ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ TRƯỢT ĐỐT SỐNG THẮT LƯNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP CỐ ĐỊNH VÀ HÀN XƯƠNG LIÊN THÂN ĐỐT LỐI SAU TẠI BỆNH VI
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhận được chuẩn đoán là thoát vị đĩa đệm thắt lưng và đã trải qua phẫu thuật điều trị tại Khoa Ngoại Chấn Thương Chỉnh Hình – Thần Kinh, Bệnh viện Trường ĐH Y Dược Cần Thơ từ tháng 01/2019 đến tháng 3/2020.
Bệnh nhân có chỉ định mổ khi bị chèn ép thần kinh cấp kèm theo tổn thương thần kinh, hoặc chèn ép thần kinh tăng dần gây triệu chứng nguy hiểm, đặc biệt khi điều trị nội khoa không mang lại hiệu quả Ngoài ra, yếu tố mất vững cột sống như khuyết eo hoặc tăng độ trượt trên phim X quang động cũng là chỉ định cần thiết để can thiệp phẫu thuật nhằm đảm bảo an toàn và ổn định cho bệnh nhân.
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhân có dị tật hai chi dưới, các bệnh lý nội khoa ảnh hưởng lớn tới chẩn đoán (lao cột sống, viêm màng nhện tủy…)
- Bệnh nhân trượt độ nặng (độ 3-4) mà không thể nắn chỉnh giảm độ trượt gây ảnh hưởng đến ghép xương liên thân đốt được
Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 3 năm 2020 tại bệnh viện Trường ĐH Y Dược Cần Thơ.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang tiến cứu, không nhóm chứng
Cỡ mẫu: tối thiểu là 30
Phương pháp chọn mẫu: các trường hợp đủ tiêu chuẩn được đưa và mẫu nghiên cứu đến khi đủ mẫu
- Các triệu chứng cơ năng:
+ Đau cột sống thắt lưng (đánh giá theo VAS)
+ Đau lan kiểu rễ (đánh giá theo VAS)
- Các triệu chứng thực thể:
+ Biểu hiện kích thích rễ: nghiệm pháp Lasègue
+ Tổn thương rễ thần kinh: teo cơ và rối loạn cơ vòng
+ Dấu hiệu đau cách hồi thần kinh
- Đánh giá mức độ hạn chế chức năng cột sống thắt lưng theo thang điểm của OWESTRY (ODI), chia làm 5 mức
+ Phân độ TĐS thắt lưng theo Meyerding
+ Xác định tổn thương khuyết eo, thoái hoá và các tổn thương khác (dị tật bẩm sinh, thiểu sản…)
Chụp X quang động tư thế cúi tối đa và ưỡn tối đa là phương pháp đánh giá độ mất vững của cột sống Quá trình này giúp xác định mức độ trượt của các đốt sống trên phim X quang so với X quang thường Việc đánh giá chính xác mức độ trượt này có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị hiệu quả.
- Chụp cộng hưởng từ: Giúp đánh giá các tổn thương trong bệnh TĐS:
+ Tình trạng thoái hoá của đĩa đệm của tầng TĐS và các tầng liền kề
+ Tình trạng khuyết eo và tổ chức xơ từ khe hở eo của đốt sống
+ Hình ảnh hẹp ống sống, phì đại diện khớp, phì đại dây chằng vàng…
+ Đánh giá tình trạng lỗ liên hợp
- Chụp cắt lớp vi tính: khảo sát nguyên nhân TĐS, cuống sống
* Phương pháp phẫu thuât: cố định ốc chân cung kết hợp hàn liên thân đốt lối sau
* Đánh giá kết quả điều trị
+ Thời gian tiến hành cuộc mổ
+ Lượng máu mất trong mổ
+ Lượng máu truyền trong mổ trùng, liệt vận động
- X quang đánh giá kết quả nắn trượt, vị trí ốc, vị trí đĩa đệm
- Đánh giá mức độ hồi phục chức năng cột sống thắt lưng theo thang điểm của OWESTRY (ODI) so với trước mổ
- Đánh giá độ vững của phương tiện cố định, cal xương trên x quang 6 tháng sau mổ, dựa theo phân độ của Bridwell:
+ Độ 1 (tốt): Liền xương vững chắc với các cầu xương mới nối liền 2 diện xương đốt sống trên và dưới
+ Độ 2 (khá): Mảnh ghép giữ nguyên vị trí, xương tân tạo không hoàn toàn nhưng không thấy đường thấu quang trên phim
+ Độ 3 (trung bình): Mảnh ghép giữ nguyên vị trí nhưng có đường thấu quang ở phía trên hoặc phía dưới mảnh ghép
+ Độ 4 (kém): Khớp giả, tiêu xương
* Đánh giá kết quả chung:
Bảng 1 Đánh giá kết quả chung
Tiêu chí Tốt Khá Trung bình Kém
VAS lưng < 3 điểm 3-4 điểm 5-6 điểm > 6 điểm VAS chân < 3 điểm 3-4 điểm 5-6 điểm > 6 điểm
Liền xương Độ 1 Độ 2 Độ 3 Độ 4
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu của nghiên cứu được nhập, quản lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 3 năm 2020, đã ghi nhận 34 trường hợp trượt đốt sống thắt lưng được chỉ định phẫu thuật, trong đó nữ chiếm đa số với 58,8% (20 trường hợp) và nam chiếm 41,2% (14 trường hợp) Tuổi trung bình của bệnh nhân là 58,48 tuổi, với độ tuổi dao động từ 22 đến 78 Nguyên nhân chính gây trượt đốt sống là do thoái hóa chiếm tỷ lệ 58,8%, trong đó có 11 nam giới, đạt tỷ lệ 1,43:1 so với nữ Độ tuổi phổ biến nhất mắc bệnh nằm trong khoảng 50-70 tuổi.
3.2 Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học:
Nguyên nhân trượt thường gặp nhất là do thoái hoá (59%), do khuyết eo chiếm 32%, do mổ cột sống tại tầng đó chiếm 9%
3.2.2 Vị trí và mức độ trượt
Có 26 trường hợp trượt 1 tầng, 8 trường hợp trượt 2 tầng Tầng trượt thường gặp nhất là L4/5 với 15 trường hợp (41,2%), kế đến là L5/S1 với 8 trường hợp (23,5%), 3 trường hợp trượt L3/L4 (8,8%), 8 trường hợp (23,5%) trượt 2 tầng liền kề
(6 trường hợp trượt L4/L5 và L5/S1, 2 trường hợp L3/L4 và L4/L5) Nếu tính chung thì có 42 vị trí trượt, trong đó L4/L5 chiếm 23/42 (54,8%), L5/S1 là 14/42 (33,3%) và L3/L4 là 5/42 (11,9%)
Bảng 2 Dấu hiệu lâm sàng
Triệu chứng Số lượng Tỷ lệ Đau lưng 34 100% Đau rễ thần kinh
Tất cả các trường hợp đều xuất hiện triệu chứng đau lưng và dấu hiệu đi cách hồi Trong số này, 21 trường hợp (61,8%) cho thấy dấu hiệu chèn ép rễ thần kinh, trong đó 15 trường hợp (44,1%) có các dấu hiệu rõ ràng của tình trạng này.
Thời gian mổ trung bình là 159,4 phút (80-255) Trong đó, thời gian mổ PLIF
1 tầng trung bình là 133,8 phút (80-210), PLIF 2 tầng là 161,9 phút (130-230), PLIF
Trong quá trình phẫu thuật, thời gian trung bình cho 3 tầng là 205,6 phút (từ 160 đến 255 phút), với lượng máu mất trung bình là 460ml (từ 250 đến 1000ml) Cụ thể, lượng máu mất ở các tầng là: tầng 1 là 332,4ml (từ 250 đến 700ml), tầng 2 là 500ml (từ 300 đến 1000ml), và tầng 3 là 677,8ml (từ 500 đến 1000ml) Lượng máu truyền trung bình là 317,7ml (từ 0 đến 700ml), trong đó có 16 trường hợp cần truyền từ 1 đến 2 đơn vị máu, còn 18 trường hợp không cần truyền máu, với 13 trường hợp ở tầng 1, 4 trường hợp ở tầng 2, và 1 trường hợp ở tầng 3.
Bảng 3 Mức độ đau theo VAS và ODI trung bình trước và sau mổ 6 tháng
Sau mổ, tình trạng đau lưng và chân giảm rõ rệt, mức độ đau của lưng, chân và mức độ mất chức năng cột sống đều cải thiện rõ
3.3.2 Đánh giá kết quả liền xương:
21 trường hợp theo dõi trên 12 tháng, có 14 trường hợp (66,7%) liền xương tốt, 7 trường hợp (33,3%) liền xương khá, không có trường hợp nào bị huỷ xương hoặc khớp giả
Hiện tại, với thời gian theo dõi trung bình 11,4 tháng (6-18 tháng), có 14 trường hợp (41,2%) đạt kết quả tốt, 18 trường hợp (52,9%) đạt mức khá, 2 trường hợp (5,9%) mức trung bình
Nghiên cứu gồm 34 trường hợp trượt đốt sống thắt lưng đã được điều trị thành công bằng phương pháp phẫu thuật hàn liên thân đốt sống lối sau tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ Phẫu thuật giúp ổn định cột sống và giảm các triệu chứng đau efficiently Phương pháp này mang lại kết quả tích cực, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân sau mổ Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hàn liên thân đốt sống lối sau là một lựa chọn thích hợp trong điều trị trượt đốt sống thắt lưng.
PHẦN 2: TOÀN VĂN ĐỀ TÀI ĐẶT VẤN ĐỀ
Trượt đốt sống là hiện tượng di chuyển bất thường của thân đốt sống cùng các phần phụ như cuống, mỏm ngang và diện khớp phía trên, gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người bệnh Bệnh là một trong những nguyên nhân chính gây đau thắt lưng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và kinh tế của người bệnh, đồng thời trở thành gánh nặng lớn cho xã hội Theo thống kê tại Mỹ, có khoảng 2-3% dân số mắc trượt đốt sống, gây chi phí khám và điều trị hàng năm lên đến hơn 21 tỷ đô la Mỹ.
Trượt đốt sống là bệnh lý do nhiều nguyên nhân như bẩm sinh, thoái hoá, khuyết eo hoặc chấn thương gây ra, mỗi nguyên nhân gây ra biến đổi giải phẫu riêng biệt Tuy nhiên, điểm chung của các nguyên nhân này là gây nên sự di chuyển bất thường của thân đốt sống về phía trước, bao gồm cả cuống, mỏm ngang và diện khớp phía trên.
Hầu hết các bệnh nhân có tiến triển bệnh thầm lặng và chỉ đi khám khi có triệu chứng rõ ràng do chèn ép thần kinh Bệnh cảnh lâm sàng đa dạng do nhiều nguyên nhân gây bệnh, dễ nhầm lẫn với các bệnh thoái hóa cột sống khác Tuy nhiên, nhờ hiểu biết về giải phẫu học, sinh lý bệnh và sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh cùng dụng cụ hỗ trợ điều trị, chúng ta đã đạt được nhiều bước tiến quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh.
Điều trị nội khoa được chỉ định cho các trường hợp trượt nhẹ, có biểu hiện chèn ép thần kinh thoáng qua Phẫu thuật được xem xét khi điều trị nội khoa thất bại hoặc trong các trường hợp trượt cao, chèn ép thần kinh dữ dội Các kỹ thuật phẫu thuật đa dạng bao gồm phẫu thuật Gill, ghép xương sau bên liên gai, cố định cột sống qua chân cung kết hợp hàn xương sau bên hoặc liên thân đốt, và các phương pháp mở như phẫu thuật lối trước hoặc trực tiếp tại chỗ khuyết xương Gần đây, các kỹ thuật ít xâm lấn như bắt vít qua da và ghép xương liên thân đốt qua hệ thống ống nong ngày càng được ứng dụng nhiều nhằm giảm thiểu xâm lấn và tăng hiệu quả điều trị.
Hiện nay, nhiều cơ sở y tế chuyên khoa chấn thương chỉnh hình và thần kinh đã thực hiện phẫu thuật cố định cột sống qua cuống và hàn xương liên thân đốt để điều trị các bệnh lý liên quan đến cột sống Phương pháp này đang trở thành lựa chọn phổ biến trong quá trình điều trị nhằm đạt hiệu quả cao và giảm thiểu biến chứng Tại bệnh viện Trường Đại học, việc áp dụng kỹ thuật phẫu thuật này đã giúp cải thiện rõ rệt chức năng cột sống cho bệnh nhân, mang lại hy vọng phục hồi nhanh chóng và ổn định.
Y Dược Cần Thơ đã thực hiện thành công phẫu thuật này với kết quả ban đầu khá tích cực Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá chi tiết về quá trình phục hồi sau phẫu thuật, làm rõ hơn về hiệu quả lâu dài của phương pháp này.
Chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và đánh giá kết quả điều trị trượt đốt sống thắt lưng bằng phương pháp hàn xương liên thân đốt lối sau tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ” nhằm phân tích các đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của bệnh nhân Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phương pháp điều trị này trong việc cải thiện chức năng và giảm triệu chứng của bệnh trượt đốt sống thắt lưng.
1 Xác định đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học của bệnh nhân trượt đốt sống thắt lưng được điều trị bằng phương pháp hàn xương liên thân đốt lối sau tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2019-2020
2 Đánh giá kết điều trị trượt đốt sống thắt lưng bằng phương pháp hàn xương liên thân đốt lối sau tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2019-2020
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 GIẢI PHẪU ỨNG DỤNG VÙNG CỘT SỐNG THẮT LƯNG
1.1.1 Giải phẫu đốt sống thắt lưng[3]
Mỗi đốt sống gồm các thành phần chính là thân đốt sống, cung đốt sống, các mỏm đốt sống và lỗ đốt sống
Hình 1.1 Cấu tạo đốt sống thắt lưng
(Nguồn: Frank H.Netter, Atlas giải phẫu người, 2007[5])
Vấn đề y đức
Đề tài đã được thông qua bởi Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học – Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Bệnh nhân và gia đình được tư vấn rõ về phương pháp điều trị, các tai biến và biến chứng có thể xảy ra Họ tự nguyện tham gia vào nghiên cứu y học và chấp nhận các rủi ro liên quan đến quá trình điều trị để đảm bảo hiệu quả cao nhất.
Toàn bộ thông tin cá nhân của các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học
Nguyên nhân trượt thường gặp nhất là do thoái hoá (59%), do khuyết eo chiếm 32%, do mổ cột sống tại tầng đó chiếm 9%
3.2.2 Vị trí và mức độ trượt
Có 26 trường hợp trượt 1 tầng, 8 trường hợp trượt 2 tầng Tầng trượt thường gặp nhất là L4/5 với 15 trường hợp (41,2%), kế đến là L5/S1 với 8 trường hợp (23,5%), 3 trường hợp trượt L3/L4 (8,8%), 8 trường hợp (23,5%) trượt 2 tầng liền kề
(6 trường hợp trượt L4/L5 và L5/S1, 2 trường hợp L3/L4 và L4/L5) Nếu tính chung thì có 42 vị trí trượt, trong đó L4/L5 chiếm 23/42 (54,8%), L5/S1 là 14/42 (33,3%) và L3/L4 là 5/42 (11,9%)
Bảng 2 Dấu hiệu lâm sàng
Triệu chứng Số lượng Tỷ lệ Đau lưng 34 100% Đau rễ thần kinh
11,7 Tất cả các trường hợp đều có triệu chứng đau lưng và dấu hiệu đi cách hồi, 21 trường hợp (61,8%) có dấu hiệu chèn ép rễ, trong đó 15 trường hợp (44,1%) có dấu
Thời gian mổ trung bình là 159,4 phút (80-255) Trong đó, thời gian mổ PLIF
1 tầng trung bình là 133,8 phút (80-210), PLIF 2 tầng là 161,9 phút (130-230), PLIF
Thời gian phẫu thuật trung bình cho 3 tầng là 205,6 phút, với khoảng từ 160 đến 255 phút, trong đó lượng máu mất trung bình là 460ml, dao động từ 250 đến 1000ml Cụ thể, lượng máu mất của các phương pháp là PLIF 1 tầng là 332,4ml, 2 tầng là 500ml, và 3 tầng là 677,8ml Lượng máu truyền trung bình trong quá trình phẫu thuật là 317,7ml, từ 0 đến 700ml, có 16 trường hợp cần truyền từ 1 đến 2 đơn vị máu Ngoài ra, có 18 trường hợp không cần truyền máu, trong đó 13 trường hợp là phẫu thuật 1 tầng, 4 trường hợp là 2 tầng, và 1 trường hợp là 3 tầng.
Bảng 3 Mức độ đau theo VAS và ODI trung bình trước và sau mổ 6 tháng
Sau mổ, tình trạng đau lưng và chân giảm rõ rệt, mức độ đau của lưng, chân và mức độ mất chức năng cột sống đều cải thiện rõ
3.3.2 Đánh giá kết quả liền xương:
21 trường hợp theo dõi trên 12 tháng, có 14 trường hợp (66,7%) liền xương tốt, 7 trường hợp (33,3%) liền xương khá, không có trường hợp nào bị huỷ xương hoặc khớp giả
Hiện tại, với thời gian theo dõi trung bình 11,4 tháng (6-18 tháng), có 14 trường hợp (41,2%) đạt kết quả tốt, 18 trường hợp (52,9%) đạt mức khá, 2 trường hợp (5,9%) mức trung bình
Dựa trên nghiên cứu 34 trường hợp trượt đốt sống thắt lưng được phẫu thuật tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, phương pháp hàn liên thân đốt lối sau cho thấy hiệu quả khả quan trong việc điều trị Phương pháp phẫu thuật này giúp cải thiện chức năng cột sống, giảm đau và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân bị trượt đốt sống thắt lưng Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp hàn liên thân đốt lối sau là lựa chọn an toàn, ít biến chứng và có tỷ lệ thành công cao trong điều trị trượt đốt sống thắt lưng.
PHẦN 2: TOÀN VĂN ĐỀ TÀI ĐẶT VẤN ĐỀ
Trượt đốt sống là tình trạng di chuyển bất thường của thân đốt sống cùng với các bộ phận liên quan như cuống, mỏm ngang và diện khớp phía trên Bệnh lý này là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây đau thắt lưng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và kinh tế của người bệnh, đồng thời tạo gánh nặng lớn cho xã hội Theo thống kê tại Mỹ, khoảng 2-3% dân số mắc bệnh trượt đốt sống, với chi phí điều trị hàng năm lên tới hơn 21 tỷ đô la Mỹ.
Trượt đốt sống là bệnh lý do nhiều nguyên nhân như bẩm sinh, thoái hoá, khuyết eo, chấn thương gây ra Mỗi nguyên nhân dẫn đến các biến đổi giải phẫu riêng, nhưng đều gây ra sự di chuyển bất thường của thân đốt sống về phía trước cùng với cuống, mỏm ngang và diện khớp phía trên.
Hầu hết các bệnh nhân thường ở giai đoạn bệnh thầm lặng, chỉ đến khi có chèn ép thần kinh gây triệu chứng rõ ràng mới đi khám Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, bệnh cảnh lâm sàng thường đa dạng, dễ nhầm lẫn với các bệnh thoái hoá cột sống khác Nhờ hiểu biết về giải phẫu học, sinh lý bệnh và sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại cùng dụng cụ hỗ trợ điều trị, chúng ta đã có những bước tiến quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh.
Chỉ định điều trị nội khoa phù hợp cho các trường hợp trượt nhẹ, có biểu hiện chèn ép thần kinh thoáng qua Phẫu thuật được chỉ định khi điều trị nội khoa thất bại hoặc trong các trường hợp trượt mức độ cao, chèn ép thần kinh dữ dội Các kỹ thuật phẫu thuật đa dạng từ truyền thống như phẫu thuật Gill, kết hợp ghép xương sau bên liên gai ngang, cố định cột sống qua chân cung kết hợp hàn xương sau bên hoặc hàn xương liên thân đốt, đến các phương pháp ít xâm lấn hơn như bắt vít qua da và ghép xương liên thân đốt qua hệ thống ống nong, đáp ứng cho từng mức độ và tình trạng của bệnh nhân.
Hiện nay, nhiều cơ sở y tế chuyên khoa chấn thương chỉnh hình hoặc thần kinh đã áp dụng phương pháp phẫu thuật cố định cột sống qua cuống và hàn xương liên thân đốt để điều trị bệnh lý này một cách hiệu quả Tại bệnh viện Trường Đại học, các kỹ thuật này đang được thực hiện phổ biến nhằm mang lại kết quả tốt nhất cho người bệnh.
Y Dược Cần Thơ đã thực hiện thành công phẫu thuật này với kết quả bước đầu khả quan Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá chính xác quá trình hồi phục sau phẫu thuật.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và đánh giá kết quả điều trị trượt đốt sống thắt lưng bằng phương pháp hàn xương liên thân đốt lối sau tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ," nhằm khảo sát đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của bệnh nhân, đồng thời đánh giá hiệu quả điều trị của phương pháp phẫu thuật này Mục tiêu của nghiên cứu là nâng cao nhận thức về các đặc điểm lâm sàng, cải thiện kỹ thuật điều trị và thúc đẩy sự phát triển của y học phục hồi chức năng cho bệnh nhân bị trượt đốt sống thắt lưng.
1 Xác định đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học của bệnh nhân trượt đốt sống thắt lưng được điều trị bằng phương pháp hàn xương liên thân đốt lối sau tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2019-2020
2 Đánh giá kết điều trị trượt đốt sống thắt lưng bằng phương pháp hàn xương liên thân đốt lối sau tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2019-2020
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 GIẢI PHẪU ỨNG DỤNG VÙNG CỘT SỐNG THẮT LƯNG
1.1.1 Giải phẫu đốt sống thắt lưng[3]
Mỗi đốt sống gồm các thành phần chính là thân đốt sống, cung đốt sống, các mỏm đốt sống và lỗ đốt sống
Hình 1.1 Cấu tạo đốt sống thắt lưng
(Nguồn: Frank H.Netter, Atlas giải phẫu người, 2007[5])
Thân đốt sống thắt lưng có hình dạng trụ dẹt, gồm hai mặt tiếp xúc với đốt sống trên và đốt sống dưới qua đĩa đệm gian đốt sống, đồng thời có một vành xung quanh Cung đốt sống bắt nguồn từ rìa của vành ở hai bên mặt sau của thân đốt sống và gặp nhau ở đường giữa để hình thành lỗ đốt sống.
Chân cung (cuống cung) đốt sống là phần vững nhất (do có vỏ xương dày và là nơi tập trung của các bè xương), là nơi truyền lực của toàn bộ hệ thống các cột trụ về phía thân đốt[3] Cuống có khả năng chịu được các lực làm xoay, duỗi, nghiêng sang bên của cột sống Do đó khi bắt vít qua cuống, vít sẽ có tác dụng lên toàn bộ đốt sống, tức là tác dụng lên cả 3 cột trụ của cột sống Vì vậy, hầu hết các phương tiện cố định cột sống trên thế giới đều sử dụng bắt vít qua cuống Roy-Camille là người đi đầu trong việc bắt vít từ phía sau vào cuống cung để cố định cột sống Mỏm ngang: thường dẹt, có hình cánh trải sang hai bên, phía trong liên tiếp với cuống đốt sống Khi xác định điểm vào cuống trong phẫu thuật thường xác định mỏm ngang, rồi lần từ ngoài vào trong đến điểm tiếp giáp với cuống cung thì xác định là điểm đặt vít Trên mặt sau của nền mỗi mỏm ngang có một củ nhỏ gọi là mỏm phụ Trên và trong mỏm phụ có mỏm vú Đây là mốc quan trọng để xác định điểm vào cuống khi muốn bắt vít vào cuống cung[27]
Đánh giá kết quả phẫu thuật
3.3.1 Phương pháp và thời gian mổ
Bảng 3.10 Phương pháp và thời gian mổ
Phương pháp mổ Thời gian mổ
Thời gian mổ trung bình là 159,4 phút (80-255) Trong đó, thời gian mổ PLIF 1 tầng trung bình là 133,8 phút (80-210), PLIF 2 tầng là 161,9 phút (130-
3.3.2 Lượng máu mất và lượng máu cần truyền
Bảng 3.11 Lượng máu mất và lượng máu cần truyền
Phương pháp mổ Lượng máu mất
Trong quá trình phẫu thuật, lượng máu mất trung bình là 460ml, dao động từ 250-1000ml Cụ thể, với phẫu thuật nội soi cột sống bằng phương pháp PLIF, lượng máu mất ở các tầng khác nhau là 332,4ml cho tầng 1, 500ml cho tầng 2, và 677,8ml cho tầng 3 Trung bình, lượng máu truyền cho bệnh nhân là 317,7ml, với khoảng 16 trường hợp cần truyền từ 1-2 đơn vị máu, trong khi 18 trường hợp không cần truyền máu, chủ yếu là những trường hợp phẫu thuật ở tầng 1.
4 trường hợp 2 tầng, 1 trường hợp 3 tầng)
3.3.3 Biến chứng trong và sau mổ
Bảng 3.12 Biến chứng trong và sau mổ (n4)
Biến chứng Số lượng Tỷ lệ (%)
Có 1 trường hợp bị rách màng cứng trong lúc mổ do dính chặc vào dây chằng vàng nên bị rách trong quá trình bóc tách, 1 trường hợp có dấu hiệu tổn thương rễ L5 sau mổ, đã hồi phục hoàn toàn sau 3 tháng, 2 trường hợp vỡ chân cung lúc mổ được chỉnh hướng và bắt lại vào thân sống tốt nhờ kiểm tra dưới
Trong quá trình sử dụng C-arm, có một trường hợp bị liệt rễ L5 sau phẫu thuật, trong khi đó một trường hợp khác gặp phải nhiễm trùng vết mổ nông Tuy nhiên, không có trường hợp nào phải tháo dụng cụ hoặc diễn biến xấu sau các sự cố này.
Thời gian nằm viện trung bình là 13,5 ngày, dao động từ 8 ngày đến 22 ngày, cho thấy mức độ phục hồi của bệnh nhân khá đa dạng Thời gian chăm sóc sau mổ trung bình là 10,3 ngày, với khoảng từ 5 đến 20 ngày, phản ánh quá trình hậu phẫu diễn ra linh hoạt tùy theo từng trường hợp.
3.3.5 Đánh giá kết quả sau mổ
VAS lưng và chân trước mổ, sau mổ và các giai đoạn tái khám
Biểu đồ 3.7 VAS lưng và chân trước, sau mổ và các đợt tái khám
Sau mổ, cả VAS lưng và VAS chân đều giảm và tiếp tục giảm sau các đợt tái khám lúc 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng
So sánh VAS lưng và chân trước và sau mổ
Bảng 3.13 So sánh VAS trước và sau mổ (n4)
Mức độ đau lưng và chân theo VAS trước và sau mổ giảm có ý nghĩa thống kê (p