TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGÔ VƯƠNG MỸ NHÂN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XỬ TRÍ, ĐIỀU TRỊ DỊ VẬT ĐƯỜNG ĂN TẠI CỘNG ĐỒNG VÀ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG NĂ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGÔ VƯƠNG MỸ NHÂN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
XỬ TRÍ, ĐIỀU TRỊ DỊ VẬT ĐƯỜNG ĂN TẠI CỘNG ĐỒNG
VÀ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG
NĂM 2020 - 2021
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Cần Thơ, 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGÔ VƯƠNG MỸ NHÂN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
XỬ TRÍ, ĐIỀU TRỊ DỊ VẬT ĐƯỜNG ĂN TẠI CỘNG ĐỒNG
VÀ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG
NĂM 2020 - 2021
Chuyên ngành: Quản lý Y tế
Mã số: 8720801.CK
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS PHẠM VĂN LÌNH
Cần Thơ - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Ngô Vương Mỹ Nhân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu và các quý thầy cô Trường đại học Y Dược Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi tham dự khóa học và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Gs.Ts PHẠM VĂN LÌNH – người Thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin cám ơn Ban giám đốc, quý đồng nghiệp Bệnh viện đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học
Cần Thơ, ngày 30 tháng 9 năm 2021
Ngô Vương Mỹ Nhân
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giải phẫu họng và thực quản
1.2 Nguyên nhân, tác nhân và vị trí dị vật đường ăn
1.3 Các phương pháp xác định dị vật đường ăn
1.4 Các biện pháp sơ cấp cứu ban đầu khi mắc dị vật đường ăn
1.5 Các phương pháp xử trí và điều trị dị vật đường ăn
1.6 Tình hình nghiên cứu về dị vật đường ăn
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 4 BÀN LUẬN
Trang 64.4 Kết quả xử trí và điều trị dị vật đường ăn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.7
Bảng 3.8
Các biện pháp sơ cấp cứu ban đầu
Số phương pháp được sơ cấp cứu ban đầu theo bệnh nhân
39
40
đường ăn
44
đường ăn
46
Trang 9Bảng 3.21 Kết quả điều trị 48
Trang 106
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
44
Biểu đồ
Trang 11MỞ ĐẦU
Dị vật đường ăn là tai nạn thường gặp trong tai mũi họng, nếu không
xử trí kịp thời và đúng cách có thể dẫn đến tử vong
Dị vật đường ăn là các dị vật mắc ở họng miệng, họng thanh quản và thực quản Dị vật họng miệng thường là những dị vật nhỏ và nhọn như xương
cá, cọng kẽm… cắm vào amidan hoặc đáy lưỡi Vùng họng thanh quản dị vật mắc thường lớn có gai góc và cạnh sắc Dị vật thực quản bản chất dị vật đa dạng hơn: xương cá, xương gà, thịt, răng giả… [6] Tuy ít gây nguy hiểm tính mạng khẩn cấp như dị vật đường thở, dị vật đường ăn vẫn có thể gây tử vong khi có biến chứng Các biến chứng thường gặp như chảy máu, rách niêm mạc, áp xe hoặc thủng thực quản Nếu dị vật trôi xuống đường tiêu hóa dạ dày, ruột sẽ tổn thương đường tiêu hóa như tắc nghẽn, thủng ruột hoặc viêm phúc mạc
Ở Mỹ ghi nhận mỗi năm có khoảng 100.000 người dân mắc dị vật đường
ăn và ước tính 1500 đến 1600 trường hợp tử vong do dị vật và thủng thực quản [50]
Huế, từ năm 2014 – 2016 Võ Hoàng Cường nghiên cứu dị vật đường ăn ghi nhận có 137 trường hợp và có 76,6% sử dụng các phương pháp dân gian xử trí trước khi vào viện [5]
Bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 200 trường hợp dị vật được lấy mỗi năm và trong 2006 có 279 trường hợp dị vật đường ăn đến khám và điều trị [6]
Tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2015 – 2017 có 90 trường hợp dị vật thực quản và vào viện ở giai đoạn viêm nhiễm là 22,22% [23]
Tại Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương và Bệnh viện Hữu nghị Việt
Trang 12Đức từ năm 2016 – 2018 có 42 trường hợp dị vật thực quản giai đọan biến chứng và có trường hợp tử vong do tình trạng sốc nhiễm trùng [21]
Dị vật đường ăn tuy phổ biến nhưng do hiểu biết ít, nhiều người bệnh
có thói quen sau khi mắc dị vật dùng tay móc họng, cố nuốt nước hoặc miếng
họng, nhờ người đẻ ngược dùng tay vuốt vùng mắc dị vật Điều này làm cho tổn thương niêm mạc và đẩy dị vật sâu hơn, đôi khi gây ra các biến chứng nguy hiểm như áp xe họng, áp xe thực quản phải điều trị lâu dài, tốn kém và có khi dẫn đến tử vong
Dị vật đường ăn xảy ra ở mọi lứa tuổi và đến khám tại các bệnh viện vẫn còn phổ biến Tình trạng bệnh phụ thuộc vào nguyên nhân, vị trí mắc dị vật và xử trí cấp cứu ban đầu của người bệnh Hiện nay, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng là một công tác rất quan trọng của ngành y
tế Do đó, để giúp phát hiện sớm, chẩn đoán đúng, xử trí kịp thời, hạn chế các biến chứng nguy hiểm và không tốn kém về chí phí điều trị cũng như thời gian nằm viện
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tình hình
và đánh giá kết quả xử trí, điều trị dị vật đường ăn tại cộng đồng và tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2020 - 2021” với các mục tiêu
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giải phẫu họng và thực quản
1.1.1 Giải phẫu họng
Họng là một cái ống bằng cơ, dài khoảng 12cm đi từ mảnh nền của xương chẩm xuống tận ngang tầm đốt sống cổ số VI Nó nối liền mũi và miệng với thanh quản và thực quản Họng có cấu tạo hình phễu, dẹt theo chiều trước sau, rộng nhất phần dưới nền sọ đường kính ngang 5cm, hẹp nhất vị trí nối với thực quản 2cm đường kính trước sau 2cm
Họng là ngã tư của đường ăn uống và đường hô hấp Nó được chia ra làm
3 phần: họng mũi, họng miệng và họng thanh quản (hạ họng)
Họng mũi: đây là phần cao nhất của họng Vòm mũi họng giống hình khối vuông có 6 mặt Mặt trên giáp với mảnh nền xương chẩm Mặt trước là cửa mũi sau của hai hố mũi Mặt dưới là mặt phẳng đi ngang qua bờ dưới của màn hầu Mặt bên là loa vòi Eustache và hố Rosenmule
Họng miệng: từ đốt sống cổ thứ 2 (C2) đến C3, giới hạn trên là bình diện
đi ngang bờ dưới của màn hầu (khẩu cái mềm), giới hạn dưới là bình diện đi ngang bờ trên xương móng Kích thước trung bình vùng này là chiều cao 5cm, chiều ngang 5cm, chiều sâu 4cm
Họng thanh quản hay hạ họng: từ C3 đến C6, bắt đầu ngang tầm xương móng và xuống đến miệng thực quản Nó giống như một cái phễu với kích thước như sau: dài 5cm, rộng 4cm ở đoạn trên và 1,5cm ở đoạn dưới [20]
Trang 14Hình 1.1 Giải phẫu họng [16]
1.1.2 Giải phẫu thực quản
Thực quản là ống rỗng bằng cơ nối liền họng với dạ dày đi từ bờ dưới sụn nhẫn ngang C6 đến tâm vị ngang đốt sống ngực 11 (D11) Nó đi ngang qua vùng cổ, vùng trung thất sau, cơ hoành và phần trên của ổ bụng Chiều dài trung bình thực quản là 25cm gồm đoạn cổ 5cm (C6 – D2), đoạn ngực 16-18cm (D2 – D10), đoạn bụng 2-3cm (D11) [59]
Ở trẻ mới sinh thực quản dài khoảng 8-10cm, nhưng khi trẻ tròn 1 tuổi thì thực quản dài 12cm, đến 5 tuổi thực quản có thể dài 16cm, đến năm 15 tuổi thì thực quản dài 19cm Ở người trưởng thành thực quản dài trung bình ở phụ nữ là 23cm, đàn ông là 25cm Đường kính thực quản ở trẻ sơ sinh khoảng 5mm, nhưng đường kính này tăng gần gấp đôi khi trẻ 1 tuổi và ở trẻ 5 tuổi có đường kính là 15mm, ở người trưởng thành đường kính khoảng 20mm nhưng
nó có thể nở ra đến 30mm [37]
Trang 15từ cung răng trên (CRT) đến các vị trí hẹp tự nhiên của này như sau :
Bảng 1.1 Các vị trí hẹp của thực quản ở người trưởng thành [63]
Miệng thực
quản
Quai động mạch chủ
Phế quản gốc
Trang 16Hình 1.2 Giải phẫu thực quản [16]
Liên quan các đoạn thực quản:
Đoạn thực quản cổ: từ miệng thực quản tới bờ dưới của D2, dài 5-6cm
Ở đoạn này, thực quản được bao quanh bởi một mô liên kết rất lỏng lẻo cho phép nó di động dễ dàng trong các động tác nuốt, thở Mô liên kết này kéo dài xuống phía dưới và nối liền với mô liên kết của trung thất sau Đó là yếu tố thuận lợi cho các viêm nhiễm quanh thực quản cổ lan xuống trung thất
Đoạn thực quản ngực: đầu tiên thực quản nằm trong trung thất trên, giữa khí quản và cột sống, ở phía sau và bên trái cung động mạch chủ, rồi chạy xuống trong trung thất sau, giới hạn từ D2 đến D10, dài 16 - 18 cm
Trong trung thất sau, phía trước thực quản liên quan với khí quản, phế quản gốc trái, động mạch phổi Bên trái thực quản liên quan đến cung động
Trang 17mạch chủ Các đám rối thần kinh X tạo nên các thân X trước và sau, cùng thực quản chui qua lỗ cơ hoành để xuống bụng
Đoạn thực quản bụng: dài 2 đến 3cm, đi qua eo cơ hoành nối với dạ dày qua lỗ tâm vị [20]
Hình 1.3 Liên quan các đoạn thực quản (nhìn từ trước và sau) [16]
1 Khí quản 2 Động mạch chủ 3&4 Thực quản 5 Cơ hoành
1.2 Nguyên nhân, tác nhân và vị trí dị vật đường ăn
1.2.1 Nguyên nhân dị vật đường ăn
Dị vật đường ăn (DVĐA) thường xảy ra trong sinh hoạt và là cấp cứu thường gặp trong tai mũi họng Tại Mỹ, năm 2011 có 110.000 trường hợp nuốt dị vật, trẻ em chiếm hơn 85% [36] Ở Việt Nam, người lớn mắc dị vật nhiều hơn trẻ em
Trang 18Có nhiều nguyên nhân mắc DVĐA Nhưng phổ biến nhất là do tập quán ăn uống, chế biến thức ăn ở Việt Nam Các món ăn đều được chế biến
có xương lẫn thịt, chặt quá nhỏ hoặc quá lớn, bằm xương lẫn thịt Do đó, khi
ăn uống vội vàng, nói chuyện cười đùa trong khi ăn làm cho không tập trung nhai hoặc nhai không kỹ nên rất dễ xảy ra mắc DVĐA Có trường hợp nhập viện vì uống thuốc nhanh hoặc người lớn tuổi mắt mờ không bỏ vỏ thuốc và uống nguyên viên viên thuốc còn vỏ có cạnh sắc nhọn Trẻ em thường có thói quen cầm đồ chơi đang chơi hay đồng xu cho vào miệng và nuốt
Răng giả giúp cho người có thể nhai tốt, có tính thẩm mỹ và tự tin khi giao tiếp Đối với người cao tuổi do mất răng hoặc không mang răng giả nên cảm giác ăn uống giảm và khả năng nhai nghiền thức ăn kém làm cho dễ mắc
dị vật Tuy nhiên, một số người có răng giả tháo lắp, do sử dụng thời gian dài răng giả không còn bám chắc vào khung răng nên dễ bị rớt Do đó, trong quá trình ăn uống hoặc ngủ răng giả dễ rơi vào họng hoặc thực quản
Cũng có người có thói quen ngậm tăm xỉa răng sau khi ăn hoặc khi ngủ Đây là thói quen của một số ít người Việt Nam nhưng rất nguy hiểm Chiếc tăm có thể rơi vào đường thở và đường ăn gây khó thở hoặc thủng thực quản, thủng đường tiêu hóa Nguyễn Duy Thắng ghi nhận từ năm 2010 –
2016 có 27 trường hợp dị vật là tăm tre chiếm 20,5% [29] Đây là dị vật có kích thước dài và nhọn nên dễ gây chảy máu và biến chứng nguy hiểm
Một số trường hợp do người bệnh tâm thần hoặc can phạm cho bất cứ vật gì như muỗng nhựa, chìa khóa, hôp quẹt ga ….vào miệng và cố tình nuốt Đối với đối tượng thuộc nhóm trại cai nghiện, can phạm thường gặp dị vật kim loại sắc nhọn [22] Theo nghiên cứu của Zong Y nuốt dị vật do cố ý có 54,44% là dị vật kim loại và nuốt dị vật do vô tình có 91,37% dị vật liên quan đến thức ăn [76]; Conway WC nguyên nhân mắc DVĐA chủ yếu do ăn uống chiếm 75% [44]
Trang 19Các bệnh lý làm hẹp thực quản như túi thừa thực quản, sẹo thực quản, u
trong hoặc ngoài thực quản Ở các nước phương tây khoảng 30% BN có bệnh
lý đường tiêu hóa như viêm thực quản, co thắt thực quản hoặc ung thư thực quản nên tỉ lệ mắc dị vật khối thức ăn gặp nhiều hơn [73]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Tư Thế [24], năm 2005 nguyên nhân mắc dị vật do cười đùa trong khi ăn chiếm 55 %, ăn nhanh nuốt vội 35,3 %, mắc dị vật khi say rượu 6,9 %, ngậm dị vật vô tình nuốt 2,8 % Nghiên cứu của Phạm Thị Kim Dung [7] từ năm 2006 đến năm 2008 tại Bệnh viện đa khoa Nam Định có
59 bệnh nhân dị vật thực quản nguyên nhân mắc dị vật do ngậm dị vật vô tình nuốt là 57,2 %, do lơ đễnh ăn vội vàng là 30,5 %
1.2.2 Tác nhân dị vật đường ăn
Bản chất của dị vật rất đa dạng, từ những dị vật thông thường như xương cá, hạt trái cây, đồng xu đến các dị vật rất đặc biệt như răng giả, quẹt
ga bật lửa
Ở trẻ em, các dị vật thường gặp là đồng xu, mảnh đồ chơi và pin điện
tử Trong đó pin là dị vật rất nguy hiểm nhất vì sẽ gây bỏng và thủng thực quản nếu không được xử trí lấy dị vật sớm
Ở người lớn, dị vật thường gặp là xương cá, xương gà, xương heo Ngoài ra còn có thể gặp viên thuốc còn vỏ, cục thịt, răng giả và các loại hạt Có trường hợp trong 7 ngày BN nuốt nhiều loại dị vật gây tắc nghẽn đường ăn phải can thiệp phẫu thuật lấy dị vật [51]
Nghiên cứu của Trần Minh Trường tác nhân DVĐA chủ yếu là xương động vật chiếm tỉ lệ 79%, răng giả và viên thuốc còn vỏ chiếm 12% [32]
Theo nghiên cứu của Trần Việt Hồng tác nhân DVĐA là xương động vật chiếm 42% trong đó xương cá nhiều nhất [12]
Theo nghiên cứu của Võ Hoàng Cường năm 2014 – 2016 có 137 trường hợp dị vật đường ăn trong đó dị vật hữu cơ chiếm 95,7%, dị vật vô cơ 4,3% [5]
Trang 20Ở Mỹ mỗi năm có khoảng 127.000 người nuốt dị vật, trong đó dị vật là khối thức ăn chiếm tỉ lệ nhiều nhất [42]
Một nghiên cứu của M Diaz – Gomez tác nhân DVĐA chủ yếu là xương
vẫn ăn uống được Khám họng gắp dị vật dễ dàng Tuy nhiên, có trường hợp rất khó lấy do dị vật quá bé như dăm nhỏ, ngắn … [6]
Một số ít trường hợp, khi ăn dị vật sặc từ họng lên mũi thường là những hạt cơm Những dị vật lớn, nhọn, góc cạnh có thể mắc lại hạ họng, xoang lê như xương, hàm răng giả, động vật sống…chưa vào tới thực quản BN nuốt rất đau, không thể ăn, uống được, miệng ứ đọng nhiều nước bọt, nếu dị vật to có thể gây khó thở và tử vong
Dị vật thực quản: về mặt giải phẫu thực quản có 5 điểm hẹp tự nhiên và dị vật có thể hay mắc lại ở những vị trí này [14]
Miệng thực quản cách CRT 14 – 15cm Quai động mạch chủ: cách CRT 22 - 24cm
Trang 21Thực quản ngực cách CRT 21 – 36cm Thực quản bụng cách CRT 37 – 40cm
Nghiên cứu của Nguyễn Tư Thế tại Bệnh viện Trung ương Huế (2005), càng đi xuống sâu dị vật càng ít dần, 81,2% dị vật mắc ở đoạn cổ, 16,7% dị vật mắc ở đoạn thực quản ngực, 2,1% dị vật mắc ở đoạn thực quản bụng [24]
Theo nghiên cứu tình hình dị vật thực quản tại Bệnh viện Chợ Rẫy của Trần Minh Trường (2009), vị trí dị vật ở thực quản cổ nhiều hơn chiếm tỉ lệ 69%,
dị vật thực quản ngực là 31% [32]
Nghiên cứu của Võ Hoàng Cường (2016), vị trí mắc dị vật chiếm tỉ lệ cao nhất là ở họng 73,7%, dị vật thực quản mắc đoạn thực quản cổ chiếm tỉ lệ nhiều nhất là 19,7% [5]
Nghiên cứu của Leong HK tại Bệnh viện Tan Tock Seng Singapore thì dị vật họng miệng chiếm tỉ lệ 50%, dị vật thực quản cổ 11%.[56]
1.3 Các phương pháp xác định dị vật đường ăn
Dựa vào bệnh sử BN có nuốt dị vật, các triệu chứng lâm sàng, khám thực thể và cận lâm sàng để xác định BN có dị vật hay không
1.3.1 Lâm sàng
Tùy theo bản chất của dị vật, BN đến sớm hay muộn mà bệnh cảnh lâm sàng sẽ xảy ra ở các giai đoạn khác nhau [34]
Giai đoạn đầu
Sau khi mắc dị vật, bệnh nhân hay có cảm giác vướng do dị vật, nuốt thức ăn hoặc nuốt nước bọt rất đau, thường không ăn được nữa mà phải bỏ dở bữa ăn và đau ngày càng tăng Đa số BN trong giai đoạn này thường nuốt vài cục cơm hoặc chuối để dị vật trôi xuống dưới Nếu dị vật ở đoạn ngực, bệnh nhân sẽ đau sau xương ức, đau xiên ra sau lưng, lan lên bả vai
Những dị vật tròn, mỏng như đồng xu, nút áo không gây nuốt đau mà chỉ gây cảm giác nghẹn vùng cổ, ở trong ngực
Trang 22Trong trường hợp nuốt phải dị vật to, BN có thể có các triệu chứng ngạt thở, tím tái, nôn ọe do dị vật kẹt lại ở miệng thực quản và tiền đình thanh quản gây ra phản xạ co thắt thanh quản
Giai đoạn hai: sau giai đoạn hóc dị vật 1 – 2 ngày các triệu chứng
viêm nhiễm bắt đầu xuất hiện
Ở giai đoạn này là viêm niêm mạc tại chổ có dị vật và áp xe dưới niêm mạc Dị vật gây trầy sướt niêm mạc, nếu dị vật là xương lẫn thịt thì nhiễm khuẩn diễn ra càng nhanh
BN có hội chứng nhiễm trùng sốt 38 – 39 độ C, hơi thở hôi Nuốt rất đau không ăn được mà chỉ uống nước Ứ đọng nhiều nước bọt ở xoang lê
Vùng cổ có khi sưng nhẹ, tiếng lọc cọc thanh quản cột sống giảm hoặc mất Xquang thực quản – cổ nghiêng có hình ảnh dày khoảng Henke gấp 3 lần bình thường
Giai đoạn ba: có túi mủ ngoài thực quản
Do không điều trị, dị vật làm thủng thực quản Quá trình viêm lan rộng
ra ngoài thực quản gây viêm tấy quanh thực quản, túi mủ ngoài thực quản hoặc áp xe cạnh cổ Ngoài ra có thể gây các biến chứng nặng nề hơn như viêm, áp xe trung thất, viêm mủ màng phổi, thủng các mạch máu lớn
BN sốt cao, thể trạng nhiễm trùng nhiễm độc, không ăn uống được, chảy nước bọt nhiều, hơi thở hôi, quay cổ khó khăn, sưng một bên cổ, máng cảnh đầy
và ấn đau có thể có tràn khí dưới da
Phần lớn các tác giả xác định giai đoạn theo tình trạng nhiễm trùng và chia làm 3 giai đoạn Giai đoạn đầu là ngay sau khi mắc dị vật và chưa viêm nhiễm [25], [34] Theo Nguyễn Tư Thế, Nguyễn Thị Ngọc Dung giai đoạn 2
là giai đoạn viêm nhiễm thường xảy ra sau 24 – 48 giờ sau khi mắc dị vật và giai đoạn 3 là giai đoạn biến chứng [6], [25] Một số tác giả chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu và giai đoạn biến chứng sau 24 – 48 giờ sau khi mắc dị
Trang 23vật [13]
1.3.2 Khám thực thể
Dị vật ở họng khám nhìn trực tiếp có thể thấy dị vật cắm amidan, đáy lưỡi hoặc nội soi họng – thanh quản thấy dị vật cắm vào xoang lê, sụn phễu Trường hợp BN hóc dị vật vào viện muộn có biểu hiện viêm nhiễm nơi tổn thương sưng nề đỏ, có giả mạc bám hoặc có biến chứng viêm tấy amiđan, áp xe thành sau họng
Đối với dị vật thực quản thì dùng ống soi thực quản ống cứng hoặc ống mềm để soi thực quản xác định có dị vật hay không Có thể thấy dị vật trong lòng thực quản, niêm mạc quanh dị vật đỏ phù nề hoặc có nhiều mủ lẫn thức
ăn xung quanh dị vật
1.3.3 Cận lâm sàng
Công thức máu xác định tình trạng viêm nhiễm hay nhiễm trùng của
BN
Chụp X- quang cổ thẳng và nghiêng:
Có thể thấy hình ảnh cản quang của dị vật, vị trí của dị vật
Khoảng Henké dày, có thể có mức nước hơi của túi áp xe
Mất độ cong sinh lý về phía trước của cột sống cổ
Chụp CT Scan cổ - ngực trong trường hợp nặng và khó quan sát được
dị vật [2]
1.4 Các biện pháp sơ cấp cứu ban đầu khi mắc dị vật đường ăn
Người bệnh thông thường không quan tâm nhiều đến mắc dị vật, có người ý thức được khi mắc dị vật cần đến cơ sở y tế hoặc bác sĩ chuyên khoa khám ngay, có người để đến vài ngày sau mới đến khám, có người lại sử dụng một số biện pháp dân gian truyền miệng qua các thế hệ như cố nuốt thức ăn như cơm hoặc chuối sau khi mắc dị vật giúp cho dị vật trôi đi dễ dàng Nếu dị vật không trôi đi sẽ tiếp tục dùng tay móc họng để lấy dị vật
Trang 24Dị vật ở họng chủ yếu các loại xương động vật nhỏ và sắc cắm vào amidan hoặc đáy lưỡi Đa số các trường hợp ngay sau khi hóc dị vật BN xử trí tại nhà bằng các biện pháp khạc mạnh, lấy tay móc họng hoặc ăn uống miếng thật to cho dị vật trôi xuống Theo nghiên cứu Võ Hoàng Cường (2016) các
BN xử trí ban đầu khi mắc dị vật bằng cách sử dụng các biện pháp dân gian như ăn uống thêm thức ăn có tỉ lệ 58,4%, khạc mạnh hy vọng tống dị vật ra có
tỉ lệ 47,8% và móc họng là 23,4% [5]
Những dị vật mắc ở thực quản nguy hiểm hơn dị vật ở họng nên việc lấy tay móc họng hay ăn miếng to để đẩy dị vật xuống càng gây thêm nguy hiểm Việc sơ cấp cứu tại cộng đồng đúng giúp bác sĩ xử trí DVĐA hiệu quả hơn Trong các nghiên cứu trong nước việc đánh giá sơ cấp cứu còn chưa được quan tâm, chỉ một số đề tài đề cập đến vấn đề này như nghiên cứu của Phạm Thị Kim Dung (2009) cho kết quả sơ cấp cứu đúng là 66,1.% [7] Theo nghiên cứu của Phùng Hùng Cường về DVĐA năm 2014, có 127 trường hợp mắc DVĐA
xử trí không đúng trước khi đến bệnh viện chiếm 39,2% [4]
Do đó, khi mắc dị vật, nếu dị vật ở vị trí họng miệng nhìn thấy rõ có thể xử trí sơ cấp cứu ban đầu là nhờ người thân lấy dị vật ngay Trong trường hợp dị vật lớn mắc ở hạ họng hoặc thực quản đến khám bác sĩ chuyên khoa càng sớm càng tốt để xử trí tình trạng mắc dị vật một cách an toàn nhất tránh được các biến chứng do sơ cấp cứu ban đầu không đúng
Mặc dù 80 – 90% DVĐA đi ra ngoài cơ thể theo đường tự nhiên nhưng nếu
dị vật bị mắc lại có thể gây các biến chứng nguy hiểm thậm chí có thể tử vong nếu như chẩn đoán và điều trị muộn [38]
1.5 Các phương pháp xử trí và điều trị dị vật đường ăn
1.5.1 Các phương pháp xử trí dị vật đường ăn
Dị vật họng miệng và họng thanh quản: xử trí lấy dị vật trực tiếp hay nội soi họng thanh quản lấy dị vật [55] Dùng lidocain 10% xịt họng trước khi
Trang 25soi lấy dị vật đối với các trường hợp có phản xạ nôn ói
Dị vật thực quản: soi thực quản là một phương pháp để chẩn đoán và điều trị lấy dị vật Có nhiều cách khác nhau để lấy dị vật gồm không nội soi
và phương pháp soi ống mềm hoặc ống cứng lấy dị vật
Soi thực quản ống cứng: là phương pháp được dùng để lấy dị vật
thực quản [3] Nó được xem là tiêu chuẩn vàng trong điều trị dị vật Trong những trường hợp khi đường thở BN bị nguy hiểm do dị vật, việc dùng ống soi cứng lấy dị vật là tốt nhất [49] Dụng cụ thường dùng là ống nội soi cứng Chevalier- Jackson, nó có ưu điểm quan sát được toàn bộ lòng thực quản và di vật, có sự đa dạng về kiểu và kích thước dụng cụ, có thể kiểm tra lại trực tiếp lòng thực quản sau khi lấy dị vật, không nguy hiểm và tỉ lệ thành công cao 95 - 100% [8],[39]
Soi thực quản ống mềm: phương pháp này tuy không phải là tốt
nhất và phổ biến nhất, nhưng nó cũng được nhiều nơi và nhiều tác giả lựa chọn, nó có ưu điểm là có thể làm dưới sự tiền mê và không cần đặt nội khí quản, thường được dùng để loại bỏ dị vật ở đoạn dưới thực quản đến dạ dày
và tá tràng, chi phí thấp [44] Tỉ lệ lấy dị vật thành công trong nghiên cứu của Đinh Tất Thắng là 95,1% [28] Theo kết quả nghiên cứu của Dương Minh Thắng từ năm 2010 – 2016 có 4/186 trường hợp lấy dị vật thất bại chiếm 2,2% gồm 2 ca khối thức ăn, 1 dị vật nhiều cạnh sắc nhọn và 1 cung răng giả dài [27]
Lấy dị vật bằng xông Foley: trong trường hợp dị vật tròn, trơn
nhẵn, không góc cạnh (đồng xu, đồ chơi) Kỹ thuật này đòi hỏi phẫu thuật viên có kinh nghiệm, chủ yếu lấy dị vật đồng xu ở trẻ em và không thường dùng cho người lớn [48] Theo nghiên cứu của Long B tỉ lệ lấy dị vật thành công bằng xông foley là 88% và tần suất biến chứng thấp [57] Patrick và cộng sự thì tỉ lệ thành công lấy dị vật bằng xông Foley là >90% nhưng có thể
Trang 26gặp biến chứng co thắt thanh quản, thủng thực quản hoặc thậm chí tử vong [61]
Phẫu thuật mở thực quản lấy dị vật: khi dị vật lớn không lấy đường tự nhiên được hoặc khi thực quản viêm tấy và thủng Tùy theo vị trí dị vật mà xử trí phẫu thuật mở thực quản cổ hoặc ngực Nghiên cứu của Trần Minh Trường
về kết quả lấy dị vật thực quản tại Bệnh viện Chợ Rẫy có 3 trường hợp xương gia cầm nằm sát động mạch chủ phải tiến hành mở thực quản lấy dị vật [32]
Phẫu thuật mở cạnh cổ hoặc lồng ngực: khi dị vật không thể lấy qua soi thực quản hoặc có biến chứng áp xe cạnh cổ, áp xe trung thất, tổn thương mạch máu Nghiên cứu của Trương Minh Quý năm 2016 – 2018 có 42 BN dị vật thực quản ở giai đoạn biến chứng Trong đó, 47,9% BN phải can thiệp phẫu thuật mở cạnh cổ, mở lồng ngực [21] Yang M.C ghi nhận 1 trường hợp mắc xương cá 2 tuần có biến chứng viêm trung thất phải can thiệp mở lồng ngực lấy dị vật [72]
1.5.2 Các biến chứng của dị vật đường ăn
Biến chứng do sơ cấp cứu không đúng gây ra:
DVĐA là cấp cứu của chuyên ngành Tai Mũi Họng (TMH), việc cấp cứu
và xử trí đúng sẽ giải quyết tốt cho bệnh nhân mà không để lại di chứng hay biến chứng Tuy nhiên trong thực tế biến chứng do xử trí sơ cấp cứu không đúng cũng còn chiếm tỷ lệ tương đối lớn, một số biến chứng thường gặp như: Nhiễm trùng:
Chảy máu do móc họng nôn ói hay cố ăn thêm thức ăn cứng
Viêm thực quản hay áp xe thực quản hay trung thất do đến muộn:
Trang 27Thể trạng nhiễm trùng nhiễm độc
viêm tấy lan tỏa vùng cổ hoặc có tràn khí dưới da
hình ảnh mức nước mức hơi ở vùng thực quản cổ, tràn khí vùng cổ-ngực, tràn khí vùng trước cột sống cổ, có thể thấy hình ảnh dị vật nếu cản quang
Tổn thương phổi, màng phổi: hay gặp viêm màng phổi mủ: sốt cao, đau ngực, khó thở, khám có hội chứng ba giảm, X-Q phổi thẳng có hình ảnh tràn dịch màng phổi, chọc dò màng phổi có mủ
Rò thực quản hô hấp: BN ăn hoặc uống bị ho và sặc Chẩn đoán xác định bằng chụp thực quản có cản quang Trên thực tế biến chứng này hiếm gặp Thủng mạch máu lớn: do dị vật sắc nhọn đâm trực tiếp hoặc do quá trình viêm lan dần làm thủng những động mạch lớn như: động mạch cảnh gốc, thân động mạch cánh tay đầu, quai động mạch chủ gây ra chảy máu khủng khiếp vào thực quản Biến chứng này thường xuất hiện muộn và đột ngột BN ộc ra máu tươi, ít khi có triệu chứng báo trước như khạc ra mủ lẫn máu một vài ngày trước, tiên lượng nặng và tỷ lệ tử vong cao
Biến chứng do soi lấy dị vật gây ra:
Trong y học biến chứng do thầy thuốc gây ra ngoài ý muốn cũng chiếm tỷ
lệ trong biến chứng của bệnh, có những biến chứng nếu thầy thuốc cẩn thận thì
có thể hạn chế được Tuy nhiên trong chừng mực nào đó thì thế giới vẫn chấp nhận một tỷ lệ biến chứng nhất định do thầy thuốc gây ra Trong quá trình soi lấy dị vật đường ăn có thể xảy ra một số biến chứng như:
Trầy sướt niêm mạc họng, thực quản: nuốt đau trong vài ngày rồi hết Chảy máu: do dị vật sắc nhọn
Thủng thực quản: nơi dễ thủng nhất là hạ họng và trên cơ hoành
Trang 28Tổn thương mô, mạch máu vùng họng thực quản
Theo nghiên cứu của Wu W.T 97% nuốt dị vật do tai nạn và tỉ lệ biến chứng do dị vật 15 – 42% Biến chứng nhẹ thường gặp nhất như phù nề niêm mạc, trầy sướt và biến chứng nặng như thủng thực quản hoặc chảy máu có tỉ lệ 0,5 – 7,5% [71]
1.6 Tình hình nghiên cứu về dị vật đường ăn
DVĐA đã có từ lâu và đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu
1.6.1 Các nghiên cứu trong nước
Năm 2005 Nguyễn Tư Thế đánh giá dịch tễ và đặc điểm lâm sàng dị vật đường ăn đến khám và điều trị tại Khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Trung ương Huế Có 218 trường hợp DVĐA trong đó 54 trường hợp có biến chứng chiếm 24,8% [24]
Năm 2009 Phạm Thị Kim Dung nhận xét kết quả điều trị và chăm sóc người bệnh dị vật thực quản tại Khoa tai mũi họng Bệnh viện đa khoa Nam Định Có 33,9% xử trí ban đầu khi mắc dị vật trước khi vào viện như móc họng, cố nuốt thức ăn và chữa mẹo theo dân gian [7]
Năm 2012 Lương Thị Minh Hương, Trần Thanh Hải đánh giá đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị dị vật thực quản bằng ống soi mềm tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương Dị vật hữu cơ chiếm 89,58% hầu hết có nguồn gốc động vật và 97,92% soi gắp dị vật không có biến chứng; 2,08% có biến chứng chợt niêm mạc thực quản chảy máu do dị vật sắc nhọn [13]
Năm 2013 Trần Việt Hồng nhận xét tình hình dị vật thực quản và kết quả điều trị tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định BN DVĐA vào viện ngày đầu chiếm 76,8%, 1,2% vào viện ngày thứ 6 có biến chứng áp xe trung thất [12]
Năm 2014 Phùng Hùng Cường nghiên cứu tình hình dị vật đường ăn
Trang 29đến khám tại phòng khám Tai Mũi Họng Bệnh viện Mắt Tai Mũi Họng Răng Hàm Mặt An Giang DVĐA có biến chứng chiếm 29% trong đó 80,9% biến chứng viêm nhiễm, 12,8% có biến chứng chảy máu, 5,3% có biến chứng áp xe và 1,1% có biến chứng thủng thực quản [4]
Năm 2016 Võ Hoàng Cường nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị dị vật đường ăn tại Bệnh viện trung ương Huế và
giai đoạn chưa viêm chiếm 90,5%, giai đoạn viêm chiếm 8%, giai đoạn biến chứng 1,5% [5]
Năm 2018 Đặng Quốc Thái nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị dị vật thực quản tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ Có 76,67% trường hợp vào viện trước 24 giờ và 22,22% ở giai đoạn viêm nhiễm Trong các loại dị vật thì xương cá chiếm tỉ lệ cao nhất 46,6% [23]
Nghiên cứu của Võ Thị Kim Anh về DVĐA tại Trung tâm y tế thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018 có 67 trường hợp DVĐA Trong đó xương động vật chiếm 95,51% và 31,7% đến bệnh viện sau khi mắc dị vật 3 – 5 ngày [1]
1.6.2 Các nghiên cứu ngoài nước
Chevalier-Jackson là người tìm ra phương pháp và dụng cụ lấy dị vật Trong 75 năm, ông đã thu thập được 2374 dị vật đường thở và đường ăn [45]
Năm 1998 Al-Qudah A và cộng sự đã dùng xông Foley để lấy dị vật thực quản cho 25 trường hợp và thành công 21/25 trường hợp chiếm 84% [37]
M Diaz-Gomez và cộng sự nghiên cứu 2011 – 2012 có 71 trường hợp
dị vật đường ăn, 95% do tai nạn trong khi ăn uống và xương động vật chiếm 59% [58]
Trang 30Nghiên cứu của Zhong Qian và cộng sự từ năm 2012 đến 2016 có 1058 trường hợp dị vật thực quản, xương cá chiếm tỉ lệ nhiều nhất và 0,7% cần can thiệp phẫu thuật [75]
Theo báo cáo của Kim HU, nguy cơ gia tăng biến chứng nếu dị vật lưu giữ >24 giờ Thủng thực quản do nuốt dị vật chiếm 1 – 4% trong các trường hợp và thủng thực quản do xương cá xảy ra >50% trường hợp [53]
Theo ghi nhận của Karadas S và cộng sự năm 2016 có trường hợp thực quản bị tắc nghẽn do nuốt nhiều dị vật như nút áo, gấu Teddy, đổ chơi xe hơi phải tiến can thiệp phẫu thuật lấy dị vật [51]
Năm 2020 Feng Shui và cộng sự nghiên cứu hồi cứu 130 trường hợp dị vật sắc nhọn ở thực quản của người lớn Các biến chứng do dị vật gây ra như trầy xước niêm mạc họng và thực quản (66,9%), chảy máu (40%), áp xe họng – thực quản 11,5% [47]
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân > 15 tuổi có mắc DVĐA đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang
Thời gian ngiên cứu: từ tháng 4/2020 đến tháng 5/2021
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
BN không đồng ý tham gia nghiên cứu
BN có mắc dị vật nhưng khi khám họng, nội soi hạ họng không thấy dị vật, Xquang không có hình ảnh cản quang và soi thực quản không có dị vật
BN có dị vật đã rơi xuống dạ dày hoặc ruột
BN mắc DVĐA có kèm theo bệnh ung thư thực quản, ung thư họng – thanh quản
Trang 322.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang
- p = 94,44% là tỷ lệ điều trị thành công dị vật đường ăn của Đặng Quốc Thái [23]
- d: sai số tương đối cho phép = 0,05
Áp dụng vào công thức ta có :
Vậy ta có cỡ mẫu ít nhất là 82, trong thực tế chúng tôi nghiên cứu 91 bệnh nhân
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện thỏa tiêu chí chọn mẫu và tiêu chí loại trừ
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Giới tính: xác định tỉ lệ nam mắc DVĐA và nữ mắc DVĐA
Tuổi: chia làm 3 nhóm tuổi như sau
Trang 33Tuổi trung bình bệnh nhân mắc DVĐA
Địa dư: nơi sống được chia 2 làm nhóm
Nghề nghiệp:
nước, được hưởng lương hàng tháng, có trong biên chế hoặc hợp đồng với nhà nước
ruộng, làm vườn, chăn nuôi, thủy hải sản), buôn bán (là những người bán sản phẩm tại nhà, tại chợ, tại khắp nẻo đường để kiếm lời), nội trợ (là những người làm công việc tại gia đình như nấu ăn, chăm sóc con, giặt quần áo…), làm thợ (thợ hàn, thợ may )
Tiền sử:
2.2.4.2 Tỉ lệ và các biện pháp được sơ cấp cứu ban đầu
Sơ cấp cứu ban đầu tại cộng đồng khi mắc dị vật trước khi vào Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang được chia làm 2 nhóm và xác định tỉ lệ:
Có xử trí sơ cấp cứu ban đầu khi mắc dị vật tại cộng đồng trước khi vào bệnh viện
Không có xử trí sơ cấp cứu ban đầu khi mắc dị vật tại cộng đồng trước khi vào viện
Tình trạng BN sau khi mắc DVĐA: được chia 2 nhóm
Nhóm 1: tiếp tục ăn uống bình thường
Nhóm 2: không ăn uống được hoặc ngưng bỏ bữa ăn
Trang 34Thời điểm xử trí sơ cấp cứu ban đầu tại cộng đồng:
Khi mắc DVĐA lúc nào xử trí sơ cấp cứu ban đầu:
Nhóm 1: ngay sau khi mắc dị vật
Nhóm 2: sau khi ăn uống xong
Nơi xử trí sơ cấp cứu tại cộng đồng: được chia 3 nhóm
Nhóm 1: tại nhà
Nhóm 2: tại quán ăn, nhà hàng là nơi chế biến và phục vụ các món ăn, thức uống cho khách hàng tại chỗ
Nhóm 3: cơ sở y tế, phòng mạch
Nhóm 4: cơ quan, công ty…
Các biện pháp xử trí sơ cấp cứu ban đầu khi mắc dị vật đường ăn nhằm cho dị vật rơi ra hoặc trôi xuống dạ dày
Các biện pháp BN dùng để xử trí sơ cấp cứu ban đầu tại cộng đồng khi mắc DVĐA như:
BN tự móc họng nôn ói cố đẩy dị vật ra
BN ăn thêm thức ăn, uống nước
BN khạc mạnh để dị vật rơi ra
BN dùng tay vuốt cổ để dị vật trôi xuống
BN dùng dụng cụ để lấy dị vật
BN đến cơ sở y tế hoặc khám bác sĩ chuyên khoa
Thời gian mắc dị vật đường ăn là thời gian từ khi mắc dị vật đến khi vào bệnh viện được ghi nhận như sau
Trang 352.2.4.3 Nguyên nhân, tác nhân, vị trí và các giai đoạn của dị vật đường ăn
Hoàn cảnh xảy ra làm mắc DVĐA do vô tình hay cố ý trong lúc ăn uống hay sinh hoạt như:
Ăn nhanh, nuốt vội
Cười đùa trong lúc ăn
Say rượu ăn thức ăn lẫn xương hoặc ăn khối thịt gân không nhai
rồi nuốt
Ngậm dị vật vô tình hóc
Mắt nhìn mờ
Răng giả hay mất răng
Nguyên nhân khác: tâm thần, tự tử…
Tác nhân dị vật đường ăn: tìm hiểu về tỉ lệ các loại dị vật và bản chất của các
dị vật gặp trong nghiên cứu
Hữu cơ: xương gà, xương vịt, xương cá, khối thịt…
Vô cơ: tăm, viên thuốc còn vỏ, răng giả, mảnh kim loại,…
Vị trí dị vật đường ăn: tìm hiểu các vị trí mắc của DVĐA và vị trí nào của DVĐA có tỉ lệ chiếm nhiều nhất
Họng miệng: dị vật cắm vào các vị trí như Amidan, đáy lưỡi, rãnh lưỡi thanh thiệt
Họng thanh quản: dị vật cắm vào sụn phễu, xoang lê
Thực quản: xác định vị trí dị vật cắm vào thực quản và vị trí theo phân chia đoạn thực quản của cấu trúc giải phẫu [14]
Thực quản cổ cách CRT 15 – 20cm Thực quản ngực cách CRT 21 – 36cm Thực quản bụng cách CRT 37 – 40cm
Trang 36Các giai đoạn của dị vật đường ăn [34]:
Giai đoạn chưa viêm nhiễm: sau khi nuốt dị vật BN có các triệu chứng vướng họng, khó nuốt, nuốt đau Nếu dị vật to có thể cảm giác nôn ói, nặng vùng cổ
Giai đoạn viêm nhiễm:
Các triệu chứng viêm nhiễm xuất hiện và viêm niêm mạc tại chỗ có
dị vật
Hội chứng nhiễm trùng: sốt 38 – 39 độ C
BN nuốt rất đau, họng ứ đọng nước bọt
Niêm mạc quanh dị vật đỏ, phù nề có giả mạc bám
Giai đoạn biến chứng:
Hội chứng nhiễm trùng, sốt 39 – 40 độ, hơi thở hôi, nuốt đau ngày càng tăng dần, quay cổ hạn chế
Sưng nề vùng họng hoặc cổ và không ăn uống được
Viêm tấy hoặc áp xe thành họng
Thủng thực quản: xác định qua soi thực quản thấy thủng thành thực quản
Viêm tấy hoặc áp xe cổ
Viêm mủ màng phổi: sốt cao, đau ngực, khó thở, khám có hội chứng ba giảm Xquang phổi có hình ảnh tràn dịch màng phổi
Viêm trung thất hoặc áp xe trung thất: do mủ lan từ vùng cổ xuống,
có triệu chứng đau sau xương ức và khó thở
Thủng mạch máu lớn: thường xuất hiện muộn và đột ngột BN ộc ra máu tươi ít khi có triệu chứng báo trước Có thể do dị vật đâm trực tiếp hoặc do viêm nhiễm làm thủng mạch máu lớn
Tìm hiểu tuổi trung bình mắc DVĐA và theo các giai đoạn của DVĐA
Tìm hiểu tỉ lệ các giai đoạn của DVĐA theo phân bố địa dư
Trang 37Xác định tỉ lệ giữa sơ cấp cứu ban đầu và các giai đoạn của DVĐA
Tỉ lệ giữa thời gian từ khi mắc dị vật đến khi vào viện theo các giai đoạn của DVĐA
2.2.4.4 Đánh giá kết quả xử trí và điều trị dị vật đường ăn
Phương pháp xử trí lấy dị vật: tùy vào vị trí dị vật mắc có thể dùng các phương
pháp như sau
Lấy dị vật trực tiếp
Lấy dị vật qua nội soi họng thanh quản
Soi thực quản ống cứng
Can thiệp phẫu thuật: rạch áp xe họng, mở cạnh cổ
Thời gian điều trị:
Thời gian điều trị theo ngày và thời gian trung bình khi mắc DVĐA
Thời gian điều trị trung bình ở giai đoạn chưa viêm
Thời gian điều trị trung bình ở giai đoạn viêm
Thời gian điều trị trung bình ở giai đoạn biến chứng
Kết quả điều trị:
Kết quả điều trị tốt: soi lấy được dị vật Sau soi lấy dị vật BN ăn uống bình thường qua đường miệng không đau BN không còn tình trạng viêm nhiễm Xquang thực quản - cổ nghiêng bình thường
hơn hoặc tử vong
Biến chứng sau lấy dị vật:
Co thắt thanh quản gây khó thở trong trường hợp soi tiền mê hoặc phù nề thanh môn do sang chấn
Trầy xước, rách niêm mạc họng hoặc thực quản: nuốt đau trong vài ngày rồi hết
Chảy máu: do dị vật sắc nhọn
Trang 38Thủng thực quản: nơi dễ thủng nhất là hạ họng và trên cơ hoành
Đánh giá kết quả điều trị là kết quả được ghi nhận cuối cùng sau đợt điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang theo các nội dung đã đưa ra như trên
2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu
2.2.5.1 Phương tiện nghiên cứu
Phiếu bộ câu hỏi phỏng vấn (phụ lục 1)
chuyển đến chuyên khoa
như: ăn thêm thức ăn, khạc mạnh, móc họng nôn ói, dùng dụng cụ lấy dị vật
đồng
trong lúc ăn hoặc răng giả tháo rời bị rơi trong khi nhai thức ăn…
bình thường hay ngưng bỏ bữa ăn
Nội soi họng thực hiện tại phòng khám Tai Mũi Họng và soi thực quản tại khoa phẫu thuật gây mê hồi sức Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang
Dụng cụ khám tai mũi họng gồm đèn Clar, đè lưỡi, banh mũi, kẹp khuỷu, kẹp gắp dị vật Fraenkel, ống hút các loại, máy hút
Trang 39Máy chụp Xquang và CT Scanner thực hiện tại khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang
Hệ thống soi thực quản ống cứng của Chevalier Jackson:
Máy nội soi Karl Storz
Ống soi cứng dài 25cm và 40cm
Nguồn sáng lạnh Halogen
Máy hút và ống hút
Các loại kềm gắp dị vật
Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân
Hệ thống nội soi chấn đoán tai mũi họng Karl Storz của Đức
Các ống nội soi 0 độ, 30 độ và 70 độ
Dây dẫn sáng, camera và màn hình
Hình 2.1 Hệ thống soi thực quản và dụng cụ lấy dị vật của Karl Storz
Trang 402.2.5.2 Phương pháp tiến hành
Hướng dẫn các điều tra viên lấy thông tin và ghi nhận các chỉ tiêu nghiên
cứu vào phiếu thu thập số liệu đã lập sẵn (Phụ lục 1) như sau:
Thông tin hành chánh của BN như họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú
Hỏi bệnh sử, lý do vào viện, tiền sử mắc dị vật, hoàn cảnh mắc dị vật, thời gian mắc dị vật Khi mắc DVĐA xử trí như thế nào trước khi vào bệnh
viện
Xử trí lấy dị vật bằng các phương pháp khác nhau tùy thuộc vào vị trí dị
vật Các phương pháp được áp dụng để lấy dị vật đó là:
Đối với dị vật họng miệng – họng thanh quản: lấy dị vật trực tiếp qua đèn Clar hay qua máy nội soi tai mũi họng quan sát họng – thanh quản để lấy
dị vật
Soi thực quản ống cứng lấy dị vật:
Phương pháp vô cảm là tiền mê hoặc mê nội khí quản tùy thuộc vào tình trạng BN, vị trí và bản chất dị vật
BN được giải thích và dặn nhịn ăn uống trước soi 6 giờ [3]
Dùng ống soi cứng Chevalier- Jackson đi xuống hạ họng vừa đi vừa quan sát, tìm sụn thanh thiệt, vén sụn thanh thiệt đi sau 2 sụn phễu và đi qua miệng thực quản Sau đó tiếp tục từ từ đi xuống theo ống thực quản vừa đi vừa quan sát tránh đi quá nhanh dễ lướt qua bỏ sót dị vật
Khi tìm thấy dị vật tiến hành lấy dị vật Sau khi lấy dị vật soi kiểm tra đánh giá tổn thương niêm mạc ống thực quản và nơi dị vật cắm vào
Trường hợp áp xe dưới niêm mạc thực quản, sau khi lấy dị vật ra, tiến hành hút sạch mủ và ăn qua ống thông dạ dày Bệnh nhân được theo dõi cho đến khi hết đau, ăn uống bình thường