TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠNGUYỄN THÁI PHƯƠNG TUYỀN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TAI GIỮA Ứ DỊCH BẰNG KỸ THUẬT ĐẶT ỐNG THÔNG KHÍ Q
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN THÁI PHƯƠNG TUYỀN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TAI GIỮA Ứ DỊCH BẰNG KỸ THUẬT ĐẶT ỐNG THÔNG KHÍ QUA NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN
TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ NĂM 2019 – 2021
LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ
Cần Thơ, 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
NGUYỄN THÁI PHƯƠNG TUYỀN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TAI GIỮA Ứ DỊCH BẰNG KỸ THUẬT
ĐẶT ỐNG THÔNG KHÍ QUA NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ NĂM 2019 – 2021
Chuyên ngành: Tai Mũi Họng
Mã số: 8720155.NT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố ở bất kỳ nơi nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Thái Phương Tuyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, các thầy trong bộ môn Tai mũi họng trường Đại học y dược Cần Thơ Phó giáo sư Tiến sĩ Bác sỹ Võ Huỳnh Trang, trưởng phòng Đào tạo Đại học trường Đại học y dược Cần Thơ, người đã quan tâm hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Tiến sĩ Bác sỹ Châu Chiêu Hòa, Giám đốc Bệnh viện Tai mũi họng Cần Thơ đã nhiệt tâm giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn trực tiếp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin được cảm ơn tập thể các bác sỹ, nhân viên Bệnh viện Tai mũi họng Cần Thơ đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng kính yêu, lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình cùng bạn bè đã động viên, khích lệ, ủng hộ nhiệt tình, quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thái Phương Tuyền
Trang 5MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các hình vẽ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý tai giữa 3
1.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm tai giữa ứ dịch 9
1.3 Điều trị viêm tai giữa ứ dịch 13
1.4 Tình hình nghiên cứu viêm tai giữa ứ dịch 15
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3 Đạo đức nghiên cứu 27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 28
3.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 29
3.3 Đánh giá kết quả điều trị viêm tai giữa ứ dịch 33
Chương 4: BÀN LUẬN 43
4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 43
4.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 44
4.3 Đánh giá kết quả điều trị viêm tai giữa ứ dịch 50
Trang 6KẾT LUẬN 58KIẾN NGHỊ 60TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7(Statistical package for the Social Sciences)
VTGUD Viêm tai giữa ứ dịch
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ phân bố theo nhóm tuổi 28
Bảng 3.2 Lý do vào viện 29
Bảng 3.3 Tiền sử bệnh 30
Bảng 3.4 Triệu chứng cơ năng trước khi đặt ống thông khí 30
Bảng 3.5 Hình thái màng nhĩ 31
Bảng 3.6 Màu sắc màng nhĩ 31
Bảng 3.7 Hình dạng nhĩ lượng đồ trước đặt ống thông khí 31
Bảng 3.8 Phân bố mức độ nghe kém trước đặt ống thông khí 32
Bảng 3.9 Ngưỡng nghe trung bình đường khí trước đặt ống thông khí 32
Bảng 3.10 Tai có dịch trong hòm nhĩ ngay sau đặt ống thông khí 33
Bảng 3.11 Tính chất dịch trong hòm nhĩ ngay sau đặt ống thông khí 33
Bảng 3.12 Đối chiếu dịch hòm nhĩ và màu sắc màng nhĩ 33
Bảng 3.13 Tai biến trong lúc đặt ống thông khí 34
Bảng 3.14 Triệu chứng cơ năng sau đặt ống thông khí 1 tháng 34
Bảng 3.15 Tình trạng ống thông khí sau đặt 1 tháng 35
Bảng 3.16 Biến chứng sau đặt ống thông khí 1 tháng 35
Bảng 3.17 Triệu chứng cơ năng sau đặt ống thông khí 3 tháng 36
Bảng 3.18 Tình trạng ống thông khí sau đặt 3 tháng 36
Bảng 3.19 Tình trạng màng nhĩ sau rớt ống thông khí sau 3 tháng 37
Bảng 3.20 Biến chứng sau đặt ống thông khí 3 tháng 37
Bảng 3.21 Triệu chứng cơ năng sau đặt ống thông khí 6 tháng 38
Bảng 3.22 Tình trạng ống thông khí sau đặt 6 tháng 38
Bảng 3.23 Tình trạng màng nhĩ sau rớt ống thông khí sau 6 tháng 39
Bảng 3.24 Biến chứng sau đặt ống thông khí 6 tháng 39
Bảng 3.25 Hình dạng nhĩ lượng đồ sau đặt ống thông khí 6 tháng 39
Trang 9Bảng 3.26 Phân bố mức độ nghe kém sau đặt ống thông khí 6 tháng 40
Bảng 3.27 Ngưỡng nghe trung bình đường khí sau đặt ống thông khí 6 tháng 40
Bảng 3.28 Sự cải thiện các triệu chứng cơ năng trước và sau điều trị 40
Bảng 3.29 Sự cải thiện ống thông khí trên màng nhĩ 41
Bảng 3.30 Biến chứng sau điều trị 41
Bảng 3.31 Sự cải thiện ngưỡng nghe trước và sau điều trị 42
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ phân bố theo giới tính 28Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phân bố theo địa dư 29Biểu đồ 3.3 Đánh giá chung kết quả sau đặt ống thông khí 42
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Các thành của hòm nhĩ 3
Hình 1.2 Hình thể ngoài màng nhĩ phải bình thường 4
Hình 1.3 Chuỗi xương con trong hòm nhĩ 7
Hình 1.4 Vòi nhĩ 8
Hình 2.1 Hình thái màng nhĩ 20
Hình 2.2 Màu sắc màng nhĩ 21
Hình 2.3 Các kiểu nghe kém 22
Hình 2.4 Máy máy đo thính lực đơn âm và máy nội soi 24
Hình 2.5 Phân chia màng nhĩ 25
Hình 2.6 Các bước tiến hành đặt ống thông khí 26
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tai giữa ứ dịch là một bệnh lý thường gặp của tai giữa, là tình trạng
ứ dịch của tai giữa phía sau một màng nhĩ đóng kín nhưng không có các triệu chứng viêm cấp tính Bệnh có thể xảy ra ở cả người lớn và trẻ em, đặc biệt ở trẻ em bệnh thường tiến triển thầm lặng và không có triệu chứng rõ ràng nên rất khó khăn trong việc chẩn đoán và thường bị bỏ sót Trong vài thập niên gần đây, bệnh lý viêm tai giữa ứ dịch được phát hiện ngày càng nhiều hơn nhờ sự phát triển của nhĩ lượng đồ
Viêm tai giữa ứ dịch kéo dài nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ gây các di chứng nặng nề trên tai giữa và làm suy giảm chức năng nghe
Ở trẻ em, bệnh viêm tai giữa ứ dịch là nguyên nhân thường gặp nhất làm giảm sức nghe của trẻ, ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ và nhận thức, có thể làm thay đổi hành vi giao tiếp xã hội của trẻ [12] Vì vậy, tất cả các trường hợp viêm tai giữa ứ dịch cần phải được phát hiện sớm, theo dõi, điều trị và chăm sóc chu đáo nhằm phục hồi lại sức nghe cho bệnh nhân, đặc biệt ở trẻ em, giúp trẻ phát triển trí tuệ một cách bình thường, ngăn ngừa biến chứng, di chứng gây điếc không hồi phục góp phần làm giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội Kết hợp nhĩ lượng đồ, thính lực đồ và hình ảnh màng nhĩ qua nội soi tai giúp chẩn đoán và theo dõi tiến triển bệnh Kỹ thuật đặt ống thông khí qua nội soi nhằm cân bằng áp lực và dẫn lưu dịch trong hòm nhĩ, được xem là điều trị hiệu quả với bệnh lý viêm tai giữa ứ dịch Việc điều trị viêm tai giữa ứ dịch vẫn còn chưa được thống nhất trên thế giới cũng như trong nước, bao gồm các phương pháp điều trị khác nhau: điều trị nội khoa (kháng sinh, kháng histamine, corticoid,…); điều trị phẫu thuật (trích rạch màng nhĩ có hay không kèm đặt ống thông khí,…) Mặc dù vậy, vai trò của ống thông khí trong điều trị viêm tai giữa ứ dịch vẫn rất cần thiết và không thể thay thế được [25]
Trang 13Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu cộng đồng, lâm sàng bệnh viêm tai giữa ứ dịch nhằm tìm hiểu rõ những yếu tố thuận lợi và nguyên nhân gây bệnh viêm tai giữa ứ dịch cùng các kỹ thuật điều trị làm giảm tác hại của bệnh viêm tai giữa ứ dịch
Ở Việt Nam nói chung và Cần Thơ nói riêng, trong nhiều năm qua các công trình nghiên cứu về kỹ thuật đặt ống thông khí qua nội soi để điều trị bệnh viêm tai giữa ứ dịch còn ít Ngày nay cùng với quá trình phát triển kinh tế làm gia tăng tốc độ đô thị hóa, tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề, bệnh viêm tai giữa ứ dịch ngày một phổ biến Do tính thường gặp của bệnh và
để tránh các biến chứng, di chứng mà bệnh có thể gây ra, đáp ứng với nhu cầu cấp bách về điều trị ngày càng đa dạng của bệnh viêm tai giữa ứ dịch, chúng
tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh
giá kết quả điều trị bệnh viêm tai giữa ứ dịch bằng kỹ thuật đặt ống thông khí qua nội soi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ năm 2019 – 2021” với
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý tai giữa
1.1.1 Đặc điểm giải phẫu tai giữa
Cơ quan tiền đình ốc tai có cấu tạo gồm: tai ngoài, tai giữa, tai trong Tai giữa cấu tạo gồm ba phần: hòm nhĩ, chuỗi xương con, vòi nhĩ
Hòm nhĩ giống như hình cái trống có sáu thành nằm theo mặt phẳng đứng dọc chếch từ trước ra sau, đường kính thẳng đứng và đường kính trước sau
Trang 15khoảng 15mm Đường kính ngang ở phía trên hòm nhĩ 6mm, phía dưới 4mm, nơi đối diện với màng nhĩ là 2mm
Các thành của hòm nhĩ:
- Thành trên: là trần hòm nhĩ, là một mảnh xương mỏng ngăn cách hòm nhĩ với màng cứng não ở nền hố sọ giữa, liên quan kế cận với các màng não và não [10]
- Thành dưới: là thành tĩnh mạch cảnh, thuộc tầng hạ nhĩ, có chiều ngang rất hẹp và liên quan đến tĩnh mạch cảnh trong [23]
- Thành ngoài: chính là màng nhĩ, gắn vào vòng nhĩ của xương nhĩ tại rãnh nhĩ, ngăn cách tai ngoài và tai giữa
Hình 1.2 Hình thể ngoài màng nhĩ phải bình thường (Nguồn: Lippincott Williams & Wilkins Atlas of Anatomy, 2009 [44]) + Màng nhĩ là một màng mỏng, màu xám lóng lánh, hơi trong suốt, hình bầu dục, đường kính theo chiều thẳng đứng là 9-10mm và đường kính ngang là 8-9mm, hơi nghiêng và hợp với mặt phẳng thành trên ống tai ngoài một góc
1400, có dạng nón với chóp nón ở rốn màng nhĩ
Trang 16+ Màng nhĩ gồm có hai phần: phần trên nhỏ, mỏng và mềm, dính trực tiếp vào xương đá ở khuyết nhĩ gọi là phần chùng Phần dưới lớn và dầy, chắc hơn, bám vào rãnh nhĩ bởi một vòng sụn sợi gọi là phần căng [36]
+ Về mô học màng nhĩ gổm có 3 lớp là lớp ngoài, lớp giữa và lớp trong Lớp ngoài là biểu bì, là biểu mô lát tầng sừng hóa Lớp giữa gồm các sợi liên kết hình vòng tròn và hình nan hoa xe, vùi trong lớp giữa có cán búa Lớp trong cùng là niêm mạc Ở phần màng căng lớp sợi là mô liên kết thưa có mạng mạch máu và các sợi thần kinh Còn ở phần màng chùng lớp sợi có lưới sợi tạo keo
và sợi chun chứa mạng mạch máu và các sợi thần kinh
+ Màng nhĩ được cấp máu bởi động mạch tai sâu và động mạch nhĩ trước là nhánh của động mạch hàm
+ Thần kinh cung cấp ở mặt ngoài có nhánh tai thái dương của thần kinh hàm dưới, và nhánh tai của thần kinh lang thang, ở mặt trong có nhánh thần kinh nhĩ của thần kinh thiệt hầu [10]
- Thành trong: ngăn cách tai giữa và tai trong, cũng là thành ngoài của vỏ
mê đạo tai Ở gần trung tâm thành này có phần lồi ra ngoài gọi là ụ nhô Ở phía trên sau ụ nhô có cửa sổ bầu dục để bản chân xương bàn đạp lắp vào, ở trước dưới ụ nhô có cửa sổ tròn để màng nhĩ phụ đậy lại Nằm trên cửa sổ bầu dục có lồi ống thần kinh mặt chứa dây thần kinh mặt và đi từ thành trong cong xuống thành sau Hòm nhĩ liên quan rất chặt với thần kinh mặt nên khi viêm tai giữa
có thể tổn thương thần kinh mặt và làm liệt mặt [10]
- Thành trước: ở phía trên có ống chứa cơ căng màng nhĩ, phía dưới có lỗ vào của vòi nhĩ Qua lỗ này có sự lưu thông không khí giữa hòm tai giữa và họng mũi đồng thời cũng là con đường nhiễm trùng từ mũi họng lên tai giữa đặc biệt ở các trẻ nhỏ [10] Dưới lỗ là một vách xương mỏng ngăn cách hòm nhĩ và động mạch cảnh trong Vì vậy khi bị viêm tai giữa có thể bị đau tai theo nhịp mạch [23]
Trang 17- Thành sau: rộng ở phía trên và hẹp ở phía dưới, có lỗ của ống thông hang (sào đạo) Ống này nối thông tầng trên tai giữa (thượng nhĩ) với hang chũm Hang chũm là một phòng lớn nằm trong mỏm chũm xương thái dương Hang chũm thông với phía sau và phía dưới với vô số các xoang chũm Qua ống này, quá trình nhiễm trùng ở hòm tai giữa đi vào hang chũm gây viêm xương chũm
và viêm tai – xương chũm Ngoài ra còn có gò tháp nằm dưới ống thông hang chứa gân cơ bàn đạp, có lỗ nhĩ ống thừng nhĩ nằm ngoài gò tháp, có thừng nhĩ chạy qua để vào hòm nhĩ [23]
1.1.1.2 Chuỗi xương con
Chuỗi xương con: từ màng nhĩ đến cửa sổ tiền đình lần lượt có một chuỗi
ba xương nhỏ là xương búa, xương đe và xương bàn đạp [10]
- Xương búa: dài nhất (8-9 mm), có đầu búa và cán búa Đầu búa nằm ở tầng trên khớp với thân xương đe Cán búa nằm trong lớp sợi của màng nhĩ
- Xương đe: lớn nhất, gồm thân, mấu ngắn, mấu dài Thân khớp với đầu búa tạo khớp búa – đe Mấu ngắn nằm trong phần sau dưới của ngách thượng nhĩ Còn mấu dài đi song song với cán xương búa và quay vào trong nối với đầu xương bàn đạp tạo nên khớp đe – đạp
- Xương bàn đạp: nhỏ nhất, gồm có đế, cành trước, cành sau, chỏm và cổ Diện tích của xương bàn đạp là 3mm x 1,4mm Bản chân xương bàn đạp lắp vào cửa sổ bầu dục
Các cơ búa, cơ bàn đạp và các dây chằng treo xương Các cơ này có tác dụng chống ồn, bảo vệ thính giác
Mạng mạch máu (động mạch nhĩ trước và trên của động mạch hàm, động mạch nhĩ sau của động mạch tai sau, nhánh đá của động mạch màng não giữa, động mạch nhĩ dưới của động mạch hầu lên) và thần kinh nhĩ của thần kinh thiệt hầu và đám rối động mạch cảnh trong thuộc hệ thần kinh giao cảm phân
bố ở niêm mạc [16]
Trang 18Hình 1.3 Chuỗi xương con trong hòm nhĩ (Nguồn: Lippincott Williams & Wilkins Atlas of Anatomy, 2009 [44]) Niêm mạc lót ở trong hòm nhĩ là biểu mô có lông giả tầng ở xung quanh
lỗ vòi nhĩ và trở nên phẳng dẹt đi ở ngoại vi thành biểu mô hình khối lát tầng Lớp dưới niêm mạc rất mỏng, nằm ngay trên màng xương tạo thành một lớp dính chặt gọi là lớp niêm – cốt mạc
Trang 19- Phần sụn vòi nhĩ ở 2/3 trong, nằm trong rãnh vòi tai ở nền xương bướm, phần sụn tận cùng ở lỗ hầu vòi tai nằm sau xương xoăn mũi dưới [36]
Hình 1.4 Vòi nhĩ (Nguồn: Lippincott Williams & Wilkins Atlas of Anatomy, 2009 [44]) Vòi nhĩ được mở ra khi ta nuốt hoặc ngáp dưới tác động của cơ căng màng khẩu cái và cơ vòi hầu làm cho áp lực khí trời ở hòm nhĩ và tai ngoài cân bằng Các động mạch của vòi nhĩ được xuất phát từ động mạch hầu lên, một nhánh của động mạch cảnh ngoài, và động mạch màng não giữa và động mạch chân bướm, nhánh của động mạch hàm trên Các tĩnh mạch vòi nhĩ đổ vào các đám rối tĩnh mạch chân bướm Dẫn lưu bạch huyết của vòi nhĩ là các hạch bạch huyết cổ sâu
Trang 20Các dây thần kinh của vòi nhĩ phát sinh từ đám rối nhĩ, được hình thành bởi các sợi dây thần kinh thiệt hầu Phía trước, vòi nhĩ cũng nhận được sợi từ hạch chân bướm khẩu cái [38]
1.1.2 Đặc điểm sinh lý tai giữa
Dẫn truyền âm thanh từ môi trường ngoài đi vào theo đường không khí và đường xương đến cơ quan Corti ở tai trong và biến đổi năng lượng âm thanh
cơ học thành các tín hiệu điện sinh học [8], [36]
Chuỗi xương con hoạt động như một hệ thống đòn bẩy, làm tăng lực chuyển động lên 1,3 lần Thêm nữa diện tích của màng nhĩ khoảng 55mm2 trong khi diện tích xương bàn đạp chỉ vào khoảng 3,2mm2 Hai yếu tố này làm tăng thanh áp tác dụng lên dịch trong ốc tai 22 lần, cần thiết để làm chuyển động dịch trong ốc tai, vì quán tính của dịch lớn hơn nhiều so với không khí trong tai giữa [10]
Các “cơ quan bóng phình” nằm ở đầu phình của các ống bán khuyên và các “cơ quan đá tai” nằm trong soan nang và cầu nang ở trong bộ phận tiền đình tham gia vào chức năng duy trì sự thăng bằng của cơ thể trong không gian lúc con người đang vận động cũng như lúc đang nghỉ, yên tĩnh [10]
Vòi nhĩ có chức năng dẫn lưu không khí từ họng mũi vào hòm nhĩ và ngược lại, do đó làm thay đổi không khí ở hòm nhĩ và duy trì sự cân bằng áp lực khí quyển ở bên trong và bên ngoài màng nhĩ [8]
Tai người có chức năng định hướng âm thanh khi hai tai nghe bình thường hoặc nghe bằng nhau [8]
1.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm tai giữa ứ dịch
1.2.1 Nguyên nhân
Nguyên nhân gây VTGUD bao gồm nhiều yếu tố, và còn đang được tranh cãi Yếu tố thường gặp nhất là nhiễm trùng hô hấp trên và/hoặc rối loạn chức năng vòi nhĩ
Trang 21Nhiễm trùng hô hấp trên: là yếu tố rất quan trọng, gây tắc mũi dẫn đến giảm thông khí tai giữa và gây áp lực âm trong tai giữa Niêm mạc tăng tiết gây
ra tích tụ chất nhầy ở vòm mũi họng, từ đó thúc đẩy nhiễm trùng niêm mạc tai giữa Các yếu tố khác ảnh hưởng đến nhiễm trùng hô hấp trên bao gồm tình trạng vệ sinh kém, bụi, khói thuốc lá, dị ứng, VA phì đại,…
Rối loạn chức năng vòi nhĩ: được công nhận là yếu tố quan trọng trong cơ chế bệnh sinh VTGUD nói riêng và bệnh lý viêm tai giữa nói chung Tắc vòi nhĩ chức năng hay cơ học dẫn đến áp lực âm trong tai giữa, khi kéo dài sẽ gây VTGUD [37]
- Tắc vòi chức năng: là tình trạng vòi nhĩ bị xẹp kéo dài do tăng trở kháng vòi nhĩ hoặc do cơ chế mở vòi không hoạt động hoặc do cả hai
- Tắc vòi cơ học: có thể tắc bên trong hay bên ngoài vòi Tắc nghẽn bên trong do hiện tượng viêm của vòi nhĩ và sự phù nề thứ phát Tắc nghẽn bên ngoài thường gặp nhất là do VA phì đại Ngoài ra còn do những u nang bẩm sinh vùng vòm mũi họng, u xơ vòm mũi họng, ung thư vòm,…
Trẻ em dễ bị bệnh lý viêm tai giữa nói chung và VTGUD nói riêng so với người lớn là do:
- Vòi nhĩ trẻ em ngắn và nằm ngang hơn so với người lớn, do đó dễ xảy
ra hiện tượng trào ngược dịch tiết từ vòm mũi họng vào tai giữa, nhất là trẻ em thường ở tư thế nằm ngửa
- Trẻ em dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp trên gây viêm tắc vòi nhĩ
Trang 221.2.2 Lâm sàng
1.2.2.1 Triệu chứng cơ năng
Nghe kém: Ở trẻ em nghe kém 2 bên chiếm tỷ lệ cao khoảng 84% theo nghiên cứu của Sadé [19] Theo nghiên cứu của Mai Ý Thơ tỷ lệ nghe kém ghi nhận được khoảng 42,2% ở 45 trẻ có VTGUD [18] Ở người lớn thường nghe kém một bên Ở trẻ em không tự diễn đạt sự nghe kém, đa phần do cha mẹ hoặc thầy cô phát hiện chậm nói mới đưa trẻ đi khám và phát hiện bệnh Vì thế bệnh thường dễ bỏ sót
Đối với trẻ lớn và người lớn có xuất hiện những triệu chứng như ù tai, cảm giác đầy tai, cảm giác khó chịu trong tai liên tục hay từng lúc, chóng mặt gặp rất ít Một số trẻ có biểu hiện rối loạn thăng bằng Ngoài ra còn có biểu hiện của bệnh lý vùng TMH như chảy mũi, nghẹt mũi, đau rát họng…[37]
1.2.2.2 Triệu chứng thực thể
Khám tai bằng đèn soi tai có bơm hơi có vai trò rất quan trọng Ngày nay nhờ ứng dụng máy nội soi với ống nội soi cứng việc chẩn đoán và theo dõi bệnh VTGUD có nhiều thuận lợi hơn
Màng nhĩ cần được đánh giá:
- Hình dạng: Thường gặp giai đoạn đầu là màng nhĩ phồng, khi dịch tồn tại lâu sẽ thấy màng nhĩ lõm nhẹ do áp suất âm cũng như do dịch tai giữa, mấu ngắn xương búa nhô rõ lên và cán búa có vẻ ngắn lại Có khi màng nhĩ co lõm nhiều, dính sát và thành trong hòm nhĩ
- Màu sắc:
+ Bình thường màng nhĩ trong suốt, bóng, màu xám nhạt, có thể nhìn thấy được các mốc giải phẫu Trong VTGUD, màng nhĩ mờ, dày, mất độ trong suốt, không thấy được các mốc giải phẫu bên trong, có thể thấy sự hiện diện của bóng nước hoặc mức nước hơi trong hòm nhĩ
Trang 23+ Thanh dịch có thể làm cho màng nhĩ trong, có bóng khí, dịch keo có thể làm cho màng nhĩ có màu hổ phách, dịch mủ có thể cho màng nhĩ màu trắng đục kèm tăng sinh mạch máu ở màng căng Ngoài ra, màng nhĩ còn có thể có màu xanh và trước đây thường gọi là màng nhĩ xanh vô căn Mai Ý Thơ ghi nhận hình thái màng nhĩ bình thường trên trẻ VTGUD chiếm tỷ lệ 34,5%; co lõm gặp nhiều nhất với 48,3%; màng nhĩ trong, có bóng khí chiếm tỷ lệ ít 10,4% [18]
- Mức độ liên kết của hệ thống màng nhĩ – xương con
Hình thái nhĩ lượng đồ luôn biến động tùy thuộc vào sự tiến triển của các tổn thương trong hòm nhĩ và sự can thiệp của thầy thuốc Type C trong giai đoạn sớm của VTGUD và type B trong giai đoạn sau
Trong nghiên cứu về hình thái nhĩ lượng đồ trong VTGUD của Lương Hồng Châu tỷ lệ nhĩ đồ phẳng chiếm tỷ lệ cao nhất [3] Điều này cũng tương đồng với nghiên cứu của Mai Ý Thơ có khoảng 66,7% nhĩ đồ dạng phẳng, trong khi đó nhĩ đồ đỉnh âm chỉ chiếm 2,3% [18] Sử dụng đèn soi tai có bơm hơi và
đo nhĩ lượng giúp cải thiện chẩn đoán bệnh VTGUD [32]
1.2.3.2 Thính lực đồ
Nghe kém dẫn truyền mức độ nhẹ ở giai đoạn sớm, theo thời gian và theo từng giai đoạn bệnh mức độ nghe kém thay đổi Theo nghiên cứu của Lại Thị Hoài Thư ghi nhận mức độ nghe kém vừa chiếm tỷ lệ khoảng 61,4%; nghe kém nhẹ 29,5% [19]
Trang 241.3 Điều trị viêm tai giữa ứ dịch
- Khó chịu, vật vã, trằn trọc, dụi tai nhiều về đêm
- VTG thường xuyên chiếm vài tháng trong 1 năm
- Chóng mặt hay loạng choạng
- Xơ nhĩ hay hình thành túi co lõm
- Bệnh lý tai giữa với xơ dính hay tổn thương đến chuỗi xương con
- Viêm nhiễm đường hô hấp trên kèm theo: viêm xoang, viêm amidan, viêm VA,…
Trong điều trị VTGUD, có nhiều biện pháp được khuyến cáo bao gồm:
- Kháng sinh
- Kháng histamine – co mạch thông mũi
- Corticoid toàn thân
- Nghiệm pháp Valsava và thông vòi nhĩ hàng tuần có thể giúp cải thiện trong trường hợp VTGUD do áp lực, tuy nhiên với những trường hợp VTGUD mạn tính thì các nghiệm pháp này không có hiệu quả
- Thuốc tan đàm
1.3.2 Ngoại khoa
Mục đích điều trị lý tưởng của VTGUD:
- Lấy hết dịch tai giữa
- Cải thiện thính lực
- Ngăn ngừa sự tái phát nhờ cung cấp thông khí tai giữa
Trang 25Trích rạch màng nhĩ và hút dịch chỉ đạt được hai mục đích đầu, còn mục đích thứ ba thì không Màng nhĩ thường lành lại nhanh chóng và tỷ lệ tái phát cao Đặt ống thông khí (OTK) đạt được cả 3 mục đích điều trị và có những lợi ích so với không đặt ống như đã nói trên
Vị trí đặt ống: 1/4 trước dưới hoặc sau dưới vì rất dễ dẫn lưu dịch ra ngoài Thời gian lưu ống trong màng nhĩ: Tùy theo hình dạng và kích thước của ống mà ống sẽ lưu lại lâu hay mau tại màng nhĩ từ 3 tháng đến 2 năm Ống kích thước càng nhỏ và loa trong càng nhỏ thì càng dễ rớt ra
- Nhóm ống có thời gian lưu trong màng nhĩ ngắn có thời gian trung bình 3-18 tháng dùng cho bệnh nhân (BN) được đặt ống lần đầu
- Ống có thời gian lưu trong màng nhĩ lâu như ống chữ T và cánh bướm
có thời gian lưu trên 2 năm dùng cho BN tái phát sau lần đầu đặt OTK hoặc dùng lần đầu cho BN có bất thường hình dạng sọ mặt, chẻ vòm hầu…Sau khi OTK rớt ra, màng nhĩ sẽ tự lành trong đa số các trường hợp [17]
Biến chứng có thể xảy ra sau đặt OTK:
- Chảy dịch tai: chảy dịch tai sớm xảy ra trong thời gian 2 tuần sau phẫu thuật do nhiễm trùng khi phẫu thuật hay do chính tự thân tai giữa bị nhiễm trùng Chảy dịch tai muộn sau 2 tuần do nhiễm bẩn từ môi trường bên ngoài như nước bẩn vào hòm nhĩ qua OTK; hay do viêm nhiễm đường hô hấp trên
- Tắc ống: tùy thuộc vào đường kính và độ dài của ống
- Thủng nhĩ sau rớt ống: ống T có thời gian lưu lại tại màng nhĩ lâu khoảng
2 năm và tỷ lệ thủng nhĩ sau khi ống lấy ra ngoài là 15% Lỗ thủng thường nhỏ không ảnh hưởng nhiều đến thính lực
- Ống không tự rớt ra: loa trong to và đường kính ống lớn sẽ làm ống không tự rớt ra theo thời gian qui định
- Cholesteatoma: do mép biểu bì màng nhĩ cuộn vào trong hòm nhĩ qua lỗ gài màng nhĩ Điều trị bằng lấy OTK, mở hòm nhĩ lấy bệnh tích và vá nhĩ
Trang 261.4 Tình hình nghiên cứu viêm tai giữa ứ dịch
OTK bị đẩy ra sớm luôn là một nguyên nhân thất bại của phương pháp điều trị Chính vì vậy, những năm sau này đã có rất nhiều nghiên cứu cải tiến OTK để chúng có thể hoạt động chức năng lâu hơn và ngày nay có rất nhiều mẫu OTK khác nhau được ra đời từ những nghiên cứu ấy
Năm 1970, Jerger đưa ra phân loại nhĩ lượng đồ theo 5 type A, As, Ad, B
và C tương ứng với sự chênh lệch áp suất và mức dịch có trong tai giữa qua các giai đoạn bệnh lý VTG [32]
Năm 2016, Viện hàn lâm TMH và phẫu thuật đầu cổ Hoa Kỳ (American Academic of Otolaryngology – Head and Neck Surgery Foundation – AAO-HNSF) công bố hướng dẫn thực hành lâm sàng viêm tai giữa tiết dịch [7], [24]
1.4.2 Tại Việt Nam
Năm 2005, Trần Viết Luân nghiên cứu đánh giá đặt OTK điều trị VTGUD, ghi nhận kết quả tốt khá 95,8% [11]
Năm 2009, Lương Hồng Châu đã đưa ra nhận xét dạng nhĩ đồ phẳng dẹt
là thường gặp nhất khi nghiên cứu đặc điểm nhĩ đồ ở 100 BN VTG tiết dịch được điều trị tại Viện Tai Mũi Họng trung ương từ 10/1995 đến 6/1999 [3] Năm 2013, Mai Ý Thơ công bố nghiên cứu 87 tai của 45 trẻ bị VTGUD trong 4 tháng ghi nhận tỷ lệ điều trị nội khoa thất bại 84,4% Sau phẫu thuật đa
Trang 27số đạt kết quả tốt với OTK khô, thông và thính lực đạt kết quả tốt với ngưỡng nghe đường khí ≤ 20 dB [18]
Năm 2014, Đoàn Diệu Vi công bố nghiên cứu trên 50 BN với 77 tai bệnh được chẩn đoán VTGUD ghi nhận kết quả tốt về cải thiện triệu chứng cơ năng
ù tai, hình thái vị trí màu sắc màng nhĩ và hiệu quả Rinne sau điều trị phẫu thuật đặt OTK đạt kết quả khá tốt 86% [22]
Năm 2014, Nguyễn Văn Tư công bố nghiên cứu trên 60 BN với 120 tai bệnh được chẩn đoán VTGUD ghi nhận triệu chứng cơ năng chủ yếu là nghe kém chiếm tỷ lệ 78,33%; nội soi tai ghi nhận màng nhĩ dày đục, mất nón sáng chiếm tỷ lệ 59,17%; nhĩ đồ dạng B hình phẳng thường gặp nhất chiếm 66,67%; nhĩ đồ dạng B hình đồi chiếm 30,83%; thính lực đồ biểu hiện nghe kém dẫn truyền Kết quả điều trị OTK khô, thông, còn lưu trên màng nhĩ gặp nhiều nhất với tỷ lệ 97,5% sau 4 tháng; thính lực đồ trở về bình thường ≤20dB sau đặt OTK 4 tháng là 81,7% [20]
Năm 2016, Phạm Hồng Nhung nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật viêm tai giữa màng nhĩ đóng kín trên 65 BN với 130 tai bệnh từ tháng 4/2014 đến tháng 4/2016 và ghi nhận triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là ù tai với 81,5% Màng nhĩ dày đục chiếm tỷ
lệ cao nhất là 46,9% và màng nhĩ co lõm chiếm 39,2% Nhĩ lượng đồ type B gặp nhiều nhất với 68,5% và kết quả tốt sau phẫu thuật là 78,5% [14]
Năm 2016, Hoàng Phước Minh đưa ra nhận xét về kết quả điều trị VTGUD bằng phương pháp đặt OTK trên 76 BN với 114 tai bệnh Sau phẫu thuật 6 tháng hầu hết các trường hợp thính lực tăng, tai khô, OTK còn trên màng nhĩ và các biến chứng thường gặp là chảy tai và tụt OTK [13]
Năm 2017, Ngô Thanh Bình đã nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, thính lực và nhĩ lượng và kết quả điều trị VTGUD bằng phương pháp đặt OTK hòm nhĩ tại Bệnh viện đa khoa Thái Bình, và đưa ra nhận xét hình thái màng nhĩ lõm
Trang 28chiếm 84,2%; tỷ lệ thanh dịch là 73,9% và sau điều trị có sự cải thiện rõ về triệu chứng cơ năng và thính lực [1], [2].
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
BN được chẩn đoán viêm tai giữa đến khám và điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ từ 02/2019 đến 01/2021
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
BN được chọn thỏa các tiêu chuẩn sau đây:
- BN được chẩn đoán xác định VTGUD và có chỉ định đặt OTK qua nội soi
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định VTGUD: gồm các tiêu chuẩn sau: Triệu chứng cơ năng (biểu hiện một trong các triệu chứng nghe kém, ù tai, đầy tai, chảy mũi), triệu chứng thực thể (có sự thay đổi đặc điểm màng nhĩ về hình thái, màu sắc), cận lâm sàng (nhĩ lượng đồ type B hay C, thính lực đồ nghe kém dẫn truyền) [18]
+ Chỉ định đặt OTK qua nội soi: có một trong các tiêu chuẩn sau: [17] VTGUD liên tục kéo dài ≥ 2 – 3 tháng không đáp ứng với điều trị nội khoa
VTGUD với màng nhĩ thoái hóa nhiều, teo, có túi co lõm, co lõm, sụp lõm
VTGUD với điếc dẫn truyền quan trọng làm ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ hay học tập của trẻ
VTGUD tồn tại với thời gian tổng cộng hơn 6 tháng trong 1 năm
- BN đồng ý tham gia nghiên cứu và tái khám sau khi đặt OTK
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
VTGUD do các bệnh lý bẩm sinh (chẻ vòm hầu, rối loạn phát triển vùng hàm mặt,…)
Trang 30Bệnh lý ảnh hưởng đến chức năng nghe: xốp xơ tai, xơ nhĩ, nghe kém do các nguyên nhân thần kinh
Tiền sử phẫu thuật, chấn thương tai
Không tiếp xúc được với người trực tiếp nuôi và chăm sóc trẻ
2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ 02/2019 đến 01/2021
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu
- N: là cỡ mẫu tối thiểu hợp lý
- Z: vì mức tin cậy mong muốn của ước lượng là 95% nên Z = 1,96
- p: là tỷ lệ đạt kết quả thành công sau khi đặt OTK, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Tư (2014) thì tỷ lệ đạt kết quả thành công sau khi đặt OTK là 97,5% [20], ta chọn p = 0,98
- c: là sai số cho phép của nghiên cứu, chọn c = 0,04
Thế vào công thức trên ta tính được n = 47,06
Dự trù mất mẫu là 10% cỡ mẫu tối thiểu, ta có cỡ mẫu cần nghiên cứu là 47,06 x 110% = 51,77 Vậy cỡ mẫu chúng tôi chọn là N = 52 tai bệnh
Thực tế chúng tôi chọn được 48 bệnh nhân với N = 79 tai bệnh
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện, 79 mẫu tai của 48 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu đến khám và điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ từ 02/2019 đến 01/2021
Trang 312.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Tuổi: lứa tuổi được chia thành các nhóm tuổi là 0-6 tuổi (trẻ nhỏ), > 6-15 tuổi (trẻ lớn), > 15 tuổi (người lớn)
Giới tính: nam và nữ
2.2.4.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
Đặc điểm lâm sàng:
- Lý do vào viện: nghe kém, ù tai, đầy tai, chảy mũi, chậm nói
- Tiền sử: Viêm VA, viêm tai giữa cấp, viêm mũi dị ứng, viêm mũi xoang, trào ngược dạ dày thực quản
- Triệu chứng cơ năng: ghi nhận có hoặc không có các triệu chứng sau: nghe kém, ù tai, đầy tai, chảy mũi
- Triệu chứng thực thể: Nội soi tai ghi nhận những biến đổi của màng nhĩ:
Màng nhĩ bình thường Màng nhĩ phồng Màng nhĩ lõm
Hình 2.1 Hình thái màng nhĩ (Nguồn: Clinical Otology, 2015 [40]) + Hình thái: Bình thường, phồng (phồng một phần hay toàn bộ màng chùng và màng căng, cán búa bị che khuất), co lõm (mấu ngắn cán búa nhô ra cao, rốn nhĩ lõm nặng, màng nhĩ chạm ụ nhô)
+ Màu sắc: Trong, có bóng khí; mờ, dày đục, mất nón sáng; màu vàng
hổ phách
Trang 32Có bóng khí Mờ, dầy đục Màng nhĩ màu vàng
Hình 2.2 Màu sắc màng nhĩ (Nguồn: Color atlas of endo-otoscopy examination-diagnosis-treatment, 2017
[42]) Đặc điểm cận lâm sàng:
- Nhĩ lượng đồ: ghi nhận hình dạng nhĩ lượng đồ theo Jerger: Type A (đỉnh nhọn, cân đối, áp lực bình thường ± 100mmH20, độ thông thuận bình thường 0,2-1,5ml), type As (đỉnh thấp, độ thông thuận giảm dưới 0,25ml), type Ad (đỉnh cao hơn, độ thông thuận cao > 1,6ml, hai ngành dốc hơn), type B (dạng dẹt, phẳng, không đỉnh, áp lực thấp < 250mmH20, độ thông thuận thấp từ 0,1-0,25 ml), type C (đỉnh nhọn, độ thông thuận bình thường nhưng áp lực âm dưới -100 – 250 mmH20)
- Thính lực đồ: thực hiện với BN > 6 tuổi Dựa vào hình dáng, vị trí, và sự tương quan của đường khí đạo và đường cốt đạo tương đối để đánh giá kiểu nghe kém và mức độ nghe kém
+ Kiểu nghe kém: Nghe kém dẫn truyền (đồ thị đường khí hạ thấp dưới 20dB, đồ thị đường xương quanh trục 0dB), nghe kém tiếp nhận (đồ thị đường xương và đường khí đều xuống thấp, cách nhau không quá 10dB), nghe kém hỗn hợp (đồ thị đường xương và đường khí đều xuống thấp, không đi song hành cùng nhau, ngưỡng nghe đường khí cao hơn đường xương từ 10-60dB) [9]
+ Mức độ nghe kém: Dựa trên phép toán trung bình cộng của 3 tần số sinh hoạt 500 Hz, 1000 Hz và 2000 Hz Sau đó phân loại mức độ nghe kém
Trang 33theo Tổ chức y tế thế giới: Bình thường (≤ 20dB), nghe kém nhẹ (21-40dB), nghe kém vừa (41-60dB), nghe kém nặng (> 60dB)
Nghe kém dẫn truyền Nghe kém tiếp nhận Nghe kém hỗn hợp
Hình 2.3 Các kiểu nghe kém (Nguồn: Clinical Otology, 2015 [40])
- Phản xạ âm thanh (thực hiện với trẻ 0-6 tuổi): có (Trẻ có quay đầu đáp ứng âm thanh phát ra từ một phía), không (Trẻ không quay đầu khi có âm thanh phát ra từ một phía)
2.2.4.3 Đánh giá kết quả điều trị
Phương pháp điều trị: Đặt ống thông khí qua nội soi
Mốc thời gian đánh giá kết quả điều trị:
- Ngay sau đặt OTK
- Tái khám 3 lần: lần 1 (sau đặt OTK 1 tháng), lần 2 (sau đặt OTK 3 tháng), lần 3 (sau đặt OTK 6 tháng)
Đánh giá kết quả điều trị:
- Dịch hòm nhĩ ghi nhận ngay sau đặt OTK: Có hay không
- Tính chất dịch hòm nhĩ: Thanh dịch hay keo hay nhầy mủ
- Tai biến trong lúc đặt OTK: chảy máu, rớt ống vào hòm nhĩ, không tai biến
- Ghi nhận các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng để đánh giá kết quả mỗi lần tái khám
+ Lâm sàng:
Trang 34Triệu chứng cơ năng: Ghi nhận các triệu chứng sau còn hay hết: nghe kém, ù tai, đầy tai, chảy mũi
Triệu chứng thực thể: Đánh giá tình trạng OTK (Khô, thông, còn đúng vị trí; tắc; rớt; chảy dịch), phát hiện biến chứng (chảy tai, tắc OTK, rớt OTK sớm, cholesteatoma) Với những tai đã rớt OTK, đánh giá tình trạng màng nhĩ sau rớt OTK: liền kín, thủng nhĩ, xẹp nhĩ
+ Cận lâm sàng: đo thính lực và nhĩ lượng sau khi OTK rớt và màng nhĩ liền hay đo thính lực sau phẫu thuật 6 tháng với những BN > 6 tuổi:
Đo nhĩ lượng xác định hình thái nhĩ đồ để đánh giá sự cải thiện về mặt chức năng tai giữa
Đo thính lực đơn âm tại ngưỡng xác định mức độ nghe kém nếu có
để đánh giá sự cải thiện
Đánh giá chung kết quả điều trị sau 6 tháng:
- Nhóm đã rớt OTK: Theo tác giả Trần Viết Luân [11]
+ Tốt: có đủ 3 tiêu chuẩn: Màng nhĩ bình thường, thời gian rớt ống ≥ 3 tháng, nhĩ lượng đồ type A
+ Trung bình: có 1 trong 3 tiêu chuẩn: Xơ nhĩ, thời gian rớt ống 2-< 3 tháng, nhĩ lượng đồ type B hay C
+ Kém: có 1 trong các tiêu chuẩn: màng nhĩ thủng, lõm hay hình thành cholestetoma, thời gian rớt ống ≤ 1 tháng
- Nhóm OTK còn lưu lại trên màng nhĩ:
+ Tốt: có ≥ 2 tiêu chuẩn: không còn triệu chứng nghe kém, ù tai, đầy tai; OTK nằm đúng vị trí trên màng nhĩ; tai khô, thính lực trở về bình thường hay có cải thiện
+ Trung bình: có ≥ 2 tiêu chuẩn: còn nghe kém, ù tai, đầy tai; tai khô; thính lực không thay đổi
Trang 35+ Xấu: có 1 trong các tiêu chuẩn: còn nghe kém, ù tai, đầy tai; OTK còn chảy dịch sau 6 tháng; thính lực giảm
2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu
2.2.5.1 Phương tiện nghiên cứu
Phiếu nghiên cứu, giấy, bút
Bộ dụng cụ khám TMH thông thường, Bộ dụng cụ khám TMH nội soi Máy đo nhĩ lượng Titan Interacoustics
Máy đo thính lực đơn âm Maico M52 đo sức nghe đơn âm tại ngưỡng trong buồng cách âm tại Bệnh viện TMH Cần Thơ
Bộ dụng cụ vi phẫu đặt OTK
Máy đo thính lực đơn âm Máy nội soi
Hình 2.4 Máy máy đo thính lực đơn âm và máy nội soi
(Nguồn: Bệnh viện TMH Cần Thơ)
Trang 36Đo nhĩ lượng ghi nhận kết quả dựa trên phân loại hình dạng nhĩ đồ theo Jerger Trước khi đo BN được thăm khám chắc chắn không ráy tai quá nhiều làm sai lệch kết quả đo và có sự hợp tác của BN lúc tiến hành đo
Tiến hành phẫu thuật với các bước sau:
- Vô cảm: Mê nội khí quản (trẻ em), gây tê tại chỗ (người lớn)
- Sát trùng bằng betadine Dùng ống soi cứng 0o quan sát, hút và làm sạch ráy tai ống tai ngoài Tiêm tê ống tai ngoài vị trí góc sau trên
Hình 2.5 Phân chia màng nhĩ (Nguồn: Color Atlas of Endo-Otoscopy Examination-Diagnosis-Treatment,
2017 [43])
- Rạch màng nhĩ: Dùng dao vi phẫu để rạch màng nhĩ Vị trí rạch màng nhĩ: có thể rạch màng nhĩ phía trên hay phía dưới, ngoại trừ vị trí sau trên của màng nhĩ là tuyệt đối tránh rạch vì có thể làm gián đoạn, tổn thương chuỗi xương con, đặc biệt là khớp đe – đạp, cũng như làm gia tăng khả năng thủng màng nhĩ về sau ở vị trí này, dẫn đến khả năng tạo túi co lõm hay thủng nhĩ ở vùng quan trọng này [33] Các yếu tố cần xem xét khi chọn vị trí rạch: chọn vị trí có đủ không gian trong hòm nhĩ khi màng nhĩ bị sụp lõm hay không; vị trí
mà màng nhĩ không bị teo để ống được giữ chắc chắn; tránh nơi có nhiều mạch máu vì gây chảy máu Trong trường hợp màng nhĩ co lõm toàn bộ thì vị trí trước trên là nơi duy nhất có đủ khoảng không gian trong hòm nhĩ để đặt ống Hướng rạch: theo hướng nan hoa từ rốn nhĩ sẽ bảo tồn tối đa khối lượng mô sợi
trên Sau
dưới
Trước dưới
Trang 37trong lớp xơ của màng nhĩ do đó ống sẽ được giữ chắc hơn và giảm tỷ lệ thủng nhĩ sau rớt ống
- Hút dịch tai giữa: tránh hút trực tiếp đụng vào màng nhĩ gây sang chấn
và chảy máu Ghi nhận tình trạng dịch về màu sắc và tính chất phân loại thành: thanh dịch, keo, nhầy mủ
Hình 2.6 Các bước tiến hành đặt ống thông khí (Nguồn: Endoscopy insertion of tympanostomy tube, 2015 [33])
- Đặt OTK: Chọn loại OTK thích hợp với kích thước ống tai ngoài và tính chất của màng nhĩ Dùng que nhọn để luồn loa trong vào mép của đường rạch theo kiểu cài khuy áo Kiểm tra mép vết rạch để đảm bảo không bị cuộn mép vào trong Sau khi đặt ống thành công, dùng ống hút để kiểm tra độ chắc chắn của ống trong màng nhĩ Ghi nhận tai biến ngay sau đặt OTK: chảy máu, rớt ống vào hòm nhĩ, không tai biến
Theo dõi diễn tiến quá trình điều trị sau phẫu thuật 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng trong hồ sơ bệnh án nghiên cứu: triệu chứng cơ năng, tình trạng OTK, sự thay đổi màng nhĩ, thính lực đồ, nhĩ lượng đồ
Thu thập, xử lý và phân tích số liệu
Viết, chỉnh sửa luận văn hoàn chỉnh
2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số
Khai thác kỹ bệnh sử, tiền sử, lâm sàng, khám cẩn thận triệu chứng của
BN
Trang 38Tất cả các dụng cụ đo lường đều được chuẩn định trước mỗi lần nghiên cứu Sử dụng một dụng cụ trong suốt quá trình nghiên cứu
2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Dữ liệu từ bệnh án nghiên cứu được mã hóa và nhập vào máy vi tính bằng phần mềm SPSS 18.0
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0
Số liệu sau khi được xử lý và phân tích sẽ được trình bày dạng bảng, biểu
đồ có kèm theo nhận xét
2.3 Đạo đức nghiên cứu
Đề tài được sự chấp thuận của Hội đồng khoa học trường Đại học y dược Cần Thơ, Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ Nội dung nghiên cứu nhằm đem lại kết quả điều trị tốt nhất cho bệnh nhân
Giải thích rõ tình trạng bệnh cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và được
sự đồng ý của họ tham gia chương trình nghiên cứu Những số liệu trong nghiên cứu đảm bảo nguyên tắc giữ bí mật các thông tin cá nhân của người bệnh Các bước thực hiện tuân thủ theo các tiêu chí về y đức nhằm mang lại lợi ích cho bệnh nhân, không làm tổn hại thêm đến người bệnh, không can thiệp khi chưa có sự đồng ý và trách nhiệm của các bác sĩ điều trị
Kết quả nghiên cứu sẽ được công bố công khai và làm cơ sở để có thể ứng dụng vào thực tiễn
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu trên 48 bệnh nhân với 79 tai bệnh được chẩn đoán viêm tai giữa ứ dịch đến khám và được chỉ định đặt ống thông khí qua nội soi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ chúng tôi ghi nhận được những kết quả sau:
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Bảng 3.1 Tỷ lệ phân bố theo nhóm tuổi
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ phân bố theo giới tính Nhận xét: Có 26/48 BN nữ chiếm 54,2% và 22/48 BN nam chiếm 45,8%
45,8%
54,2%
NamNữ
Trang 40Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phân bố theo địa dư Nhận xét: BN sống ở thành thị là 26/48 BN, chiếm 54,2% và BN sống ở nông thôn là 22/48 BN (45,8%)
3.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
- Ù tai là lý do đến khám thường gặp nhất với 30/48 BN, chiếm tỷ lệ 62,5%
- Đứng thứ hai là nghe kém với 8/48 BN (16,7%)
- Đầy tai và chậm nói là những lý do ít gặp hơn, có lần lượt 5/48 BN (10,4%)