TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ TRẦN VĂN NGỌT NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA GIÁO VIÊN Ở CÁ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
TRẦN VĂN NGỌT
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG
VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2020 – 2021
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Cần Thơ, 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
TRẦN VĂN NGỌT
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG
VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG
CỦA GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG MẪU GIÁO
HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2020 - 2021
Chuyên ngành : QUẢN LÝ Y TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là chính xác, trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một nghiên cứu nào khác trước đây
Tác giả luận văn
Trần Văn Ngọt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học tập và luận văn chuyên khoa cấp II chuyên ngành Quản lý Y tế, tôi xin chân thành và trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, quý thầy cô trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường
Tôi bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Võ Huỳnh Trang đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình để tôi thực hiện xong luận văn
Xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ viên chức Trung tâm Y tế và các Trạm Y tế xã của huyện Trần Đề đã giúp đỡ tôi trong quá trình công tác và thu thập số liệu
Cuối cùng xin cảm ơn những người thân yêu, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên dành nhiều tình cảm và tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2021
Trần Văn Ngọt
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CA: Coxsackie virus A
CB: Coxsackie virus B
CSHQ: Chỉ số hiệu quả can thiệp
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
KT-TĐ-TH: Kiến thức, thái độ, thực hành
KTĐ: Kiến thức đúng
KTCĐ: Kiến thức chưa đúng
KTC: Khoảng tin cậy
OR: Odds Radio
PCR: Giải trình tự gen (Polemerase Chain Reaction)
PTCT: Tỷ lệ trước can thiệp
PSCT: Tỷ lệ sau can thiệp
RT - PCR: Reverse Transcription - Polemerase Chain Reaction TCM: Tay chân miệng
TT-GDSK: Truyền thông - giáo dục sức khỏe
TĐĐ: Thái độ đúng
TĐCĐ: Thái độ chưa đúng
Trang 6THĐ: Thực hành đúng
THCĐ: Thực hành chưa đúng
TCT; SCT: Trước can thiệp; Sau can thiệp
VNRC: VietNam of Red cross (Hội chữ thập đỏ Việt Nam) WHO: World Health Organization (Tổ chức y tế Thế giới)
Trang 7MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương khái quát về bệnh TCM 3
1.2 Đặc điểm dịch tễ học 4
1.3 Các biện pháp phòng ngừa và thái độ xử trí bệnh TCM 7
1.4 Sơ lược lịch sử và tình hình bệnh tay chân miệng 11
1.5 Tình hình nghiên cứu về phòng chống bệnh Tay chân miệng 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 35
3.2 Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng về về phòng chống bệnh TCM 37
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành 41
3.4 Kết quả can thiệp bằng truyền thông phòng, chống bệnh TCM 44
Chương 4 BÀN LUẬN 53
4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 53
Trang 84.2 Kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng bệnh TCM 55
4.3 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành 61
4.4 Kết quả can thiệp truyền thông phòng chống bệnh TCM: 65
KẾT LUẬN 70
KIẾN NGHỊ 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Danh sách giáo viên tham gia nghiên cứu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Tình hình bệnh TCM ở các nước trong khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương đến ngày 31/7/2018 13
Bảng 1.2 Tình hình bệnh TCM tại tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2016 - 2019 14
Bảng 3.1 Nguồn cung cấp thông tin về bệnh TCM cho giáo viên 36
Bảng 3.2 Kiến thức đúng về phòng chống bệnh TCM 37
Bảng 3.3 Kiến thức đúng về các yếu tố liên quan đến bệnh TCM 38
Bảng 3.4 Thái độ đúng về phòng bệnh TCM 39
Bảng 3.5 Thực hành đúng về phòng chống bệnh TCM 40
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa KTCĐ với đặc tính của mẫu nghiên cứu 41
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa TĐCĐ với đặc tính của mẫu nghiên cứu 42
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa THCĐ với đặc tính của mẫu nghiên cứu 42
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ phòng bệnh TCM 43
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh TCM 43
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa thái độ và thực hành phòng bệnh TCM 43
Bảng 3.12 Đánh giá kết quả kiến thức đúng trước và sau can thiệp 45
Bảng 3.13 Đánh giá kết quả kiến thức đúng trước và sau can thiệp 46
Bảng 3.14 Đánh giá kết quả thái độ đúng trước và sau can thiệp 47
Bảng 3.15 Đánh giá kết quả thực hành đúng trước và sau can thiệp 48
Bảng 3.16 Bảng thay đổi kiến thức chung trước và sau can thiệp 49
Bảng 3.17 Bảng thay đổi thái độ chung trước và sau can thiệp 50
Bảng 3.18 Bảng thay đổi thực hành chung trước và sau can thiệp 50
Bảng 3.19 Chỉ số hiệu quả về kiến thức chung sau can thiệp 51
Bảng 3.20 Chỉ số hiệu quả về thái độ chung sau can thiệp 51
Bảng 3.21 Chỉ số hiệu quả về thực hành chung sau can thiệp 52
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU
Trang
Biểu đồ 3.1 Phân bố độ tuổi của đối tượng nghiên cứu 35
Biểu đồ 3.2 Phân bố trình độ của đối tượng nghiên cứu 35
Biểu đồ 3.3 Phân bố dân tộc của đối tượng nghiên cứu 35
Biểu đồ 3.4 Phân bố số con của đối tượng nghiên cứu 36
Biểu đồ 3.5 Kiến thức chung của giáo viên ở các trường mẫu giáo 36
Biểu đồ 3.6 Thái độ chung của giáo viên ở các trường mẫu giáo 40
Biểu đồ 3.7 Thực hành chung của giáo viên ở các trường mẫu giáo 41
Biểu đồ 3.8 Kiến thức chung sau can thiệp 44
Biểu đồ 3.9 Thái độ chung sau can thiệp 44
Biểu đồ 3.10 Thực hành chung sau can thiệp 44
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tay chân miệng là một bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do vi rút đường ruột gây ra Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi [42], bệnh lây truyền theo đường tiêu hóa Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, tổn thương niêm mạc miệng và
da chủ yếu dưới dạng phỏng nước thường thấy ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông Bệnh tay chân miệng (TCM) do một nhóm virus đường ruột
(enterovirus) gây nên Enterovirus bao gồm 4 nhóm: poliovirus, Coxsackie A
virus, Coxsackie B virus và Echovirus Các serotyp thuộc loại A gồm: Enterovirus 68, Enterovirus 71, Enterovirus 76, Enterovirus 89, Enterovirus
90, Enterovirus 91, và Enterovirus 92, trong khi các serotyp khác thì thuộc
dưới loài Enterovirus B hoặc C Tuýp Enterovirus 71 là một trong những tác
nhân gây diễn biến nặng và gây biến chứng với nhiễm trùng thần kinh trung ương như viêm não, viêm màng não, bại liệt, ngoài ra còn có viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong [2], [28]
Tại Việt Nam, bệnh tay chân miệng xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2002 Năm 2011 cả nước có 72.472 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng ở khắp 63 tỉnh thành trên cả nước, trong đó có 130 trường hợp tử vong Hiện nay, tình hình bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước Tại các tỉnh phía Nam bệnh có xu hướng gia tăng cao vào thời điểm tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 [15] Huyện Trần Đề có 134.969 nhân khẩu, trong
đó trẻ em ≤ 5 tuổi 13.801 trẻ; số trẻ ≤ 5 tuổi đến trường là 4572 trẻ Số trẻ em không đến trường trên địa bàn huyện do điều kiện kinh tế nên các em theo gia đình đi làm ăn ở địa phương khác
Trong những năm qua, địa phương đã triển khai thực hiện các hoạt động tuyên truyền phòng bệnh tay chân miệng bằng nhiều hình thức như truyền
Trang 12thông qua đài truyền thanh của huyện, xã và các trạm Y tế, phát tờ bướm, tờ rơi tuyên truyền, đã nâng cao được kiến thức của bà mẹ, giáo viên giảng dạy mẫu giáo, tuy nhiên về thực hành đúng chưa cao, còn thói quen không rửa tay bằng xà phòng trước khi cho trẻ ăn, còn cho trẻ mút tay, chưa làm sạch đồ chơi trước khi cho trẻ chơi, Đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh tay chân miệng của giáo viên, bà mẹ có con đang học ở các trường mẫu giáo (là nhóm tuổi mắc bệnh tay chân miệng nhiều nhất) Mặt khác, phòng ngừa tay chân miệng không chỉ là nhiệm vụ của bà mẹ mà cần phải có sự đóng góp của các giáo viên giảng dạy mẫu giáo vì hầu hết các ca bệnh là trẻ em dưới 5 tuổi và đang đi học Nhằm đề ra giải pháp thích hợp cho công tác truyền thông phòng, chống bệnh tay chân miệng đối với giáo viên, bà mẹ có con đang học ở các trường mẫu giáo đạt hiệu quả hơn góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh tay chân miệng, chúng tôi tiến hành
"Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành và đánh giá kết quả can thiệp truyền thông về phòng chống bệnh tay chân miệng của giáo viên ở các trường mẫu giáo huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng năm 2020 -2021" với 03
mục tiêu như sau:
1 Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng chống bệnh tay chân miệng của giáo viên ở các trường mẫu giáo huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng năm 2020 -2021;
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng chống bệnh tay chân miệng của giáo viên ở các trường mẫu giáo huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng năm 2020 -2021;
3 Đánh giá kết quả can thiệp bằng truyền thông về phòng chống bệnh tay chân miệng cho giáo viên ở các trường mẫu giáo huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng năm 2020 -2021
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương khái quát về bệnh TCM
Vi rút Coxsackie được phân lập lần đầu tiên vào năm 1948 và Enterovirus
71 vào năm 1969 tại Califormia, Hoa Kỳ [56] Nguyên nhân phổ biến nhất
của bệnh TCM là Coxsackievirus A16 [1] Bệnh TCM gây nên bởi
Coxsackievirus A16 thường có diễn biến lâm sàng nhẹ, lành tính, hầu hết đều
tự khỏi và có thể hồi phục trong vòng 7 - 10 ngày [5]
Một nghiên cứu về gen cũng chỉ ra rằng có khả năng có sự tái tổ hợp trong
các loài Enterovirus liên quan với bệnh TCM xảy ra thường xuyên trong tự nhiên Điều này có thể dẫn đến những vụ dịch nguy hiểm do Enterovirus 71 ở
khu vực Châu Á [43]
1.1.1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh TCM
- Giai đoạn ủ bệnh: 3-7 ngày
- Giai đoạn khởi phát: Từ 1-2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày
- Giai đoạn toàn phát: Có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh:
+ Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt
+ Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm
+ Sốt nhẹ; nôn; nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng + Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày
2 đến ngày 5 của bệnh
Trang 14- Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng [4]
1.1.2 Chẩn đoán bệnh và điều trị
1.1.2.1 Chẩn đoán bệnh
Dựa vào triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và dịch tễ học
- Lâm sàng: Phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông kèm sốt hoặc không [37]
- Cận lâm sàng: Xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập có vi rút gây bệnh[4]
- Yếu tố dịch tễ: Căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian
1.1.2.2 Chẩn đoán phân biệt
- Viêm loét miệng (áp-tơ): vết loét sâu, có dịch tiết, hay tái phát
- Sốt phát ban; dị ứng; viêm da mủ; thủy đậu; nhiễm khuẩn huyết do não
mô cầu; sốt xuất huyết Dengue
- Viêm màng não do vi khuẩn; viêm não - màng não do virus khác
- Sốc nhiễm khuẩn; viêm phổi [4]
1.1.2.3 Phương pháp điều trị chung bệnh TCM
- Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm)
- Theo dõi sát, phát hiện sớm và điều trị biến chứng
- Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng [3]
1.2 Đặc điểm dịch tễ học
1.2.1 Tác nhân gây bệnh TCM
- Bệnh TCM do các virus thuộc nhóm virus đường ruột gây ra Tác nhân thường gặp nhất là CA16, đôi khi do EV71 [3],[36] và các virus đường ruột khác, CA từ CA2 đến CA8, CA10, CA12, CA14, thường gặp CA16; Coxsackievirus B từ CB1, CB2, CB3, CB5 EV 71, EV68 CA16 và EV71
Trang 15phổ biến nhất, dễ gây biến chứng và gây tử vong trầm trọng ở trẻ em [23],[46] Trong những năm gần đây, ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á xuất hiện những vụ dịch bệnh TCM do EV 71 gây nên Khác với các chủng
CA cổ điển, chủng EV 71 có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm màng não, viêm cơ tim, viêm phổi và có thể dẫn đến tử vong [4]
- Khả năng tồn tại của virus ở môi trường bên ngoài: Virus bị đào thải ra ngoại cảnh qua phân, dịch hắt hơi, sổ mũi Virus bị bất hoạt bởi nhiệt độ 560C trong vòng 30 phút, tia cực tím, tia gamma Bị bất hoạt bởi dung dịch sodium hydroclorite 2% (nước javel), Chrorine tự do, không hoặc ít bị bất hoạt bởi các chất hòa tan lipid như Cồn, Chlorofoml, Phenol, Ether Ở nhiệt độ lạnh
400C, virus có thể sống được vài ba tuần [2]
- Nguồn truyền nhiễm bệnh TCM: Ổ chứa nguồn bệnh là người bệnh, người lành mang vi rút có trong các dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các bọng nước hoặc phân của người bệnh Thời gian ủ bệnh: từ 3 đến 7 ngày Thời gian lây nhiễm từ vài ngày trước khi khởi phát bệnh cho đến khi hết loét miệng và các bọng nước, thường dễ lây nhất trong tuần đầu của bệnh [2]
1.2.2 Đường lây truyền bệnh TCM
Bệnh tay chân miệng là bệnh do vi rút đường ruột gây ra, và lây từ người sang người do tiếp xúc với các dịch tiết mũi họng, nước bọt Bệnh được phân bố theo thời gian, theo lứa tuổi, theo giới và theo địa dư Bệnh lây truyền qua đường "phân-miệng" và tiếp xúc trực tiếp, nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các bọng nước hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của người bệnh trên dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà Đặc biệt khi mắc bệnh đường hô hấp, việc hắt hơi, ho, nói chuyện sẽ tạo điều kiện cho vi rút lây lan trực tiếp từ người sang người [2]
Trang 16Người lành bị nhiễm vi rút gây bệnh TCM do hít hay nuốt phải các giọt nhỏ chất tiết đường tiêu hóa, hô hấp được phát tán khi ho, hắt hơi Vi rút cũng
có thể lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch của mụn nước, bọng nước hoặc tiếp xúc với phân của người bệnh, khả năng lây truyền cao nhất thường xảy ra trong tuần đầu của bệnh [5],[38] Trẻ em sinh hoạt chung ở nhà trẻ, mẫu giáo trường học cũng là môi trường thuận lợi cho bệnh lan truyền từ trẻ này sang trẻ khác [3]
1.2.3 Tính cảm nhiễm và miễn dịch
Mọi người đều có cảm nhiễm với vi rút gây bệnh TCM, nhưng không phải tất cả mọi người nhiễm vi rút đều có biểu hiện bệnh; bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt là trẻ em dưới 3 tuổi có tỉ lệ mắc cao hơn [2]
1.2.4 Phân bố mắc bệnh theo thời gian
Bệnh TCM thường xảy ra quanh năm và có xu hướng theo mùa, thường gặp trong mùa hè – thu (tháng 3 – 5 và tháng 9 – 12) [3] Theo báo cáo của viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, ở các tỉnh phía Nam, số bệnh nhân TCM tăng cao trong 2 đợt: từ tháng 3 – 5 và từ tháng 9 – 12 hàng năm [4] Nghiên cứu của Phan Công Hùng và cộng sự về đặc điểm dịch tễ bệnh TCM khu vực phía Nam giai đoạn 2010 – 2012 cho thấy các ca bệnh xảy ra quanh năm nhưng có xu hướng tăng vào tháng 5 và đỉnh dịch vào tháng 9 và tháng
10 hàng năm [18]
1.2.5 Phân bố mắc bệnh TCM theo tuổi
Bệnh TCM có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi [20],[21] Tại Singapore, theo nghiên cứu của Li Wei Ang và cộng sự từ năm 2001 -2007, tỷ lệ mắc bệnh TCM cao ở nhóm dưới 5 tuổi, cao nhất nhóm từ 0 - 4 tuổi [41] Tại Việt Nam, bệnh TCM thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, theo nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh TCM ở Miền Bắc giai đoạn 2012 -2014, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc bệnh chiếm 98% [26] Theo nghiên cứu của Phan Công
Trang 17Hùng và cộng sự, nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh TCM khu vực phía Nam giai đoạn 2010 -2012 cho thấy tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi mắc bệnh chiếm tỷ lệ 87,4 -95,6% [18] Theo nghiên cứu của Lê Văn Tuấn và cộng sự [27], nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và vi rút bệnh TCM giai đoạn 2011 -2014 tại Tây Nguyên cho thấy tỷ lệ mắc bệnh của trẻ dưới 5 tuổi chiếm 98,49%
1.2.6 Phân bố mắc bệnh TCM theo giới
Tỷ lệ mắc bệnh TCM ở trẻ em nam cao hơn nữ, tuy nhiên các bằng chứng chưa rõ ràng Theo báo cáo ở Singapore từ năm 2000 -2007 tỷ số mắc bệnh TCM nam/nữ giao động từ 1,3 – 1,6/1 [41] Nghiên cứu của tác giả Phạm Nguyễn Yến Trang (2016-2017) về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, biến đồi huyết áp động mạch xâm lấn và kết quả điều trị bệnh TCM từ độ 2B nhóm 2 ở trẻ từ 1 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh Viện Nhi Đồng Cần Thơ, tỷ lệ nam mắc bệnh TCM 64,2% [24]
1.2.7 Phân bố mắc bệnh TCM theo địa dư
Bệnh TCM xuất hiện khắp nơi trên thế giới Trong thời gian gần đây, dịch bệnh TCM chủ yếu do EV 71 gây ra ở các nước Đông Nam Á
Vụ dịch tại Đài Loan năm 1998 được coi là vụ dịch lớn với hơn 100.000 người mắc, hơn 400 trẻ phải nhập viện với các biến chứng ở hệ thần kinh trung ương, 78 trẻ đã tử vong [2]
1.3 Các biện pháp phòng ngừa và thái độ xử trí bệnh TCM
1.3.1 Các biện pháp chung
Trung tâm Y tế tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện trực tiếp chỉ đạo, huy động nguồn lực và các ban, ngành, đoàn thể triển khai các biện pháp phòng, chống dịch tại địa phương Quản lý và điều trị bệnh nhi sớm theo hướng dẫn, chẩn đoán, điều trị bệnh TCM hạn chế tối đa biến chứng nặng và tử vong [3]
Tuyên truyền bằng nhiều hình thức trên Đài truyền thanh huyện, xã, thị
Trang 18trấn, phát tờ rơi đến hộ gia đình, đặc biệt là bà mẹ, người chăm sóc trẻ tại các hộ gia đình có trẻ em dưới 5 tuổi, giáo viên các trường học, trường mẫu giáo, lãnh đạo chính quyền, đoàn thể tại địa phương về bệnh TCM và các biện pháp phòng, chống bằng nhiều hình thức như: tổ chức lớp tập huấn chuyên đề, hướng dẫn tại chỗ cho các đối tượng nồng cốt (đoàn viên, thanh niên, phụ nữ, trưởng ban ấp, cộng tác viên, ) tại các xã, thị trấn về kiến thức phòng bệnh, phát hiện bệnh TCM tại cộng đồng và thường xuyên tuyên truyền vận động người dân thực hành các biện pháp phòng bệnh và phát hiện sớm người mắc bệnh
1.3.2 Giám sát và phòng bệnh TCM
1.3.2.1 Giám sát bệnh TCM
Định nghĩa ca bệnh lâm sàng (ca bệnh giám sát): là những trường hợp có sốt, ban chủ yếu dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông, miệng, có thể kèm theo loét ở miệng
Định nghĩa ca bệnh xác định: là ca bệnh lâm sàng có xét nghiệm dương tính với virus đường ruột gây bệnh TCM
Trường hợp bệnh tản phát: là các trường hợp bệnh TCM đơn lẻ không phát hiện liên quan về dịch tễ (đường lây và nguồn lây) với các trường hợp khác
Ổ dịch: Một nơi (thôn/ấp/bản/tổ dân phố/cụm dân cư/đơn vị) được gọi là ổ dịch khi ghi nhận từ 02 trường hợp bệnh (lâm sàng hoặc xác định) trở lên khởi phát trong vòng 07 ngày có liên quan dịch tễ với nhau
Ổ dịch được xác định là kết thúc khi sau 14 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới kể từ ngày khởi phát của trường hợp cuối cùng [5]
1.3.2.2 Các biện pháp xử lý trường hợp bệnh/có dịch
Phải tiến hành xử lý ngay trong vòng 48 giờ khi phát hiện trường hợp bệnh/có dịch
Trang 19* Các biện pháp chung
Củng cố hệ thống giám sát và báo cáo dịch tại tất cả các tuyến
Tuyên truyền tới từng hộ gia đình, đặc biệt là bà mẹ, người chăm sóc trẻ tại các hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi, giáo viên các trường học, nhà trẻ, mẫu giáo, nhóm trẻ gia đình, lãnh đạo chính quyền, đoàn thể tại địa phương về bệnh TCM và các biện pháp phòng chống bằng nhiều hình thức như họp dân, tập huấn, hướng dẫn tại chỗ, tờ rơi, loa đài, phát thanh, báo chí, truyền hình Nội dung tuyên truyền cần làm rõ các nội dung mà người dân cần phải biết bao gồm:
+ Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh TCM cao nhất là trẻ em dưới 5 tuổi + Bệnh lây truyền theo đường tiêu hóa và hiện chưa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu, nên việc mỗi người dân phải tự giác thực hiện các biện pháp vệ sinh ăn uống, vệ sinh cá nhân, vệ sinh nơi sinh hoạt là việc làm hết sức cần thiết
+ Tuyên truyền các triệu chứng chính của bệnh TCM, các dấu hiệu chuyển bệnh nặng: sốt, loét miệng, phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng mông, đầu gối đặc biệt là kèm theo dấu hiệu thần kinh hoặc tim mạch như sốt cao, giật mình, lừ đừ, run chi,bứt rứt khó ngủ, nôn nhiều, rung giật cơ,
đi loạng choạng, da nổi vân tím, vã mồ hôi, tay chân lạnh để người dân/người chăm sóc trẻ/cô giáo có thể tự phát hiện sớm bệnh nhi và đưa đến cơ sở y tế kịp thời
+ Thực hiện 3 sạch: ăn (uống) sạch; ở sạch; bàn tay sạch và chơi đồ chơi sạch [9]
- Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy nhiều lần trong ngày (cả người lớn và trẻ em), đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ
Trang 20- Thực hiện tốt vệ sinh ăn uống: ăn chín, uống chín; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng (tốt nhất là ngâm tráng nước sôi); đảm bảo sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày; không mớm thức ăn cho trẻ, không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi; không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay, vật dụng ăn uống như cốc, bát, đĩa, thìa, đồ chơi chưa được khử trùng
- Thường xuyên lau sạch các bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân và các chất thải của bệnh nhân phải được thu gom và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh
- Khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh cần đưa trẻ đi khám hoặc thông báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất Tổ chức các đội tự quản tại chỗ để kiểm tra, giám sát việc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch tại từng hộ gia đình, đặc biệt gia đình bệnh nhi và những gia đình có trẻ em dưới
5 tuổi [5], [6], [7]
* Xử lý tại hộ gia đình và cộng đồng
- Thực hiện triệt để các biện pháp chung ở mục nêu trên
- Nếu bệnh nhi được điều trị tại nhà theo quy định thì phải được cách ly ít nhất 10 ngày kể từ ngày khởi phát bệnh Hướng dẫn người nhà theo dõi bệnh nhi, khi thấy trẻ có các biểu hiện biến chứng thần kinh hoặc tim mạch như giật mình, rung giật cơ, đi loạng choạng, ngủ gà, yếu liệt chi, mạch nhanh, sốt cao ≥ 39,50C, thì phải đến ngay cơ sở y tế để khám và điều trị
- Đảm bảo có đủ xà phòng rửa tay tại hộ gia đình; đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, ăn chín, uống chín
- Hướng dẫn hộ gia đình tự theo dõi sức khỏe các thành viên trong gia đình, đặc biệt trẻ em dưới 5 tuổi, nếu phát hiện các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh phải thông báo ngay cho cơ quan y tế xử lý Khuyến cáo những thành
Trang 21viên trong hộ gia đình bệnh nhi không nên tiếp xúc, chăm sóc trẻ em khác và không tham gia chế biến thức ăn phục vụ các bữa ăn tập thể [5], [6], [7]
* Xử lý tại nhà trẻ, mẫu giáo
- Thực hiện triệt để các biện pháp chung ở mục nêu trên
- Trẻ mắc bệnh không đến lớp ít nhất là 10 ngày kể từ khi khởi bệnh và chỉ đến lớp khi hết loét miệng và các phỏng nước Đảm bảo có đủ xà phòng rửa tay tại từng lớp học Cô nuôi dạy trẻ/thầy cô giáo cần theo dõi tình trạng sức khỏe cho trẻ hàng ngày
- Khi phát hiện trong lớp, trong trường có trẻ nghi ngờ mắc bệnh phải thông báo cho gia đình và cán bộ y tế để xử lý kịp thời
- Tùy tình hình và mức độ nghiêm trọng của dịch, cơ quan y tế ở địa phương tham mưu cho cấp có thẩm quyền quyết định việc đóng cửa lớp học/trường học/nhà trẻ, mẫu giáo Thời gian đóng cửa là 10 ngày kể từ ngày khởi phát của ca bệnh cuối cùng [5], [6], [7]
* Phòng chống lây nhiễm tại nơi điều trị bệnh nhi
- Cách ly theo nhóm bệnh
- Nhân viên y tế: Mang khẩu trang, rửa, sát khuẩn tay trước và sau khi chăm sóc Khử khuẩn bề mặt, giường bệnh, buồng bệnh bằng Cloramin B 2% Xử lý chất thải, quần áo, khăn trải giường của bệnh nhân và dụng cụ chăm sóc sử dụng lại theo quy trình phòng bệnh lây qua đường tiêu hóa [3]
1.4 Sơ lược lịch sử và tình hình bệnh tay chân miệng
1.4.1 Lịch sử bệnh tay chân miệng trên thế giới
Bệnh tay chân miệng (TCM) đã được phát hiện từ lâu và gặp ở nhiều nước trên thế giới Năm 1969, lần đầu tiên phát hiện ra bệnh TCM mà tác nhân do Enterovirus 71 (EV71) một trường hợp tử vong tại Califonia, Hoa Kỳ[56] Các năm 1972, 1973, 1975 và 1978 bệnh TCM cũng đã được phát hiện tại Mỹ, Úc, Thụy Điển, Nhật Bản, Bungari và Hungari Năm 1985, 1987
Trang 22và 1988 bệnh TCM được phát hiện có ở Hồng Kông, Trung Quốc, Singapore và Brazil Đến các năm 1990, 1997 và 1998 bệnh TCM được phát hiện tại Malaysia, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore và Úc Năm 2000,2001,2003 –
2009 bệnh TCM được phát hiện tại Đài Loan, Malaysia, Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam [56]
1.4.2 Tình hình mắc bệnh tay chân miệng trên thế giới
Bệnh TCM được Robinson và cộng sự mô tả lần đầu tiên trong một đợt dịch tại Toronto (Canada) và New Zealand vào năm 1957 [48] Năm 1969 tại California đã phát hiện ca bệnh đầu tiên nhiễm EV71 [55], trong những năm tiếp theo EV71 cũng được phát hiện tại Hoa Kỳ, Úc, Thụy Điển, Nhật [38], nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh TCM là Coxsackie virus A16 (CV16),
EV 71 và là nguyên nhân phổ biến đứng thứ 2 gây bệnh TCM trên người; Vào những năm 1997 và 1998, bệnh TCM do EV 71 được phát hiện tại Malaysia, Đài Loan; năm 2000, 2003, 2008, bệnh TCM được phát hiện tại Singapore, Việt Nam và Phần Lan [35], [45], [47] Trong những năm gần đây, tình hình dịch bệnh TCM trên thế giới có xu hướng tăng cao tại nhiều nước đặc biệt tại khu vực Thái Bình Dương
Tại Đài Loan, năm 2010 đã bùng phát dịch TCM do Coxackievirus A6 (CA6) và có nhiều những biến chứng sau bệnh này [54]
Tại Nhật Bản: Năm 2011 đã phải đương đầu với dịch TCM khi quốc gia này bắt đầu chiến dịch giám sát dịch tễ học quốc gia
Các mẫu xét nghiệm máu và phân được gửi về Shimane, Hyogo, và Shizouka để làm giải trình tự gen PCR cho thấy, trong số hơn 93 mẫu xét nghiệm từ 108 mẫu được chuẩn đoán mắc TCM thì có 74 trường hợp được xác định có CA6
Theo kết quả của hệ thống giám sát trọng điểm bệnh TCM, nhìn chung số
ca bệnh vẫn duy trì ở mức thấp, dịch có xu hướng giảm [51]
Trang 231.4.3 Tình hình mắc bệnh TCM ở các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Bảng 1.1 Tình hình bệnh TCM ở các nước trong khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương đến ngày 31/7/2018
Quốc
Hồng Kông Ma Cau
Nhật Bản Singapore
Việt Nam
2015 2.014.999 884 3299 318.581 28.216 59.280
2016 2.141.471 723 3.379 61.965 39.911 46.388
2017 130.280 ** 3.321 355.500 460 48.009 31/7/2018 377.629 212 2.323 69.041 26.252 32.956
Ghi chú:**: Số liệu mắc TCM chưa được tổng hợp
(Nguồn: WHO, 2018 [57], [58], [59], [60])
1.4.4 Tình hình mắc bệnh TCM ở Việt Nam
Tại Việt Nam, bệnh TCM xảy ra quanh năm ở hầu hết các tỉnh, nhưng tập trung nhiều nhất ở các tỉnh phía Nam Tỷ lệ mắc bệnh xảy ra cao hơn từ tháng
3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 [4]
Theo báo cáo của viện Paster thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003 EV 71 lần đầu được phát hiện tại Việt Nam [45]
Năm 2005, nghiên cứu hợp tác giữa bệnh viện Nhi Đồng 1- Viện Pasteur TP.HCM - Đại học Sarawak - bệnh viện Sibu (Malaysia) và đại học Sydney (Úc) cho thấy, có 764 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh TCM Trong số
đó, 173 (42,1%) được xác định là EV 71, và 214 ca (52,1%) là CA16 Trong số những ca bị nhiễm Entero virus (EV), có 51 bệnh nhân (29,5%) đã biến chứng bệnh thần kinh cấp tính và 03 người bệnh (1,7%) đã tử vong [45] Theo số liệu thống kê của hệ thống báo cáo giám sát bệnh truyền nhiễm Cục Quản lý khám, chữa bệnh, từ đầu năm 2020 đến 17/7/2020 số ca mắc
Trang 24TCM cả nước ghi nhận 10.745 trường hợp tại 63 tỉnh, thành phố; trong đó có 6.662 trường hợp nhập viện [11]
1.4.5 Tình hình mắc bệnh TCM ở tỉnh Sóc Trăng và huyện Trần Đề Bảng 1.2 Tình hình bệnh TCM tại tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2016 - 2019
ca bệnh TCM trên địa bàn huyện Trần Đề giai đoạn 2016 – 2019 tăng dần, cụ thể năm 2016 có 108 ca mắc TCM; năm 2017 có 171 ca mắc TCM; năm 2018
có 206 ca mắc TCM và năm 2019 có 290 ca mắc bệnh TCM [30], [31], [32], [33] Trong năm 2019 số ca mắc TCM của huyện Trần Đề chiếm tỷ lệ 13,5 % trong toàn tỉnh, cao thứ 2 so với 11 đơn vị huyện, thị xã, thành phố của toàn tỉnh và chủ yếu các trường hợp mắc bệnh ở độ tuổi dưới 5 tuổi [33]
1.5 Tình hình nghiên cứu về phòng chống bệnh Tay chân miệng
1.5.1 Trên thế giới
* Về kiến thức phòng bệnh TCM:
Các nghiên cứu đều cho thấy kiến thức phòng bệnh TCM chưa cao, nghiên cứu của WangLiHua và cộng sự năm 2010 [53] tại huyện Dingtao, Tứ Xuyên, Trung Quốc về đánh giá kiến thức bệnh TCM cha mẹ trẻ dưới 5 tuổi
Trang 25Đây là nghiên cứu nhằm đánh giá sự tác động của GDSK về bệnh TCM cho cha mẹ của trẻ dưới 5 tuổi thông qua hiểu biết về bệnh, kết quả cho thấy có 57,76% ĐTNC có kiến thức đạt về bệnh TCM; Nghiên cứu của tác giả Shikandar Khan Sherwani và cộng sự, [50] được thực hiện trên 250 bà mẹ từ 22-35 tuổi tại vùng Karachi, Pa-kis-tan năm 2012, kết quả cho thấy có 24,0% bà mẹ không nhận thức được tầm quan trọng của việc rửa tay đối với sự lây truyền của các bệnh qua đường tiêu hoá ở trẻ nhỏ, chỉ 6,0% rửa tay hàng ngày, trong đó 72,0% rửa tay không đúng quy trình, 40,0% bà mẹ để móng tay dài, bẩn Nghiên cứu về KAP phòng chống bệnh TCM năm 2012 ở những người thăm và chăm sóc trẻ tại khoa Nhi, bệnh viện Tengku Ampuan Afzan, Malaysia cho thấy: hơn một nửa (53,1%) đối tượng tham gia nghiên cứu biết về dấu hiệu và biểu hiện bệnh TCM; 56,3% đồng ý rằng bệnh TCM
có thể gây tử vong; 40,6% tin tưởng rằng TCM lây qua tiếp xúc thông thường; 93,8% đồng ý đi khám chữa bệnh tại cơ sở y tế khi có biểu hiện bệnh và 65,6% đồng ý rằng vệ sinh sạch sẽ phòng được bệnh TCM [44]
* Thực hành phòng bệnh TCM:
Nghiên cứu WANG Wen-ming và cộng sự trên 335 giáo viên mẫu giáo
và 852 trẻ em mẫu giáo trong khu đô thị của thành phố Kunshan, Trung Quốc năm 2012 [52] Tỷ lệ thực hành phòng bệnh TCM đúng ở cha mẹ là 86,25% và giáo viên mẫu giáo là 98,04%; cho thấy 76,53% phụ huynh và 79,7% giáo viên mẫu giáo cho rằng những kiến thức liên quan đến bệnh TCM được cập nhật chủ yếu do các phương tiện truyền thông Nghiên cứu của Ruttiya Charoenchokpanit và Tepanata Pumpaibool năm 2013 trên 456 người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi tại 9 quận của thủ đô Bangkok Thái Lan [49] cho thấy phần lớn ĐTNC (60,3%) có mức độ thực hành phòng ngừa bệnh TCM tốt; tuy nhiên, đã có một số phát hiện đáng lo ngại, 41,2% người trả lời hiếm khi hoặc không bao giờ cọ xát tay trong ít nhất 20 giây trong khi rửa tay, 43,6% ĐTNC
Trang 26hiếm khi hoặc chưa bao giờ làm sạch đồ chơi sau khi trẻ sử dụng Nghiên cứu của WangLiHua và cộng sự năm 2010 tại huyện Dingtao, Tứ Xuyên, Trung Quốc [53], kết quả kiến thức của ĐTNC đạt được sau khi GDSK về bệnh TCM là 84,3% Điều này chứng tỏ, GDSK là một phương pháp hữu hiệu trong việc truyền thông giáo dục về bệnh TCM Nghiên cứu của WANG Wen-ming và cộng sự trên 335 giáo viên mẫu giáo và 852 trẻ em mẫu giáo trong khu đô thị thành phố Kunshan, Trung Quốc năm 2012 [52], cho thấy 76,53% phụ huynh và 79,7% giáo viên mẫu giáo cho rằng kiến thức liên quan đến bệnh TCM được cập nhật chủ yếu do các phương tiện truyền thông Như vậy, có thể thấy rằng truyền thông là rất cần thiết trong việc cung cấp các kiến thức để kiểm soát và phòng bệnh TCM, cũng như hướng dẫn thực hành phòng bệnh TCM cho cha mẹ và ở trường học Tại Malaysia, theo nghiên cứu của Kaw Bing Chua và Abdul Rasid Kasri cho thấy sự bùng phát bệnh TCM do EV71 tại Malaysia đã xảy ra 2 đến 4 năm một lần, dựa trên số liệu giám sát sẵn có từ năm 2006 cho thấy rằng EV71 lây truyền nhanh trong các đợt xảy ra dịch bệnh, việc thay đổi nhân khẩu học ở Malaysia như tăng dân số, đô thị hóa, và việc chăm sóc trẻ ở gia đình, nhà trẻ đã góp phần lây lan bệnh đặc biệt của EV71 [40]
Từ các nghiên cứu trên cho thấy: đa số các đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đều có kiến thức tốt về bệnh TCM nhưng về thực hành phòng bệnh TCM chưa được tốt, chưa khai thác được nhiều thông tin về thực hành phòng bệnh và phân tích các yếu tố liên quan Việc phòng bệnh bằng cách tăng cường TT-GDSK cho những bậc phụ huynh có con dưới 5 tuổi là rất cần thiết và hiệu quả Tại cộng đồng, kiến thức - thái độ về bệnh TCM của cha mẹ phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn thông tin được tiếp cận, phần lớn các bậc cha mẹ thích được cung cấp kiến thức thông qua các buổi TT - GDSK Vì vậy, việc
đa dạng hóa các phương pháp truyền thông, đưa ra các biện pháp phòng ngừa
Trang 27là việc rất quan trọng để nâng cao kiến thức và thực hành phòng bệnh TCM, thúc đẩy tầm quan trọng của việc rửa tay nghiêm ngặt, tránh đưa trẻ em đến những nơi công cộng trong thời gian mắc bệnh TCM, tránh dùng chung đồ dùng và làm sạch đồ chơi thường xuyên để phòng bệnh TCM hiệu quả
1.5.2 Tại Việt Nam
Việt Nam đã có một số nghiên cứu về bệnh TCM nhưng chủ yếu là một số nghiên cứu về dịch tễ học, bệnh học, vi rút Nghiên cứu của Hội chữ thập đỏ Việt Nam (VNRC - VietNam of Red cross) đã phối hợp cùng Liên đoàn chữ thập đỏ quốc tế (IFRC - International Federation of Red Cross and Red Crescent Societies) tiến hành khảo sát ban đầu tại một số tỉnh như: Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Thanh Hóa, Quảng Ngãi [39] nghiên cứu trên
416 bà mẹ có con dưới 5 tuổi, 318 người chăm sóc trẻ ở các nhà trẻ, mẫu giáo
ở 75 xã, kết quả của hai cuộc điều tra cho thấy các cuộc khảo sát đã giúp Hội chữ thập đỏ Việt Nam (VNRC) có dữ liệu để đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động giao tiếp giữa các nhóm đối tượng và hiệu quả truyền thông Nghiên cứu của Viện Chiến Lược và Chính sách y tế, Bộ Y tế năm 2012 [34] về báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông phòng chống bệnh TCM tại một số địa phương, kết quả nghiên cứu đã cho thấy những nhóm có chỉ số hành vi thực hành phòng chống TCM tương đối cao là nhóm giáo viên các trường mầm non dân lập, công lập và những hộ gia đình ở khu vực thành thị, có mức sống cao Kiến thức và thực hành của các nhóm đối tượng đích có mối tương quan tỷ lệ thuận với nhau Tuy nhiên vẫn còn một khoảng cách đáng kể giữa các chỉ số nhận thức so với các chỉ số thực hành Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số vấn đề khiến cho hoạt động truyền thông phòng chống bệnh gặp khó khăn, đó là: việc lập kế hoạch hoạt động còn manh mún, hoạt động truyền thông chỉ diễn ra theo vụ dịch, không thường xuyên liên tục, kinh phí eo hẹp, nguồn nhân lực thiếu và việc phối hợp
Trang 28liên ngành chưa thực sự hiệu quả [34]
Nghiên cứu của Trần Hoàng Duy và cộng sự (2018), kiến thức, thực hành phòng chống tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh; điểm kiến thức trung bình về TCM của những bà mẹ gửi con đi nhà trẻ/mẫu giáo cao hơn bà mẹ không gửi con đi nhà trẻ/mẫu giáo là 1,6 điểm (p<0,05) [12]
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hoà (2019), kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng, chống bệnh TCM của các cô giáo nuôi dạy trẻ tại trường mầm non Phường Hà Cầu, Quận Hà Đông, Hà Nội; giáo viên có kiến thức chung đạt 67%; chưa đạt 33% Thái độ chung đạt 78,6%; chưa đạt 21,4% Thực hành đạt 97,1%; chưa đạt 2,9% [22]
Nghiên cứu của Nguyễn Nhựt Duy (2017), kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng, chống bệnh TCM của giáo viên trường mầm non huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp; giáo viên có kiến thức chung đạt 76%; chưa đạt 24% Thực hành đạt 73,3%; chưa đạt 26,7% [13]
Nghiên cứu của Hà Mạnh Tuấn, Thái Thanh Thuỷ (2018), kiến thức, hành
vi, thái độ về phòng, chống bệnh TCM của bà mẹ nuôi con dưới 5 tuổi tại bệnh viện Nhi Đồng 2, thành phố Hồ Chí Minh; Bà mẹ có tỷ lệ kiến thức chung đúng là 77,7%; tỷ lệ thái độ chung đúng là 87%; tỷ lệ hành vi đúng chung là 64,4% [25]
Nghiên cứu của Lý Đức Trung và cộng sự (2016), kiến thức, thực hành và sự tiếp cận các phương tiện truyền thông trong phòng chống bệnh TCM của giáo viên mầm non tại Phan Thiết, Bình Thuận năm 2016, kiến thức đúng về bệnh TCM 73,53%, thực hành đúng 89,54% [29]
Lăng Lâm Huy Hoàng (2018), kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng bệnh TCM tại tỉnh Bạc Liêu năm 2016 Kiến thức chung đúng về phòng bệnh TCM 23,9%, thái độ chung đúng 66,2% và thực
Trang 29hành chung đúng 41% [17]
Lê Thị Lan Hương (2018), đánh giá kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão, Bình Lục, Hà Nam Sau can thiệp kiến thức đạt 97,6%, thực hành về bệnh TCM người dân đạt 95,6% [19]
Lê Thị Kim Ánh, Đỗ Thị Thùy Chi, Lưu Thị Hồng (2013), kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng của giáo viên ở các trường mầm non tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình, năm 2013 [1] Nghiên cứu cho thấy giáo viên có kiến thức về bệnh TCM khá thấp khi tỷ lệ có kiến thức tốt về dịch tễ học, triệu chứng, dấu hiệu nặng, đường lây truyền, biện pháp tránh lây lan và biện pháp phòng ngừa của bệnh TCM lần lượt là 14,1%; 10%; 0,5%; 31,4%; 5% và 2,3%; Tỷ lệ có kiến thức chung đúng: 31,4%; thái độ đúng 85,9%; thực hành đúng 22% [1]
Phạm Văn Bồi (2018), kiến thức, thái độ, thực hành và đánh giá kết quả phòng, chống bệnh TCM ở trẻ em của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ năm 2018 Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bà mẹ biết yếu tố thuận lợi gây bệnh TCM do ô nhiễm môi trường chiếm 73,8%; do trẻ hay ngậm đồ chơi 61,1%; do người chăm sóc trẻ thiếu kiến thức 29,4%[8] Trương Hữu Hạnh (2016), kiến thức, thái độ, thực hành phòng ngừa bệnh TCM ở trẻ em của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ năm 2016 Nghiên cứu cho thấy kiến thức đúng về nơi dễ xảy ra bệnh TCM 25,8%; [16]
Trần Bé Đoan (2017), kiến thức, thái độ, thực hành và đánh giá kết quả can thiệp truyền thông về phòng chống bệnh TCM ở bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Đầm Dơi năm 2017 – 2018 Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bà mẹ thực hành đúng về phòng bệnh TCM qua việc sử dụng chất tẩy để lau nhà, bàn ghế 67%; biết cách pha chất tẩy rửa 52,5% [14]
Trang 30Nguyễn Thị Thu Cúc, Nguyễn Thị Thu Ba, Phạm Nguyễn Kim Tuyền (2016), nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh tay chân miệng tại Bệnh viện Nhi đồng, Cần Thơ từ 9/2013 đến 11/2014 Tỷ lệ trẻ ≤ 3 tuổi mắc bệnh tay chân miệng 92,7% [10]
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Giáo viên đang công tác tại các trường mẫu giáo của huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng năm 2020 - 2021
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Giáo viên đang giảng dạy trường mẫu giáo với 2 tiêu chí chính:
- Giáo viên trực tiếp đứng lớp từ 01 năm trở lên
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Giáo viên vắng mặt hai trong những buổi truyền thông giáo dục sức khỏe (GDSK) bệnh TCM
2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Được thực hiện từ tháng 5/2020 – 5/2021
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại 11 điểm trường mẫu giáo của 11 xã/thị trấn trên địa bàn huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích và can thiệp cộng đồng không
Trang 32Trong đó:
Z: Là hệ số tin cậy theo α, chọn α = 0,05, ta có Z = 1,96
d: Sai số cho phép, chọn d = 0,06
p: Tỉ lệ kiến thức hoặc thái độ hoặc thực hành đúng về phòng chống bệnh Tay chân miệng
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Theo tác giả Lê Thị Kim Ánh (năm 2013) [1] tỉ lệ kiến thức đúng là 31%; thái độ đúng là 86%; thực hành đúng là 22% Nên chọn p1 = 0,31; p2 = 0,86;
p3 = 0,22 Thay vào công thức tính được: n1 = 228,3; n2 = 128; n3 = 183
Vậy lấy cỡ mẫu nghiên cứu là n = 229, thực tế chúng tôi lấy toàn bộ là
257 giáo viên
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện, chọn toàn bộ giáo viên của các trường mẫu giáo thuộc huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng thỏa tiêu chí chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Dân tộc: Gồm có dân tộc Kinh; khác (Hoa; Khmer, )
- Tuổi: Tuổi được tính theo năm dương lịch (tuổi tây) và được chia thành
02 nhóm: nhóm dưới 30 tuổi và nhóm từ 30 tuổi trở lên
- Trình độ học vấn: Là cấp học cao nhất của giáo viên tham gia nghiên cứu gồm 2 nhóm như sau: Trung cấp trở xuống; Từ cao đẳng trở lên
- Số con: Là tổng số con của giáo viên tham gia nghiên cứu, chia làm 2 nhóm: nhóm 01 con trở xuống; từ 02 con trở lên
- Nguồn cung cấp thông tin phòng bệnh TCM: Nguồn cung cấp thông tin phòng bệnh TCM cho giáo viên bao gồm: Internet, ti vi, sách báo, loa đài xã, tranh ảnh, tờ rơi, khẩu hiệu, pano, áp phích, cán bộ y tế xã, tổ y tế ấp, tình
Trang 33nguyện viên sức khỏe cộng đồng, cán bộ ban ngành đoàn thể tại xã và nguồn khác
2.2.4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng bệnh TCM
* Kiến thức của ĐTNC về phòng bệnh TCM: phỏng vấn cô giáo (Mỗi
ý trả lời đúng sẽ được 01 điểm)
- Kiến thức về đường lây truyền của bệnh TCM: Gồm 2 giá trị: kiến thức đúng (KTĐ) và kiến thức chưa đúng (KTCĐ)
+ Đúng: Nguồn nước (uống, sinh hoạt,…); thực phẩm; dụng cụ ăn uống; đồ chơi bị nhiễm vi rút; bàn tay, chân trẻ chơi đùa; đường tiêu hóa;
+ Chưa đúng: muỗi đốt; đường hô hấp; ruồi, gián và không biết
- Kiến thức về vắc xin phòng bệnh TCM: Gồm có 2 giá trị: “đúng” và
“chưa đúng”
+ Đúng: Hiện tại chưa có vắc xin phòng bệnh TCM
+ Chưa đúng: Hiện tại có vắc xin phòng bệnh TCM hay không biết
- Kiến thức về dấu hiệu (triệu chứng) nhận biết bệnh TCM: Là các biểu hiện ban đầu của bệnh TCM Có 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Mệt mỏi, chán ăn, sốt nhẹ (>37,50C); nổi bóng nước ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; gây loét miệng; nôn ói; tiêu chảy; co giật
+ Chưa đúng: không trả lời được theo yêu cầu trên
- Kiến thức về những yếu tố thuận lợi làm cho trẻ dễ mắc bệnh TCM: Gồm có 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Ô nhiễm nguồn nước; ô nhiễm thực phẩm; ô nhiễm môi trường; thiếu nước sạch sinh hoạt; người chăm sóc trẻ thiếu kiến thức; trẻ bị suy dinh dưỡng; trẻ hay ngậm đồ chơi; gia đình chật chội, đông người
+ Chưa đúng: Ăn thức ăn nấu chưa chín; rửa tay trước khi ăn; rửa tay sau khi đi vệ sinh và không biết
Trang 34- Thuốc điều trị đặc hiệu bệnh TCM: Gồm có 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Hiện tại bệnh TCM không có thuốc điều trị đặc hiệu
+ Chưa đúng: Bệnh TCM có thuốc điều trị đặc hiệu hay không biết
- Kiến thức về lứa tuổi thường mắc bệnh TCM: Gồm có 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Bệnh TCM thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi; nhất là dưới 3 tuổi
+ Chưa đúng: bệnh TCM thường gặp ở mọi lứa tuổi hay không biết
- Kiến thức về biến chứng và tổn thương của bệnh TCM: Gồm có 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Bệnh TCM gây biến chứng viêm não – màng não hoặc tổn thương tim hoặc nhiễm trùng máu
+ Chưa đúng: Không biết biến chứng nào trong 3 biến chứng trên hoặc trả lời khác và trả lời không biết
- Kiến thức về giải pháp vệ sinh phòng bệnh TCM: Gồm có 2 giá trị:
“đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Thường xuyên rửa tay cho trẻ và người giữ trẻ bằng xà phòng; rửa vật dụng, đồ chơi, lau sàn nhà bằng dung dịch sát khuẩn; cách ly trẻ với trẻ đang bị bệnh TCM
+ Chưa đúng: Rửa vật dụng, đồ chơi bằng nước sạch, không cần cách ly trẻ với trẻ đang bị bệnh TCM hoặc trả lời nội dung khác hoặc không biết
- Kiến thức về loại dung dịch khử khuẩn nào thích hợp để lau sàn, bàn ghế, ngâm rửa đồ chơi của trẻ: Gồm có 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Nước Javel hoặc Chloramine B hoặc sản phẩm tẩy rửa bán sẵn (Vim, sunlight)
+ Chưa đúng: Nước sạch; xà phòng và trả lời không biết
- Cách đánh giá kiến thức chung của ĐTNC về bệnh và phòng bệnh TCM
Trang 35Tổng cộng có 09 biến số với tổng số điểm là 32 điểm (phụ lục 2) Kiến thức chung được đánh giá như sau:
+ Kiến thức đúng: Khi người được phỏng vấn trả lời có tổng số điểm phần kiến thức ≥ 24 điểm
+ Kiến thức chưa đúng: Khi người được phỏng vấn trả lời có tổng số điểm phần kiến thức < 24 điểm
* Thái độ về phòng bệnh tay chân miệng của ĐTNC
Gồm các thái độ đối với bệnh tay chân miệng như sau: phỏng vấn cô
giáo (Mỗi câu trả lời đúng sẽ được 01 điểm)
- Thái độ của ĐTNC khi trong trường trẻ học có trẻ bị bệnh TCM thì không cho trẻ đến trường: Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Thái độ đúng (TĐĐ): Khi người được phỏng vấn trả lời đồng ý
+ Thái độ chưa đúng (TĐCĐ): Khi người được phỏng vấn trả lời không đồng ý hoặc trả lời không ý kiến
- Bệnh TCM là bệnh có thể phòng ngừa được: Gồm 2 giá trị: “đúng” và
“chưa đúng”
+ Đúng: Đồng ý bệnh TCM là bệnh có thể phòng ngừa được
+ Chưa đúng: Không đồng ý bệnh TCM là có thể phòng ngừa được
- Lau chùi, vệ sinh những chỗ trẻ thường hay chơi bằng dung dịch lau sàn nhà có thể góp phần phòng bệnh TCM: Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Đồng ý lau chùi, vệ sinh những chỗ trẻ thường hay chơi bằng dung dịch lau sàn nhà
+ Chưa đúng: Không đồng ý lau chùi, vệ sinh những chỗ trẻ thường hay chơi bằng dung dịch lau sàn nhà
- Người chăm sóc trẻ phải thường xuyên rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn cho trẻ có thể góp phần phòng bệnh TCM: Gồm 2 giá trị:
Trang 36“đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Đồng ý người chăm sóc trẻ phải thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hay dung dịch rửa tay
+ Chưa đúng: Không đồng ý người chăm sóc trẻ phải thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hay dung dịch rửa tay
- Người chăm sóc trẻ phải thường xuyên rửa tay bằng xà phòng trước khi
cho trẻ ăn là rất cần thiết để góp phần phòng bệnh TCM: Gồm 2 giá trị:
“đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Đồng ý người chăm sóc trẻ phải thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hay dung dịch rửa tay
+ Chưa đúng: Không đồng ý người chăm sóc trẻ phải thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hay dung dịch rửa tay
- Rửa tay cho trẻ thường xuyên bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh rất cần thiết để phòng bệnh TCM: Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Đồng ý rửa tay bằng xà phòng cho trẻ sau khi đi vệ sinh là rất cần thiết để phòng bệnh TCM
+ Chưa đúng”: Không đồng ý thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hay dung dịch rửa tay
- Thường xuyên lau sạch bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, mặt bàn, ghế bằng dung dịch lau sàn hay chất tấy rửa thông thường có thể góp phần phòng bệnh TCM: Gồm 2 giá trị:
“đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Đồng ý thường xuyên lau sạch bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày
+ Chưa đúng: Không đồng ý thường xuyên lau sạch bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày
- Thái độ về ủng hộ các hoạt động của địa phương về phòng bệnh TCM:
Trang 37Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: ủng hộ các hoạt động của địa phương về phòng bệnh TCM + Chưa đúng: Không ủng hộ các hoạt động của địa phương về phòng bệnh TCM
- Cách đánh giá thái độ chung về phòng bệnh TCM: Tổng cộng có 08 biến số với tổng số điểm là 08 điểm (phụ lục 2) Đánh giá thái độ như sau:
+ Thái độ đúng : khi ĐTNC trả lời đúng ≥ 6/8 điểm
+ Thái độ chưa đúng : khi có tổng điểm < 6/8 điểm
* Thực hành phòng bệnh tay chân miệng của ĐTNC (qua theo dõi,
kiểm tra trực tiếp): (Mỗi nội dung thực hành đúng sẽ được 01 điểm)
- Thực hành về cách pha nước Javel, Chloramine B (hay chất tẩy rửa khác): Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Thực hành đúng (THĐ): Khi ĐTNC pha nước Javel, Chloramine B (hay chất tẩy rửa khác) theo hướng dẫn trên bao bì hoặc nhân viên y tế,…
+ Thực hành chưa đúng (THCĐ): Khi ĐTNC pha tùy thích
- Việc sử dụng nước Javel, Chloramine B (hay chất tẩy rửa khác) để vệ sinh, ngâm rửa đồ chơi của trẻ: Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Khi có sử dụng nước Javel, Chloramine B (hay chất tẩy rửa khác) để vệ sinh, ngâm rửa đồ chơi của trẻ
+ Chưa đúng: Khi ĐTNC không sử dụng nước Javel, Chloramine B (hay chất tẩy rửa khác) để vệ sinh, ngâm rửa đồ chơi của trẻ
- Bao lâu lau sàn lớp học một lần: Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng” + Đúng: mỗi tuần lau sàn lớp học 1 đến 2 lần
+ Chưa đúng: trên 01 tuần mới lau sàn lớp học một lần hoặc không lau
- Thực hành về sử dụng nước sạch để lau sơ hoặc quét trước khi sử dụng
nước Javel, Chloramine B (hay chất tẩy rửa khác) để lau sàn lớp học, bàn ghế:
Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
Trang 38+ Đúng: Khi có sử dụng nước sạch để lau sơ hoặc quét trước khi sử dụng nước Javel, Chloramine B (hay chất tẩy rửa khác) để lau sàn lớp học, bàn ghế
+ Chưa đúng: Chưa sử dụng nước sạch để lau sơ hoặc quét trước khi sử dụng nước Javel, Chloramine B (hay chất tẩy rửa khác) để lau sàn lớp học, bàn ghế
- Thực hành về sử dụng nước sạch để lau lại sau khi sử dụng nước Javel, Chloramine B (hay chất tẩy rửa khác) để lau sàn lớp học, bàn ghế Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Khi có sử dụng nước sạch để lau lại sau 10 - 20 phút
+ Chưa đúng: Có sử dụng nước sạch để lau lại ngay lập tức hoặc không lau lại
- Luôn rửa tay bằng nước sạch và xà phòng trước khi cho trẻ ăn: Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Luôn rửa tay bằng nước sạch và xà phòng trước khi cho trẻ ăn + Chưa đúng: Không thường xuyên rửa tay bằng nước sạch và xà phòng trước khi cho trẻ ăn
- Có rửa tay bằng nước sạch và xà phòng sau khi làm vệ sinh cho trẻ: Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Có rửa tay bằng nước sạch và xà phòng sau khi làm vệ sinh cho trẻ
+ Chưa đúng: Không rửa tay bằng nước sạch và xà phòng sau khi làm vệ sinh cho trẻ: Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
- Cần rửa tay bằng nước sạch và xà phòng trước khi chăm sóc trẻ: Gồm 2 giá trị: “đúng” và “chưa đúng”
+ Đúng: Cần rửa tay bằng nước sạch và xà phòng trước khi chăm sóc trẻ + Chưa đúng: Không cần rửa tay bằng nước sạch và xà phòng trước khi
Trang 39chăm sóc trẻ
- Cách đánh giá thực hành chung về phòng bệnh tay chân miệng: Tổng cộng có 08 biến số với tổng số điểm là 8 điểm (phụ lục 2) Đánh giá thực hành như sau:
+ Thực hành đạt: khi có tổng điểm phần thực hành ≥ 6/8 điểm
+ Thực hành chưa đạt: khi có tổng điểm phần thực hành < 6/8 điểm
2.2.4.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòng chống bệnh TCM ở giáo viên các trường mẫu giáo:
- Mối liên quan giữa kiến thức đúng về phòng chống bệnh TCM với đặc điểm mẫu nghiên cứu
- Mối liên quan giữa thái độ đúng về phòng chống bệnh TCM với đặc điểm mẫu nghiên cứu
- Mối liên quan giữa thực hành đúng về phòng chống bệnh TCM với đặc điểm mẫu nghiên cứu
- Mối liên quan giữa kiến thức chung đúng với thái độ chung đúng; kiến thức chung đúng với thực hành chung đúng; thái độ chung đúng với thực hành chung đúng
2.2.4.4 Đánh giá kết quả can thiệp về phòng bệnh TCM
* Phương thức can thiệp:
- Tập huấn cho nhân viên y tế về kiến thức và kỹ năng truyền thông phòng chống bệnh TCM
- Phân công 02 nhân viên y tế phụ trách 01 điểm trường phù hợp với thời gian và địa điểm hoạt động của nhân viên y tế
- Cấp tài liệu truyền thông cho nhân viên y tế, cho giáo viên tham gia nghiên cứu
- Thành lập hệ thống giám sát địa phương đình kỳ, giám sát các hoạt động tuyên truyền của nhân viên y tế nhằm hỗ trợ kịp thời những điểm yếu kém mà
Trang 40nhân viên y tế gặp khó khăn
* Đánh giá kết quả can thiệp sau thời gian 6 tháng: Đánh giá lại các biến số về kiến thức (KT), thái độ (TĐ), thực hành (TH) theo bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn Tỷ lệ kết quả sau can thiệp trừ tỷ lệ kết quả trước can thiệp sẽ được hiệu quả can thiệp
2.2.5 Kỹ thuật và phương pháp thu thập số liệu
2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Bảng câu hỏi phỏng vấn: Điều tra, phát vấn các giáo viên về kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh TCM theo bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn
có tham khảo và điều chỉnh cho phù hợp với nội dung và yêu cầu nghiên cứu Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng bệnh TCM của giáo viên được kết cấu làm 5 phần (phụ lục 1), gồm:
- Phần I: Thông tin chung: gồm 4 câu hỏi (từ câu T1-T4)
- Phần II: Kiến thức về bệnh và phòng bệnh TCM: gồm 09 biến số (từ K1 đến K9)
- Phần III: Thái độ về phòng bệnh TCM: gồm 8 biến số (từ Al - A8)
- Phần IV: Thực hành phòng bệnh TCM: gồm 8 biến số (từ P1-P8)
- Phần V: Nguồn cung cấp thông tin bệnh TCM: 01 câu (câu S1)
2.2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu Được thực hiện vào tháng 4-5 năm 2020
Xây dựng bộ câu hỏi: các câu hỏi do nghiên cứu viên tự xây dựng dựa vào các khái niệm, đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng của bệnh TCM và các biện pháp phòng bệnh TCM
Thử nghiệm, điều chỉnh hoàn thiện công cụ nghiên cứu: Bộ câu hỏi xây dựng xong, điều tra thử 20 giáo viên, sau đó điều chỉnh, chỉnh sửa nội dung bộ câu hỏi cho phù hợp và in ấn phục vụ cho điều tra, tập huấn