hỏi trình độ tổ chức rất cao Cho đến
nay, đây vẫn còn là điều còn rất nhiều bí ẩn Kinh nghiệm về việc tiếp thu kỹ
thuật truyền thống và tri thức đương đại để xây dựng một tòa thành đạt giá trị
cao về kỹ thuật và nghệ thuật cũng là những vấn đề cần được nghiên cứu
thêm Ngoài ra còn cần phải kể đến những kinh nghiệm về khai thác, vận
chuyển vật liệu một cách hợp lý để tiết kiệm được thời gian và công sức
Tuy nhiên, bài học lịch sử lớn nhất có thể rút ra từ công trình kiến
trúc quân sự đồ sộ này là không một tòa thành nào vững chắc hơn lòng
dân Đó cũng chính là căn nguyên sâu xa dẫn tới sự thất bại của Hồ Quý
Ly Bài học xương máu từ thất bại của họ Hồ là đã không hiểu được một
quy luật giản dị trong lịch sử chống xâm lược của dân tộc Việt Nam là
"thành trì kiên cố không bằng bức thành của lòng dân"
2.4 Thành Tây Đô sau vương triều Hồ
Cuộc kháng chiến chống Minh của Hồ Quý Ly bị thất bại (1407), kể
từ đây, thành Tây Đô chấm dứt vai trò là kinh đô
Trong gần 20 năm đất nước dưới ách đô hộ, Tây Đô từ một kinh đô
trở thành căn cứ của quân Minh
Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, thành Tây Đô đã trở thành phế tích
Thời Trung hưng, Tây Đô có vai trò quan trọng, trở thành "hành
doanh", một căn cứ quân sự lợi hại trong sự nghiệp "phò Lê diệt Mạc"
Đến giữa thế kỷ XIX cấu trúc thành Tây Đô không thay đổi nhiều so
với hiện trạng
Như vậy, trong số các thành lũy Việt Nam thời kỳ trung đại, có thể nói Tây Đô là tòa thành kiên cố bậc nhất với kiến trúc độc đáo và xây dựng trong thời gian nhanh nhất Tòa thành là sự kết tinh sức lao động và trí sáng tạo của người Việt Sự độc đáo của thành Tây Đô chính là bình đồ gần vuông với hệ thống tường và các vòm cổng bằng đá đồ sộ, kiên cố Cấu trúc tòa thành đã chú ý kết hợp yếu tố thành và yếu tố thị của một kinh đô, đồng thời là sự kết hợp kinh nghiệm truyền thống với kỹ thuật đương đại Dù không hoàn thành sứ mệnh một kinh đô kháng chiến, nhưng Tây Đô xứng đáng được
đánh giá cao như một công trình kiến trúc quân sự đặc sắc
Chương 3
vĩnh lộc từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XiX 3.1 Vĩnh Lộc từ cuối thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XV
3.1.1 Tình hình khai phá đất đai và lập làng trước thời điểm xây thành dời đô
Quá trình khai phá đất đai và lập làng đã diễn ra từ nhiều thế kỷ trước khi vùng đất Vĩnh Lộc trở thành kinh đô Đây là vùng đất cổ từng
có con người sinh sống qua các thời đại
Dấu tích văn hóa Sơn Vi được phát hiện ở Vĩnh Lộc đã khẳng định đây là
địa bàn hoạt động của người nguyên thủy Dấu tích văn hóa Đông Sơn cho thấy vai trò của vùng đất này trong thời kỳ vua Hùng dựng nước Văn Lang Cùng với quá trình di dân, định cư, khai phá đất đai và sự hình thành nên các cánh đồng bãi được bồi đắp phù sa là sự hình thành làng xã Trải qua các thời kỳ phát triển, đến thời Trần vùng đất Vĩnh Ninh là thái ấp của dòng họ Lê Phụ Trần, góp phần mở mang vùng đất Vĩnh Lộc
3.1.2 Vĩnh Lộc thời kỳ là kinh đô
Sự kiện xây thành, dời đô vào cuối thế kỷ XIV đã tạo nên bước ngoặt trong quá trình phát triển của huyện Vĩnh Lộc Vị thế chính trị mới
Trang 10không chỉ làm thay đổi về kết cấu hạ tầng, tạo ra những nhu cầu mới kích
thích sự phát triển kinh tế - xã hội mọi mặt, đặc biệt là sự biến đổi về
ruộng đất và sự hình thành phát triển làng xã mà còn là cơ sở để khẳng
định vị thế quan trọng của vùng đất này
Cùng với khu Hoàng thành, một trung tâm chính trị - quân sự đã hình
thành nên khu hành chính kinh đô và kích thích kinh tế phát triển Khi trở
thành kinh đô, vùng đất Vĩnh Lộc "từ một làng quê đã dần dần trở thành
một đô thị, một trung tâm của trấn Thanh Đô"
3.2 Vĩnh Lộc từ đầu thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
3.2.1 Từ đầu thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI
Sau khi mất vị trí là kinh đô, vùng đất Vĩnh Lộc cũng như thành Tây
Đô là nơi chiếm đóng của quân xâm lược Minh Quân Minh đã biến tòa
thành này thành một căn cứ quân sự và một trị sở chính trị nhằm áp đặt chế
độ cai trị hà khắc và đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta
Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra trên đất Thanh Hóa, tiêu biểu là cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng (1418) đã thu hút nhân tài vật
lực ở nhiều nơi tham gia Trong số những người sớm gia nhập cuộc khởi
nghĩa có nhiều người quê ở Vĩnh Lộc, tiêu biểu nhất là Trịnh Khả
Trong suốt cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vùng đất Vĩnh Lộc là trọng
điểm của cuộc chiến, nhân dân Vĩnh Lộc đã tham gia và góp phần quan
trọng làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc
Kháng chiến chống Minh thắng lợi, nhà Lê thành lập, Vĩnh Lộc bước
vào thời kỳ phát triển mới Về kinh tế, do là quê hương của nhiều khai quốc
công thần và là vùng đất có đóng góp quan trọng cho triều Lê nên Vĩnh Lộc
được hưởng một số chính sách ưu đãi về ruộng đất Điều này đã có tác động
đến ruộng đất công làng xã cũng như các loại hình sở hữu đất tư và đồn điền
Chính sách ban cấp ruộng đất cho khai quốc công thần và chế độ lộc
điền cho quý tộc quan lại của vương triều Lê mà Vĩnh Lộc là vùng đất có
nhiều khai quốc công thần nên ruộng đất được ban cấp ở đây chiếm một
khối lượng đáng kể Đây là cơ sở để ruộng tư ngày càng phát triển và nhiều làng mới ra đời trên cơ sở trại ấp
Triều đình đặc biệt quan tâm đến vấn đề thủy lợi nên Vĩnh Lộc vốn
là vùng đất bị tàn phá nặng nề nhưng cũng đã nhanh chóng ổn định được
đời sống và sản xuất nông nghiệp sau chiến tranh
Trên cơ sở phát triển kinh tế nông nghiệp, các ngành nghề thủ công
và thương nghiệp ở Vĩnh Lộc tiếp tục được duy trì và mở rộng
Về tổ chức hành chính, văn hóa và xã hội, mặc dù trải qua một số
lần thay đổi tên gọi và diên cách, vùng đất này luôn được triều Lê đặc biệt quan tâm Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của Nho học trên quy mô
cả nước nên giáo dục khoa cử ở Vĩnh Lộc có điều kiện phát triển Đây là
một trong những đất học của xứ Thanh Vĩnh Lộc từng có nhiều người đỗ
đạt cao và hiển đạt trong chốn quan trường
Văn hóa vật chất và tinh thần ở Vĩnh Lộc có nhiều nét đặc sắc, với nhiều công trình kiến trúc có giá trị, đóng góp vào kho tàng văn hóa xứ Thanh
3.2.2 Từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII
Không chỉ là đất phát tích của chúa Trịnh mà Vĩnh Lộc còn có vị trí giao thông thủy - bộ quan trọng nên vùng đất này đã trở thành mắt xích quan trọng bậc nhất trong cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc
Vùng đất Vĩnh Lộc mà trung tâm là thành Tây Đô - Biện Thượng đã trở thành căn cứ, địa bàn quan trọng cho lực lượng phò Lê đứng đầu là Nguyễn Kim sau đó là họ Trịnh khôi phục lại vương triều Lê
Từ nửa đầu thế kỷ XVI, Vĩnh Lộc trở thành chiến trường nóng bỏng, khốc liệt trong cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều nên dân cư loạn lạc, ruộng vườn bỏ hoang Tuy có nhiều khó khăn nhưng kinh tế nông nghiệp Vĩnh Lộc vẫn có bước phát triển đáng kể, nhất là khi chính quyền Lê - Trịnh có những đặc ân đối với vùng đất này
Trong suốt thời Lê Trung hưng, Vĩnh Lộc vẫn duy trì được sự phát triển trên mọi phương diện Một trong những tác nhân tạo nên sự phát