BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ ĐỖ DUY KHÁNH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MÔ BỆNH HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT RÒ LUÂN NHĨ TẠI BỆNH V
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ĐỖ DUY KHÁNH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG,
MÔ BỆNH HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT RÒ LUÂN NHĨ TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ
NĂM 2019-2021
LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ
Cần Thơ - Năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ĐỖ DUY KHÁNH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG,
MÔ BỆNH HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT RÒ LUÂN NHĨ
TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ
Người hướng dẫn khoa học:
Ts Bs Châu Chiêu Hòa
Cần Thơ - Năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Cần Thơ, ngày… tháng … năm……
Học viên thực hiện
Đỗ Duy Khánh
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, quý thầy Bộ môn Tai Mũi Họng Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và tập thể cán bộ nhân viên Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài, học tập và nghiên cứu
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình người thân, tất cả các đồng nghiệp và bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi cả về tinh thần và vật chất trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cần Thơ, ngày… tháng… năm……
Học viên thực hiện
Đỗ Duy Khánh
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về rò luân nhĩ 3
1.2 Tình hình nghiên cứu rò luân nhĩ 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3 Vấn đề đạo đức 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm chung 30
3.2 Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học 32
3.3 Đánh giá kết quả điều trị 39
Chương 4: BÀN LUẬN 46
4.1 Đặc điểm chung 46
4.2 Đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học 48
4.3 Đánh giá kết quả điều trị 54
KẾT LUẬN 61
KIẾN NGHỊ 62
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Bảng phân bố tỉ lệ bệnh theo giới (n=70) 30
Bảng 3.2: Bảng phân bố tỉ lệ bệnh theo tuổi (n=70) 30
Bảng 3.3: Bảng phân bố tỉ lệ mắc bệnh tương tự với gia đình 33
Bảng 3.4: Bảng phân bố tỉ lệ mắc bệnh kèm theo (n=70) 33
Bảng 3.5: Bảng phân bố tỉ lệ bệnh theo số lần tái phát biến chứng (n=70) 34
Bảng 3.6: Số lần tái phát biến chứng đường rò theo lứa tuổi (n=70) 35
Bảng 3.7: Triệu chứng cơ năng (n=70) 36
Bảng 3.8: Vị trí miệng lỗ rò (n=70) 36
Bảng 3.9: Bên mắc bệnh (n=70) 37
Bảng 3.10: Màu sắc của dịch ở đường rò (n=70) 37
Bảng 3.11: Loại biểu mô của đường rò (n=70) 38
Bảng 3.12: Loại biểu mô theo số lần tái phát đường rò (n=70) 38
Bảng 3.13: Chỉ định phẫu thuật (n=70) 39
Bảng 3.14: Bảng phương pháp phẫu thuật theo biến chứng (n=70) 40
Bảng 3.15: Thời gian điều trị nội trú (n=70) 40
Bảng 3.16: Tai biến trong phẫu thuật (n=70) 41
Bảng 3.17: Tai biến theo tái phát biến chứng đường rò (n=70) 41
Bảng 3.18: Biến chứng sau phẫu thuật (n=70) 41
Bảng 3.19: Biến chứng sau phẫu thuật theo phương pháp phẫu thuật (n=70)42 Bảng 3.20: Sự liền sẹo sau phẫu thuật 3 tháng (n=70) 42
Bảng 3.21: Sự liền sẹo theo biến chứng sau phẫu thuật (n=70) 43
Bảng 3.22: Sự liền sẹo sau phẫu thuật 6 tháng (n= 65) 43
Bảng 3.23: Tỉ lệ tái phát sau mổ 1 tháng (n=70) 43
Bảng 3.24: Tỉ lệ tái phát sau phẫu thuật 1 tháng theo biểu mô đường rò 44
Trang 8Bảng 3.25: Kết quả điều trị chung (n=70) 45
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phân bố tỉ lệ theo nghề nghiệp (n=70) 31
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo địa dư (n=70) 31
Biểu đồ 3.3: Biểu đồ phân bố tỉ lệ bệnh theo lý do nhập viện (n=70) 32
Biểu đồ 3.4: Biểu đồ tỉ lệ thứ tự con trong gia đình (n=70) 32
Biểu đồ 3.5: Biểu đồ tỉ lệ bệnh theo biểu hiện của bệnh (n=70) 34
Biểu đồ 3.6: Biểu đồ phân bố tỉ lệ bệnh theo quá trình điều trị (n=70) 35
Biểu đồ 3.7: Biểu đồ phân bố tỉ lệ theo phương pháp phẫu thuật (n=70) 39
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Sự phát triển vùng mang .6
Hình 1.2: Loa tai phải 7
Hình 1.3: Ống tai ngoài .8
Hình 1.4: Các nhánh thần kinh mặt và tuyến mang tai 11
Hình 1.5: Hình lỗ rò luân nhĩ lúc chưa bị viêm nhiễm 12
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai mũi họng là những cơ quan có nhiều chức năng quan trọng trong sự sống và giao tiếp hàng ngày của con người, nhất là kinh tế dần phát triển Ngày nay, tỉ lệ mắc bệnh tai mũi họng rất cao với nhiều nguyên nhân, đặc biệt
là thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, gây khói bụi, ô nhiễm môi trường, khí hậu nóng ẩm, điều kiện làm việc trong môi trường còn nhiều yếu tố phơi nhiễm
Khi đề cập đến bệnh tai mũi họng, chúng ta thường quan tâm đến các bệnh viêm nhiễm, chấn thương, khối u, dị vật Còn các dị tật bẩm sinh thuộc lĩnh vực tai mũi họng nếu chưa ảnh hưởng sức khoẻ trước mắt thì không được chú ý Không giống như nhiều dị tật bẩm sinh của các cơ quan khác như rò khí - thực quản, tứ chứng Fallot, được phát sinh trong quá trình tạo mô, tạo hình, tạo cơ quan do rối loạn phát triển mầm của chúng, còn dị tật bẩm sinh vùng đầu cổ là do sự tồn tại và phát triển những di tích phôi thai vùng mang,
mà đáng lẽ phải biến mất đi trong quá trình phát triển cá thể [1], [12], [26]
Vào giữa tuần thứ 3 đến tuần thứ 8 của thai kỳ, cấu trúc vùng mang, nơi phát sinh ra nhiều cấu trúc quan trọng của vùng đầu mặt cổ bắt đầu phát triển Nếu trong quá trình phát triển của vùng mang có sự rối loạn sẽ dẫn đến một số dị tật vùng đầu cổ và rò bẩm sinh là một trong những dị tật liên quan đến quá trình phát triển phôi thai này [9], [10]
Rò luân nhĩ là đường rò vùng đầu mặt khá phổ biến, theo Phạm Thị Bích Thủy, rò luân nhĩ chiếm 76% đường rò quanh tai [19], còn theo Nguyễn Thị Ngọc Khanh thì nó chiếm 3,5% trong rò đầu cổ [8]
Mặc dù tỉ lệ rò luân nhĩ chiếm tỉ lệ cao trong cộng đồng, một nghiên cứu thống kê tương đối lớn (n > 25000 người) ghi nhận tỉ lệ rò là 3,5% [8] nhưng ít khi được mọi người chú ý, một phần là do hiểu biết của người dân về
Trang 11loại bệnh này còn hạn chế, vì vậy họ đã chủ quan không đi khám và điều trị sớm Để điều trị bệnh lý này, có nhiều phương pháp điều trị nhưng hầu hết các tác giả đều thống nhất phẫu thuật là phương pháp điều trị tốt nhất và khuynh hướng phẫu thuật sớm ở bất kỳ giai đoạn nào của rò luân nhĩ nhằm rút ngắn thời gian điều trị đang từng bước được triển khai cho thấy những bước tiến bộ trong việc điều trị bệnh lý bẩm sinh này [33]
Khi đã biến chứng viêm nhiễm nhiều lần, đường rò không còn nguyên dạng Muốn phẫu thuật lấy bỏ trọn vẹn đường rò cũng rất phức tạp Điều trị kháng sinh liều cao nhiều ngày, tốn kém, đặc biệt ảnh hưởng vấn đề thẩm mỹ
là để lại sẹo lớn và xấu suốt đời Nhưng ngược lại, nếu được khám và điều trị sớm thì khả năng điều trị triệt để loại bỏ đường rò dễ dàng hơn, tránh được nhiều biến chứng
Do tính chất quan trọng và phổ biến của dị tật bẩm sinh này trong cộng đồng, việc điều trị nhiều khi rất khó khăn, dễ tái phát sau phẫu thuật Từ thực
tế đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị rò luân nhĩ tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2019-2021” với hai mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học của bệnh rò luân nhĩ có chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2019-2021
2 Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị rò luân nhĩ tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2019-2021
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
và đánh số thứ tự theo hướng đầu - đuôi phôi Trong khi các cung mang ở phía đuôi phôi xuất hiện, các cung mang phía đầu phôi đã phát triển khá xa rồi Nhưng ngay sau khi được tạo ra, cung mang V biến đi rất sớm và cung mang VI rất thô sơ nên mặt ngoài phôi người trong khoảng tuần thứ 4, 5, 6 chỉ có bốn cung mang xuất hiện rõ rệt mỗi bên Chen vào giữa các cung mang, ở mặt ngoài phôi, ngoại bì lõm vào trung mô, tạo thành các khe rãnh gọi là túi mang ngoại bì hay khe mang ngăn cách các cung mang, và ở mặt họng phôi, nội bì cũng lõm ra trung mô, tạo thành các khe rãnh gọi là túi mang nội bì hay túi mang cũng ngăn cách các cung mang Các khe mang cũng được đánh số thứ tự theo hướng đầu - đuôi phôi Phôi người không có khe mang V, còn túi mang tương ứng với nó nhiều tác giả coi là ngách phụ của túi mang IV Vùng phôi người bao gồm các cung mang, các khe mang, túi mang gọi là vùng mang [11]
Trang 131.1.1.2 Sự phát triển các thành phần vùng mang
* Sự phát triển của các cung mang:
- Các cung mang bắt đầu phát triển ở giai đoạn rất sớm (tuần thứ 4) của phôi thai, khi các tế bào mào thần kinh di chuyển vào vùng đầu và cổ tương lai, góp phần chủ yếu để tạo thành mặt, cổ, các khoang vùng mũi, miệng, thanh quản và họng
- Cung mang thứ nhất: chứa sụn, phần lưng của nó là mỏm xương hàm trên,
và phần bụng của nó là sụn Meckel hay là mỏm lồi cầu xương hàm dưới Cả 2 cấu trúc này thoái triển dần và cuối cùng chỉ còn là xương búa và xương đe
Sự cốt hoá của trung mô xung quanh sụn Meckel khiến chúng phát triển thành xương hàm dưới, xương bướm hàm và các dây chằng treo búa trước
+ Các cơ của cung mang thứ nhất gồm: các cơ nhai (cơ thái dương, cơ cắn và
cơ chân bướm), cơ căng thái dương và cơ căng màng hầu, bụng trước của cơ nhị thân và các cơ hàm móng
+ Thần kinh của cung mang thứ nhất là dây thần kinh sọ số V
+ Động mạch của cung mang thứ nhất được nghĩ là động mạch hàm
+ Túi họng thứ nhất tồn tại dưới dạng là vòi Eustache, tai giữa và những phần của xương chũm
- Cung mang thứ hai: sụn của cung mang thứ hai là sụn Reichert, nó sẽ thành thân trên và sừng nhỏ của xương móng, mỏm trâm và dây chằng trâm móng
và siêu cấu trúc của xương bàn đạp
+ Các cơ của cung mang thứ hai là các cơ biểu cảm vùng mặt, cơ da cổ, bụng sau của cơ nhị thân, cơ trâm móng và cơ bàn đạp
+ Thần kinh của cung mang thứ hai là dây thần kinh sọ số VII
+ Hiếm khi động mạch của cung mang thứ hai còn tồn tại, hoá thành động mạch bàn đạp, nó đi vòng qua chân của xương bàn đạp
- Cung mang thứ ba: phân hoá thành sừng lớn và thân dưới của xương móng
Trang 14+ Cơ của cung mang thứ ba gồm có cơ trâm hầu, cơ khít hầu trên và cơ khít hầu giữa
+ Động mạch hình thành từ đây là động mạch cảnh chung, động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài đoạn nằm ở gần giữa cơ thể
+ Thần kinh hình thành từ cung mang thứ ba là thần kinh sọ số IX
+ Túi họng thứ ba tạo nên các tuyến cận giáp nằm ở phía dưới, tuyến ức và ống ngực
- Cung mang thứ tư và thứ sáu: họp lại để tạo nên sụn thanh quản
+ Các cơ của cung mang thứ tư là cơ giáp nhẫn và cơ khít hầu dưới Thần kinh của cung mang thứ tư là thần kinh thanh quản trên
+ Các cơ của cung mang thứ sáu hình thành nên phần còn lại của những cơ nội tại thanh quản Thần kinh của cung mang thứ sáu là thần kinh thanh quản quặt ngược
+ Động mạch của cung mang thứ tư phát triển về phía bên phải thành động mạch dưới đòn và về phía bên trái thành động mạch chủ
+ Động mạch của cung mang thứ sáu hình thành ống động mạch và động mạch phổi
+ Túi nội bì của cung mang thứ tư phát triển thành các tuyến cận giáp phía trên và có khả năng nó hình thành nên các tế bào quanh nang của tuyến giáp
1.1.1.3 Bệnh sinh phôi thai học rò luân nhĩ
Cơ thể người lúc còn là bào thai được hình thành bởi sự kết hợp của ba
lá phôi: lá phôi trong, lá phôi giữa và lá phôi ngoài Lá phôi ngoài sau này trở thành biểu bì có lông, có tuyến, có răng, có xuất tiết Sự kết hợp này nếu diễn tiến bình thường thì lá phôi ngoài hoàn toàn phát triển thành các cơ quan bên ngoài của cơ thể để bảo vệ cơ thể [20]
Các rò cổ bên là do sự phát triển bất thường của hệ thống mang trong thời kỳ phôi thai, do còn tồn tại các vết tích của các khe và túi mang mà lẽ ra
Trang 15đã tiêu biến đi khi sinh ra [35], [44]
Rò luân nhĩ là do sự hàn gắn thiếu sót giữa cung mang I và cung mang
II trong thời kỳ bào thai [32], [46]
Hình 1.1: Sự phát triển vùng mang
(Nguồn: Giải phẫu đầu - cổ, 2004 [13])
1.1.2 Giải phẫu vùng tai
1.1.2.1 Loa tai
* Hình thể ngoài: loa tai người có những nếp lồi lõm Loa tai có 2 mặt:
- Mặt ngoài: ở giữa có một lỗ lõm gọi là xoắn tai, xoắn tai được bọc bởi 4 gờ: + Gờ luân: đi theo chu vi loa tai, từ xoắn tai đến dái tai Trên gờ luân có củ loa tai di tích của đỉnh loa tai ở động vật
+ Gờ đối luân: đầu trên chia thành hai trụ đối luân ôm lấy hố tam giác
+ Bình tai: ở phía trước xoắn tai
+ Gờ đối bình luân: đối diện với bình tai và cách bình tai bởi khuyết gian bình Giữa gờ luân và gờ đối luân là hố thuyền
- Mặt trong: áp vào da đầu, có các vết lồi lõm ngược với bên ngoài, như gò
hố thuyền, gò hố tam giác, hố đối luân [3], [4]
Trang 16Hình 1.2: Loa tai phải
(Nguồn: Atlas of Human Anatomy, 2019 [27])
* Cấu tạo: loa tai được cấu tạo bởi da, sụn, dây chằng và cơ
- Da: dính chặt vào mặt ngoài của sụn hơn là mặt trong
- Sụn: tạo thành dạng lồi lõm của vành tai Dái tai không có sụn mà chỉ có mô sợi và mô mỡ
- Dây chằng và cơ:
+ Các dây chằng ngoại lai gồm có: dây chằng tai trước, dây chằng tai sau, dây chằng tai trên
+ Cơ ngoại lai là những loại cơ bám da gồm có ba cơ: cơ tai trước, cơ tai sau,
cơ tai trên
+ Cơ nội tại gồm có tám cơ: cơ nhĩ luân lớn, cơ nhĩ luân bé, cơ bình tai, cơ đối bình tai, cơ ngang tai, cơ chéo tai, cơ tháp tai, cơ khuyết nhĩ luân
Trang 17mạch thái dương nông và tĩnh mạch sau dưới hàm
- Phân bố thần kinh cơ quanh loa tai theo dây thần kinh mặt Nhánh thái dương của dây VII phân bố cho cơ tai trước và cơ tai trên, nhánh tai sau chi phối cơ tai sau Thần kinh cảm giác cho loa tai được phân bố chủ yếu nhánh chũm của thần kinh chẩm nhỏ, thần kinh tai lớn (từ đám rối thần kinh cổ) và thần kinh tai - thái dương (thuộc nhánh hàm dưới của thần kinh V3), ngoài ra còn có nhánh tai của thần kinh X
1.1.2.2 Ống tai ngoài
* Hình thể ngoài:
Ống tai ngoài đi từ xoắn tai đến màng nhĩ Do màng nhĩ nằm chếch xuống dưới và vào trong nên thành sau trên ống tai ngoài dài khoảng 25 mm, trong khi thành dưới trước dài 31 mm
Trang 18- Thành trên: cách ngách thượng nhĩ và tầng giữa của sọ bởi một mảnh của xương thái dương
- Thành sau: cách xương chũm bằng một lớp xương mỏng
* Cấu tạo:
- Một phần ba ngoài ống tai ngoài được cấu tạo bởi sụn ống tai, sụn này liên tiếp với sụn loa tai
- Hai phần ba trong ống tai ngoài là thành phần của xương thái dương
- Da của ống tai ngoài liên tục với da loa tai và phủ mặt ngoài của màng nhĩ Phần da phủ sụn có lông và các tuyến tiết ráy tai [13]
1.1.2.3 Các cấu trúc giải phẫu quan trọng vùng quanh tai
- Các cơ vùng tai: cơ tai trước, cơ tai trên, cơ tai sau, cơ thái dương, cơ thái dương đỉnh
- Vùng trước tai gồm các cấu trúc quan trọng như: tuyến mang tai, động - tĩnh mạch thái dương nông, động - tĩnh mạch mặt ngang, các dây thần kinh vận động vùng mặt (dây VII), và cảm giác vùng mặt (dây V)
* Động mạch thái dương nông
- Nằm bên trong tuyến mang tai, đi lên ngang qua rễ của mỏm gò má Ở đây
có thể bắt nhịp đập của động mạch ngay trước tai
- Động mạch thái dương nông cho các nhánh mang tai, động mạch ngang, các nhánh tai trước, động mạch gò má, động mạch thái dương giữa, nhánh trán và nhánh đỉnh
Trang 19* Thần kinh mặt (thần kinh VII)
Thần kinh mặt được tạo nên bởi hai rễ: rễ vận động lớn (thần kinh mặt)
và một rễ nhỏ hơn gọi là thần kinh trung gian
- Nguyên ủy hư: rãnh hành cầu, ở đầu trên của rãnh bên trước hành não Đường đi: có thể chia làm ba đoạn:
+ Đoạn trong sọ từ rãnh hành cầu, thần kinh mặt cùng dây số VIII đi qua hố
sọ sau đến lỗ ống tai trong
+ Đoạn trong xương đá gồm ba đoạn nhỏ: đoạn mê đạo, thần kinh chạy thẳng góc với trục của phần đá xương thái dương, đi giữa hai phần ốc tai xương và tiền đình xương của tai trong đoạn nhĩ: thần kinh chạy song song với trục xương đá và nằm ở thành trong hòm nhĩ Ở chỗ nối giữa hai đoạn, thần kinh mặt gập góc gọi là gối thần kinh mặt, nơi này có hạch gối Đoạn chũm: thần kinh lại bẻ quạt chạy thẳng xuống chui qua lỗ trâm chũm để thoát ra khỏi sọ + Đoạn ngoài sọ: thần kinh mặt đổi hướng ra trước chui vào tuyến mang tai
và tỏa ra các nhánh tận tạo thành đám rối mang tai
Trang 20nhánh lưỡi có thể có hoặc không Các nhánh tận hay đám rối thần kinh mang tai: gồm có các nhánh thái dương gò má, má, bờ hàm dưới và nhánh cổ, đến vận động cho các cơ bám da mặt và da cổ
Hình 1.4: Các nhánh thần kinh mặt và tuyến mang tai
(Nguồn: Atlas of Human Anatomy, 2019 [27])
- Đặc điểm nhánh bờ dưới của thần kinh mặt ở người Việt Nam có đường kính 1,1 mm có từ 1 đến 3 nhánh thần kinh bờ hàm dưới Chúng phân chia và nối tiếp nhau tạo thành 3 đến 5 nhánh tận
- Đặc điểm nhánh trán của thần kinh mặt ở người Việt Nam có kích thước 0,8
mm bề rộng, 0,4 mm bề dày Đa số có một nhánh trán (61%) và nhánh trán thường được chia ra ở trong tuyến nước bọt mang tai, nhưng có 12% ở sau tuyến nước bọt [13]
1.1.3 Đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học
1.1.3.1 Đặc điểm lâm sàng rò luân nhĩ
- Rò luân nhĩ được chẩn đoán dễ dàng bởi sự phát hiện lỗ rò do bản thân bệnh nhân, do người nhà bệnh nhân hoặc do bác sĩ khám phát hiện ngay từ lúc sơ sinh, lớn lên ở tuổi nhà trẻ, mẫu giáo hay học sinh và người lớn
Các nhánh thái dương Các nhánh gò má Ống tuyến mang tai Các nhánh má
Nhánh bờ hàm dưới Nhánh cổ
Tuyến mang tai
Thần kinh tai sau
Thân chính
Thần kinh
cho cơ
phía sau
Trang 21- Một số trường hợp chỉ được phát hiện khi lỗ rò bị bội nhiễm với chảy mủ qua một lỗ rò hay một áp xe thực sự trước vành tai có lỗ rò ở bên ngoài [45]
- Thể chưa biến chứng, lỗ rò luân nhĩ nằm gần như ở phía trước rễ luân nhĩ 0,5 cm, trên bình tai Khi đè ép vào có thể có chất bã trắng cặn biểu bì chảy
ra, có mùi hôi Một số trường hợp có thể thấy nang nhỏ thể hiện một sự ứ chất
bã và vẩy biểu bì
Hình 1.5: Hình lỗ rò luân nhĩ lúc chưa bị viêm nhiễm
(Nguồn: Journal of Advances in Medicine and Medical Research, 2018 [47])
- Có thể bệnh nhân đến khám với các thể tổn thương lâm sàng như sau [8]: + Lỗ rò nông: thường phát hiện qua thăm khám hàng loạt Nhiều bệnh nhân chưa hề biết đến, không có triệu chứng gì do không bị viêm nhiễm, chỉ thấy phía trước gờ luân nhĩ của vành tai có một lỗ rò nông đường kính khoảng 1
mm, sâu từ 1 mm đến vài mm, ấn không đau, không có dịch, có thể có một ít chất bã trắng như mụn trứng cá có mùi hôi chảy ra
+ Lỗ rò xì ra nước vàng: ở phía trước gờ trên bình tai phình to hơn so với bên lành, trên đó có một lỗ sâu nhỏ, ấn không đau, xì ra nước vàng, hơi đục Nếu không được nặn ra làm vệ sinh sạch sẽ thì sớm muộn sẽ viêm tấy, áp xe [29] + Viêm quanh lỗ rò: phía trước tai có lỗ rò sưng, đau nhức, bệnh nhân có sốt kèm theo Khám thấy có sưng, nóng, đỏ, ấn đau tổ chức phần mềm trước tai Trên bề mặt có một lỗ rò, ấn bình tai rất đau, có nước vàng đục xì ra Tuy
Lỗ rò luân nhĩ
Vị trí kinh điển
Lỗ rò luân nhĩ
Vị trí khác
Trang 22sưng đau như vậy nhưng bệnh nhân hoàn toàn nghe tốt, không ảnh hưởng gì đến sức nghe
+ Áp xe quanh lỗ rò: sưng phồng đau trước tai, sốt trước đó, phía trước tai có một lỗ rò, thỉnh thoảng xì ra nước vàng, bệnh nhân cũng có thể khai báo đã có nhiều lần viêm nhiễm hay áp xe trước đó Khám thấy lỗ rò luân nhĩ sưng, nóng, đỏ, đau lan rộng, ấn mềm lùng nhùng Chích rạch có mủ chảy ra
+ Mảng sẹo xấu: là di chứng của áp xe rò luân nhĩ đã vỡ mủ trước đó, không chỉ một lần mà thường nhiều lần Tuy đã khỏi bệnh nhưng để lại một mảng sẹo bóng loáng từ gờ luân nhĩ lan rộng ra trước tai, có khi lan rộng ra vùng
má, cổ, thường những vùng này tóc không mọc được
Nhuộm tiêu bản: sau khi đúc sáp và cắt mỏng 3µ bằng máy cắt và nhuộm tiêu bản bằng 2 phương pháp:
- Hesmatoxylin - Eosin:
+ Nhân tế bào: xanh đến xanh đen
+ Hồng cầu: hồng đậm
+ Bào tương: hồng đến đỏ
+ Sợi tai keo: hồng nhạt
- Periodic acid Schiff:
+ Nhân tế bào: màu đen
+ Chất nhầy: hồng sẩm - đỏ
+ Glycoprotein: đỏ
Trang 23tế bào hình tròn nằm giữa tế bào
+ Loại biểu mô lát tầng sừng hóa, giống với biểu mô lát tầng nhưng lớp tế bào nông bị xếp hình thành lớp tế bào chết chứa ketanin, dính chắc vào lớp tế bào sống bên dưới
+ Biểu mô viêm: thấm nhập nhiều tế bào bạch cầu đa nhân trung tính hoặc tế bào lympho
+ Không có biểu mô, các tế bào biểu mô bị teo dét, chỉ còn tổ chức xơ
- Một số nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Khanh [8], Lê Minh Kì [11] cho thấy biểu mô đường rò là vết tích của lớp ngoại bì, thường là biểu mô lát tầng sừng hóa, nếu trong quá trình viêm nhiễm nhiều lần sẽ làm cho những biểu
mô này bong chóc, teo đét hoặc thấm nhập nhiều lympho bào
1.1.4 Điều trị rò luân nhĩ
1.1.4.1 Phương pháp phẫu thuật rò luân nhĩ
* Chỉ định phẫu thuật: rò luân nhĩ đã từng chảy dịch đường rò, biến chứng viêm tấy hoặc áp xe lúc vào viện được phẫu thuật lần đầu [41], [48]
* Chỉ định phương pháp phẫu thuật: rò luân nhĩ đã từng biến chứng viêm tấy hoặc áp xe hóa khi vào viện, theo tác giả Nguyễn Tư Thế [17] có chỉ định phẫu thuật sớm trong vòng 7 ngày cho bệnh nhân với 2 khả năng:
Trang 24- Phẫu thuật nóng: phẫu thuật được thực hiện trong vòng 3 ngày kể từ khi vào viện phối hợp với điều trị kháng sinh mà vẫn còn viêm tại chỗ đường rò
- Phẫu thuật ấm: phẫu thuật được thực hiện trong thời gian từ 4-7 ngày kể từ khi vào viện phối hợp với điều trị kháng sinh thì quá trình viêm đã ổn định [17], [33]
* Chuẩn bị bệnh nhân:
- Vô cảm: gây mê toàn thân, đặt ống nội khí quản
- Tư thế: bệnh nhân nằm ngữa, đầu nghiêng về phía đối diện bên phẫu thuật
* Phương pháp phẫu thuật:
- Tiêm tê xung quanh lỗ rò luân nhĩ
- Bơm dung dịch xanh methylen vào miệng lỗ rò để xác định đường đi của đường rò
- Rạch da theo hình múi cam bao quanh lỗ rò, kéo dài nhẹ lên trước luân nhĩ
- Bóc tách đường rò theo đường rạch da Sự cắt bỏ được thực hiện thành một khối bao gồm mô trước luân nhĩ đến bình diện cân cơ thái dương ở bên trong cho đến khi tiếp xúc với cực trên của tuyến mang tai, ở phía trước cho đến bờ trên của nắp tai và dây chằng trước của vành tai Ở phía dưới cắt bỏ một phần nhỏ của sụn ở rễ trước của luân nhĩ vì rãnh túi rất dính với màng sụn
- Khâu phục hồi da hai lớp, không cần dẫn lưu [16], [21], [30]
1.1.4.2 Hậu phẫu
Theo dõi biến chứng và tái phát:
* Biến chứng trong phẫu thuật [37]:
- Chảy máu
- Tổn thương tuyến mang tai
- Tổn thương dây thần kinh VII
* Biến chứng sau phẫu thuật [42]:
- Tụ máu
Trang 25- Nhiễm trùng
- Tổn thương tuyến mang tai
- Tổn thương dây thần kinh VII
* Tái phát sau phẫu thuật:
- Các phẫu thuật đường rò là những phẫu thuật khó khăn do tỉ lệ tái phát sau
mổ hiện nay khá cao Tái phát là khi xuất hiện chảy mủ tái diễn, hình thành nên áp xe, những dấu hiệu viêm nhiễm tại chỗ hoặc xuất hiện khối trước tai kéo dài hơn một tháng sau phẫu thuật và thất bại với giải quyết bằng kháng sinh sau giai đoạn liền vết thương ban đầu Nguyên nhân tái phát sau mổ chủ yếu là do biểu mô đường rò còn sót lại trong lúc phẫu thuật [40] Ở Việt Nam, theo thống kê của tác giả Vũ Sản tỉ lệ tái phát gặp ở Viện Tai Mũi Họng là 27,3% [14]
* Sự lành vết thương: là một quá trình phức tạp, sự lành sẹo da trải qua 4 giai đoạn chồng lấp nhau: giai đoạn sung huyết và phản ứng viêm, giai đoạn biểu
mô hóa, giai đoạn tăng sinh và giai đoạn tái tạo [15]
- Giai đoạn sung huyết và viêm:
+ Các đáp ứng mạch máu và tế bào: bắt đầu từ ngày sau tổn thương và kéo dài đến 3 giờ, gây đông cầm máu
+ Đáp ứng viêm cấp xảy ra trong vòng 24 đến 48 giờ Bạch cầu đa nhân di chuyển vào vết thương và “dọn dẹp” các mảnh vụn, vật lạ, vi khuẩn nhờ thực bào Bạch cầu đơn nhân xuất hiện vào ngày thứ 3, có chức năng đại thực bào, tiếp tục công việc dọn dẹp và tiết ra các chất giúp liền vết thương
- Giai đoạn biểu mô hoá: hình thành biểu mô phủ lên bề mặt vết thương, chống lại sự xâm nhập của vi trùng Lớp tế bào đáy bao quanh bờ vết thương tăng sinh, di chuyển vào trung tâm trong khoảng 48 giờ
- Giai đoạn tăng sinh (3-21 ngày): tái tạo đoạn collagen: trong vòng 3-4 ngày sau khi có vết thương, phát triển mô hạt làm đầy vết thương
Trang 26- Giai đoạn tái tạo: giai đoạn tái tạo biểu bì được xem như giai đoạn cuối cùng
để vết thương lành hoàn toàn Bắt đầu từ ngày 21, có thể kéo dài đến 1,5 năm sau đó Tái cấu trúc của mô thông qua sự cân đối giữa thoái hoá và sản sinh collagen, làm tăng sự vững chắc của vết thương và quyết định hình dạng của vết thương Nếu sự sản sinh vượt trội hơn sự thoái hoá sẽ hình thành mô sẹo quá phát (hay sẹo phì đại, sẹo lồi)
1.2 Tình hình nghiên cứu rò luân nhĩ
1.2.1 Tình hình nghiên cứu rò luân nhĩ trên thế giới
Rò luân nhĩ được mô tả lần đầu tiên bởi Van Heusinger năm 1864 [25] Năm 1878, Paget đã mô tả một gia đình có bố và 5 trong 8 người con
có rò cạnh tai, vì vậy nhấn mạnh tính di truyền của bệnh cảnh này [22]
Nghiên cứu của Wan-Ju Huang về lựa chọn phương pháp phẫu thuật rò luân nhĩ năm 2013 ghi nhận trên 90 bệnh nhân trong đó nữ 41,1%, nam 58,9%, rò luân nhĩ 2 bên chiếm 21,1%, bên phải 46,7%, bên trái 32,2% [48]
Năm 2014, nghiên cứu của Soo-Youn An và cộng sự cho kết quả tỉ lệ
rò luân nhĩ hai bên chiếm 20,3%, một bên chiếm 79,7%, nữ chiếm 61,9%, nam chiếm 38,1% Chỉ những trường hợp có ba và mẹ có rò luân nhĩ hai bên mới làm tăng nguy cơ di truyền rò luân nhĩ cho trẻ [22]
Năm 2015, Heon Yoo và cộng sự khi nghiên cứu về kĩ thuật phẫu thuật
rò luân nhĩ tại Đại học y khoa Hàn Quốc đã ghi nhận kết quả 100% bệnh nhân không có tiền sử tái phát đường rò sau phẫu thuật; hậu phẫu không ghi nhận tình trạng nhiễm trùng vết mổ [31]
Năm 2020, Min Sik Kim và cộng sự khi nghiên cứu về kĩ thuật phẫu thuật rò luân nhĩ có bơm xanh methylen kèm theo khâu phục hồi 2 lớp và dùng kính hiển vi để quan sát giúp giảm tỉ lệ tái phát còn 2,4% [40]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu rò luân nhĩ ở Việt Nam
Ở Việt Nam nhiều công trình nghiên cứu Tai mũi họng có đề cập đến
Trang 27rò luân nhĩ với tỉ lệ rò trên dưới 1% Các rò khác chưa được nghiên cứu một cách toàn diện [8]
Năm 2000, tác giả Nhan Trừng Sơn có nhận xét qua 115 trường hợp rò luân nhĩ tại khoa Tai mũi họng Bệnh viện Nhi Đồng 1, Thành phố Hồ Chí Minh, giới nam là 55,2%, nữ 44,8%; mắc bệnh bên phải 34,5%, bên trái 33,3% và 2 bên chiếm 32,2%; kết quả phẫu thuật thành công 96,5% và tái phát 3,5% [14]
Nguyễn Tư Thế (2000), “Tìm hiểu dịch tễ học bệnh rò luân nhĩ bẩm sinh ở học sinh, sinh viên thành phố Huế” đã ghi nhận tỉ lệ mắc bệnh là 3,47%; miệng lỗ rò ở vị trí kinh điển chiếm 75,8%; rò hai bên khoảng 35% và chưa có sự khác biệt về giới [18]
Năm 2013, Phạm Văn Dưng và cộng sự đã nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị bệnh rò Hélix tại bệnh viện Đại học Y Dược Huế với
34 trường hợp, chiếm 64,7% có lỗ rò 2 bên, 96,3% lỗ rò ở vị trí kinh điển [5]
Theo nghiên cứu của Lê Quốc Anh (2014), nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị rò luân nhĩ bằng phẫu thuật đã cho thấy nhóm tuổi nhỏ hơn 15 tuổi chiếm tỉ lệ cao; không có sự khác nhau về giới, rò 2 bên chiếm 42,2%; tái phát 1,6% [1]
Năm 2015, Nguyễn Văn Trọn nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật đường rò bẩm sinh vùng trước tai cho thấy nam chiếm 46,8%, nữ 53,2%; lứa tuổi 6-15 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất với 44,7 %; kết quả chung sau phẫu thuật được đánh giá tốt với 85,1% [20]
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân vào viện điều trị với chẩn đoán xác định và có chỉ định phẫu thuật rò luân nhĩ
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Tất cả bệnh nhân được vào viện điều trị từ tháng 2/2019 đến tháng 2/2021, với chẩn đoán là rò luân nhĩ và có chỉ định phẫu thuật:
- Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào lâm sàng
- Chỉ định phẫu thuật: rò luân nhĩ đã từng bị chảy dịch đường rò, viêm tấy hoặc áp xe đường rò trước khi nhập viện, không giới hạn tuổi, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, địa chỉ
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Đối tượng nghiên cứu không gồm các bệnh nhân sau:
- Các tổn thương dạng nang khác như nang bạch mạch, các loại nang do viêm nhiễm kèm theo
- Các loại nang và rò khe mang khác
- Bệnh nhân bị rò luân nhĩ tái phát sau khi đã được phẫu thuật trước đó
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2019 đến năm 2021
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang và có can thiệp lâm sàng
Trang 292.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
- Cỡ mẫu được tính theo công thức:
2
2 2 /
1 ( 1 )
d
p p
Z
- Trong đó:
+ Z = 1,96 khi độ tin cậy 95%, mức ý nghĩa thống kê α = 0,05
+ Chọn p là tỉ lệ thành công 90% Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Trọn (2015) [20], ta chọn p = 0,9
+ Chọn sai số cho phép d = 0,08
- Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu hợp lý sẽ là: n = 54
- Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, sự mất mẫu là khó tránh khỏi Vì vậy, trừ hao số mẫu mất là 10% cỡ mẫu tối thiểu, ta có cỡ mẫu cần nghiên cứu là:
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Thông tin chung về mẫu nghiên cứu
- Tuổi: được chia theo các nhóm tuổi [5]
Trang 30- Nghề nghiệp: nghề dành nhiều thời gian nhất [5]
- Tiền sử bản thân và gia đình:
+ Tiền sử bản thân: tai nhỏ, dị dạng vành tai, chậm phát triển thể chất, các rò khác,
+ Trong gia đình có ai mắc bệnh tương tự bệnh nhân như: ba, mẹ, anh, chị,
Trang 31- Quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh từ trước, diễn biến của bệnh
- Đã được xử trí biến chứng: điều trị nội khoa, chích rạch, áp xe tự vỡ
2.2.4.2 Triệu chứng cơ năng
- Ngứa đường rò: có hoặc không
- Đau nhức vùng tai: có hoặc không
- Quay đầu khó khăn: có hoặc không
- Nhai nuốt đau: có hoặc không [20]
2.2.4.3 Khám thực thể
- Vị trí tai bị rò luân nhĩ: bên phải, bên trái, cả 2 bên
- Vị trí giải phẫu lỗ rò luân nhĩ theo tai bị rò: kinh điển (nằm ở phía trước rễ luân nhĩ 0,5 cm, trên bình tai), phía trên, dưới, trước, sau
- Màu sắc dịch miệng đường rò:
- Phương pháp phẫu thuật [39]:
+ Lấy trọn đường rò đơn thuần
+ Lấy trọn đường rò và sẹo, mô xơ
- Phương pháp phẫu thuật theo số lần tái phát: có hoặc không
- Tai biến trong phẫu thuật:
+ Chảy máu (tổn thương động mạch, tĩnh mạch)
Trang 32+ Tổn thương tuyến mang tai
+ Tổn thương dây thần kinh VII
+ Tổn thương tuyến mang tai
+ Tổn thương dây thần kinh VII
+ Không biến chứng
- Biến chứng sau mổ theo phương pháp phẫu thuật: có hoặc không
- Thời gian điều trị nội trú: được tính từ thời gian nhập viện đến khi xuất viện, được chia làm hai nhóm: trong vòng 7 ngày và lớn hơn 7 ngày [17]
+ Không biểu mô
- Loại biểu mô theo số lần tái phát biến chứng đường rò: có hoặc không
2.2.4.6 Sự lành vết thương sau 3 tháng, 6 tháng
- Tốt: đường sẹo nhỏ, hồng, bằng mặt da
- Xấu: các dạng sẹo xấu như sẹo lồi, sẹo co rút, sẹo phì đại
- Sự lành vết thương theo tình trạng nhiễm trùng sau mổ: có hoặc không
2.2.4.7 Tái phát
Biểu hiện lại triệu chứng sau khi vết thương đã lành (theo dõi trong 1
Trang 33- Sự tái phát theo phương pháp phẫu thuật: có hoặc không
- Sự tái phát theo loại biểu mô đường rò: có hoặc không
2.2.4.8 Đánh giá kết quả chung
- Tốt: không tái phát đường rò, sẹo liền tốt
- Xấu: tái phát đường rò, sẹo lành không tốt
2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu
Bệnh nhân đến khám tại khoa khám Bệnh viện Tai mũi họng Cần Thơ, được chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật đường rò, bệnh nhân đồng ý thực hiện Sau đó chúng ta tiến hành các bước:
2.2.5.1 Hỏi bệnh, hỏi tiền sử gia đình: nắm những đặc điểm chung
2.2.5.2 Các đặc điểm lâm sàng
Đây là các dị tật bẩm sinh, biểu hiện triệu chứng ngay sau khi sinh, dị tật có thể không triệu chứng gì rầm rộ hoặc gián tiếp qua các triệu chứng của nhiễm khuẩn đường rò Sau khi nhiễm khuẫn đã được điều trị ổn định, triệu chứng lỗ rò mới biểu hiện một cách rõ ràng
Các triệu chứng ở giai đoạn viêm nhiễm :
- Triệu chứng toàn thân: hội chứng nhiễm trùng
- Triệu chứng cơ năng bao gồm: sưng đau vùng trước tai, nhai nuốt đau, quay
cổ hạn chế
- Triệu chứng thực thể: do đường rò tích tụ dịch và nhiễm khuẩn
+ Viêm quanh lỗ rò: khám thấy có sưng, nóng, đỏ, ấn tổ chức phần mềm trước tai đau Trên bề mặt có một lỗ rò, ấn bình tai rất đau, có nước vàng đục
Trang 34xì ra Tuy sưng đau như vậy nhưng bệnh nhân hoàn toàn nghe tốt, không ảnh hưởng gì đến sức nghe
+ Áp xe quanh lỗ rò: phía trước tai có một lỗ rò, thỉnh thoảng xì ra nước vàng, bệnh nhân cũng có thể khai báo đã có nhiều lần viêm nhiễm hay áp xe trước
đó Khám thấy lỗ rò luân nhĩ sưng, nóng, đỏ, đau lan rộng, ấn mềm lùng nhùng Chích rạch có mủ chảy ra
Các triệu chứng ngoài giai đoạn viêm nhiễm: ngoài đợt nhiễm khuẩn, bệnh nhân thường đến bệnh viện với một lỗ rò ngoài da vùng trước tai Lỗ rò được xác định khi dùng que trâm đầu tù thăm rò (nếu nặn phòi ra một chất trắng như bã đậu thì càng chắc chắn)
- Lỗ rò bên ngoài được đánh giá qua:
Nhuộm tiêu bản: sau khi đúc sáp và cắt mãnh mỏng 3µ bằng máy cắt
và nhuộm tiêu bản bằng 2 phương pháp :
- Hesmatoxylin-Eosin:
+ Nhân tế bào: xanh đến xanh đen
+ Hồng cầu: hồng đậm
Trang 35+ Bào tương: hồng đến đỏ
+ Sợi tai keo: hồng nhạt
- Periodic acid Schiff:
+ Nhân tế bào: màu đen
tế bào hình tròn nằm giữa tế bào
+ Loại biểu mô lát tầng sừng hóa: giống với biểu mô lát tầng nhưng lớp tế bào nông bị xếp thành lớp tế bào chết chứa ketanin, dính chắc vào lớp tế bào sống bên dưới
+ Loại biểu mô trụ giả tầng: trông dễ lẫn với biểu mô trụ tầng nhưng cấu tạo lại là một biểu mô đơn
+ Biểu mô viêm: thấm nhập nhiều tế bào bạch cầu đa nhân trung tính hoặc tế bào lympho
+ Không có biểu mô: các tế bào bị teo dét, chỉ còn tổ chức xơ
2.2.5.4 Phương pháp điều trị phẫu thuật
* Chỉ định phẫu thuật: rò luân nhĩ từng bị chảy dịch đường rò, biến chứng viêm tấy hoặc áp xe lúc vào viện đã điều trị ổn định được phẫu thuật lần đầu [41], [48]
* Chỉ định phẫu thuật: rò luân nhĩ đã từng biến chứng viêm tấy hoặc áp xe
Trang 36hóa khi vào viện, theo Nguyễn Tư Thế [17] có chỉ định phẫu thuật sớm trong vòng 7 ngày cho bệnh nhân với 2 khả năng:
- Phẫu thuật nóng: phẫu thuật được thực hiện trong vòng 3 ngày kể từ khi vào viện phối hợp với điều trị kháng sinh mà vẫn còn viêm tại chỗ đường rò
- Phẫu thuật ấm: phẫu thuật được thực hiện trong thời gian từ 4-7 ngày kể từ khi vào viện phối hợp với điều trị kháng sinh thì quá trình viêm đã ổn định [17], [33]
* Chuẩn bị bệnh nhân:
- Vô cảm: gây mê toàn thân, đặt ống nội khí quản
- Tư thế: bệnh nhân nằm ngữa, đầu nghiêng về phía đối diện bên phẫu thuật
* Phương pháp phẫu thuật:
- Tiêm tê quanh lỗ rò
- Bơm dung dịch xanh methylen vào miệng lỗ rò để xác định đường đi của đường rò
- Rạch da theo hình múi cam bao quanh lỗ rò, kéo dài nhẹ lên trước luân nhĩ
Sự cắt bỏ được thực hiện thành một khối bao gồm mô trước luân nhĩ đến bình diện cân cơ thái dương ở bên trong cho đến khi tiếp xúc với cực trên của tuyến mang tai, ở phía trước cho đến bờ trên của nắp tai và dây chằng trước của vành tai Ở phía dưới cắt bỏ một phần nhỏ của sụn ở rễ trước của luân nhĩ
vì rãnh túi rất dính với màng sụn
- Ở vùng này có nhánh thái dương mặt của dây VII nằm ở phía trước của đường nối rãnh tai ra khóe mắt ngoài nên cần tránh mọi tổn thương cho dây thần kinh VII Khâu phục hồi da hai lớp không cần dẫn lưu
* Điều trị và săn sóc sau mổ:
- Dùng kháng sinh đường toàn thân từ 7 đến 10 ngày
- Thay băng hàng ngày theo dõi tình trạng vết mổ [2]
Trang 37- Thời gian điều trị nội trú: được tính từ thời gian nhập viện đến khi xuất viện, được chia làm hai nhóm: trong vòng 7 ngày và lớn hơn 7 ngày [17]
2.2.5.5 Các chỉ tiêu theo dõi trong phẫu thuật và kết quả sau phẫu thuật
* Các chỉ tiêu theo dõi trong phẫu thuật:
- Biến chứng trong phẫu thuật như: chảy máu, tổn thương tuyến mang tai, tổn thương dây thần kinh VII
- Biến chứng sau phẫu thuật:
+ Tụ máu
+ Nhiễm trùng
+ Liệt dây thần kinh VII
+ Tổn thương tuyến mang tai
2.2.5.6 Các chỉ tiêu theo dõi đánh giá kết quả xa sau phẫu thuật
* Thời gian theo dõi xa sau phẫu thuật: mỗi bệnh nhân được tái khám 4 lần, lần 1 sau 1 tuần, lần 2 sau phẫu thuật 1 tháng, lần 3 sau phẫu thuật 3 tháng, lần 4 sau phẫu thuật 6 tháng
* Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật:
- Thời gian tái phát
- Tỉ lệ tái phát
- Thể lâm sàng tái phát: viêm tấy, áp xe, rò mủ kéo dài
- Phân loại kết quả điều trị sau phẫu thuật [28]:
+ Tốt: toàn bộ tổn thương thực thể biến mất, vùng da tại vị trí lỗ rò trở lại bình thường, không viêm nhiễm, đảm bảo thẩm mỹ, sẹo đẹp
+ Xấu: thương tổn thực thể vẫn còn tồn tại hoặc ăn sâu vào mô lành, chuyển biến xấu, gây viêm nhiễm, áp xe, chảy mủ kéo dài, sẹo thấy rõ hoặc sẹo lồi
2.2.5.7 Phương tiện nghiên cứu
- Bộ dụng cụ khám tai mũi họng thông thường tại phòng khám Tai Mũi Họng, Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ: đèn Clar, banh mũi, đè lưỡi, soi tai, gương
Trang 38soi mũi sau
- Bộ dụng cụ phẫu thuật đường rò: dao mổ, Kelly các loại, Forceps, Allis, Farabeuf cỡ nhỏ, ống hút, dây hút, curette nạo, kéo Metzenbaum, dao điện đơn cực
- Dụng cụ đọc giải phẫu bệnh
- Phiếu nghiên cứu
2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số
- Giải thích rõ ràng các triệu chứng của bệnh
- Khai thác kĩ bệnh sử, tiền sử, lâm sàng, khám cẩn thận triệu chứng của bệnh nhân, điện thoại nhắc nhở bệnh nhân tái khám đúng hẹn
- Các mẫu bệnh phẩm được bảo quản tốt và được bác sĩ chuyên ngành về giải phẫu bệnh đọc kết quả
2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Dữ liệu thô từ bệnh án nghiên cứu được mã hóa và nhập vào máy vi tính bằng phần mềm SPSS 22.0
2.3 Vấn đề y đức
- Nghiên cứu được thực hiện sau khi đã thông qua Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh của Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ và Bệnh viện Tai mũi họng Cần Thơ
- Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu được giải thích rõ ràng về bệnh của mình và đồng ý hợp tác
- Các thông tin của bệnh nhân được giữ bí mật và nghiên cứu này chỉ nhằm phục vụ cho việc chẩn đoán, điều trị bệnh cho bệnh nhân ngày một tốt hơn
- Các bước thực hiện tuân thủ theo các tiêu chí về y đức nhằm mang lại lợi ích cho bệnh nhân, không làm tổn hại thêm đến người bệnh, không can thiệp khi chưa có sự đồng ý và trách nhiệm của các bác sĩ điều trị
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian từ tháng 02 năm 2019 đến tháng 04 năm 2021, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tên 70 trường hợp rò luân nhĩ tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ Qua phân tích các số liệu trên và chúng tôi có kết quả như sau:
3.1 Đặc điểm chung
3.1.1 Phân bố tỉ lệ bệnh theo giới
Bảng 3.1: Bảng phân bố tỉ lệ bệnh theo giới (n=70)
3.1.2 Phân bố bệnh theo tuổi
Bảng 3.2: Bảng phân bố tỉ lệ bệnh theo tuổi (n=70)
Trang 40hợp, chiếm 24,3%
- Còn lại là nhóm tuổi dưới 6 với 2 trường hợp, chiếm 2,9%
- Tuổi nhỏ nhất là 5 tuổi, tuổi lớn nhất là 53 tuổi
3.1.3 Phân bố bệnh theo nghề nghiệp
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phân bố tỉ lệ theo nghề nghiệp (n=70)
Nhận xét:
- Gặp nhiều nhất là học sinh - sinh viên chiếm tỉ lệ 64,3%
- Còn lại là các ngành nghề khác chiếm số lượng ít từ 5,7% đến 17,1%
3.1.4 Phân bố bệnh nhân theo địa dư
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo địa dư (n=70)