1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình và nhu cầu đào tạo bác sỹ y học gia đình tại các tỉnh vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2008 2025 bs dương hoàng thành; cộng sự ths thái thị ngọc thúy, bs

66 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình và nhu cầu đào tạo bác sỹ y học gia đình tại các tỉnh vùng đồng bằng sông cửu long giai đoạn 2008 2025 bs dương hoàng thành
Tác giả BS. Dương Hoàng Thành, Ths. Thái Thị Ngọc Thúy, BS. Phạm Hữu Lý
Người hướng dẫn TS. BS. Nguyễn Minh Phương
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y học gia đình
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 4,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Chăm sóc ban đầu và Y học gia đình (14)
    • 1.2. Vai trò của Y học gia đình trong hệ thống y tế (17)
    • 1.3. Phát triển đào tạo chuyên ngành Y học gia đình tại Việt Nam (19)
    • 1.4. Phát triển nguồn nhân lực Y học gia đình (24)
    • 1.5. Thách thức trong phát triển Y học gia đình (25)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (27)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (27)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (27)
    • 2.3. Vấn đề y đức trong nghiên cứu (29)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Tình hình đào tạo bác sỹ Y học gia đình tại Trường ĐHYD Cần Thơ giai đoạn (30)
    • 3.2. Nhu cầu đào tạo bác sỹ Y học gia đình trong phát triển nguồn nhân lực tại các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2020-2025…………………………………………………. 24 3.3. Thực trạng triển khai mô hình bác sỹ Y học gia đình tại các tỉnh khu vực (35)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (40)
    • 4.1. Tình hình đào tạo bác sỹ Y học gia đình tại Trường ĐHYD Cần Thơ giai đoạn (40)
    • 4.2. Nhu cầu đào tạo bác sỹ Y học gia đình trong phát triển nguồn nhân lực tại các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2020-2025 (42)
    • 4.3. Thực trạng triển khai mô hình bác sỹ Y học gia đình tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (43)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (52)
  • PHỤ LỤC (60)

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO BÁC SỸ Y HỌC GIA ĐÌNH TẠI CÁC TỈNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Mục tiêu 1: Hồ sơ quản lý số liệu bác sỹ được đào tạo chuyên khoa cấp

I YHGĐ và ngắn hạn tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Mục tiêu 2 và 3: Cán bộ quản lý công tác đào tạo nhân lực tại sở y tế các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Thời gian: từ tháng 1/2020 đến tháng 11/2021

Mục tiêu 1: Tất cả hồ sơ của học viên đã được đào tạo chuyên khoa cấp

I YHGĐ và ngắn hạn tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ năm 2008-2019, mẫu là danh sách học viên

Mục tiêu 2 và 3: Một cán bộ quản lý công tác đào tạo nhân lực được sở y tế đề cử, đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu số liệu bác sỹ được đào tạo từ năm

Kết hợp nghiên cứu định tính về tình hình đào tạo, nhu cầu và các rào cản trong phát triển nguồn nhân lực bác sỹ gia đình tại các tỉnh ĐBSCL

Tất cả các trường hợp thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu

Mục tiêu 1: Tất cả hồ sơ học viên đã được đào tạo chuyên khoa cấp I YHGĐ và ngắn hạn tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ năm 2008-2019

Mục tiêu 2 và 3: Mỗi tỉnh chọn một cán bộ quản lý công tác đào tạo nhân lực

Mẫu được thu thập với phương pháp chọn mẫu thuận tiện

Số lượng bác sỹ gia đình thuộc các tuyến thuộc khu vực Đồng bằng Sông

Cửu Long được đào tạo chuyên khoa cấp I và cơ bản tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ giai đoạn 2008-2019

Nhu cầu đào tạo bác sỹ gia đình tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2020 – 2025

Những rào cản trong phát triển nguồn nhân lực BSGĐ tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2020 – 2025

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

Phiếu điều tra nghiên cứu: phiếu thu thập số liệu

Một số dụng cụ khác hỗ trợ cho việc nghiên cứu như: máy vi tính, máy chụp ảnh, máy ghi âm, điện thoại

2.2.5.2 Các bước tiến hành nghiên cứu

Tiến hành điều tra số liệu đào tạo bác sỹ gia đình ở phòng Đào tạo sau đại học, Trung tâm dịch vụ và đào tạo theo nhu cầu xã hội, giáo vụ sau đại học của bộ môn Y học gia đình Nhằm xác định số lượng bác sỹ gia đình thuộc các tuyến thuộc khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long được đào tạo chuyên khoa cấp

I và cơ bản tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ giai đoạn 2008-2019

Chúng tôi gửi mail khảo sát qua công cụ google form và thực hiện phỏng vấn đại diện cán bộ quản lý công tác đào tạo nhân lực tại sở y tế các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long để tìm hiểu về hai nội dung chính:

- Xác định nhu cầu đào tạo bác sỹ gia đình tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2020 – 2025

- Tìm hiểu rào cản trong phát triển nguồn nhân lực BSGĐ tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2020 – 2025

Phỏng vấn do giảng viên Bộ môn YHGĐ dựa trên bản hướng dẫn phỏng vấn Chúng tôi sử dụng băng ghi âm và gỡ băng để đảm bảo không bỏ sót thông tin

2.2.6 Phương pháp xử lý và thu thập số liệu

Số liệu được mã hoá, xử lý trên máy vi tính, sử dụng phần mềm Excel

Số liệu được phân tích thủ công, thông qua các bước gỡ băng, mã hóa, phân tích trong ma trận phần mềm Excel Phân tích số liệu được tiến hành song song với quá trình thu thập dữ liệu

Trình bày kết quả dưới dạng đoạn văn bản, bảng, hình, biểu đồ.

Vấn đề y đức trong nghiên cứu

Đảm bảo tính tự nguyện tham gia, quyền tự rút lui khỏi nghiên cứu của đối tượng khi tham gia vào nghiên cứu Nghiên cứu viên cần xin phép phỏng vấn và ghi âm lúc phỏng vấn Người được phỏng vấn không cần nêu tên trong quá trình phỏng vấn hoặc thảo luận Thông tin được giữ bí mật bởi nhà nghiên cứu và không công bố họ tên người tham gia nghiên cứu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tình hình đào tạo bác sỹ Y học gia đình tại Trường ĐHYD Cần Thơ giai đoạn

3.1.1 Đào tạo Y học gia đình cơ bản

Bảng 3.1 Số lượng bác sỹ của các tỉnh ĐBSCL được đào tạo Y học gia đình cơ bản tại trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ năm 2015- 2019

Nhận xét: Bảng 3.1 cho thấy số lượng bác sỹ được đào tạo Y học gia đình cơ bản chỉ mới tập trung ở một số tỉnh nhất định, với tổng số là 729 Bs trong vòng 5 năm, trung bình mỗi năm khoảng 146 Bs Trong đó, tỉnh có số Bs được đào tạo Y học gia đình cơ bản nhiều nhất là An Giang (255 Bs, chiếm 35% tổng số đào tạo), tiếp đến là Đồng Tháp (159 Bs, chiếm 21,8% tổng số đào tạo), và Cà Mau (140 Bs, chiếm 19,2% tổng số đào tạo) Bên cạnh đó, theo số liệu hàng năm cho thấy, số lượng bác sỹ được đào tạo Y học gia đình cơ bản nhiều nhất trên toàn khu vực là vào năm đầu tiên tổ chức loại hình đào tạo này

- năm 2015 (297 Bs, chiếm 40,7% tổng số đào tạo) Trong năm này chỉ có 2 tỉnh đăng ký tham gia loại hình đào tạo này là An Giang (255 Bs) và Đồng Tháp (42 Bs) Tính đến thời điểm làm nghiên cứu, trong khu vực, còn 6 tỉnh chưa có số lượng bác sỹ tham gia loại hình đào tạo này là Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, Bến Tre và Sóc Trăng

3.1.2 Đào tạo bác sỹ chuyên khoa cấp I Y học gia đình

Bảng 3.2 Số lượng bác sỹ của các tỉnh ĐBSCL được đào tạo chuyên khoa cấp I Y học gia đình tại trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ 2008-2019

Nhận xét: Bảng 3.2 cho thấy số bác sỹ chuyên khoa cấp I YHGĐ được đào tạo phân bố đều hầu hết ở các tỉnh khu vực ĐBSCL với tổng số là 663 Bstrong vòng 12 năm từ 2008 - 2019 Trong đó, số lượng bác sỹ CKI được đào tạo nhiều nhất ở các tỉnh Cà Mau (192 Bs, chiếm 29% tổng số đào tạo), Đồng Tháp (87

Bs, chiếm 13,1%) và Sóc Trăng (81 Bs, 12,2%) Bên cạnh đó, theo số liệu hàng năm cho thấy, số lượng bác sỹ CKI được đào tạo nhiều nhất trên toàn khu vực là vào năm 2013 (142 Bs, chiếm 21,4% tổng số đào tạo) với số lượng các bác sỹ nhiều nhất đến từ các tỉnh Cà Mau, An Giang, Vĩnh Long và Sóc Trăng Trung bình có 55 Bs CKI được đào tạo mỗi năm trên toàn khu vực

3.1.3 Sự phân bố theo tuyến công tác của bác sỹ khu vực ĐBSCL được đào tạo Y học gia đình tại Trường ĐHYD Cần Thơ

Bảng 3.3 Sự phân bố nơi làm việc theo tuyến của các bác sỹ gia đình các tỉnh ĐBSCL được đào tạo tại Trường ĐHYD Cần Thơ

Nhận xét: Bảng 3.3 cho thấy tổng số Bs được đào tạo là 1392 Bs, nhiều nhất là Cà Mau (332 Bs), An Giang (299 Bs), và Đồng Tháp (246 Bs) Về phân bố bác sỹ được đào tạo tại các tuyến, tuyến xã/phường/phòng mạch tư chiếm nhiều nhất (630 Bs, chiếm 45%), kế đến là tuyến huyện (538 Bs, chiếm 38%), còn lại

Tuyến công tác và loại hình đào tạo

Tuyến xã Tuyến huyện Tuyến tỉnh

24 tuyến tỉnh (224 Bs, chiếm 17%) Cơ cấu trung bình này có sự khác biệt ở một số tỉnh Điển hình, Cà Mau là tỉnh có 112 bác sỹ CKI phân bố ở tuyến xã/phường/phòng mạch tư và 112 Bác sỹ CKI phân bố tuyến huyện chiếm tỷ lệ cao nhất Riêng về tuyến tỉnh thì số lượng tập trung nhiều nhất ở tỉnh An

Giang với 10 Bác sỹ CKI và 100 Bác sỹ đào tạo YHGĐ cơ bản.

Nhu cầu đào tạo bác sỹ Y học gia đình trong phát triển nguồn nhân lực tại các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2020-2025………………………………………………… 24 3.3 Thực trạng triển khai mô hình bác sỹ Y học gia đình tại các tỉnh khu vực

lực tại các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2020-2025

Bảng 3.4 Nhu cầu đào tạo tại các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2020-2025

Tổng CKI CB CKI CB CKI CB CKI CB CKI CB CKI CB

Nhận xét: Bảng 3.4 cho thấy, nhu cầu đào tạo BSGĐ ở các tỉnh thuộc ĐBSCL trong giai đoạn 2020-2025 là 1036 Bs Trung bình khoảng 172 Bs mỗi năm Tỉnh có nhu cầu đào tạo nhiều nhất trong giai đoạn 6 năm này là Kiên

Giang (405 Bs), xếp theo sau là 2 tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng với số lượng lần lượt là 180 và 100 Bs Tỉnh có nhu cầu đào tạo thấp nhất là Tiền Giang (12 Bs)

3.3 Thực trạng triển khai mô hình bác sỹ Y học gia đình tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Sau khi gửi phiếu khảo sát 13 cán bộ quản lý việc đào tạo nhân lực ở 13 tỉnh khu vực ĐBSCL, chúng tôi ghi nhận kết quả như sau:

3.3.1 Khảo sát về chương trình đào tạo bác sỹ gia đình tại Trường Đại học

Bảng 3.5 Khảo sát sự hài lòng về chương trình đào tạo bác sỹ CKI

Mục tiêu chương trình đào tạo 5 (38) 8 (62) 0 0 0 100

Giảng viên 6 (46) 7 (54) 0 0 0 100 Đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh 8 (62) 5 (38) 0 0 0 100

Nhận xét: Kết quả khảo sát sự hài lòng ở các tiêu chí đều chiếm tỷ lệ cao, 100% từ chương trình đào tạo, mục tiêu đào tạo, phương pháp giảng dạy và giảng viên

Bảng 3.6 Khảo sát sự hài lòng về chương trình đào tạo YHGĐ cơ bản

Rất không hài lòng Chương trình đào tạo 9 (69) 4 (31) 0 0 0 100

Mục tiêu chương trình đào tạo 9 (69) 4 (31) 0 0 0 100

Giảng viên 6 (46) 7 (54) 0 0 0 100 Đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh 6 (46) 6 (46) 1 (8) 0 0 92

Nhận xét: Kết quả khảo sát sự hài lòng ở các tiêu chí đều chiếm tỷ lệ cao Ở cả 4 tiêu chí từ câu 1 đến câu 4 đều đạt mức hài lòng 100% Riêng tiêu chí thứ 5 về sự đáp ứng nhu cầu điều trị ở địa phương đạt 92% hài lòng với 1/13 cán bộ đánh giá ở mức trung bình

3.3.2 Khảo sát về triển khai mô hình phòng khám Y học gia đình tại các địa phương

Bảng 3.7 Triển khai mô hình PK BSGĐ tại các địa phương

Câu hỏi Kết quả nghiên cứu n(%)

Không triển khai mô hình BSGĐ 1/13 (7,7%)

Có triển khai mô hình BSGĐ 12/13 (92,3%)

Mô hình triển khai chủ yếu tại tuyến xã/phường/phòng mạch tư 9/12 (75%)

Mô hình triển khai chủ yếu tại tuyến quận/huyện 2/12 (16,7%)

Mô hình triển khai chủ yếu tại tuyến tỉnh 1/12 (8,3%)

Nhận xét: Kết quả khảo sát ghi nhận: các địa phương triển khai mô hình

BSGĐ chiếm tỷ lệ cao (92,3%) Mô hình triển khai chủ yếu tại tuyến xã/phường/phòng mạch tư chiếm tỷ lệ cao nhất (75%).

Qua khảo sát bằng bảng câu hỏi mở từ 13 cán bộ quản lý ở các tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, chúng tôi tổng hợp một số khó khăn cụ thể như sau:

- Cơ sở vật chất: mặc dù đã được triển khai và thành lập nhiều cơ sở khám chữa bệnh theo nguyên lý YHGĐ nhưng cơ sở vật chất, vật tư y tế vẫn còn chưa đầy đủ Các phòng khám BSGĐ hầu hết chỉ có trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh thông thường như ống nghe, nhiệt kế, đèn pin, búa phản xạ, bộ khám tai mũi họng Số thuốc còn hạn chế, đặc biệt tại trạm y tế thiếu số lượng và chủng loại thuốc theo danh mục, thậm chí không đủ khám chữa bệnh thông thường

- Nhân lực: các bác sỹ được cử đi học YHGĐ chưa có chính sách đãi ngộ, thu hút, các bác sỹ sau khi học về tại nơi công tác còn phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác ngoài công tác chuyên môn Thời gian đào tạo ngắn (3 tháng) nên chưa hiểu và chưa thực hiện được khám chữa bệnh theo đúng nguyên lý YHGĐ Một số phòng khám có BSCKI về YHGĐ cũng chưa triển khai theo đúng nguyên lý

- Hệ thống bảo hiểm y tế: Thanh toán BHYT các dịch vụ tại phòng khám BSGĐ còn gặp nhiều khó khăn, phí dịch vụ khám chữa bệnh còn mang tính tự phát, chưa được thanh toán BHYT Chưa xây dựng cơ chế phối hợp chuyển tuyến và trao đổi thông tin giữa các phòng khám BSGĐ với hệ thống khám chữa bệnh

- Truyền thông về mô hình này vẫn còn hạn chế, chưa thể hiện được tầm quan trọng thực sự của phòng khám BSGĐ trong cộng đồng, thậm chí kiến thức

28 về chuyên ngành mới này của cán bộ y tế vẫn chưa tốt, nhiều cán bộ vẫn chưa hiểu hết vai trò của khám chữa bệnh theo nguyên lý YHGĐ

Một số phỏng vấn đại diện của cán bộ quản lý về việc triển khai mô hình phòng khám Y học gia đình ở các địa phương:

Mã số phỏng vấn 1, nam 56 tuổi:“Bác sỹ trong khi trạm y tế có rất nhiều chương trình, hoạt động, không thể làm nhiều việc cùng một lúc Mặt khác, các bác sỹ của bệnh viện tuyến trên không thể thường xuyên hỗ trợ các trạm y tế Ngoài ra, việc thanh toán bảo hiểm y tế cũng còn nhiều khó khăn Các dịch vụ chuyên sâu chưa thể thanh toán bằng bảo hiểm y tế Khó khăn nhất vẫn là vấn đề nhân lực của trạm y tế xã Toàn huyện có 7-8 bác sỹ thường xuyên được phân công về các trạm y tế xã nhưng các trạm vẫn gặp khó khăn vì bác sỹ phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp Vì thu nhập thấp nên một số bác sỹ bỏ ra ngoài làm, gây tình trạng chảy máu chất xám”

Mã số phỏng vấn 4, nam 50 tuổi:“Đây là mô hình mới, còn nhỏ lẻ nên chưa được quan tâm đầu tư, nguồn nhân lực có chuyên môn về Y học gia đình còn thiếu, khó khăn khi tham gia bảo hiểm y tế, trang thiết bị y tế, thuốc điều trị chưa đầy đủ, chưa hấp dẫn tư nhân tham gia thành lập phòng khám BSGĐ, người dân chưa tin tưởng vào chất lượng dịch vụ tại trạm y tế nên không đến khám, chữa bệnh”

Mã số phỏng vấn 8, nữ 45 tuổi:“Để mô hình bác sỹ gia đình ngày càng được mở rộng và phát huy hiệu quả, ngành y tế cần giải quyết được bài toán nhân sự Thực tế cho thấy, việc thiếu hụt bác sỹ được đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn về Y học gia đình khiến cho việc phát triển mô hình này tại các quận, huyện, trạm y tế gặp nhiều khó khăn’’

BÀN LUẬN

Tình hình đào tạo bác sỹ Y học gia đình tại Trường ĐHYD Cần Thơ giai đoạn

Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2008-2019, Trường Đại học

Y Dược Cần Thơ đã đào tạo một đội ngũ đáng kể nhân lực bác sỹ chuyên khoa cấp I Y học gia đình và bác sỹ đa khoa được đào tạo Y học gia đình cơ bản nhằm phục vụ nhu cầu phát triển ngành này trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Trường Đại học Y Dược Cần Thơ là một trong số ít trường đại học y dược bắt đầu đào tạo chuyên khoa cấp I YHGĐ từ rất sớm (năm 2003), duy trì số lượng học viên ổn định qua các năm, góp phần tăng cường nguồn nhân lực y tế ở các tuyến, cụ thể là các bác sỹ gia đình cho khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung [14]

Qua số liệu thống kê của các tỉnh và tại Trường ĐHYD Cần Thơ về số lượng người học, nhóm nghiên cứu nhận thấy số lượng trung bình bác sỹ được đào tạo hàng năm là 55 Bs CKI YHGĐ và 145 Bs tham gia chương trình Y học gia đình cơ bản, trong tổng số 1392 bác sỹ tham gia đào tạo

Trong số các tỉnh thuộc ĐBSCL, nổi bật là Cà Mau có số lượng bác sỹ đào tạo YHGĐ cơ bản và bác sỹ chuyên khoa cấp I được đào tạo đông nhất với số lượng cụ thể lần lượt là 192 và 140 bác sỹ Cà Mau cũng là 01 trong 10 tỉnh

30 thành được Bộ Y tế giao thí điểm mô hình phòng khám BSGĐ từ năm 2016 Đó cũng là lý do mà tỉnh này có hệ thống phòng khám tư cũng như sự phân bố bác sỹ CKI và bác sỹ đa khoa được đào tạo Y học gia đình cơ bản ở tuyến xã/phường và tuyến huyện cao nhất trong khu vực, với số liệu cụ thể lần lượt là 135 Bs (chiếm 41% toàn tỉnh) và 171 Bs (chiếm 52% toàn tỉnh) ở mỗi tuyến Bên cạnh đó, An Giang cũng có số lượng đông đảo bác sỹ CKI và bác sỹ đa khoa được đào tạo Y học gia đình cơ bản Số liệu thống kê với tổng số là 299

Bs được đào tạo, trong đó bao gồm 44 bác sỹ CKI và 255 bác sỹ đa khoa được đào tạo Y học gia đình cơ bản, đa số tập trung nhiều ở tuyến tỉnh với số lượng là 110 Bs (chiếm 37% toàn tỉnh) Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy được sự không đồng đều về số lượng bác sỹ tham gia đào tạo ở các tỉnh Bên cạnh các tỉnh được cho là nơi thí điểm mô hình phòng khám bác sỹ Y học gia đình, thì các tỉnh xung quanh lại có số lượng bác sỹ CKI hay bác sỹ đa khoa được đào tạo Y học gia đình ít hơn hẳn như các tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre, chỉ khoảng hơn 30 bác sỹ trong khoảng thời gian 12 năm Thấp nhất là Kiên Giang, chỉ với

1 bác sỹ CKI công tác tại tuyến huyện Một phần lý do ở đây có thể là do các tỉnh đây đang tập trung nhân lực, vật lực phát triển các chuyên ngành khác hoặc đưa nhân lực đào tạo tại các cơ sở đào tạo khác tại thành phố Hồ Chí Minh[14] Đặc điểm người học cũng phản ánh tính chất phù hợp trong chủ trương ngành y tế về tăng cường y tế cơ sở, hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu thông qua đào tạo các bác sỹ có chuyên môn về Y học gia đình Tỷ lệ bác sỹ công tác ở tuyến xã/phường hoặc phòng mạch tư chiếm đông nhất (45%), kế đến là phòng khám đa khoa khu vực, bệnh viện đa khoa hoặc trung tâm y tế tuyến huyện (chiếm 38%) [3]

Theo một thống kê được thực hiện vào năm 2015 nhằm đánh giá kết quả công tác triển khai các hoạt động YHGĐ, cụ thể là tham gia khảo sát và đánh giá về công tác đào tạo YHGĐ do Viện Chiến lược và Chính sách Y tế chủ trì,

31 ghi nhận số liệu đào tạo BsCKI YHGĐ và Bs đa khoa được đào tạo Định hướng YHGĐ cơ bản 3 tháng tại một số trường đại học chuyên ngành Y như sau: Đại học Y Hà Nội với 145 BsCKI YHGĐ và 200 Bs đa khoa được đào tạo 3 tháng YHGĐ; con số này ở Trường Đại học Y dược Hải Phòng là 18 và 200; Đại học

Y dược thành phố Hồ Chí Minh 80 và 400, bên cạnh đó tại đây còn đào tạo thêm cho đối tượng Điều dưỡng về YHGĐ cơ bản 3 tháng với số lượng là 23 tính đến thời điểm thống kê; Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch là 40 và 250 Riêng 2 trường Đại học Y Dược Huế và Thái Nguyên chỉ đào tạo BsCKI YHGĐ với số lượng lần lượt là 113 và 90 Bs Như vậy, số lượng đào tạo chuyên ngành Y học gia đình của từng trường khác nhau, phụ thuộc nhu cầu đào tạo của từng trường và nhu cầu học của từng địa phương[14].

Nhu cầu đào tạo bác sỹ Y học gia đình trong phát triển nguồn nhân lực tại các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2020-2025

Với thông tin thu thập được từ các cơ sở y tế của các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, số liệu về nhu cầu đào tạo BSGĐ trong giai đoạn 2020-2025 là 1036

Bs Trung bình khoảng 172 Bs mỗi năm Tỉnh có nhu cầu đào tạo nhiều nhất trong giai đoạn này là Kiên Giang (405 Bs), xếp theo sau là 2 tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng với số lượng lần lượt là 180 và 100 Bs Tỉnh có nhu cầu đào tạo thấp nhất là Tiền Giang (12 Bs) Số lượng này tương đối phù hợp với số trạm y tế xã trung bình trong một tỉnh là khoảng 124 trạm y tế xã ở mỗi tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Thống kê niên giám y tế 2018) Có thể thấy rằng ở những năm trước, trong một giai đoạn khá dài toàn tỉnh Kiên Giang chỉ có 1 bác sỹ gia đình và kế hoạch trong những năm tới với mức nhu cầu cao nhất toàn khu vực đã thể hiện sự quan tâm về việc triển khai mô hình phòng khám BSGĐ, cũng như điều chỉnh về chính sách, phân bố nguồn nhân lực tại đây, là một tín hiệu đáng mừng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tỉnh Kiên Giang nói riêng, toàn khu vực nói chung[7]

Hiện nay nhu cầu của người dân về CSSK đã thay đổi nhiều do tác động của nhiều yếu tố: công nghiệp và du lịch phát triển, nhiều ngành nghề mới ra đời nên mô hình bệnh tật thay đổi; sự giao lưu trong nước và quốc tế lớn, nhiều bệnh được du nhập vào nước ta (SARS, cúm H5N1, H1N1 ); nhiều loại hóa chất ra đời gây nhiều bệnh mới và thúc đẩy tăng mạnh các bệnh không nhiễm trùng như ung thư, suy tủy, rối loạn miễn dịch… Vì vậy việc nghiên cứu nhu cầu CSSK cho người dân là việc làm có tính chất cấp thiết để từ đó xây dựng các đề án, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực y tế tương ứng, đáp ứng kịp thời với nhu cầu này Đào tạo YHGĐ cho BS tuyến ban đầu nên được quan tâm và đẩy mạnh nhằm mục đích đáp ứng với mô hình bệnh tật mới[22].

Thực trạng triển khai mô hình bác sỹ Y học gia đình tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long

Về cơ sở vật chất: mặc dù đã được triển khai và thành lập nhiều cơ sở khám chữa bệnh theo nguyên lý YHGĐ nhưng cơ sở vật chất, vật tư y tế vẫn còn chưa đầy đủ Nghiên cứu chúng tôi cũng tương đồng với báo cáo của dự án ABG về “Phát triển nguồn nhân lực Y tế cơ sở”: Giai đoạn 2009-2017, trái phiếu y tế nâng cấp y tế huyện, tỉnh, trung ương, trong đó cơ bản hoàn thành bệnh viện tuyến huyện; chưa có trái phiếu y tế xã Trong giai đoạn 2016 – 2020, số trạm y tế xã được đầu tư kiên cố tăng từ 6.831 trạm (69,2%) năm 2016 lên 7.295 trạm (77,9%) năm 2020 nhưng chưa bao phủ trên 80% Các phòng khám BSGĐ hầu hết chỉ có trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh thông thường như ống nghe, nhiệt kế, đèn pin, búa phản xạ, bộ khám tai mũi họng Số thuốc còn hạn chế, đặc biệt tại trạm y tế thiếu số lượng và chủng loại thuốc theo danh mục, thậm chí không đủ khám chữa bệnh thông thường Chi thường xuyên y tế xã thấp, có tỉnh chỉ 10-20 triệu đồng/trạm/năm chỉ đủ chi điện nước, hành chính Thiếu cơ chế kiểm soát bệnh viện tuyến trên cung ứng dịch vụ thuộc tuyến dưới Nhiều trung tâm y tế huyện cung ứng được ít dịch vụ, thu không đủ chi

33 nhưng vẫn phải tự chủ chi thường xuyên Vì vậy, không thể lo được cho y tế xã Chưa có cơ chế, nguồn lực để phát hiện sớm bệnh tật mạn tính tại xã, mất nguồn thu[7]

Trong báo cáo về “Phát triển nguồn nhân lực Y tế cơ sở” của dự án ABG Nhân lực y tế cơ sở tăng cả về số lượng và chất lượng với trên 187 nghìn người, chiếm 40% tổng số nhân lực y tế của cả nước (ở tuyến huyện là 115 nghìn người (24,5%), tuyến xã là 72 nghìn người (15,5%) Tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ thường trú/định biên tăng từ 67,1%năm 2016 lên 72,3% năm 2020 Tuy nhiên vẫn còn tồn tại: các bác sỹ được cử đi học YHGĐ chưa có chính sách đãi ngộ, thu hút, các bác sỹ sau khi học về tại nơi công tác còn phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác ngoài công tác chuyên môn Thời gian đào tạo ngắn (3 tháng) nên chưa hiểu và chưa thực hiện được khám chữa bệnh theo đúng nguyên lý YHGĐ Một số phòng khám có BSCKI về YHGĐ cũng chưa triển khai theo đúng nguyên lý[7] Như vậy cũng tương đồng với những rào cản phát triển nguồn nhân lực bác sỹ gia đình tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu

Long trong nghiên cứu của chúng tôi

Về hệ thống bảo hiểm y tế: Trong báo cáo về “Phát triển nguồn nhân lực

Y tế cơ sở” của dự án ABG kết luận: Phân bổ ngân sách dựa biên chế, giường bệnh, chi hành chính…, phương thức thanh toán BHYT chưa phù hợp Danh mục thuốc khác nhau quá xa giữa các tuyến; 20% khám chữa bệnh BHYT ở xã, nhưng hưởng 3-4% quỹ BHYT Thanh toán BHYT cho y tế xã phải thông qua bệnh viện huyện; vì vậy tuyến trên cho bao nhiêu biết bấy nhiêu Ít luân chuyển lên, nên y sỹ hóa dần bác sỹ xã [7] Như vậy cũng tương đồng với những rào cản phát triển nguồn nhân lực bác sỹ gia đình tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long trong nghiên cứu của chúng tôi

Về truyền thông mô hình Bác sỹ gia đình vẫn còn hạn chế, chưa thể hiện được tầm quan trọng thực sự của phòng khám Bác sỹ gia đình trong cộng đồng

Nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Nga

(2020) về “Thực trạng truyền thông giáo dục Sức khỏe tuyến huyện và đánh giá mô hình thí điểm phòng truyền thông giáo dục sức khỏe ở trung tâm y tế huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam” Các cơ sở y tế chưa thực sự chú trọng việc tuyên truyền Chưa có quy định về trang thiết bị thực hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe nên trang thiết bị phục vụ công tác truyền thông còn thiếu thốn và nghèo nàn, thiếu các trang thiết bị thiết yếu như projector, máy ảnh, loa truyền thông lưu động Ở tuyến xã: các trạm y tế đều có góc truyền thông song chưa đạt tiêu chuẩn, trang thiết bị cho công tác truyền thông chưa được chú ý, đa phần dựa vào hệ thống truyền thanh của xã Ở Việt Nam nhiều địa phương nhân lực làm tác truyền thông giáo dục sức khỏe từ tuyến huyện đến tuyến xã vẫn chỉ là kiêm nhiệm nên rất khó khăn trong chỉ đạo tuyến về chuyên môn dẫn đến việc thống kê báo cáo các hoạt động tác truyền thông giáo dục sức khỏe chưa được thường xuyên Nhìn chung số cán bộ chuyên trách ít, đa số là cán bộ kiêm nhiệm nên khó hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao Nguồn kinh phí dành cho hoạt động truyền thông tại các tỉnh, thành phố còn quá thấp, chưa đạt được mức 1,5% - 2% tổng chi cho sự nghiệp y tế, không đáp ứng được yêu cầu thực tế, vì vậy mà nhiều trung tâm còn gặp khó khăn Kinh phí cho hoạt động truyền thông ở tuyến huyện chủ yếu lấy từ các chương trình mục tiêu y tế quốc gia Hoạt động truyền thông của các chương trình y tế mục tiêu còn chưa thống nhất, chưa phát huy được nguồn lực tổng hợp, tạo gánh nặng cho y tế cơ sở[11]

Năm 2012, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế: Đánh giá tình hình thực hiện chức năng nhiệm vụ của trạm y tế các vùng miền kết luận: “Nguồn nhân lực có chuyên môn về Y học gia đình còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu hiện tại, một số phòng khám bác sỹ Y học gia đình còn phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác, việc cấp chứng chỉ hành nghề bác sỹ gia đình còn gặp khó khăn

35 nên các đơn vị triển khai bác sỹ gia đình cán bộ tham gia chưa có chứng chỉ hành nghề dẫn đến chưa được cấp phép thành lập phòng khám Chỉ cần cởi trói về cơ chế tài chính, giải phóng bác sỹ khỏi các thủ tục hành chính, thanh toán bảo hiểm y tế và đầu tư có chọn lọc tùy mô hình bệnh tật từng khu vực thì phòng khám bác sỹ gia đình hoạt động hiệu quả và gần dân nhất”[13] Như vậy cũng tương đồng với những rào cản phát triển nguồn nhân lực bác sỹ gia đình tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long trong nghiên cứu của chúng tôi

Về phía chương trình đào tạo, Bộ môn Y học gia đình trường ĐHYDCT đã có nhiều nỗ lực xây dựng và cập nhật chương trình đào tạo phù hợp với mục tiêu đào tạo và nhu cầu xã hội Nghiên cứu của Thái Thị Ngọc Thúy và cộng sự (2019) đã thực hiện trên đối tượng người học và giảng viên về đổi mới chương trình đào tạo chuyên khoa cấp I YHGĐ Nghiên cứu cho thấy các nhận thức tích cực của người học về chương trình đào tạo và một số đổi mới có thể áp dụng, liên quan đến điều chỉnh một số môn học và chủ đề để phù hợp với bác sỹ tuyến ban đầu Nghiên cứu cũng cho thấy một chương trình học linh động, hiệu quả dành cho bác sỹ chuyên khoa cấp I YHGĐ đã tốt nghiệp, đó là chương trình đào tạo liên tục kết hợp qua mạng và trực tiếp Ngoài nâng cao kiến thức và kỹ năng, chương trình còn củng cố mạng lưới BSGĐ, giúp các bác sỹ kết nối, tự tin hơn trong hành nghề Đặc biệt, chương trình này đã phát huy tính phù hợp trong giai đoạn đại dịch Covid-19 trên toàn cầu [32]

Riêng về mức độ nhận thức của sinh viên y khoa về chuyên ngành này ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp, một nghiên cứu tại Pakistan và Canada, sinh viên y khoa từ năm thứ 2 đến 5 Kết quả cho thấy những người tham gia có các mức độ khác nhau về hiểu biết về YHGĐ tùy thuộc vào mức độ tiếp xúc với dịch vụ chăm sóc ban đầu Sinh viên những năm cuối có tiếp xúc nhiều hơn đã hiểu rõ hơn Các yếu tố thu hút việc lựa chọn nghề nghiệp đối

36 với CSBĐ bao gồm thời gian làm việc ngắn với một cuộc sống gia đình và xã hội cân bằng hơn, có thể tiếp cận với toàn thể bệnh nhân với sự chăm sóc liên tục và quan hệ gần gũi hơn với bệnh nhân Các yếu tố kém hấp dẫn bao gồm thực hành thường xuyên, không thay đổi và nhàm chán, lương thấp, công việc quá tải và công việc hành chính trong các phòng khám công lập, ít được công nhận bởi các chuyên khoa và nhận thức kém của các bác sỹ khác rằng những người theo đuổi chuyên ngành chăm sóc ban đầu không phải là đủ “xuất sắc” cho các lĩnh vực phức tạp hơn như “phẫu thuật” [19], [24]

Như vậy có thể thấy được nghiên cứu này như một cách nhìn tổng thể kèm theo bằng chứng số liệu khách quan về thông tin nguồn nhân lực y tế chuyên ngành YHGĐ hiện tại ở khu vực ĐBSCL, cũng như là nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong tương lai và các khó khăn cần phải đối mặt Điểm mạnh của nghiên cứu này là kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Số liệu có giá trị và tin cậy thông qua quy trình thu thập và phân tích thông tin khách quan, giảm sai số Hạn chế của đề tài là nghiên cứu chỉ được thực hiện tại một trường đại học chuyên ngành y, chỉ khảo sát được nhu cầu nhân lực của một khu vực với các đặc điểm tự nhiên và điều kiện kinh tế đặc trưng, một số tỉnh thành vẫn chưa xác định được số lượng nguồn nhân lực cụ thể trong thời gian sắp tới

Qua nghiên cứu “TÌNH HÌNH BÁC SỸ VÙNG ĐBSCL ĐƯỢC ĐÀO TẠO CHUYÊN KHOA Y HỌC GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2008-2019 VÀ NHU CẦU ĐẾN NĂM 2025”, chúng tôi kết luận như sau:

1 Số lượng bác sỹ gia đình thuộc các tuyến thuộc khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long được đào tạo chuyên khoa cấp I và cơ bản tại Trường Đại học

Y Dược Cần Thơ giai đoạn 2008-2019

- Về số lượng bác sỹ chuyên khoa cấp I YHGĐ và bác sỹ đa khoa được đào tạo YHGĐ cơ bản có số lượng phân bố hầu hết ở các tỉnh khu vực ĐBSCL, tập trung ở một số tỉnh được tổ chức thí điểm mô hình phòng khám bác sỹ Y học gia đình Tổng số 1392 Bs được đào tạo, trong đó, 3 tỉnh có số lượng cao nhất là Cà Mau (332 Bs), An Giang (299 Bs) và Đồng Tháp (246 Bs) Tỉnh có số lượng bác sỹ CKI và bác sỹ đa khoa được đào tạo Y học gia đình cơ bản ít nhất là Kiên Giang, duy nhất chỉ có 1 Bs CKI làm việc ở tuyến huyện

- Về tỷ lệ phân bố người học thuộc các tuyến bao gồm: tuyến xã/phường/phòng mạch tư chiếm 45%, tuyến huyện chiếm 38%, tuyến tỉnh 17%

2 Nhu cầu đào tạo bác sỹ gia đình tại các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2020 – 2025

Ngày đăng: 14/03/2023, 22:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn Y học gia đình, Trường Đại học Y Hà Nội (2015). Giáo trình Y học gia đình đại cương. Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Y học gia đình đại cương
Tác giả: Bộ môn Y học gia đình, Trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
2. Bộ môn Y học gia đình, Trường Đại học Y Hà Nội (2018). Thực hành Y học gia đình trong chăm sóc ban đầu. Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Y học gia đình trong chăm sóc ban đầu
Tác giả: Bộ môn Y học gia đình, Trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2018
7. Dự án ABG (2022). Phát triển nguồn nhân lực y tế cơ sở, Viện Lãnh đạo ABG và Medinsights Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực y tế cơ sở
Tác giả: Dự án ABG
Năm: 2022
8. Dự án HPET (2019). Chăm sóc sức khoẻ ban đầu theo nguyên lý YHGD dành cho Bác sỹ đang làm việc tại trạm y tế xã, được Bộ Y tế thẩm định và ban hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khoẻ ban đầu theo nguyên lý YHGD dành cho Bác sỹ đang làm việc tại trạm y tế xã
Tác giả: Dự án HPET
Năm: 2019
9. Phạm Hùng Lực, Thái Thị Ngọc Thúy (2011). “Tình hình đào tạo bác sĩ gia đình tại trường Đại học Y Dược Cần Thơ”. Tập san nghiên cứu khoa học, tập 2, tr 209-212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình đào tạo bác sĩ gia đình tại trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Tác giả: Phạm Hùng Lực, Thái Thị Ngọc Thúy
Năm: 2011
11. Trần Thị Nga (2020). “Thực trạng truyền thông giáo dục Sức khỏe tuyến huyện và đánh giá mô hình thí điểm phòng truyền thông giáo dục sức khỏe ở trung tâm y tế huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam”. Luận án tiến sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng truyền thông giáo dục Sức khỏe tuyến huyện và đánh giá mô hình thí điểm phòng truyền thông giáo dục sức khỏe ở trung tâm y tế huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam
Tác giả: Trần Thị Nga
Năm: 2020
12. Trung Tâm Đào Tạo Bác sĩ gia đình, Trường ĐHYD TPHCM (2020), Y học gia đình, Tập 1 và 2, tái bản lần thứ 3, Nhà Xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học gia đình
Tác giả: Trung Tâm Đào Tạo Bác sĩ gia đình, Trường ĐHYD TPHCM
Nhà XB: Nhà Xuất bản Y học
Năm: 2020
13. Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (2012). “Đánh giá tình hình thực hiện chức năng nhiệm vụ của trạm y tế các vùng miền”. Tạp chí Y tế công cộng, tập 4(9), trang 74-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình thực hiện chức năng nhiệm vụ của trạm y tế các vùng miền
Tác giả: Viện Chiến lược và Chính sách Y tế
Năm: 2012
14. Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (2015). “Đánh giá về công tác đào tạo YHGĐ”. Tạp chí Y tế công cộng, tập 11(30), trang 24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá về công tác đào tạo YHGĐ
Tác giả: Viện Chiến lược và Chính sách Y tế
Năm: 2015
15. Vụ Tổ chức cán bộ chủ trì (2015). “Đánh giá tình hình thực hiện Thông tư 16/2014”. Tạp chí Y tế công cộng, tập 11(31), trang 30-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình thực hiện Thông tư 16/2014
Tác giả: Vụ Tổ chức cán bộ chủ trì
Năm: 2015
16. Bob Mash (2018), Handbook of Family Medicine, Fourth edition, Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of Family Medicine
Tác giả: Bob Mash
Năm: 2018
17. Charles B, Cynthia H (2002). The contrbution of Family Medicine Improving health systems to Improving health systems, A Guidebook from the World Organization of Family Doctors, WONCA Sách, tạp chí
Tiêu đề: The contrbution of Family Medicine Improving health systems to Improving health systems
Tác giả: Charles B, Cynthia H
Năm: 2002
18.Chung C, Maisonneuve H, Pfarrwaller E, Audetat MC, Birchmeier A, Herzig L, et al (2016). “Impact of the primary care curriculum and its teaching formats on medical students' perception of primary care: a cross- sectional study”. BMC Fam Pract. 17(1):135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of the primary care curriculum and its teaching formats on medical students' perception of primary care: a cross-sectional study
Tác giả: Chung C, Maisonneuve H, Pfarrwaller E, Audetat MC, Birchmeier A, Herzig L, et al
Năm: 2016
19. Iqbal SP (2010), “Family medicine in undergraduate medical curriculum: a cost-effective approach to health care in Pakistan”, Journal of Ayub Medical College, Abbottabad : JAMC, 22(4), pp. 207-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Family medicine in undergraduate medical curriculum: a cost-effective approach to health care in Pakistan
Tác giả: Iqbal SP
Năm: 2010
20. Cuong Q Le (2007). “Evaluation of Hospital Overload at some hospitals in Ha Noi and Ho Chi Minh City”. Institution of Health Strategy and Policy, Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of Hospital Overload at some hospitals in Ha Noi and Ho Chi Minh City
Tác giả: Cuong Q Le
Năm: 2007
21. McDaniel S, Campbell T, Hepworth J, et al (2005). Family-Oriented Primary Care. Second edition. New York: Springer Sách, tạp chí
Tiêu đề: Family-Oriented Primary Care
Tác giả: McDaniel S, Campbell T, Hepworth J, et al
Năm: 2005
22. Nguyen Phương Hoa, Rao C, Hoy D, et al (2012). “Mortality measures from sample-based surveillance: evidence of the epidemiological transition in Viet Nam”. Bull WHO, 90(10), 764–772 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mortality measures from sample-based surveillance: evidence of the epidemiological transition in Viet Nam
Tác giả: Nguyen Phương Hoa, Rao C, Hoy D, et al
Năm: 2012
23. Office GS. Statistical Yearbook of Vietnam (2016). Chapter 11. Health, Culture, Sport and Living standards. Vietnam: Ministry of Planning and Investment of Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health, Culture, Sport and Living standards
Tác giả: Office GS. Statistical Yearbook of Vietnam
Năm: 2016
24. Osborn HA, Glicksman JT, Brandt MG, Doyle PC, Fung K (2017). “Primary care specialty career choice among Canadian medical students:Understanding the factors that influence their decisions”. Canadian family physician Medecin de famille canadien;63(2):e107-e13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Primary care specialty career choice among Canadian medical students: Understanding the factors that influence their decisions
Tác giả: Osborn HA, Glicksman JT, Brandt MG, Doyle PC, Fung K
Năm: 2017
25. Peersman W DMJ (2016), “The contribution of primary care research to education, training and development of primary healthcare workforce”, International perspectives on primary care research, pp. 79-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The contribution of primary care research to education, training and development of primary healthcare workforce
Tác giả: Peersman W DMJ
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm