Thủ tục xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Viện khoa học x∙ hội Việt Nam
Viện nhμ nước vμ pháp luật
Đμo Xuân Tiến
Thủ tục xét lại bản án, quyết định của
Toμ án đã có hiệu lực pháp luật trong
tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt nam
Chuyên ngành: Luật kinh tế M∙ số : 62 38 50 01
tóm tắt Luận án tiến sĩ luật học
Hμ nội – 2009
và Pháp luật Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Như Phát,
Viện Nhà nước và Pháp luật
Phản biện 1: PGS.TS Trần Đình Hảo,
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Phản biện 2: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Phản biện 3: PGS.TS Dương Đăng Huệ,
Bộ Tư pháp
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước, họp tại Viện Nhà nước và Pháp luật
Vào hồi 8giờ 30 ngày 10 tháng 4 năm 2009
Có thể tìm luận án tại Thư viện Quốc gia
và Thư viện Viện Nhà nước và Pháp luật
Trang 2đ∙ công bố có liên quan đến đề tμi luận án
1 Đào Xuân Tiến (2003), "Một số ý kiến về Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1 (177)/2003
2 Đào Xuan Tiến (2003), "Cách nhìn mới về tái thẩm", Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp, số 7/2003
3 Đào Xuân Tiến (2004), "Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam trước thềm WTO", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2/2004
4 Đào Xuân Tiến (2005), "Trách nhiệm của Đại biểu dân cử trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân", Tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp, số 2/2005
5 Đào Xuân Tiến (2005), "Định hướng cải cách tư pháp: Toà án nhân dân tối cao - Toà án xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật",
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 6/2005
6 Đào Xuân Tiến (2006), "Khiếu nại tư pháp, thực trạng và giải pháp", Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 12 năm
2006
7 Đào Xuân Tiến (2008), “Đảm bảo sự vô tư, khách quan của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao trong xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm về dân sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 8
(244)/2008
8 Đào Xuân Tiến (2008), “Kháng nghị theo thủ tục xét lại bản
án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật”, Tạp chí Dân chủ
và Pháp luật, số 8/2008
9 Đào Xuân Tiến (2009), “Về thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trong Bộ luật Tố tụng dân sự” Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, số 2 (250)/2009
Trang 3Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những thủ tục tố tụng quan trọng được quy định trong Bộ
luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) là thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà
án đã có hiệu lực pháp luật bao gồm giám đốc thẩm và tái thẩm Thủ tục
này được thực hiện trên cơ sở một trong những nguyên tắc tố tụng cơ bản,
đó là nguyên tắc Toà án cấp trên giám đốc việc xét xử của Toà án cấp dưới,
Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) giám đốc việc xét xử của Toà án các
cấp để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất
Tuy nhiên, do một số quy định pháp luật về thủ tục xét lại bản án,
quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật chưa phù hợp thực tế cùng
với việc Toà án áp dụng thủ tục này thiếu thống nhất, dẫn đến nhiều vụ án
phải xét xử qua nhiều cấp, thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài Số lượng
đơn khiếu nại các bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực pháp luật của
Toà án ngày càng gia tăng; đã có nhiều bản án, quyết định của Toà án
không thi hành được do quyết định của bản án không đúng pháp luật và
không phù hợp thực tế khách quan
Vì thế, nghiên cứu thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự, làm rõ nguyên nhân những
bất cập nêu trên để có giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định thủ tục này
nhằm khắc phục những sai lầm, những tình tiết mới ảnh hưởng kết quả vụ
án trong quá trình xét xử của Toà án hiện nay là nhiệm vụ cấp thiết, có ý
nghĩa quan trọng đối với quá trình đổi mới tổ chức, hoạt động phân cấp
Toà án theo thẩm quyền xét xử, theo định hướng cải cách tư pháp hiện nay
Tại Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về Chiến
lược cải cách tư pháp từ nay cho đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ trọng tâm là cải cách hệ thống Toà án,
trong đó nhấn mạnh yêu cầu tổ chức, hoạt động Toà án theo thẩm quyền
xét xử mà không theo cấp hành chính như hiện nay, từng bước hoàn thiện
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Thủ tục tố tụng xét lại bản án, quyết
định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam" có ý nghĩa quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn trong quá trình cải cách tư pháp, góp phần đổi mới hoàn thiện pháp luật tố tụng dân
sự nói chung và từng bước hoàn thiện thủ tục xét lại bản án, quyết định về kinh tế, dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nói riêng, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng xét xử các vụ án kinh tế, dân sự tại Toà án nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu khoa học về lĩnh vực pháp luật tố tụng kinh tế, dân sự mới được chú trọng trong mấy năm gần đây, đã có một số luận án Tiến sĩ,
Thạc sĩ luật học như Luận án Tiến sĩ của Trần Văn Trung về đề tài "Tài
phán kinh tế ở nước ta hiện nay"- Hà Nội, năm 2003; Luận án Tiến sĩ của
Nguyễn Thị Kim Vinh về "Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng
con đường Toà án ở Việt Nam"- Hà Nội năm 2002; Luận án Thạc sĩ của
Dương Thị Thanh Mai về "Những vấn đề về trình tự và thủ tục giám đốc
thẩm dân sự" - Hà Nội năm 1997; Luận án Thạc sĩ của Đào Vĩnh Tường về
đề tài "Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng tòa án", Hà Nội, năm 1997; một
số tác giả viết chuyên đề, bài báo, sách như TS Phan Hữu Thư "Xây dựng
BLTTDS - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia - Hà Nội, năm 2001; ThS Lê Thu Hà "Một số suy nghĩ về cơ chế xét xử
vụ án dân sự", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Hà Nội, năm 2003; đề
cập đến những vấn đề thủ tục tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, nhưng chưa nghiên cứu toàn diện mối quan hệ giữa thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong việc xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật về kinh tế, dân sự
Về việc nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài liên quan đến một số nội dung của luận án, đã có một số bài nghiên cứu trong tập kỷ yếu
Dự án VIE/95/017 về tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam có nhan đề
"Về pháp luật tố tụng dân sự" do Viện Khoa học xét xử, TANDTC xuất bản
Trang 4tháng 5 năm 2000 Đó là những tư liệu giúp tác giả luận án tham khảo, tìm
hiểu, so sánh đối chiếu với thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã
có hiệu lực pháp luật về kinh tế, dân sự nước ta
Do đó, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là cần khai phá trên cơ sở
nghiên cứu toàn diện thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm, mối quan
hệ giữa các thủ tục này với nhau và với các thủ tục tố tụng của 2 cấp xét xử
(sở thẩm và phúc thẩm) cả về lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra các giải
pháp khả thi đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng xét xử của Toà án Đề tài
luận án không trùng lặp trong việc nghiên cứu khoa học ở cấp độ luận án
Tiến sĩ luật học, chuyên ngành Luật kinh tế
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về tính chất đặc biệt, vai trò
của thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
trong tố tụng kinh tế, dân sự Làm rõ mối quan hệ giữa thủ tục giám đốc
thẩm và thủ tục tái thẩm, hiệu quả áp dụng thủ tục này trong việc khắc phục
sai lầm, tình tiết mới của các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực
pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự
- Đề xuất những giải pháp hoàn thiện BLTTDS về thủ tục xét lại bản
án, quyết định về kinh tế, dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, áp
dụng hiệu quả các thủ tục này nhằm bảo vệ công bằng quyền và lợi ích hợp
pháp của các đương sự, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng
cao chất lượng xét xử của Toà án, thực hiện định hướng cải cách tư pháp,
góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh
3.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục xét
lại bản án, quyết định về kinh tế, dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
trong sự phát triển pháp luật tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam
- Đánh giá thực trạng áp dụng thủ tục xét lại bản án, quyết định của
Toà án đã có hiệu lực pháp luật về kinh tế, dân sự Lý giải những nguyên
nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến chất lượng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án hiện nay
- Làm rõ nhận thức khoa học về tính chất, mối quan hệ giữa thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm trong quá trình xét lại bản án, quyết định
về kinh tế, dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
- Nghiên cứu, so sánh pháp luật tố tụng kinh tế, dân sự một số nước về những quy định thủ tục tố tụng tương tự để thấy rõ đặc thù của thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở nước ta và chọn lọc, tiếp thu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cải cách tư pháp nước ta hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự được quy định tại BLTTDS của nước ta, bao gồm những quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tại Toà
án các vụ việc về kinh tế, dân sự Nghiên cứu thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; thực trạng áp dụng thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã
có hiệu lực pháp luật Nghiên cứu về trách nhiệm của người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Nghiên cứu so sánh với thủ tục tương tự trong pháp luật tố tụng kinh tế, dân sự một số nước, nhằm đưa ra giải pháp hoàn thiện thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tố tụng dân sự theo quy định tại BLTTDS được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm những quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tại Toà án các vụ việc về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Tuy nhiên, tác giả luận án "Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án
Trang 5đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam" đi sâu
nghiên cứu về nội dung tố tụng kinh tế gắn với nội dung tố tụng dân sự có
liên quan theo chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 62 38 50 01), do đó tác
giả luận án không nghiên cứu toàn bộ nội dung các thủ tục giải quyết các
vụ, việc tại Toà án theo chuyên ngành Luật dân sự (mã số 62 38 30 01),
trong đó bao gồm nội dung thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Căn cứ trên các quy định của pháp luật thực định về tố tụng kinh tế, tố
tụng dân sự, tác giả tập trung nghiên cứu về các vấn đề thuộc phạm vi thủ
tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp trong tố tụng
kinh tế, dân sự được quy định tại phần thứ tư của BLTTDS (gồm Chương
XVIII, XIX, từ Điều 282 đến Điều 310) Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu
toàn diện nội dung thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật trong trường hợp bản án, quyết định của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật bị khiếu nại nhưng sau khi xem xét, Toà án xác định
bản án, quyết định đó là đúng pháp luật và tiến hành quy trình trả lời đơn,
thư khiếu nại của đương sự
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức và phương pháp luận
của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
luật, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta về cải cách tư pháp Bằng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, tác giả kết hợp nghiên cứu với phương pháp nghiên cứu khoa học
chuyên ngành như phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, kết hợp với
kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác tư pháp về chuyên ngành
pháp luật tố tụng kinh tế, dân sự tại Toà án để hoàn thành luận án
6 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, đây là công trình khoa học đầu tiên dưới hình thức một luận án
Tiến sĩ luật học nghiên cứu một cách hệ thống về thủ tục xét lại bản án,
quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự
ở Việt Nam
Hai là, thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực
pháp luật bao gồm mối quan hệ chặt chẽ giữa thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm Tác giả luận án đã nghiên cứu toàn diện mối quan hệ đó chứ không nghiên cứu tách bạch đối với từng thủ tục như những công trình khoa học trước đây
Ba là, trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn, tác giả đưa ra nhận
thức đầy đủ khái niệm thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy
định về thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm trong pháp luật tố tụng; đổi mới tổ chức, hoạt động của các Toà chuyên trách TANDTC và bộ máy giúp việc Hội đồng thẩm phán TANDTC, đề nghị sửa đổi một số quy định cụ thể trong giai đoạn tố tụng xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật về kinh tế, dân sự, bảo đảm nguyên tắc Toà án xét xử độc lập và tuân theo pháp luật
Bốn là, tác giả luận án làm rõ định hướng từng bước bỏ thẩm quyền
xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm tại Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tập trung thẩm quyền xét lại bản án, quyết định về kinh tế, dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật tại TANDTC theo 2 cấp xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm
Năm là, tác giả luận án đề xuất bổ sung vào BLTTDS quy trình thủ tục
xác định bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực được xét xử đúng pháp luật nhưng bị khiếu nại Tác giả luận án đặt vấn đề và kiến nghị bổ sung vào BLTTDS quy định chế tài về trách nhiệm của người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án bảo vệ thành công sẽ có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Luận án sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận, có giá trị tham khảo cho hoạt
động nghiên cứu đổi mới hoạt động tư pháp nói chung, hoạt động xét xử của Toà án nói riêng Luận án làm tài liệu tham khảo trong quá trình đổi
Trang 6mớí, sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục xét lại bản án, quyết định của
Toà án đã có hiệu lực pháp luật về kinh tế, dân sự, góp phần từng bước
hoàn thiện BLTTDS
Các đề xuất về giải pháp đổi mới thủ tục xét lại bản án, quyết định của
Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự mang tính khả
thi, nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Toà án, góp phần thực hiện nhiệm
vụ xây dựng tổ chức hệ thống toà án theo thẩm quyền xét xử đã được đặt ra
tại Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược cải cách tư pháp từ nay cho đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020
Kết quả của luận án có thể làm tài liệu chuyên khảo về lý luận và thực
tiễn trong Viện Nhà nước và Pháp luật của Viện Khoa học xã hội Việt
Nam; Viện Khoa học kiểm sát của VKSNDTC; Viện Khoa học xét xử của
TANDTC; Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ Tư pháp; Khoa Luật
Đại học Quốc gia, Trường Đại học Luật, Học viện Tư pháp và trong hoạt
động thực tiễn của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là TANDTC,
VKSNDTC Là tài liệu tham khảo nghiên cứu, học tập, nhằm nâng cao
trình độ nghiệp vụ chuyên môn, trách nhiệm pháp lý của các thẩm phán,
kiểm sát viên và các cán bộ ngành tư pháp
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục những công trình khoa học
của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu
tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chương, 15 mục
Chương 1 cơ sở lý luận về thủ tục xét lại bản án,
quyết định của Toμ án đ∙ có hiệu lực pháp luật
trong tố tụng kinh tế, dân sự
Trên cơ sở các nguyên tắc tố tụng dân sự, trong đó có nguyên tắc giám
đốc việc xét xử được quy định tại Điều 18 BLTTDS: “Toà án cấp trên giám
đốc việc xét xử của Toà án cấp dưới, TANDTC giám đốc việc xét xử của Toà án các cấp để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất”; sự phát triển từ quy định về thẩm quyền giám đốc xét xử của Toà án trong Hiến pháp năm 1959 "Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các TAND địa phương, Toà án quân sự và Toà án đặc biệt" (Điều 103); Hiến pháp năm 1980 (Điều 135); Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001): “TANDTC giám đốc việc xét xử của các TAND địa phương và các Toà án quân sự TANDTC giám đốc việc xét xử của Toà án đặc biệt và các toà án khác, trừ trường hợp Quốc hội quy định khác khi thành lập Toà
án đó” (Điều 134), cùng với việc nghiên cứu pháp luật so sánh; trong chương này, tác giả luận án nêu rõ khái niệm khoa học, vị trí, vai trò, những đặc trưng của thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Nội dung cơ bản của chương 1 gồm:
1.1 Khái niệm thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự
- Bản án, quyết định của Toà án là văn bản pháp luật phản ánh kết quả xét xử, kết quả giải quyết một vụ, việc cụ thể; là văn bản thể hiện tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật và có hiệu lực thi hành Hình thức một bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và phần nhận định, phần quyết định của Toà án Theo nguyên tắc toà án xét xử 2 cấp, sau khi Toà tuyên án, bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay
mà phải thông qua thời hạn quy định cho các đương sự thực hiện quyền kháng cáo, thời hạn quy định cho VKS cùng cấp và VKS cấp trên thực hiện quyền kháng nghị Chỉ khi nào không có kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì bản án, quyết định sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật Như vậy, các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bao gồm: Bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn quy định của pháp luật; bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; bản án, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
Trang 7- Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp
luật nhằm kiểm tra, xem xét, xác định tính đúng, sai của các bản án, quyết
định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, chứ không phải là cấp xét xử thứ
3 mà là là thủ tục tố tụng đặc biệt tạo cơ sở pháp lý để Toà án tiến hành sửa
chữa, khắc phục những sai lầm hoặc có tình tiết mới làm sai lệch kết quả
giải quyết vụ án, đảm bảo thống nhất áp dụng pháp luật, bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự
1.2 Nội dung và những đặc trưng của thủ tục xét lại bản án, quyết
định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
- Nội dung thủ tục này bao gồm:
+ Các hoạt động xem xét xác định các bản án, quyết định được Toà
án xét xử đúng pháp luật nhưng có khiếu nại để áp dụng thủ tục thống nhất
về cách thức, thẩm quyền, nội dung, hình thức văn bản trả lời đơn, thư
khiếu nại, kiến nghị của đương sự
+ Các hoạt động xem xét, phát hiện sai lầm, hoặc những tình tiết
mới ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án để áp dụng các thủ tục xét xử
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhằm sửa chữa, khắc phục các sai lầm trong
các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
- Những đặc trưng cơ bản của thủ tục này:
+ Cơ sở duy nhất để tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm là kháng nghị, trong khi đối với xét xử sơ thẩm là đơn
khởi kiện, đối với xét xử phúc thẩm là kháng cáo của đương sự và kháng
nghị của Viện Kiểm sát
+ Thành phần Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bao gồm
các thành viên Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh, các thành viên Hội đồng
thẩm phán TANDTC là thành phần cố định Thành phần Hội đồng xét xử
tại các Toà chuyên trách TANDTC bao gồm 3 thẩm phán Khác với Hội
đồng xét xử sơ thẩm gồm có 1 thẩm phán và 2 hội thẩm nhân dân; Hội
đồng xét xử phúc thẩm có 3 thẩm phán, là thành phần không cố định
+ Trong phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm không nhất thiết có mặt các đương sự (trừ khi được Toà án triệu tập), trong khi để tiến hành phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, sự có mặt các đương sự là bắt buộc
1.3 Vai trò, chức năng các quy trình thủ tục xét lại bản án, quyết
định về kinh tế, dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
- Kiểm tra, giám đốc án là một trong những nguyên tắc tố tụng cơ bản
và là nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp Toà án được duy trì thường xuyên nhằm mục đích nâng cao chất lượng xét xử Đó là quá trình giám sát của bộ phận chức năng trong từng Toà án cũng như bộ phận chức năng của Toà án cấp trên đối với Toà án cấp dưới nhằm phát hiện, khắc phục kịp thời những sai lầm và hướng dẫn công tác xét xử tuân thủ nghiêm túc các quy
định của pháp luật
- Khởi động cho quy trình xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm là kháng nghị Liên quan đến kháng nghị có các quy định về thẩm quyền, căn cứ, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và theo thủ tục tái thẩm BLTTDS quy định về phạm vi giám đốc thẩm, tái thẩm; thẩm quyền của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm
1.4 Tham khảo pháp luật tố tụng nước ngoài về một số quy định liên quan đến thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự
So sánh pháp luật tố tụng dân sự một số nước (Cộng hoà liên bang Nga, Trung Quốc, Mỹ, Cộng hoà Pháp) về quy định các thủ tục tương tự, luận án cho thấy, mặc dù khác nhau về tên gọi, nhưng pháp luật tố tụng các nước đều quy định nội dung xem xét lại bản án, quyết định của Toà án đã
có hiệu lực pháp luật với các mức độ, phạm vi phù hợp theo đặc thù pháp luật và mô hình hệ thống Toà án của mỗi nước Từ đó, có thể tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm tố tụng nước ngoài phù hợp nhằm hoàn thiện thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực trong tố tụng tụng kinh
tế, dân sự ở nước ta
Trang 8
Chương 2 Pháp luật tố tụng kinh tế, dân sự vμ thực trạng áp
dụng thủ tục xét lại bản án, quyết định về kinh tế,
dân sự của toμ án đ∙ có hiệu lực pháp luật
2.1 Pháp luật tố tụng kinh tế, dân sự hiện hành
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI (tháng 5 năm 2004) đã thông qua
BLTTDS, đây là bộ luật được xây dựng với nhiều điểm mới, tiến bộ như
quy định chung về thủ tục tố tụng giải quyết các vụ án, tranh chấp trên các
lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động (phạm vi luận án
không đề cập đến tố tụng lao động), và việc công nhận những bản án, quyết
định dân sự của Toà án nước ngoài, trọng tài nước ngoài Các pháp lệnh về
thủ tục tố tụng riêng rẽ kinh tế, dân sự trước đây không còn hiệu lực pháp
luật
2.2 Thực trạng áp dụng thủ tục xét lại bản án, quyết định về kinh
tế, dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
- Quy trình chung về giải quyết khiếu nại là, đương sự gửi đơn khiếu
nại đến các cơ quan tố tụng nêu trên kèm bản sao bản án, quyết định của
Toà án sơ thẩm, Toà án phúc thẩm trong thời hạn 3 năm kể từ ngày bản án,
quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật Nếu phải thi hành án thì
đương sự khiếu nại phải gửi đơn kèm theo quyết định thi hành án và bản
sao án sơ thẩm, án phúc thẩm; nếu chưa phải thi hành án thì đương sự khiếu
nại gửi đơn và bản sao án sơ thẩm, án phúc thẩm Toà án, Viện kiểm sát
nhận đơn khiếu nại của đương sự có trách nhiệm kiểm tra hình thức, nội
dung đơn và báo cho đương sự biết, đồng thời nêu rõ yêu cầu về thủ tục để
đương sự hoàn tất Quy trình giải quyết đơn thư khiếu nại của đương sự
được thực hiện theo thẩm quyền trên cơ sở xem xét cấp xét xử vụ án bị
khiếu nại, cụ thể là quy trình giải quyết đơn thư khiếu nại bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện; quy trình giải quyết
đơn thư khiếu nại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án
cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quy trình giải quyết đơn thư
khiếu nại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Toà chuyên trách và Toà phúc thẩm TANDTC
- Căn cứ trên các số liệu theo báo cáo tổng kết của ngành Tòa án hàng năm, luận án chứng minh việc thực hiện thẩm quyền xét xử và kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm rất ít so với số lượng đơn khiếu nại của đương sự Do tỷ lệ số vụ án được giám đốc thẩm, tái thẩm quá thấp so với thực tế đòi hỏi, dẫn đến số vụ khiếu nại kéo dài từ năm này sang năm khác không dứt điểm Trong đó không loại trừ nhiều trường hợp đương sự khiếu nại đã được Toà án trả lời không có căn cứ kháng nghị nhưng đương
sự tiếp tục khiếu nại và sau đó được Toà án xem xét lại và có kháng nghị
Đó là chưa kể nhiều vụ án oan sai không kháng nghị được chỉ với lý do quá thời hạn quy định mà không phân định việc để quá hạn do lỗi của Toà hay lỗi của đương sự Đặc biệt thủ tục tái thẩm hầu như không được áp dụng vì nhận thức không thống nhất về những căn cứ kháng nghị, dẫn đến nhiều vụ
án oan sai không được kịp thời sửa chữa
- Nhiều Toà án lạm dụng nguyên tắc độc lập mà thực hiện trái với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp trên dẫn đến việc ra bản
án sai về nội dung, về thủ tục tố tụng và tiếp tục bị kháng nghị làm kéo dài thời gian giải quyết dứt điểm vụ án Điều đó thể hiện sự bất cập về hiệu lực của các bản án, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm hiện nay
2.3 Đánh giá thực tiễn áp dụng thủ tục xét lại bản án, quyết định
về kinh tế, dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
- Hiện nay Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh vẫn có thẩm quyền giám
đốc thẩm, tái thẩm cùng 2 cấp của TANDTC (các Toà chuyên trách và Hội
đồng thẩm phán TANDTC) là chưa đảm bảo đúng chức năng phân cấp Toà
án theo thẩm quyền xét xử
- Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có nhiều khái niệm chưa
rõ ràng nên dễ bị người có thẩm quyền kháng nghị lạm dụng, đánh giá căn
cứ kháng nghị theo ý thức chủ quan Thực tế qua các vụ án cụ thể, cho thấy
sự thiếu thống nhất trong việc đánh giá các căn cứ kháng nghị dẫn đến
Trang 9trường hợp Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cấp dưới xử không
chấp nhận kháng nghị nhưng sau khi bản án đó tiếp tục bị kháng nghị giám
đốc thẩm, tái thẩm thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cấp trên
chấp nhận kháng nghị, phủ nhận kết quả của Hội đồng xét xử trước, hoặc
ngược lại, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cấp dưới chấp nhận
kháng nghị nhưng bản án giám đốc thẩm này bị kháng nghị và Hội đồng
xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cấp trên đã huỷ bản án đó
- Kháng nghị theo thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có
hiệu lực pháp luật là căn cứ duy nhất tiến hành việc xét xử giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm Đây là đặc thù khác với việc đưa vụ án xét xử phúc thẩm
Tuy nhiên, nội dung thẩm quyền kháng nghị trong BLTTDS quy định chủ
yếu về quyền cho người có thẩm quyền kháng nghị mà chưa quy định nghĩa
vụ, trách nhiệm đối với kháng nghị
- Thành phần Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án kinh tế,
dân sự theo BLTTDS bao gồm: Uỷ ban thẩm phán TAND cấp tỉnh khi tiến
hành xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm phải có ít nhất hai phần ba tổng số
thành viên tham gia; Toà chuyên trách TANDTC khi xét xử giám đốc thẩm,
tái thẩm phải có ba Thẩm phán; Hội đồng thẩm phán TANDTC khi tiến
hành giám đốc thẩm, tái thẩm phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên
tham gia Đó sự thiếu thống nhất về thành phần các Hội đồng xét xử giám
đốc thẩm, tái thẩm
2.4 Nguyên nhân những bất cập
- Nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của thủ tục xét lại bản án, quyết
định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự
- Thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn khiếu nại và quy định về căn
cứ, về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chưa rõ ràng
- Chưa quy định cụ thể trách nhiệm của cán bộ cơ quan tư pháp và của
các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, đặc biệt là trách
nhiệm của người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục đặc biệt này
Chương 3 Giải pháp hoμn thiện thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toμ án đ∙ có hiệu lực pháp luật
trong tố tụng kinh tế, dân sự
Từ nghiên cứu thực trạng hoạt động của Toà án, trong chương 3, tác giả luận án tập trung nghiên cứu, đưa ra một số kiến nghị cụ thể về giải pháp hoàn thiện thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
3.1 Đổi mới nhận thức đối với thủ tục xét lại bản án, quyết định
về kinh tế, dân sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
- Nhấn mạnh tính chất đặc biệt của thủ tục xét lại bản án, quyết định
của Toà án đ∙ có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa quan trọng về nhận thức để
phân biệt với thủ tục thông thường là 2 cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm,
đồng thời tránh được nhận thức về cấp xét xử thứ 3 mà chỉ sau khi “Toà án cấp thứ 3” xét xử thì bản án mới có hiệu lực pháp luật Từ đó, các đương sự
sẽ tin tưởng hơn vào 2 cấp xét xử của Toà án, tôn trọng bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, giảm dần khiếu nại “cầu may” làm cho thực tế số lượng đơn khiếu nại không có căn cứ kháng nghị thì nhiều mà số lượng đơn khiếu nại được xem xét kháng nghị đưa ra xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm là không đáng kể
3.2 Xây dựng quy trình thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà
án đã có hiệu lực pháp luật theo thẩm quyền xét xử
Theo các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, mặc dù đã bỏ bớt 1 cấp giám đốc thẩm, tái thẩm là Uỷ ban thẩm phán TANDTC, đến nay vẫn còn 3 cấp xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm: Đó là Hội đồng thẩm phán TANDTC; Toà chuyên trách TANDTC; Uỷ ban thẩm phán TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Lộ trình là từng bước tăng thẩm quyền xét xử cho Toà án cấp huyện, giảm bớt số lượng án sơ thẩm tại Toà án cấp tỉnh và số lượng án phúc thẩm
sẽ tăng lên, cùng với việc giảm bớt số lượng án phúc thẩm tại TANDTC,
Trang 10giúp cho TANDTC tập trung công tác xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Khi
TAND cấp tỉnh không còn thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm sẽ tập trung
nhiệm vụ tổng kết, hướng dẫn áp dụng thống nhất đường lối xét xử đối với
Toà án cấp sơ thẩm theo các văn bản hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán
TANDTC Hệ thống Toà án sẽ có 2 cấp giám đốc thẩm, tái thẩm tại
TANDTC, đó là Hội đồng thẩm phán TANDTC và các Toà chuyên trách
TANDTC
3.3 Đổi mới tổ chức Toà chuyên trách TANDTC và tổ chức bộ
phận chuyên trách giúp việc Hội đồng thẩm phán TANDTC
- Cần thành lập các phòng chuyên môn tại các Toà chuyên trách
TANDTC theo từng nhóm quan hệ pháp luật và cử các thẩm phán kiêm
nhiệm làm trưởng các phòng chuyên môn đó Phòng nghiệp vụ của Toà
chuyên trách thụ lý đơn, thư khiếu nại, báo cáo lãnh đạo Toà, phân về các
phòng chuyên môn, để Trưởng phòng xem xét phân việc cho các thẩm tra
viên Sau khi, thẩm tra viên nghiên cứu hồ sơ báo cáo Thẩm phán - Trưởng
phòng và thống nhất hướng giải quyết thì trách nhiệm của Thẩm phán -
Trưởng phòmg báo cáo Ban lãnh đạo Toà có sự tham gia của Chánh Toà và
các Phó Chánh Toà, khi cần thiết có thể cho phép thẩm tra viên nghiên cứu
hồ sơ tham gia bàn bạc, thảo luận thống nhất đề xuất hướng giải quyết vụ
án trình Phó Chánh án TANDTC phụ trách và Chánh án TANDTC quyết
định
- Bộ phận chuyên trách giúp việc Hội đồng thẩm phán TANDTC (gọi
tắt là HĐTP) bao gồm các Thẩm tra viên nhiều kinh nghiệm chuyên môn,
có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp để thực hiện nhiệm vụ
theo quy định của pháp luật về tố tụng như làm thư ký các phiên toà giám
đốc thẩm, tái thẩm của HĐTP, đồng thời thực hiện các công việc hành
chính tư pháp, phối hợp với các Toà chuyên trách để giúp việc cho các
thành viên của HĐTP thực hiện các nhiệm vụ chung
Trưởng Bộ phận giúp việc tham gia làm thành viên HĐTP, là người
trình bày quá trình giải quyết vụ án, căn cứ kháng nghị và ý kiến thẩm định
của Bộ phận giúp việc tại các phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm của HĐTP
Bộ phận giúp việc HĐTP phối hợp với Văn phòng, Vụ Tổng hợp, Viện Khoa học xét xử, Ban Thanh tra TANDTC thực hiện nhiệm vụ tham mưu, tư vấn, giúp HĐTP thực hiện chức năng tổng kết ngành, ra Nghị quyết hướng dẫn đường lối xét xử trong ngành Toà án và tham gia các cuộc họp của HĐTP bàn về chuyên môn, nghiệp vụ khi có yêu cầu
3.4 Quy định căn cứ, thẩm quyền và cách tính thời hạn kháng nghị theo thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
- Tác giả luận án nghiên cứu và đưa ra đề xuất kháng nghị chung theo thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, việc xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thuộc thẩm quyền của Hội
đồng xét xử căn cứ quy định của BLTTDS về tính chất của hai thủ tục đó Vì vậy, việc quy định các căn cứ kháng nghị chung là rất cần thiết
- Sau khi toàn bộ thẩm quyền xét xử các vụ án đã được giao cho Toà
án cấp sơ thẩm, Toà án cấp tỉnh xét xử phúc thẩm được gọi là Toà án cấp phúc thẩm, TANDTC tập trung công tác giám đốc xét xử và nhiệm vụ hướng dẫn áp dụng thống nhất đường lối xét xử Việc xem xét, giải quyết khiếu nại đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của TAND cấp huyện thuộc thẩm quyền các Toà chuyên trách TANDTC Do đó thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực của TAND cấp huyện được giao cho Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC
- Để khắc phục bất cập về cách tính thời hạn kháng nghị như quy định hiện nay, luận án nghiên cứu và đưa ra kiến nghị sửa đổi, bổ sung nội dung quy định về thời hạn kháng nghị là 2 năm được phân định theo 2 giai đoạn: Quy định thời hạn gửi đơn khiếu nại của đương sự, các kiến nghị của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đoàn thể, nghề nghiệp liên quan đến bản án gửi cho người có quyền kháng nghị trong thời hạn 1 năm, kể từ ngày bản
án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật Đồng thời quy định thời hạn 1 năm tiếp theo kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị nhận được