1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môi trường đầu tư quốc tế ở việt nam thực trạng và giải pháp

157 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Môi trường đầu tư quốc tế ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế Quốc tế
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,51 MB
File đính kèm Môi trường đầu tư quốc tế.rar (572 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khái quát về đầu tư quốc tế và môi trường đầu tư quốc tế, kết cấu môi trường đầu tư quốc tế, các hình thức đầu tư quốc tế, các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư quốc tế, kinh nghiệm hoàn thiện môi trường đầu tư của các nước khác và bài học kinh nghiệm cho việt nam, thực trạng môi trường đầu tư quốc tế tại Việt Nam, giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn nước ngoài,

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiên nay khi mà xu hướng mở cửa hội nhập quốc tế đã trở thành

phổ biến, liên kết giữa các nước trên thế giới ngày càng cao, Thì vấn đề hợp tác đầu tư

quốc tế thường có nhiều nguồn vốn khác nhau Nhìn chung, vốn nước ngoài đầu tư vào

trong nước bằng hai con đưòng chính là đường công cộng và đường tư nhân hoặc thương

mại.Hình thức đầu tư quôc tế chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI: Foreign Direct

Investment); đầu tư qua thị trường chứng khoán;cho vay của các định chế kinh tế và ngân

hàng nước ngoài (vay thương mại) và nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) Đối

với các nước đang phát triển, thì vấn đề thu hút vốn nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng

kinh tế lại càng nhân tố cực kỳ quan trọng và cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá

-hiện đại hoá , được nhiều nước quan tâm

Đất nước Việt Nam ta vẫn đang là một nước đang phát triển, cần Do dó vấn đề về

vốn hiện nay đang là vấn đề nan giải và khó giai quyết nhất Trước tình hình đó Việt

Nam đã thực thi nhiều giải pháp để cải thiện môi trương đầu tư nhằm tạo ra nguồn vốn

đặc biệt từ đầu tư nứơc ngoài, trong đó có những tập đoàn lớn như SONY, DEAWOO,

FORD, HONDA … Đầu tư nước ngoài đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền

kinh tế nước ta trong hơn mười năm qua, như giải quyết vấn đè về vốn, công nghệ,nâng

cao trình độ quản lý …

Việt Nam tiến hành cải cách mở cửa sau nhiều quốc gia nên việc tham khảo kinh

nghiệm trong khía cạnh cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư nước ngoài

trong quá trình phát triển kinh tế là cần thiết

Việc tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc chính là cơ sở để học hỏi những

thành công và né tránh những điều chưa hợp lý mà các quốc gia đã vấp phải Vì đầu tư

nước ngoài không phải là “chìa khoá vạn năng”, nó cũng có những mặt trái nên việc

tham khảo một cách có chọn lọc những bài học kinh nghiệm là yêu cầu cần thiết, bổ ích

cho hoạt động cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Do nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng như sự

đóng góp của nó vào sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong những năm qua, cho

nên chúng em đã chọn đề tài “Môi trường đầu tư quốc tế ở Việt Nam – Thực trạng và

giải pháp”

Trang 2

I Hiểu biết về môi trường đầu tư quốc tế

1 Khái quát về đầu tư quốc tế và môi trường đầu tu quốc tế

a.Khái niệm và kết cấu môi trường đầu tư quốc tế

Trước khi đi vào xem xét khái niệm của môi trường đầu tư quốc tế chúng ta hãy

xem xét khái niệm đầu tư là gì?, đầu tư quốc tế là gì?

+Khái niệm đầu tư:

“Đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất đ̣nh như vốn, công nghệ, đất đai…

vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu

lợi.”

Vốn đầu tư bao gồm tiền và các tài sản khác như các động sản, các bất động sản, tài

sản hữu hình, tài sản vô hình…Người bỏ tài sản ra đầu tư được gọi là nhà đầu tư hoặc

chủ đầu tư Chủ đầu tư cóthể là các tổ chức, cá nhân (đầu tư tư nhân) hay nhà nước (đầu

tư Chính phủ)

Đối tượng được bỏ tài sản vào đầu tư thuộc quyền sở hươu của người đầu tư

+ Những đặc trưng cơ bản

• Đầu tư là hoạt động mang mục đích sinh lợi

• Quyết đ̣nh đầu tư là quyết đ̣nh tài chính

• Hoạt động đầu tư là hoạt động có tính chất lâu dài

• Hoạt động đầu tư là sự đánh đổi lợi ích trước mắt cho lợi ích trong tương lai

• Đầu tư là hoạt động mang nặng tính rủi ro

+ Khái niệm đầu tư quốc tế

“Đầu tư quốc tế là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kyơ năng quản lý… từ

nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên phạm vi

toàn cầu”

Đầu tư quốc tế là hoạt động xuất nhập khẩu tư bản, trong đó doanh nghiệp chuyển

tài sản ra nước ngoài để thực hiện một dự án đầu tư nào đó với mục đích t́m kiếm lợi

nhuận

Tư bản được di chuyển gọi là vốn đầu tư quốc tế Vốn đầu tư quốc tế có thể là tiền,

các tài sản hươu h́nh và tài sản vô h́nh như máy móc thiết ḅ, công nghệ, kỹ năng quản

lý…

Nước tiếp nhận đầu tư được gọi là nước chủ nhà (host country) Nước mang vốn đi

đầu tư được gọi là nước đầu tư hay nước xuất xứ (home country)

+Đặc điểm của đầu tư quốc tế

Vì đầu tư quốc tế cuơng là hoạt động đầu tư nên nó mang đầy đủ nhương đặc trưng

cơ bản của hoạt động đầu tư Tuy nhiên, đầu tư quốc tế có hai đặc điểm quan trọng khác

để phân biệt nó với đầu tư nội đ̣a Đó là:

Trang 3

• Có sự tham gia của chủ thể nước ngoài.

• Có sự di chuyển vốn đầu tư qua biên giới

Chính do nhương đặc điểm này mà việc quản lý, điều hành các dự án đầu tư nước

ngoài thường khó khăn, phức tạp hơn so với các dự án đầu tư trong nước do:

- Các nước khác nhau rất khác nhau về hệ thống chính tṛ, kinh tế, pháp luật, về văn

hóa và mức độ phát triển kinh tế, làm tăng tính rủi ro và chi phí đầu tư của các chủ đầu tư

ở nước ngoài

- Việc di chuyển vốn giươa các nước đòi hỏi phải chuyển đổi tiền tệ từ đồng tiền

nước này sang đồng tiền nước khác, trong khi tỷ giá hối đoái lại liên tục thay đổi theo

nhương biến động của các nền kinh tế trên thế giới Nhương chuyển động của tỷ giá hối

đoái có thể làm tăng hay giảm đáng kể lợi nhuận có thể thu được của chủ đầu tư nước

ngoài

+Khái niệm môi trường đầu tư quốc tế

Môi trường đầu tư quốc tế là tổng hòa các yếu tố tác động đến quyết đầu tư ra nước

ngoài của các chủ đầu tư cũng như hoạt động của các nhà đầu tư ở nước ngoài, do đó

cũng tác động đến sự lưu chuyển của dòng vốn đầu tư quốc tế

• Phân theo tính chất của các yếu tố tác động lên đầu tư quốc tế, môi trường đầu tư

quốc tế có thể bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường chính tṛ, môi trường kinh tế, môi

trường pháp lý và môi trường văn hóa xã hội

• Phân theo phạm vi ảnh hưởng của các yếu tố lên đầu tư quốc tế, môi trường

đầu tư quốc tế được phân thành ba thành phần cơ bản: môi trường nước đầu tư, môi

trường nước chủ nhà và môi trường toàn cầu

- Môi trường nước đầu tư là các yếu tố trong môi trường kinh doanh của một

quốc gia có tác động thúc đẩy, khuyến khích hay hạn chế các nhà đầu tư trong

nước quyết đ̣nh đầu tư ra nước ngoài Do đó, các yếu tố này còn được gọi là nhóm các

yếu tố đẩy.Môi trường nước đầu tư gồm:

Môi trường tự nhiên

Các yếu tố môi trường tự nhiên có khả năng tác động đến quyết đ̣nh chuyển đầu tư

ra nước ngoài của các nhà đầu tư trong nước có thể bao gồm:

- Nhương bất lợi chung về ṿ trí đ̣a lý, khí hậu, đ̣a h́nh hay đối với một lĩnh vực kinh

doanh cụ thể

- Khan hiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Thiếu hụt nhân lực trong độ tuổi lao động

Môi trường chính tṛi và pháp lý

Quan điểm chính tṛ cuơng như mối quan hệ chính tṛ với các quốc gia khác trên thế

giới seơ góp phần h́nh thành nên chính sách khuyến khích hay hạn chế đối với đầu tư ra

Trang 4

nước ngoài của chính phủ các nước Thông thường, chính phủ các nước sẽ có chính sách

để khuyến khích đầu tư sang nhương nước mà họ muốn duy tŕ hay thiết lập mối quan hệ

chính tṛ và ngoại giao tốt đẹp hay muốn gây ảnh hưởng chính tṛ, đồng thời có chính sách

hạn chế hay thậm chí có thể cấm đầu tư sang các nước đang có bất đồng quan điểm

chính tṛ và căng thẳng trong quan hệ với nước ḿnh Các chính sách khuyến khích hay

hạn chế đầu tư ra nước ngoài seơ được thể hiện qua nhương quy đ̣nh pháp lý cụ thể như

các bộ luật về cấm vận kinh tế đối với một số quốc gia, các chính sách về thuế thu nhập

doanh nghiệp (tăng hay giảm mức thuế phải nộp đối với lợi nhuận chuyển từ nước ngoài

về nước)…

Các biện pháp mà chính phủ các nước thường sử dụng để khuyến khích đầu tư ra

nước ngoài có thể bao gồm:

- Nhương ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp thông qua chính sách thuế của

chính phủ hay bằng việc ký hiệp đ̣nh chống đánh thuế hai lần với các nước

- Ký kết hiệp định đầu tư song phương với các quốc gia đối tác, thỏa thuận nhương

nguyên tắc cơ bản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước này trong quá

tŕnh tiếp cận và kinh doanh tại nước kia

- Hoặc trợ cấp cho các nhà đầu tư nước ḿnh khi đầu tư ra nước ngoài thông qua các

tổ chức xúc tiến đầu tư hay tổ chức hoă trợ đầu tư hải ngoại

- Chính sách bảo hiểm vốn đầu tư ra nước ngoài (chủ yếu là đầu tư sang các tḥ

trường mới là các nước đang phát triển do thiếu thông tin và môi trường đầu tư còn nhiều

rủi ro)

Môi trường kinh tế

Mức độ phát triển và ổn đ̣nh kinh tế cuơng như các chính sách kinh tế của chính

phủ cuơng có tác động thúc đẩy hay hạn chế đầu tư ra nước ngoài

- Khi nền kinh tế kém phát triển, năng lực của các doanh nghiệp còn yếu nên chưa

đủ sức đầu tư ra nước ngoài Hơn nữa, chính phủ các nước khi đó muốn giươ vốn đầu tư

để phục vụ cho phát triển kinh tế trong nước nên thường có các biện pháp hạn chế đầu tư

ra nước ngoài Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển, năng lực cạnh tranh của các doanh

nghiệp tăng lên, đủ sức cạnh tranh khi đầu tư ra nước ngoài, trong khi chính phủ seơ từ

bỏ chính sách hạn chế đầu tư và thậm chí còn khuến khích đầu tư ra nước ngoài sang một

số nước và khu vực nhất đ̣nh

- Khi kinh tế trong nước bất ổn đ̣nh, rủi ro trong kinh doanh tăng cao, các nhà đầu

tư thường có xu hướng tăng cường đầu tư ra nước ngoài để phân tán rủi ro Tuy nhiên,

kinh tế bất ổn đ̣nh có thể tác động xấu đến hoạt động kinh doanh trong nước, từ đó làm

giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ở nước ngoài

- Mức lạm phát, laơi suất và sức mạnh đồng nội tệ so với ngoại tệ cuơng có tác

Trang 5

động lên quyết đ̣nh đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Khi lạm phát và laơi suất

trong nước thấp cuơng như đồng nội đ̣a tăng giá, đầu tư ra nước ngoài có lợi hơn đầu tư

trong nước nên seơ thúc đẩy xu hướng đầu tư ra nước ngoài và ngược lại

- Mức độ cạnh tranh trong nước tăng có thể buộc các doanh nghiệp rút bớt vốn đầu

tư từ nước ngoài về để củng cố tḥ trường nội đ̣a

- Môi trường nước chủ nhà là các yếu tố trong môi trường kinh doanh của một quốc

gia có tác động lôi kéo, thu hút hay hạn chế các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư Do đó,

các yếu tố này còn được gọi là nhóm các yếu tố kéo.Môi trường nước chủ nhà gồm:

Môi trường tự nhiên

Các điều kiện tự nhiên của một quốc gia như ṿ trí đ̣a lý, khí hậu, đ̣a h́nh,

nguồn tài nguyên thiên nhiên, dân số có thể làm tăng hay giảm chi phí cho các nhà

đầu tư, do đó tạo nên lợi thế hay bất lợi về đ̣a điểm đầu tư so với các quốc gia khác

Nhương ưu thế về đ̣a điểm đầu tư của một nước seơ có tác động thu hút dòng vốn

đầu tư chảy vào nước ḿnh và ngược lại

Môi trường chính trị

Tác động của quan điểm chính tṛ đối với đầu tư nước ngoài

Các quan điểm chính tṛ khác nhau đối với đầu tư nước ngoài seơ là cơ sở để h́nh

thành nhương chính sách đối với đầu tư nước ngoài của chính phủ các nước: khuyến

khích hay hạn chế đầu tư nước ngoài Có ba loại quan điểm cơ bản đối với đầu tư nước

ngoài: quan điểm cấp tiến, quan điểm tḥ trường tự do và quan điểm dân tộc thực dụng

Quan điểm cấp tiến

Nhương người theo quan điểm cấp tiến cho rằng các MNC là công cụ thống tṛ của

chủ nghĩa đế quốc nhằm bóc lột các nước tiếp nhận đầu tư để thu lợi cho các nước đi đầu

tư mà không mang lại lợi ích ǵ cho nước tiếp nhận đầu tư cả V́ vậy, các nước không nên

cho phép các doanh nghiệp nước ngoài tiến hành các hoạt động FDI Đối với nhương chi

nhánh MNC đaơ tồn tại cần phải được quốc hươu hóa

Trong giai đoạn từ năm 1945 đến nhưng năm 1980, quan điểm cấp tiến có ảnh

hưởng rất rộng ở các nước theo chủ nghĩa xaơ hội và chủ nghĩa dân tộc Từ cuối nhương

năm 1980 trở đi, tư tưởng này đaơ hầu như không còn tồn tại

Quan điểm tḥ trường tự do

Quan điểm tḥ trường tự do có nguồn gốc từ kinh tế học cổ điển và các lý thuyết

thương mại quốc tế Quan điểm này cho rằng sản xuất trên b́nh diện quốc tế cần được

phân công giươa các quốc gia dựa theo lý thuyết về lợi thế so sánh Các nước cần chuyên

môn hóa vào sản xuất nhương hàng hóa và ḍch vụ mà ḿnh có thể sản xuất hiệu quả nhất,

và các MNC là công cụ để đưa việc sản xuất hàng hóa và ḍch vụ tới nhương đ̣a điểm

hiệu quả nhất trên phạm vi toàn cầu Dưới cách nh́n nhận đó, FDI và các MNC làm tăng

Trang 6

hiệu quả chung của nền kinh tế thế giới Quan điểm tḥ trường tự do đaơ có ảnh hưởng

rộng raơi trong nhương năm gần đây, góp phần thúc đẩy việc dơơ bỏ các rào cản đối với

cả hai chiều FDI trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên trên thực tế, không có quốc gia nào lại

áp dụng quan điểm tḥ trường tự do một cách tuyệt đối mà thông thường chính phủ vaăn

có nhương can thiệp trong một số phạm vi nhất đ̣nh

Chủ nghĩa dân tộc thực dụng

Quan điểm của chủ nghĩa dân tộc thực dụng là FDI có cả mặt tích cực laăn tiêu cực

FDI có thể mang lại lợi ích cho nước chủ nhà khi mang vốn, kyơ năng, công nghệ và việc

làm đến, nhưng lợi ích thường phải trả giá Với nhận thức như vậy, chính phủ các nước

theo chủ nghĩa dân tộc thực dụng đưa ra nhương chính sách nhằm tối đa hóa nhương lợi

ích và giảm thiểu nhương bất lợi cho ḿnh Như vậy, FDI chỉ được phép thực hiện trong

trường hợp lợi ích vượt quá bất lợi.Một đặc điểm nươa của chủ nghĩa dân tộc thực dụng

là xu hướng tích cực mời chào FDI mà người ta tin rằng có lợi cho đất nước bằng cách

hoă trợ các MNC thông qua mieăn giảm thuế hay các khoản tài trợ

Tác động của mức độ ổn đ̣nh chính tṛ

Môi trường chính tṛ ổn đ̣nh là một trong nhương yếu tố đặc biệt hấp daăn đối với

các nhà đầu tư Môi trường chính tṛ bất ổn đ̣nh có thể daăn đến nhương xáo trộn về kinh

tế – xã hội, gây rủi ro cho các khoản đầu tư

Tuy nhiên trong yếu tố ổn đ̣nh chính tṛ, đối với các nhà đầu tư nước ngoài, ổn đ̣nh

về mặt chính sách quan trọng hơn là ổn đ̣nh về mặt chính quyền Thông thường, nhương

bất ổn đ̣nh về mặt chính quyền seơ daăn tới cả nhương thay đổi về chính sách đầu tư,

nhưng không phải luôn luôn như vậy Trong khi nếu chính quyền ổn đ̣nh mà chính sách

đối với đầu tư nước ngoài lại thay đổi nhiều và khó dự đoán th́ đối với nhà đầu tư đó vaăn

là môi trường bất ổn đ̣nh

Các yếu tố khác

Một yếu tố quan trọng khác trong môi trường chính tṛ có tác động đến hoạt động

của các nhà đầu tư là tính minh bạch trong quản lý nhà nước của chính phủ và mức độ

tham nhuơng Hai yếu tố này có liên quan mật thiết với nhau: tính minh bạch càng cao th́

mức độ tham nhuơng càng thấp và ngược lại Sự thiếu minh bạch trong quản lý nhà nước

và mức độ tham nhuơng cao seơ làm tăng chi phí cho các nhà đầu tư, do đó seơ kém hấp

daăn đối với nhà đầu tư nước ngoài

Môi trường kinh tế

Các yếu tố trong môi trường kinh tế có khả năng tác động đến quyết đ̣nh đầu tư

gồm mức độ phát triển kinh tế, tốc độ phát triển kinh tế và mức độ ổn đ̣nh kinh tế

• Mức độ phát triển kinh tế có thể tác động đến quyết đ̣nh của các nhà đầu tư ở một

số khía cạnh sau:

Trang 7

- Nền kinh tế phát triển càng cao, sức mua của người tiêu dùng càng lớn, do đó tiềm

năng và nhu cầu tḥ trường càng lớn nên seơ hấp daăn đầu tư nước ngoài t́m kiếm tḥ

trường

- Kinh tế càng phát triển, nhu cầu người tiêu dùng càng đa dạng làm xuất hiện nhiều

cơ hội đầu tư trong nhương lĩnh vực mới

- Nền kinh tế càng phát triển, hệ thống hạ tầng cơ sở cả phần cứng (mạng lưới giao

thông vận tải, hạ tầng điện lực, vieăn thông…) và phần mềm (lao động tŕnh độ cao, hệ

thống giáo dục đào tạo, hệ thống ḍch vụ hoă trợ doanh nghiệp, ḍch vụ tài chính…) đều

phát triển, góp phần giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp nên seơ thu hút được nhiều đầu

tư nước ngoài

• Tốc độ phát triển kinh tế là yếu tố môi trường kinh tế được các nhà đầu tư quan

tâm nhất Mức độ phát triển kinh tế có thể còn thấp, nhưng nếu tốc độ phát triển kinh tế

cao th́ tiềm năng phát triển tḥ trường và mức thu lợi từ vốn đầu tư vaăn cao và hấp daăn

đối với các nhà đầu tư

• Mức độ ổn đ̣nh kinh tế càng cao, rủi ro đối với các khoản vốn đầu tư càng thấp nên

seơ càng thu hút đầu tư nước ngoài Một nước mà nền kinh tế phát triển với tốc độ cao và

ổn đ̣nh luôn là nơi thu hút mạnh dòng vốn đầu tư nước ngoài Nền kinh tế của một nước

phát triển với tốc độ cao hay thấp cuơng như có ổn đ̣nh hay không phụ thuộc rất nhiều

vào năng lực điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ nước đó

Môi trường pháp lý

Các nhà đầu tư đến hoạt động tại nước nào seơ phải tuân thủ và cḥu sự chi phối của

hệ thống pháp luật tại nước đó V́ vậy, môi trường pháp lý là một yếu tố mà nhà đầu tư

nước ngoài không thể bỏ qua khi ra quyết đ̣nh đầu tư

Nhương khía cạnh trong hệ thống pháp lý của nước chủ nhà có khả năng tác động

đến hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài gồm:

- Pháp luật có bảo đảm quyền sở hươu tài sản cả hươu h́nh và vô h́nh (quyền sở

hươu trí tuệ) cho nhà đầu tư hay không

- Pháp luật có bảo đảm quyền lợi và môi trường cạnh tranh công bằng cho các nhà

đầu tư hay không

- Pháp luật quy đ̣nh về nghĩa vụ và quyền lợi của các bên trong hợp đồng và cơ chế

giải quyết tranh chấp hợp đồng cuơng như năng lực thực thi các phán quyết của tòa án

của bộ máy thi hành án

- Các quy đ̣nh về chuyển tiền ra nước ngoài

- Các quy đ̣nh pháp lý về thuế đối với đầu tư nước ngoài

- Các yêu cầu về thực hiện đầu tư: Mức độ hạn chế sở hươu, tỷ lệ nội đ̣a hóa, tỷ lệ

sản phẩm phải xuất khẩu…

Trang 8

- Các quy đ̣nh pháp lý về tiêu chuẩn kyơ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn

môi trường và điều kiện lao động

- Các quy đ̣nh khác liên quan đến đầu tư nước ngoài như quản lý ngoại hối, đăng ký

nhập cảnh và lưu trú, sử dụng nhân lực nước ngoài…

Môi trường văn hóa – xã hội

Các yếu tố trong môi trường văn hóa của một quốc gia cuơng có thể tác động rất lớn

đến quyết đ̣nh của các nhà đầu tư nước ngoài Nhương khác biệt văn hóa – xaơ hội giươa

nước chủ nhà và nước đầu tư càng lớn, rủi ro đối với nhà đầu tư càng cao nếu các nhà

đầu tư không ý thức được và có nhương điều chỉnh thích hợp Nhưng một khi cần điều

chỉnh khác biệt văn hóa – xaơ hội, chi phí đối với nhà đầu tư seơ tăng lên Nhương khác

biệt có thể kể đến là:

- Quan niệm về giá tṛ: nhương điều được coi là tốt đẹp đối với một nền văn hóa có

thể lại là không chấp nhận được trong nền văn hóa khác và ngược lại

- Tôn giáo: đây là yếu tố tác động sâu sắc đến nhương khác biệt trong hầu hết các

yếu tố còn lại

- Phong tục tập quán trong sinh hoạt và kinh doanh: nhương hành vi được chấp

nhận trong xaơ hội này có thể không được chấp nhận trong xaơ hội khác, và nhương thói

quen trong giờ giấc, phong cách sinh hoạt và kinh doanh cuơng có thể khác nhau

- Mức độ phân chia giai tầng trong xaơ hội: khoảng cách giươa các tầng lớp và mức

độ linh hoạt trong chuyển đổi giai tầng trong xaơ hội

- Mối quan hệ giươa cá nhân và cộng đồng: vai trò của cá nhân hay cộng đồng được

đánh giá cao hơn trong xaơ hội

- Ngôn ngươ: khác biệt ngôn ngươ seơ cản trở khả năng giao tiếp của nhà đầu tư với

các đối tượng khác tại nước chủ nhà

- Hệ thống giáo dục, kể cả giáo dục gia đ́nh

- Quan điểm về thẩm mỹ

- Môi trường toàn cầu là các yếu tố có tác động đến hoạt động của các nhà đầu tư

trên phạm vi toàn cầu, bất kể nhà đầu tư đang hoạt động ở quốc gia nào Tất cả các yếu tố

trong môi trường đầu tư đều tác động đến cả các hoạt động đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp

nước ngoài Tuy nhiên mức độ và phạm vi tác động đối với mỗi loại h́nh có thể khác

nhau.Môi trường toàn cầu gồm:

Môi trường chính trị toàn cầu

Không chỉ t́nh h́nh chính tṛ tại moăi quốc gia tác động đến các hoạt động đầu tư

quốc tế trong quốc gia đó mà còn cả t́nh h́nh chính tṛ khu vực và quốc tế Xu hướng đối

thoại chính tṛ để giải quyết các bất đồng thay cho đối đầu trước kia trong thời kỳ chiến

tranh lạnh là một trong nhương yếu tố quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của dòng vốn

Trang 9

đầu tư quốc tế từ thập niên cuối của thế kỷ XX tới nay.

Tuy nhiên, tình hình bất ổn và căng thẳng chính tṛ tại một số nước và khu vực trên

thế giới cuơng như sự gia tăng của chủ nghĩa khủng bố trong thời gian gần đây đang tạo

ra nhương ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế toàn cầu nói chung và đến các

hoạt động đầu tư quốc tế nói riêng Nhương bất ổn này tác động đặc biệt mạnh khi dieăn

ra tại các trung tâm kinh tế lớn (như vụ khủng bố ngày 11/9/2001 tại New York, Myơ)

hay tại khu vực các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn

Môi trường kinh tế toàn cầu

Trong môi trường kinh tế toàn cầu, có hai hiện tượng nổi bật có tác động mạnh đến

sự pháp triển của đầu tư quốc tế, đó là: xu hướng toàn cầu hóa và sự phát triển của các

công ty đa quốc gia, cùng với xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu

Xu hướng toàn cầu hóa và sự phát triển của các công ty đa quốc gia

Đứng trên góc độ kinh tế, toàn cầu hóa là quá tŕnh chuyển ḍch theo hướng h́nh

thành một tḥ trường toàn cầu hội nhập hơn, có sự tương tác qua lại và phụ thuộc laăn

nhau nhiều hơn giươa các nền kinh tế quốc gia

Xu thế toàn cầu hóa được h́nh thành cùng với sự phát triển của các hoạt động

thương mại và đầu tư quốc tế của các công ty đa quốc gia trong quá tŕnh đi t́m kiếm tḥ

trường và nguồn lực mới ở nước ngoài Nhương hoạt động đó đaơ mang lại nhương lợi

ích nhất đ̣nh cho cả nước đầu tư laăn nước chủ nhà và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế

thế giới Từ đó, các quốc gia có xu hướng xóa bỏ dần các rào cản thương mại và đầu tư

làm cho thương mại và đầu tư quốc tế tăng mạnh Xu hướng toàn cầu hóa xuất hiện mạnh

meơ hơn cùng với nhương phát kiến và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ,

đăc biệt là công nghệ thông tin và giao thông vận tải, giúp giảm chi phí kinh doanh và

đầu tư trên phạm vi toàn cầu cho các công ty đa quốc gia Như vậy, sự lớn mạnh của các

công ty đa quốc gia là một nhân tố quan trọng góp phần h́nh thành và phát triển xu hướng

toàn cầu hóa Ngược lại, sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa đến lượt ḿnh lại tạo

nhương điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của các công ty đa quốc gia Đây là hai

yếu tố có mối quan hệ chặt cheơ, không thể tách rời nhau

Môi trường toàn cầu hóa cùng sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia đó đương

nhiên hết sức thuận lợi cho hoạt động đầu tư quốc tế, mà minh chứng là xu hướng tăng

trưởng mạnh của dòng vốn đầu tư quốc tế trong suốt hơn nửa thế kỷ qua

Xu thế hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu

Thực ra, xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu cuơng chính là một phần không tách rời

và là bộ phận quan trọng nhất trong xu thế toàn cầu hóa Tuy nhiên tại đây, khi đề cập tới

xu thế hội nhập kinh tế, ta muốn nói tới xu thế và mối quan tâm của từng quốc gia

Nhận thấy nhương lợi ích từ tự do hóa thương mại và đầu tư, các quốc gia đaơ ngồi

Trang 10

cùng nhau để thỏa thuận lộ tŕnh từng bước cho việc hạ thấp dần và tiến tới xóa bỏ hoàn

toàn các rào cản thương mại và đầu tư, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học kyơ thuật…

Tuy nhiên, việc đi đến thỏa thuận giươa một số lượng lớn các quốc gia trên phạm vi

toàn cầu không deă dàng ǵ và thường kéo dài Do đó, từng nhóm các quốc gia, thường là

nhóm nước gần nhau về mặt đ̣a lý, văn hóa và tŕnh độ phát triển kinh tế, đaơ ngồi lại với

nhau và đi đến nhương thỏa thuận về hợp tác và hội nhập kinh tế khu vực, nhằm đẩy

nhanh tiến tŕnh hội nhập giươa các quốc gia đó với nhau với tốc độ nhanh hơn hội nhập

trên phạm vi toàn cầu Gần đây, các nước còn có xu hướng đẩy nhanh tiến tŕnh hội nhập

trên phạm vi hẹp hơn thông qua nhương thỏa thuận tự do hóa thương mại và đầu tư song

phương với từng quốc gia riêng reơ khác

Cả tiến tŕnh hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu với nhương cam kết xóa bỏ dần

các rào cản thương mại và đầu tư, đều tạo nhương điều kiện hết sức thuận lợi cho sự phát

triển của đầu tư quốc tế giươa các quốc gia tham gia thỏa thuận với nhau

b Các hình thức đầu tư quốc tế

Có hai loại hình đầu tư nước ngoài: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

Đầu tư gián tiếp

+ Khái niệm đầu tư gián tiếp

Đầu tư gián tiếp nước ngoài (PFI – Portfolio Foreign Investment) là một loại hình di

chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó người chủ sở hữu vốn mua cổ phiếu, trái phiếu

hay các chứng từ có giá khác của nước ngoài để thu lại lợi tức trên số vốn đầu tư và

không trực tiếp tham gia quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn Chủ đầu tư ở

đây có thể là cá nhân, doanh nghiệp hay các tổ chức, cơ quan nhà nước

+ Đặc điểm của h́nh thức đầu tư gián tiếp

Hình thức đầu tư gián tiếp có một số đặc điểm như sau:

• Chủ đầu tư thường là các đ̣nh chế tài chính, các quyơ đầu tư, quyơ bảo hiểm hoặc

cá nhân

• Nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh thông qua tḥ trường tài chính

• Lượng vốn đầu tư thường không lớn và có thể ḅ nước chủ nhà khống chế mức độ

góp vốn tối đa

• Mục tiêu của các chủ đầu tư nước ngoài là kiếm lời qua cổ tức cuơng như việc

tăng giá tṛ của cổ phiếu (capital gain) trên tḥ trường và thường ngắn hạn, đôi khi chỉ

trong vài tuần hay vài tháng, tuy có thể kéo dài tới 10 năm hay hơn nươa

• Chủ đầu tư nước ngoài không tham gia điều hành các hoạt động mà họ bỏ vốn đầu

+ Các công cụ đầu tư gián tiếp

Các chủ đầu tư có thể thực hiện đầu tư gián tiếp thông qua việc mua các công cụ

Trang 11

đầu tư tài chính như cổ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá khác.

** Trái phiếu (Bonds)

Trái phiếu là giấy chứng nhận vay vốn của chủ thể phát hành với chủ thể cho vay

vốn, theo đó chủ thể phát hành có nghĩa vụ phải trả cho người nắm giươ trái phiếu một

khoản laơi đ̣nh kỳ theo laơi suất cố đ̣nh được đ̣nh trước và phải hoàn trả khoản vay ban

đầu cho người nắm giươ trái phiếu khi tới kỳ đáo hạn.Thông qua việc mua các trái phiếu

quốc tế Trái phiếu quốc tế có hai loại cơ bản: trái phiếu nước ngoài và trái phiếu châu

Âu

• Trái phiếu nước ngoài (foreign bonds) là trái phiếu do các cá nhân và tổ chức phát

hành ở nước ngoài và được ghi giá tṛ bằng đồng tiền của quốc gia nơi phát hành trái

phiếu

• Trái phiếu châu Âu (Eurobonds) là trái phiếu thường được phát hành thông qua tổ

chức liên kết các ngân hàng quốc tế ở bên ngoài quốc gia có đồng tiền được ghi trên trái

phiếu

** Cổ phiếu

Cổ phiếu là giấy xác nhận quyền sở hươu và lợi ích hợp pháp của người nắm giươ

cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần

Nhà đầu tư có thể đầu tư ra nước ngoài bằng cách mua cổ phiếu của các doanh

nghiệp nước ngoài phát hành tại tḥ trường chứng khoán trong nước hay cổ phiếu

hoặc chứng chỉ quyơ của các trung gian tài chính có kinh doanh trên tḥ trường chứng

khoán nước ngoài như các quyơ vốn đầu tư mạo hiểm hay các quyơ đầu tư cổ phần quốc

tế

** Các chứng từ có giá

Các chứng từ có giá là các loại chứng từ khác có giá tṛ bảo đảm cam kết người đi

vay seơ hoàn trả tiền cho người vay vốn như các loại giấy chứng nhận quyền sở hươu tài

sản, hợp đồng bảo hiểm, các loại thương phiếu, tín phiếu kho bạc, giấy bảo laơnh trả

nợ…

Loại chứng từ có giá có thể sử dụng làm công cụ đầu tư ra nước ngoài là biên lai ký

thác chứng khoán (Depository Receipt) của Myơ hoặc toàn cầu

• Biên lai ký thác chứng khoán Myơ (ADR) là một loại chứng thư có thể chuyển

nhượng, được phát hành bởi một ngân hàng thương mại Myơ, gọi là ngân hàng ký thác

Các chứng thư loại này xác nhận quyền sở hươu của người giươ ADR đối với các

chứng khoán của các công ty bên ngoài nước Myơ đaơ ký thác hoặc cho ngân hàng ký

thác nơi phát hành chứng thư, hoặc cho một ngân hàng lưu giươ chứng khoán ở nước

ngoài có quan hệ với ngân hàng ký thác Đồng tiền ghi trên ADR là đồng đô la Myơ và

ADR được muabán ở Myơ như chứng khoán của các doanh nghiệp Myơ

Trang 12

• Biên lai ký thác chứng khoán toàn cầu (GDR) cuơng tương tự như ADR với chỉ

một khác biệt duy nhất là GDR có thể được mua bán bằng nhiều đồng tiền khác nhau và

không chỉ tại Myơ

+ Ưu điểm của hình thức đầu tư gián tiếp

** Đối với nhà đầu tư

• Mức độ rủi ro sẽ thấp hơn so với đầu tư trực tiếp vì vốn đầu tư được phân tán

trong số lượng rất đông những nhà đầu tư khác nhau

• Khi có những bất ổn về chính trị, kinh tế hay xã hội ở nước tiếp nhận đầu tư, nhà

đầu tư có thể dễ dàng rút vốn hơn khi đầu tư trực tiếp bằng cách bán hoặc chuyển nhượng

chứng khoán

** Đối với bên tiếp nhận đầu tư:

• Bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động quản lý hoạt động sử dụng vốn đầu tư

theo cách thức của ḿnh

• Mở rộng khả năng thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư với số vốn nhỏ trên phạm

vi toàn cầu

+ Nhược điểm của hình thức đầu tư gián tiếp

** Đối với nhà đầu tư

• Nhà đầu tư thường ḅ khống chế mức độ góp vốn tối đa nên hạn chế khả năng góp

vốn khi muốn đầu tư thêm

• Nhà đầu tư nước ngoài không được trực tiếp tham gia điều hành các hoạt động mà

họ đaơ bỏ vốn đầu tư

** Đối với bên tiếp nhận đầu tư:

• Bên tiếp nhận đầu tư ḅ hạn chế khả năng tiếp thu kyơ thuật, công nghệ và kinh

nghiệm quản lý tiên tiến từ các nhà đầu tư nước ngoài

• Bên tiếp nhận đầu tư và thậm chí cả nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư dễ bị

tác động bởi nhương bất ổn tài chính trên tṛ trường thế giới

Đầu tư trực tiếp

+Khái niệm đầu tư trực tiếp

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) là loại h́nh di chuyển

vốn quốc tế nhằm mục đích thu lợi nhuận trong tương lai, trong đó người chủ sở hươu

vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn

+ Đặc diểm của h́nh thức đầu tư trực tiếp

• Chủ đầu tư thường là các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và ḍch vụ

• Mục tiêu của chủ đầu tư là mục tiêu dài hạn

• Nhà đầu tư nước ngoài tham gia trực tiếp vào việc quản lý, điều hành các hoạt

động sử dụng vốn với mức độ tham gia tỷ lệ với mức độ góp vốn

Trang 13

• Lợi nhuận của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả của hoạt động bỏ vốn đầu tư Lời

và loă được chia cho các chủ đầu tư theo tỷ lệ góp vốn sau khi đaơ nộp thuế lợi tức cho

nước chủ nhà

+ Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tuỳ theo cách chọn tiêu chí khác nhau seơ có các cách phân loại đầu tư trực tiếp

nước ngoài khác nhau

** Phân loại theo tính chất sở hữu

• Liên doanh: là một h́nh thức hợp tác giươa hai hay nhiều doanh nghiệp độc lập

bằng cách cùng nhau thành lập, quản lý và đồng sở hươu một doanh nghiệp độc lập khác

Quyền kiểm soát liên doanh phụ thuộc vào phần hùn vốn của moăi bên trong liên

doanh

• Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là một công ty con do doanh nghiệp thành

lập ở nước ngoài, sở hươu 100% vốn và nắm toàn quyền kiểm soát

** Phân loại theo cách thức thực hiện đầu tư

• Đầu tư mới (GI – Greenfield Investment): Các nhà đầu tư thực hiện đầu tư ở nước

ngoài bằng cách xây dựng các doanh nghiệp mới

• Sát nhập và mua lại (M&A – Mergers and Acquisitions): Các nhà đầu tư tiến hành

đầu tư bằng cách mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài

** Phân loại theo lĩnh vực đầu tư

• Đầu tư theo chiều ngang (HI – Horizontal Investment): là việc chủ đầu tư nước

ngoài bỏ vốn đầu tư vào cùng một ngành, một lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh mà

họ đang thực hiện trong nước ḿnh

• Đầu tư theo chiều dọc (VI – Vertical Investment): là việc chủ đầu tư nước ngoài

bỏ vốn đầu tư vào ngành hay lĩnh vực seơ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho cơ sở

sản xuất trong nước của họ (backward vertical FDI) hoặc vào ngành hay lĩnh vực seơ sử

dụng sản phẩm của cơ sở sản xuất trong nước của họ (forward vertical FDI)

** Phân loại theo động cơ đầu tư:

• FDI t́m kiếm nguồn lực: là hoạt động đầu tư khai thác các nguồn tài nguyên thiên

nhiên (khoáng sản, nguyên liệu thô, các sản phẩm nông nghiệp) và t́m kiếm lao động giá

thấp hoặc có chuyên môn nhằm mục đích khai thác lợi thế so sánh của một nước

• FDI t́m kiếm tḥ trường: là hoạt động đầu tư vào các tḥ trường đang sử dụng hàng

nhập khẩu hoặc vào các tḥ trường được bảo hộ bởi các rào cản thương mại, là hoạt động

đầu tư của các công ty cung ứng phục vụ cho khách hàng của ḿnh tại nước ngoài, hoặc là

hoạt động đầu tư nhằm sản xuất ra các sản phẩm thích ứng với tḥ hiếu và nhu cầu tại

choă cuơng như để sử dụng nguyên liệu tại choă Mục tiêu của loại đầu tư này là nhằm

chiếm lĩnh tḥ trường

Trang 14

• FDI t́m kiếm hiệu quả: là các hoạt động đầu tư hợp lý hóa sản xuất hoặc kết nối

sản xuất trong khu vực hay toàn cầu hoặc đầu tư chuyên môn hóa quy tŕnh sản xuất,

thường là bước tiếp sau của đầu tư t́m kiếm nguồn lực hay t́m kiếm tḥ trường và thường

chỉ thực hiện được ở các tḥ trường hội nhập và có tŕnh độ phát triển cao

• FDI t́m kiếm tài sản chiến lược: là hoạt động mua lại và liên minh để thúc đẩy các

mục tiêu kinh doanh dài hạn

+ Thành phần vốn FDI

Các thành phần của vốn FDI bao gồm: vốn chủ sở hươu, lợi nhuận tái đầu tư và các

loại vốn khác (chủ yếu là các khoản vay nội bộ giươa công ty mẹ và các chi nhánh của

các công ty đa quốc gia)

+Có 6 hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Hợp đồng hợp tác kinh doanh:

Là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (gọi tắt là các bên hợp doanh) để

cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hợp đồng kinh doanh ở Việt Nam trên cơ sở quy

định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp

nhân mới

Xí nghiệp liên doanh:

Xí nghiệp liên doanh là xí nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp

đồng kinh doanh giữa bên hoặc các bên Việt Nam với bên hoặc các bên nước ngoài,

hoặc trên cơ sở Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài,

nhằm hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam

Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài:

Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài là xí nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của các tổ

chức kinh tế, cá nhân nước ngoài, do họ thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu

trách nhiệm về hoạt động kinh doanh

Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (B.O.T.):

Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) là văn bản ký kết giữa

chủ đầu tư nước ngoài (cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài) với cơ quan Nhà nước

Việt Nam có thẩm quyền để xây dựng các công trình hạ tầng, tiến hành khai thác và

kinh doanh trong một thời hạn nhất định và khi hết thời hạn thì chuyển giao không

bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam

Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO):

Được thực hiện trên cơ sở hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, là văn

bản được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt nam và nhà đầu tư nước

ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước

ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt nam, Chính phủ Việt nam tạo điều

Trang 15

kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi

nhuận hợp lý

Hợp đồng đầu tư trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công

nghệ cao, trong đó:

+ Khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản

xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động

xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

+ Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao

và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu- triển khai

khoa học – công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định; do

Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

Các hình thức và phương thức trên đã được các nhà đầu tư nước ngoài chấp nhận,

vận dụng Mỗi hình thức và phương thức đầu tư đều có mặt mạnh và mặt hạn chế của nó,

vì vậy Nhà nước Việt nam đang dần dần đa dạng các loại hình đầu tư thông qua chính

sách và pháp luật, nhằm đồng thời giải quyết nhiều vấn đề của mục tiêu hợp tác như kết

hợp lợi ích của bên đầu tư và bên nhận đầu tư, kết hợp mục tiêu thu hút vốn và điều chỉnh

cơ cấu FDI phù hợp với cơ cấu chung của nền kinh tế và quy hoạch phát triển lực lượng

sản xuất cả nước, từng ngành, từng địa phương

+ Mối quan hệ giươa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp nước ngoài

** Khó phân đ̣nh ranh giới roơ ràng giươa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

• Mức ngươơng của tỷ lệ vốn chủ sở hươu hay vốn cổ phần (equity capital) dùng để

phân biệt giươa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp rất khó để xác đ̣nh

• Vai trò của các nhà đầu tư vốn mạo hiểm: Đầu tư mạo hiểm là một h́nh thức đầu

tư gián tiếp, nhưng các nhà đầu tư vốn mạo hiểm thường tham gia quản lý doanh nghiệp

trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua ḍch vụ tư vấn, và thường giươ cổ phần của doanh

nghiệp được đầu tư ít nhất vài năm rồi mới bán để thu lợi nhuận

• Trong đầu tư quốc tế theo h́nh thức sát nhập và mua lại (M&A), sự phân đ̣nh

giươa FDI và FPI cuơng không thật rõ ràng

** Mức độ biến động của dòng vốn đầu tư

Dòng vốn FDI thường ổn đ̣nh và ít biến động hơn dòng vốn FPI do sự khác biệt

trong mục tiêu và tầm nh́n của các nhà đầu tư Hơn nươa, các nhà đầu tư gián tiếp có thể

deă dàng bán cổ phần của công ty do ḿnh nắm giươ trên tḥ trường để rút ra khỏi tḥ

trường hơn là các công ty đa quốc gia bán các chi nhánh nước ngoài của ḿnh Tuy nhiên,

mức độ biến động của dòng vốn FPI cuơng khác nhau tùy thuộc vào việc đầu tư gián tiếp

được thực hiện thông qua kênh nào

Trang 16

2 Vai trò của việc nghiên cứu môi trường đầu tư quốc tế.

Với các nhà đầu tư hay nhà lãnh đạo cấp vĩ mô thì thì việc lựa chọn một môi trường

đầu thì là rất quan trọng, vì lẽ dó mà họ phải nghiên cứu khảo sát kỹ lưỡng rất nhiều môi

trường, để qua đó có thể lựa chọn được cho mình môi trường đầu tư nào là tốt nhất

Môi trường đâu tư tốt là môi trường có khả năng mang lại lợi nhuận cao và giảm

thiểu rủi ro cho nhà đầu tư(có thể thông qua phương pháp cho điểm để lựa chọn môi

trường đầu tư)

Để môi trường đầu tư có khả năng mang lại lời nhuận cao, thì nhà đầu tưu thương

xem xét:

- Khả nang khai thác thông tin về môi trường đầu tư(tính minh bạch)

- Thủ tục và chi phí hành chính có liên quan đến giấy phép và triển khai dự án đầu

- Cơ sở hạ tầng và các chi phí dịch vụ có liên quan

- Tình hình tham nhũng

- Sự hỗ trợ: tạo điều kiện thuận lợi của nước tiếp nhận đầu tư

- Tình hình về thuế đến hoạt động kinh doanh Những điều kiện để được miện giảm

thuế

- Chất lượng nguồn nhân lực và chi phí lương

Việc nghiên cứu môi trường đầu tư phải phản ánh được các khía cạnh khác nhau

của môi trường (8 khía cạnh)

- Môi trường chính trị - xã hội

 Sự ổn định của chế độ chính trị

 Quan hệ các đảng phái đối lập và vai trò kinh tế của họ

 Sự ủng hộ của quần chúng, của các đảng phái, tổ chứ xã hội và của quốc tế đối với

chính phủ cầm quyền

 Năng lực điều hành và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo đất nước

 Ý thức dân tộc và tinh thần tiết kiệm của nhân dân

 Mức độ an toàn và an ninh trật tự của xã hội: khủng bố, nguy cơ chiến tranh,

maphia (sự hoành hành của xã hội đen)

- Môi trương văn hóa

 Tôn giáo, tín ngưỡng tập quán

Trang 17

 Tính chuẩn mực và tính hội nhập của hệ thống pháp luật

 Tính rõ ràng, công bằng, công khai và ổn định của hệ thống pháp luật

 Khả năng thực thi của luật pháp

 Khả năng của pháp luật bào về quyền lợi của các nhà đầu tư

 Những ưu đâĩ hạn chế giành cho các nhà đầu tư nước ngoài

 Tỷ lệ tiết kiệm quốc gia: các luồng vốn đầu tư cho phát triển

 Dung lượng thị trường và sức mua của thị trường

 Tài nguyên thiên nhiên và khả năng khai thác

 Tính cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế

 Tình hinh buôn lậu và khả năng kiểm soát

 Chính sách bảo hộ thì trường nội địa

 Hệ thống thông tin kinh tế

- Môi trường tài chính

 Mức độ mở của thị trường tài chính với thế giới

 Các chính sách tài chính: chính sách thu chi tài chính, mở tài khoản vay vốn, lãi

suất, chuyển lợi nhuận về nước…

 Nền tài chính quốc gia đánh giá qua cac chỉ tiêu: cán cân thương mại quốc tế cán

cân thanh toán quốc tế, nợ quốc gia, tỷ lệ lạm phát

 Vấn đề cân đối ngoại tệ để đảm bảo NK phục vụ cho kinh doanh của nhà đầu tư

 Tỷ giá hối đoái và khả năng điều tiết của nhà nước

 Khả năng tự do chuyển đổi của đồng tiền

 Hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng

 Sư hoạt động của các thị trường tài chính: thị trường chứng khoán, leasing,

Mortgage, bất động sản…

 Hệ thống thuế và lệ phí: loại thuế, thuế suất,và tính ổn định

 Khả năng đàu tư từ chính phủ cho phát triển

 Giá cả hàng hóa…

- Môi trường cơ sở hạ tầng

 Hệ thống đường sá, cầu cống, sân bay, cảng…

 Mức độ thỏa mãn các dịch vụ: điện, nước, bưu chính viên thông, khách sạn…

 Khả năng thuê đất và sở hữu nhà

Trang 18

 Chi phí thuê đất, đền bù giải tỏa, thuê nhà, chi phí dịch vụ vận tải, điện, nước, điện

thoại, fax, Internet…

- Môi trường lao động

 Nguồn lao động và giá cả nhân công lao động

 Trình độ đào tạo cán bộ quản lý và tay nghề

 Cường độ lao động và năng suất lao động

 Tính cần tù và kỷ luật lao động

 Tình hinh đình công bãi công

 Hệ thống giáo dục và đào tạo

 Sự hỗ trợ của chính phủ cho phát triển nguồn nhân lực

- Môi trường quốc tế

 Quan hệ ngoại giao của chính phủ

 Thiết lập quan hệ buôn bán với thế giới, mức độ được hưởng ưu đãi MFN và GSP

của các nước này

 Hợp tác kinh tế quóc tế tham gia các khối kinh tế asean, apec…

 Sự ủng hộ tài chính thông qua các hiệp đinh song phương và đa phương (Nhật,

EU, ÌM,WB,ADB…) để vay vốn ODA

 Mức độ mở cửa về kinh tế và tài chính với thị trường bên ngoài

 Tham gia các diện đàn thương mại thế giới WTO, APEC…

a Đối với nhà lãnh đạo ở các cấp vĩ mô(ở nước tiếp nhận đầu tư)

Dựa vào tình hình kinh tế chính trị, qua hình thức nghiên cứu môi trường đầu tư, ta

có thể nhận định được là có nên tiếp nhận các khoản đầu tư đó không, vì mỗi một hình

thức đầu tư đều có những ưu và nhược điểm riêng biệt Nếu nhà nước không đề ra các

chính sách thích hợp thì sẽ dễ dàng bị trói buộc với các khoản đầu tư quy mô lớn, lại suất

thấp Nền kinh tế sẽ dần bị suy thoái

Với việc nghiên cứu môi trường đầu tư quốc tế sẽ đưa ra chính sách thích hợp cho

việc đầu tư, từ đó sẽ giúp thay đổi cơ cấu nèn kinh tế trong nước theo hướng hiệu quả

hơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động khu vực và quốc tế mới Trong 20 năm

1975-1995, khi đồng Yên tăng giá và việc di chuyển sản xuất của các công ty Nhật Bản

ra nước ngoài đã tạo điều kiện tốt hơn cho việc liên kết theo chiều ngang trong khu vực

Trong đó, các công ty mẹ ở Nhật Bản chỉ tập trung sản xuất vào những mặt hàng cao cấp,

những thiết bị cần thiết để cung cấp cho các chi nhánh của họ ở khắp Châu Á, và những

khâu kỹ thuật cao đòi hỏi phải có sự nghiên cứ, còn các chi nhánh và hơp doanh đang

ngày càng được phát triển tại các nước trong khu vực sẽ được hướng vào sản xuất cac

mặt hàng càn nhiều lao động, kỹ thuật ở trình độ vừa và thấp để thay thế cho các mặt

Trang 19

hàng xuất khẩu từ Nhật Bản, phục vụ cho thị trường địa phương, cung cấp lẫn nhau, xuất

khẩu sang nước thứ ba và ngược trở lại Nhật Bản

Các nhà lãnh đạo cấp vĩ mô cần phải nghiên cứu môi trường đầu tư một cách kỹ

lưỡng, xem xét việc đầu tư có mang lại được những lợi ích cụ thể hay không Một trong

những lợi ích đó là:

-Thu hết thêm lao động, giải quyết được một phần nạn thất nghiệp ở nước này

Theo thống kê của Liên hiệp quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp của các nước

chậm và đang phát triển khoảng 35-38% tổng số lao động, cho nên hàng vạn xí nghiệp

có vốn FDI hoạt động tại các nước đang phát triển giúp các nước này giải quyết một phần

nạn thất nghiệp Ví dụ như Trung Quốc tính đến tháng 6/2008, đã thu hút trên 800.000 dự

án đầu tư nước ngoài, với số vốn đăng ký gần 1200 tỷ USD, trạo công ăn việc làm cho

hàng trăm triệu lao động của nền kinh tế

-Phải giúp các nước này mở mang hoạt động kinh doanh, tăng GDP mà không phải

vay nợ nhiều

-Các dự án đầu tư phải gớp phần hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng

bình đẳng, minh bạch và công khai, đạt các chuẩn mực chung của quốc tế, nhờ đó tăng

năng lực cạnh tranh ở các cấp độ quản lý

- Phải góp phần nâng cao trình động kỹ thuật và công nghệ của nước tiếp nhận đầu

Ngoài ra các cấp lãnh đạo cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng môi trường và hình thức

đầu tư, để phổ biến cho mọi người biết được những hậu quả khôn lường do việc lợi dụng

của các nhà đầu tư trong sự chênh lệch về trình độ phát triển công nghệ kỹ thuật giữa các

nước, những nước có trình độ phát triển cao hơn khi đầu tư ra nước ngoài ở một số dự án

họ chuyển công nghệ cũ, lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường Kinh nghiêm của Trung

Quốc, 10 năm đầu khi mới mở cửa thị trường đầu tư, chính phủ với mục tiêu chủ đạo là

thu hút nhiều vốn đầu tư chứ chưa quan tâm nhiều đến việc kiểm soát sự gây ô nhiệm

môi trường của các dự án FDI, hậu quả ô nhiễm ở nhiều vùng của Trung Quốc rất

nghiêm trọng, mà theo các chuyên gia muốn khắc phục được thì phải chi phí tối thiểu 30

tỷ USD

Nghiên cứu môi trường đâu tư cho phép đề xuất những giải pháp hoàn thiện môi

trường đầu tư, làm tăng tính hấp dẫn và tính cạnh tranh so với môi trường đầu tư của các

nước trong khu vực Có như vậy mới giúp tăng khả năng thu hut vốn đâu tư phục vụ cho

tăng trưởng và phát triển kinh tế Kinh nghiêm của nhiều nước đã rút ra: Muốn tăng khả

năng thu hút vốn đầu tư quốc tế thì cần phải tạo ra môi trường đâu tư tốt trên các khía

cạnh:

Trang 20

- Tình hình chính trị xã hội, kinh tế vĩ mô ổn định, không có nguy cơ nôi chiến

chiến tranh

- Xây dựng một môi trường an toàn, an ninh không co khủng bố, trộm cướp tống

tiền doanh nghiệp…

- Luật pháp rõ ràng, hoàn chỉnh, phù hợp với thông lệ quóc tế

- Cơ chế thị trườn hoàn chỉnh , thông suốt

- Khả năng luân chuyển vốn thuận lợi

- Bảo đảm quyền sở hữu về vốn và lợi nhuận cho các nhà đầu tư

b Đối với nhà đầu tư

- Xác định được môi trường đầu tư lý tưởng để bỏ vốn từ đó gúp nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn đầu tư thông qua việc sử dụng những lợi thế sản xuất của nơi tiếp nhận đầu

tư, giúp hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận cảu vốn đầu tư

- Xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng Ví dụ,

nhờ có việc nghiên cứu mà ta đã xây dựng được chiến lược tốt, có những hiểu biết rõ

ràng, qua đó ta có thể đầu tư vào thị trường đó dễ dàng hơn, ít rủi ro hơn

- Với việc nghiên cứu kỹ lưỡng từng môi trường đâu tư cụ thể sẽ tạo thuận lợi chơ

các nhà đầu tư trong việc “chuyển giá” nhằm trốn thuế, tăng lợi nhuận cho các nhà đầu tư

- Xác định mộtc cách nhanh chóng, nhưng ít tốn kém về các cơ hội đầu tư trên cơ sở

những thông tin cơ bản từ đó nhà đầu tư dự án có thể triển khai hay không Nội dung là

xem xét các nhu cầu và khả năng cho việc tiến hành các công cuộc đầu tư các kết quả va

hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư Đặt rõ vấn đề mà ta có ý tưởng thực hiện dự

án Trình bày lý giải cho cơ quan thẩm quyền ban đầu cho việc nghiên cứu dự án, tại sao

làm thực hiện sáng kiến của dự án thì lại giải quyết được vấn đề đưa ra Đưa ra một hệ

thống các giải pháp để thực hiện ý tưởng, sau đó lựa chọn dự án khả thi

- Các nhà đầu tư sẽ tránh được các rủi ro lớn về kinh tế chính trị ở các nước tiếp

nhận đầu tư mà co tình hình chính trị bất ổn định Làn sóng đầu tư mạnh mẽ của các nhà

doanh nghiệp HoongKong, Macao, Đài Loan sang các nước công nghiệp phát triển nhằm

đề phòng có những thay đổi lớn về quản lý kinh doanh sau khi có sự sáp nhập của các

nước này vào Trung Quốc vào cuối thế kỳ 20 và đầu thế kỳ 21

Trang 21

- Chủ động đề xuất giải pháp để hạn chế những tác động không thuận lợi của môi

trường đầu tư đối với doanh nghiệp

- Kiến nghị đối với các cấp có thẩm quyền ở nước tiếp nhận đầu tư về việc cải thiện

môi trường đầu tư theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các Nhà đầu tư

Như vậy, nghiên cứu kỹ môi trường đầu tư cho phép giảm thiểu rủi ro trong hoạt

động đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Kinh nghiệm cho thấy chỉ nên đầu tư vào

môi trường:

+ Có luật lệ rõ ràng và ổn định, phù hợp với thông lệ quốc tế, tính thực thi pháp luật

cao

+ An ninh trật tự tốt

+ Thủ tục hành chính đơn giản, lệ phí thấp, không co tham nhũng

+ Chính sách thuế mang tính khuyến khích đầu tư

+ Có quan hệ hợp tác quốc tế thuận lợi

3 Các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư quốc tế

Có nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá như

 Thể chế

Các quy định, chính sách cũng như môi trường chính trị ổn định là điều kiện quan

trọng để các nhà đầu tư nước ngoài quyết định đầu tư Tiêu chí mà các nhà đầu tư quan

tâm đó là môi trường ổn định, như đã biết những môi trường hay xảy ra chiến tranh , biến

động, các nhà đầu tư không an tâm khi đầu tư vào những nơi này, họ đầu tư trong ngắn

hạn và không gắn bó lâu dài với các thị trường này Vì vậy đảm bảo một môi trường

chính trị ổn định, chính sách rõ ràng và thuận lợi sẽ thu hút đầu tư từ nước ngoài

 Hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là một yếu tố cũng không kém quan trọng, một quốc gia có cơ sở hạ

tầng tốt mới có thể thực hiện các hoạt động đầu tư thuận lợi, một tiêu chí mà các nhà đầu

tư tìm hiểu kĩ trước khi đầu tư vào Để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, cơ sở hạ tàng phải

đồng bộ, hiện đại và có một mức giá hợp lý

 Chỉ số phát triển giáo dục

Chỉ số phát triển giáo dục thể hiện cho yếu tố nguồn nhân lực chất lượng giáo dục

tốt , lượng đầu ra chất lượng cao là điểm thu hút rất lớn với các nhà đầu tư vì con người

là nhân tố quan trọng hàng đầu trong các doanh nghiệp thu hút lượng nhân tài từ khi còn

ngồi trên ghế nhà trường, các nhà đầu tư đã rất chú trọng điều này Hàng năm có những

đợt tuyển dụng nhân tài tổ chức đã thu hút không nhỏ số lượng sinh viên giỏi vào đây

 Hiệu quả thị trường

Trang 22

Hiệu quả thị trường ở đây muốn nói đến hiệu quả hoạt động đầu tư của nhà đầu tư ,

tiêu chí này được thể hiện qua việc đánh giá chỉ số ICOR và ROI

–Đối với một dự án: ROI (Return on Investment)

ROI = Profit/Total Investment

(Profit = Turnover - Cost)

Ý nghĩa: Một đồng vốn đầu tư đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận

–Đối với một quốc gia: ICOR (Incremental Capital Output Ratio)(Harrod Dormar)

ICOR = I/∆ GDP

(∆ GDP = GDPt - GDPt-1)

+Ý nghĩa: Để GDP tăng trưởng một đơn vị cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư

+ Triển khai chỉ số ICOR:

Lấy k=I/GDP, g= ∆GDP/GDP => ICOR = k/g

Trong đó: ICOR: tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế;

I: vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế; I = ID+IF

DGDP: mức tăng tổng sản phẩm quốc nội

k: tỉ lệ giữa vốn đầu tư và tổng sản phẩm quốc nội

g: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế

=>k = ICOR g

Như vậy, nếu hệ số ICOR không đổi thì tỉ lệ vốn đầu tư so với GDP (k) sẽ quyết

định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (g) Tỷ lệ đầu tư càng cao thì tốc độ tăng trưởng

kinh tế càng cao và ngược lại

Năm 1995, ICOR của Việt Nam là 3,39 thì năm hiện nay đã lên tới gần 6, trong đó

khu vực kinh tế nhà nước tăng từ 3,6 lên 7,28 Đây là một thực tế đáng lo ngại, vì khu

vực kinh tế chủ đạo lại có chất lượng thấp

 Sự sẵn sàng về kỹ thuật trình độ kinh doanh

Trình độ kỹ thuật cũng như trình độ kinh doanh ở mỗi nước khác nhau Nhà đầu tư

căn cứ vào những điều này để đánh giá chất lượng quản lý cũng là quyết định hiệu quả

hoạt động đầu tư

Ngoài ra còn có một số chỉ số khác như:

 Chỉ số công nghệ: chỉ số đổi mới, chỉ số công nghệ thông tin, chỉ số chuyển

giao công nghệ,

 Chỉ số thể chế công: chỉ số pháp luật và hợp đồng, chỉ số tham nhũng

 Chỉ số môi trường vĩ mô: chỉ số ổn định kinh tế vĩ mô, chỉ số đánh giá tín

nhiệm, chỉ số đánh giá sự lãng phí của khu vực nhà nước

Trang 23

Ngoài các tiêu chí này, có một số chỉ số phản ánh môi trường đầu tư mà tập hợp

nhiều tiêu chí với nhau, đánh giá tổng quan môi trường đầu tư Những tiêu chí này được

các tổ chức quốc tế lớn trên thế giới đánh giá, có độ tin cậy cao

 Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (The Global Competitiveness Index )

WEF xếp hạng khoảng 130 quốc gia trên toàn cầu trong Chỉ số cạnh tranh toàn cầu

(Global Competitiveness Index) và công bố số liệu đó trong Global Competitiveness

Report Các báo cáo này được phát miễn phí trên mạng Internet.Xếp hạng năng lực cạnh

tranh dựa trên số liệu kinh tế được chính các nước tham gia khảo sát công bố (hard data)

và kết quả lấy từ khảo sát ý kiến các doanh nhân và chuyên gia kinh tế (soft data).GCI

được đánh giá dựa trên bốn yếu tố cơ bản hàng đầu được coi là ảnh hưởng tới chỉ số cạnh

tranh của quốc gia gồm lạm phát, cơ sở hạ tầng, lao động có trình độ và mức độ tham

nhũng

Xếp hạng của WEF qua chỉ số cạnh tranh toàn cầu phản ánh các nhân tố ảnh hưởng

tới môi trường kinh doanh của một quốc gia, vốn cũng là các yếu tố cơ bản đối với tăng

trưởng kinh tế bền vững

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Các bảng xếp hạng được tính toán từ cả hai dữ liệu: công khai và chấp hành khảo

sát ý kiến, một cuộc khảo sát toàn diện hàng năm tiến hành do diễn đàn kinh tế thế giới

cùng với mạng lưới của Viện đối tác (viện nghiên cứu hàng đầu về các tổ chức, doanh

nghiệp) ở các nước được khảo sát trong báo cáo (GCR) Báo cáo cạnh tranh toàn cầu

(GCR) bao gồm 133 quốc gia thông qua 12 trụ cột của mình để khảo sát khả năng cạnh

tranh Khả năng cạnh tranh liên quan đến 110 chỉ tiêu, 80% của các chỉ số dựa trên khảo

sát ý kiến và 20% được định lượng trong thực tế như: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chi

tiêu chính phủ, tỷ lệ lạm phát, chi tiêu cho giáo dục và thuế.Cuộc điều tra được thiết kế

để nắm bắt một loạt các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của một nền kinh

tế.Bản báo cáo cũng bao gồm các danh sách toàn diện những điểm mạnh và điểm yếu

chính của các nước, từ đó mỗi quốc gia có thẻ xác định các ưu tiên chính cho cải cách

chính sách của mình

Chỉ số GCI đánh giá dựa trên 12 trụ cột của khả năng cạnh tranh, cung cấp một bức

tranh toàn diện của phong cảnh cạnh tranh ở các nước trên thế giới ở mọi giai đoạn phát

Trang 24

+ Hiệu quả hàng hóa thị trường

+ Hiệu quả thị trường lao động

+ Sự phát triển thị trường tài chính

+ Sẵn sàng về công nghệ

+ Quy mô thị trường

+ Sự phát triển của kinh doanh

+ Đổi mới công nghệ

 Chỉ số tự do kinh tế (Indices of Economic Freedom)

Chỉ số tự do kinh tế (Indices of Economic Freedom) đo lường chính sách tự do kinh

doanh ở các quốc gia trên thế giới Chỉ số tự do kinh tế đánh giá 10 yếu tố cơ bản của

mỗi nền kinh tế, được công bố thường niên bởi tạp chí The Wall Street Journal và Quỹ Di

sản (The Heritage Foundation) có ảnh hưởng gián tiếp đến nguyên tắc luật lệ, chính sách

thuế cũng như các chính quyền

Phương pháp tính điểm

Chỉ số năm 2008 định nghĩa tự do kinh tế như sau: "Môi trường tự do kinh tế cao

nhất cho người ta quyền tư hữu tuyệt đối, hoàn toàn tự do hoạt động về lao động, tiền

bạc, hàng hóa, và hoàn toàn không có chèn ép hay giới hạn tự do kinh tế ngoại trừ những

giới hạn tối thiểu cần thiết để bảo đảm người dân được tự do"

Chỉ số cho điểm dựa trên 10 yếu tố tổng quát sau đây về tự do kinh tế từ thống kê

của các tổ chức như Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), và Đơn vị Tình báo

Economist:

1 Tự do buôn bán (Business Freedom)

2 Tự do thương mại (Trade Freedom)

3 Tự do tiền tệ (Monetary Freedom)

4 Độ lớn của nhà nước (Government Size)

5 Tự do công khố (Fiscal Freedom)

6 Quyền tư hữu (Property Rights)

7 Tự do đầu tư (Investment Freedom)

8 Tự do tài chánh (Financial Freedom)

9 Tự do không bị tham nhũng (Freedom from Corruption)

10 Tự do lao động (Labor Freedom)

Mỗi tự do trên được cho điểm từ 0 đến 100, mà 100 là tượng trưng cho nhiều tự do

nhất Điểm 100 có nghĩa là có một môi trường kinh tế hay chính sách kinh tế có ích lợi

nhất dẫn đến tự do kinh tế Tổng số điểm được tính trung bình bằng cách cộng 10 số

điểm của mỗi tự do và chia cho 10

Trang 25

Chỉ số tự do kinh tế của Việt Nam 6 tháng cuối năm 2008 và 6 tháng đầu năm 2009

tăng 1 bậc so với năm trước, nhưng lại giảm 1,2 điểm, đạt 49,8 điểm nên Việt Nam xếp

thứ 144 trên thế giới và xếp hạng 33 trong tổng số 41 nước và lãnh thổ trong khu vực

châu Á - Thái Bình Dương Điểm số tổng cộng của Việt Nam thấp hơn mức trung bình

của khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thế giới

 Chỉ số thuận lợi kinh doanh (EBDI - Ease of Doing Business Index)

Chỉ số thuận lợi kinh doanh là chỉ số được đề ra bởi Ngân hàng thế giới Thứ hạng

cao chỉ ra rằng các quy tắc cho kinh doanh tốt hơn, đơn giản hơn và bảo vệ quyền sở hữu

mạnh hơn Nghiên cứu thực nghiệm được tài trợ bởi Ngân hàng thế giới chỉ ra rằng ảnh

hưởng của việc hoàn thiện những điều chỉnh này đối với tăng trưởng kinh tế là rất mạnh

mẽ.Nghiên cứu thực nghiệm trở nên cần thiết cho việc thiết lập các mức tối ưu của quy

tắc kinh doanh – ví dụ khoảng thời gian tiến hành thủ tục pháp lý trong mỗi phiên tòa cần

phải ở mức tối ưu & được bảo đảm

Phương pháp luận

Chỉ số này được đưa ra dựa trên những nghiên cứu luật pháp, quy tắc bằng việc

phỏng vấn & xác minh bởi 3 500 viên chức nhà nước, các luật sư, cố vấn doanh nghiệp,

kế toán viên và các nhà chuyên môn có hoạt động trong lĩnh vực cố vấn quản lý chung

thực thi luật pháp

Chỉ số thuận lợi kinh doanh nói lên đánh giá các quy tắc ảnh hưởng trực tiếp đến

kinh doanh, không phản ánh trực tiếp những trạng thái chung như quốc gia ở cạnh một

thị trường lớn, đặc trưng cơ sở hạ tầng, lạm phát hoặc tội phạm Thứ hạng của một quốc

gia được đánh giá dựa trên giá trị trung bình của 10 chỉ số sau:

 Khởi sự doanh nghiệp: thủ tục pháp lý, thời gian, vốn và giá trị doanh nghiệp cực

tiểu theo quy định

 Đăng ký giấy phép kinh doanh: thủ tục pháp lý, thời gian và chi phí của việc xác

minh & cấp giấy phép kinh doanh (xây dựng công nghiệp)

 Chi phí thuê nhân công & tình trạng khan hiếm lao động: mức độ khó khăn về giá

nhân công và chỉ số mềm dẻo về thỏa ước thời gian lao động

 Đăng ký quyền sở hữu: thủ tục, thời gian và chi phí khi đăng ký các tài sản là bất

động sản thương mại như đất đai thực

 Mức khấu trừ tín dụng: chỉ số hiệu lực của các quy định luật pháp, chỉ số công

khai thông tin tín dụng

 Mức độ bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư: phạm vi quyền hạn cũng như trách nhiệm

pháp lý của người quản lý doanh nghiệp & các đại cổ đông

 Gánh nặng thuế phải trả: các khoản thuế phải nộp, thời gian tiêu tốn cho thủ tục

hành chính trong thanh toán thuế, tỉ lệ thuế phải trả so với tổng số lợi nhuận dòng

Trang 26

 Hoạt động thương mại dọc & xuyên biên giới: số lượng các tài liệu, số lượng chữ

ký và thời gian cần thiết để thực hiện cho mỗi thương vụ xuất hoặc nhập khẩu

 Mức thực thi các hợp đồng: thủ tục, thời gian & chi phí để bắt buộc thực thi một

thỏa ước vay nợ chưa thanh toán

 Chấm dứt kinh doanh: thời gian & chi phí khi tuyên bố đóng cửa kinh doanh hoặc

phá sản & mức bồi hoàn thuế

Nghiên cứu & ảnh hưởng

Có hơn 200 tài liệu chuyên môn có liên quan đã được sử dụng để xây dựng chỉ số

EDBI.Tiến trình cải tiến luật lệ kinh doanh tác động rất mạnh mẽ lên tăng trưởng kinh tế

Những thành phần miêu tả cụ thể trong chỉ số EDBI đã cung cấp những gợi ý thiết

thực cho việc cải thiện môi trường kinh doanh Nhiều chỉ tiêu được thực thi tương đối dễ

dàng và không gặp phải bất cứ phản đối nào (có lẽ không kể tới những quan chức đồi bại

có thể thu được lợi từ việc đòi hỏi nhận được tiền đút lót để giải quyết những thủ tục

phiền hà) Theo đúng nghĩa “thuận lợi kinh doanh”, chỉ số này đã tác động lên nhiều

quốc gia trong việc cải thiện các luật lệ kinh doanh Một vài chỉ số thành phần của EDBI

được xác định ở một nhóm nhỏ các quốc gia trong bảng xếp hạng, một ví dụ là ở nhóm

25 nước dẫn đầu

Mối tương liên giữa 10 chỉ số miêu tả ở trên khá thấp, điều này chỉ ra rằng hiếm khi

có một quốc gia mà hoặc chỉ có những điểm tốt hoặc luôn có những điểm xấu Theo

nhiều nhận xét, thường chỉ có nhiều khả năng cho cải cách không hoàn chỉnh (cải cách bộ

phận) ở ngay các quốc gia đạt thứ hạng dẫn đầu mà thôi

Tương tự EDBI, còn có các báo cáo được công thường niên như chỉ số tự do kinh tế

(Indices of Economic Freedom) và báo cáo cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness

Report) Điểm khác biệt là những chỉ số này dựa vào đánh giá nhiều nhân tố ảnh hưởng

đến tăng trưởng kinh tế như lạm phát và cơ sở hạ tầng mà EDBI không tính đến Tuy

nhiên những nhân tố này có thể chủ quan và không trọng điểm bởi nó đòi hỏi những khảo

sát đều đặn và khó có những đánh giá kịp thời thay đổi so với những điều chỉnh về môi

trường kinh doanh

Tuy nhiên phương pháp luận này đánh giá hoạt động kinh doanh dựa trên luật lệ &

quy định về lao động đã nhận được nhiều chỉ trích bởi những “hỗ trợ” của nó cho hoạt

động điều chỉnh quy định về lao động Một ví dụ cho điều này đó là để đạt được thứ hạng

cao, nhiều quốc gia sẽ sẵn sàng “hy sinh” quyền lợi người lao động

4.Kinh nghiệm hoàn thiện môi trường đàu tư của các nước khác và bài học

kinh nghiệm cho Việt Nam

a) Những thành thông và thất bại của một số nước

A.TRUNG QUỐC

Trang 27

*Tổng quan quá trình thu hút FDI ở Trung Quốc:

Trung Quốc (TQ) được coi là một quốc gia thành công trong việc thu hút đầu tư

trực tiếp nước ngoài (FDI) cho quá trình CNH-HĐH Từ thập kỷ 80, TQ đã xuất hiện

trong danh sách 10 nước đang phát triển (ĐPT) đứng đầu thế giới về thu hút FDI Đặc

biệt, trong những năm gần đây với lượng FDI tiếp nhận trung bình mỗi năm khoảng gần

50 tỷ USD, TQ đã trở thành nước thu hút FDI nhiều nhất Châu Á và là một trong 5 nước

thu hút được nhiều FDI nhất thế giới

Kết quả trên thể hiện đường lối đúng đắn của Chính phủ TQ trong hoạt động thu hút

và sử dụng vốn FDI ở TQ

Tháng 7 năm 1979 Luật liên doanh đầu tư giữa TQ và nước ngoài được Quốc hội

thông qua, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài (ĐTNN)

Năm 1980, bốn Đặc khu kinh tế (Special Economic Zones – viết tắt là SEZs) ra đời

ở ven biển phía Bắc là Thâm Quyến, Chu Hải, Hạ Môn và Sán Đầu

Tháng 10 năm 1982, quyết định mở cửa của TQ với các nước trên thế giới chính

thức được đưa vào Hiến pháp TQ do Quốc hội khoá 6 thông qua

Năm 1984, SEZs đã được mở rộng đến 14 tỉnh ven biển và Đảo Hải Nam

Năm 1985, ba “tam giác phát triển” là đồng bằng sông Dương Trạch, đồng bằng

sông Ngọc ở Quảng Đông và vùng Mẫn Nam ở Phúc Kiến đã được hình thành, mở cửa

đón các nhà ĐTNN

Đến năm 1988, đảo Hải Nam trở thành SEZs thứ 15 và lớn nhất ở TQ Cũng trong

năm này, Luật liên doanh hợp tác ban hành đã cải thiện đáng kể môi trường đầu tư ở TQ

Đến 1990, SEZs đã được mở rộng đến vùng đất mới Phố Đông ở Thượng Hải

TQ đã tuần tự hình thành cục diện mở cửa, đó là: khu vực ưu đãi thuế quan, đặc

khu kinh tế, khu khai phát ngành nghề kỹ thuật, khu khai phát ngành nghề kỹ thuật cao –

mới, thành phố mở cửa ven biển, thành phố mở cửa ven sông, nội địa và biên giới

Từ khi bắt đầu mở cửa đến giữa thập kỷ 80, FDI tăng không đáng kể Tuy nhiên,

sau năm 1986 nhờ những quy định khuyến khích đầu tư được ban hành và thủ tục thẩm

định liên doanh được đơn giản hoá dần dần, nên tổng số vốn FDI thực sự đầu tư (vốn

thực hiện) vào TQ tăng nhanh

Vốn FDI đăng ký từ giữa thập kỷ 80 đến năm 1999 tăng bình quân 46% năm, đặc

biệt trong 3 năm 1991 – 1993 đạt tốc độ tăng cao nhất, với tổng số vốn là 182.593 triệu

USD Từ năm 1993 đến nay, xét về khối lượng thu hút vốn ĐTNN, TQ đứng thứ 2, sau

Hoa Kỳ Trong suốt giai đoạn 1997 – 1998, số vốn FDI luỹ kế thực sự đầu tư vào TQ xấp

xỉ 255 tỷ USD, đạt tỷ lệ 45% so với tổng số vốn FDI đăng ký vào đất nước này

Những thay đổi trong FDI ở TQ sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực: Cuộc

khủng hoảng tài chính Châu á diễn ra vào cuối 1997 đầu 1998 đã có tác động xấu đến

Trang 28

toàn bộ các nền kinh tế Châu Á Dù có tiềm lực khá mạnh, kinh tế TQ không tránh khỏi

những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Nguồn FDI vào TQ giảm sút, năm 1997 số vốn

đăng ký của FDI là 44 tỷ USD (giảm 40% so với năm 1996) và vốn FDI thực hiện đạt 39

tỷ USD (giảm 6% so với năm trước) Năm 1998 mặc dù vốn đăng ký không giảm so với

năm trước (tăng 3%) nhưng vốn thực hiện lại giảm 2%

Năm 1999, theo UNCTAD (Diễn đàn Liên hợp quốc về thương mại và phát triển)

số vốn FDI thực hiện ở TQ chỉ còn 32,1 tỷ USD, giảm 17% so với năm trước Một mặt,

xu hướng giảm sút FDI là do sự gia tăng các các vụ sát nhập và mua lại của các Công ty

đa quốc gia (TNCs) và đầu tư xuyên quốc gia giữa các nước phát triển rất sôi động đã

dẫn đến luồng vốn đổ vào các nước ĐPT giảm xuống Mặt khác thị trường TQ dường

như đã tiếp nhận đủ các loại hàng hoá tiêu dùng cần thiết, dư thừa công suất đang là vấn

đề khó khăn

Để ngăn cản sự giảm sút của dòng vốn FDI, Chính phủ TQ đưa ra hàng loạt các

chính sách, cơ chế nhằm cải thiện môi trường đầu tư Đó là:

- Bắt đầu từ 1/1/1998 TQ thực hiện miễn thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng cho

các thiết bị sản xuất nhập khẩu, đồng thời đưa ra một danh mục các ngành danh cho

ĐTNN Những nhà đầu tư quốc tế được khuyến khích lập các công ty buôn bán với nước

ngoài ở miền Trung, miền Tây và các thành phố vùng Duyên hải Ngoài ra TQ cũng

thông qua danh mục hạn chế đầu tư Giảm thuế thu nhập cho các công ty nước ngoài đầu

tư ở những khu vực nội địa kém phát triển từ 33% xuống còn 15%

- Tháng 3/1999 TQ cho phép mở cửa thêm một số lĩnh vực mà trước đây người

nước ngoài không được đầu tư vào như: viễn thông, bảo hiểm

- Chính phủ TQ đưa ra các biện pháp ngăn ngừa các khoản chi phí bất hợp lý và bảo

đảm khoản thu hợp pháp của doanh nghiệp: cấm hoàn toàn các hoạt động thanh tra trái

phép, thu lệ phí không hợp pháp, áp đặt thuế và sử phạt vô cớ Nếu như trước kia muốn

có được một dự án đầu tư cần phải có 70 con dấu mới được thực thi thì nay quá trình này

được rút ngắn tối đa và chỉ cần một con dấu của cơ quan thẩm quyền cao nhất Ngoài ra

TQ còn mở rộng quyền hạn cho từng địa phương, các nhà chức trách tỉnh, thành phố có

quyền phê chuẩn những dự án đầu tư dưới 30 triệu USD

- Nhà nước khuyến khích các TNCs đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau, nhất là lĩnh

vực công nghệ cao, mở rộng các dây chuyền sử dụng và nâng cấp kỹ thuật

- Thúc đẩy hợp tác giữa các công ty vừa và nhỏ trong nước sản xuất các phụ tùng,

linh kiện cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài

- Ngày 15/11/1999 TQ đã ký với Hoa Kỳ hiệp định thoả thuận một số đIều kiện

nhằm giúp TQ mau chóng gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) với hy vọng khi

Trang 29

đã là thành viên chính thức của tổ chức này thì thị trường TQ ở cả hai lĩnh vực thương

mại và đầu tư sẽ nhộn nhịp hơn

- Kết quả là sang năm 2000, sau hàng loạt những cố gắng, nỗ lực của Chính phủ TQ

trong việc cải cách các cơ chế và môi trường đầu tư, lượng vốn FDI đổ vào TQ lại bắt

đầu phục hồi trở lại và đạt mức trên 42 tỷ USD

Theo báo cáo của UNCTAD, năm 2001 FDI trên thế giới giảm mạnh từ đỉnh cao

1.271 tỷ USD năm 2000 xuống còn 760 tỷ USD Đây là lần tụt giảm đầu tiên kể từ năm

1991 và là mức tụt giảm thấp nhất trong vòng 3 thập kỷ qua Bất chấp sự sụt giảm này

của FDI trên thế giới, năm 2001, TQ vẫn thu hút được một lượng vốn kỷ lục từ nước

ngoài tương đương với 46,6 tỷ USD

Sau ba tháng là thành viên chính thức của WTO (ngày 10/11/2001, TQ đã chính

thức gia nhập WTO), TQ đã công bố một số bản danh sách mới về các dự án kêu gọi đầu

tư nước ngoài Bản danh sách này bao gồm 371 lĩnh vực và có 34 lĩnh vực không dành

cho ĐTNN Riêng Bắc Kinh đã mở cửa hoàn toàn với 262 lĩnh vực kinh tế cho tất cả các

nhà đầu tư Trước khi gia nhập WTO con số này chỉ là 186 lĩnh vực Số lĩnh vực hạn chế

đầu tư nước ngoài từ 112 nay giảm xuống chỉ còn 75 Trong bản danh mục mới lần đầu

tiên các ngành dịch vụ ở đô thị (cung cấp nước, nhiệt lượng để sưởi ấm) cũng mở cửa cho

đầu tư nước ngoài Các lĩnh vực tiếp tục bị đóng cửa với các nhà đầu tư nước ngoài là

xuất bản báo chí, truyền hình, phát thanh và đầu tư vào ngành điện, các ngành then chốt

có ý nghĩa quan trọng chiến lược như lĩnh vực nguyên liệu, tài chính và giao thông vận

tải Ngành bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ động vật cũng không cho đầu tư nước ngoài tham

gia Bản danh mục này mới được công bố bằng tiếng TQ và có hiệu lực từ tháng 4/2002

Hội đồng Nhà nước đã phê chuẩn Luật đầu tư sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/4/2002 Sự

kiện này đang và sẽ mở ra một tương lai sáng sủa cho việc thu hút đầu tư nước ngoài ở

TQ Theo dự báo Hồng Kông, tính đến 5/2002, 11.612 doanh nghiệp ở TQ có vốn FDI,

tăng 23,26% so với cùng kỳ năm trước, với tổng vốn theo hợp đồng là 27,86 tỷ USD, vốn

thực hiện đạt 16,92 tỷ USD, tăng 12,38% Cũng đến thời điểm này, TQ đã phê chuẩn

401.637 doanh nghiệp ĐTNN với tổng số vốn đăng ký 773,1 tỷ USD, vốn thực hiện

421,1 tỷ USD

Theo dự kiến của ông Thạch Quảng Sinh, Bộ trưởng Ngoại Thương và Hợp tác

kinh tế TQ, với bối cảnh trong nước và quốc tế hiện nay thì trong năm 2002 TQ có thể sẽ

thu hút được một lượng FDI xấp xỉ 50 tỷ USD

Theo nhận xét của Nhật báo Kinh tế Les Echos cũng như một số nguồn tin khác như

Văn phòng Bộ trưởng kinh tế và công nghiệp Nhật Bản, thì sau khi gia nhập WTO cùng

với những cải cách phù hợp, nhanh nhạy của Chính phủ, TQ đã được hầu hết các nhà

ĐTNN lựa chọn làm địa điểm đầu tư lý tưởng, một thị trường đầy triển vọng với những

Trang 30

lợi thế chủ yếu sau: cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện mà chi phí lại rẻ, trình độ văn hoá

của đội ngũ nhân công cao, chi phí lao động thấp, cơ chế chính sách thông thoáng, cởi

mở, có các ngành công nghiệp hỗ trợ (69% DN tham gia Hội thảo về Tình hình thương

mại thế giới được tổ chức tại Pháp đã chọn TQ là địa điểm đầu tư lý tưởng) Theo đánh

giá của EIU (Economic International Unit), trong thời gian từ 2001 – 2005, với lượng

FDI tiếp nhận trung bình mỗi năm khoảng gần 60 tỷ USD, TQ sẽ là một trong 4 địa chỉ

thu hút được lượng FDI hàng đầu thế giới sau Mỹ, Anh và Đức

Biểu đồ tổng khối lượng và xu hướng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

(FDI) được đầu tư ở Trung Quốc 1986-2008:

* Những bài học thành công trong thu hút FDI ở Trung Quốc

Có thể nói Trung Quốc là một nước đạt được những thành tựu to lớn trong việc thu

hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Chính điều đó đã góp một phần quan trọng cho sự

phát triển kinh tế của Trung Quốc Để đạt được những thành tựu đó, Đảng Cộng Sản và

Nhà nước Trung Quốc đã quyết định thực hiện đẩy nhanh tốc độ cải cách và mở cửa với

những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài

vào Trung Quốc và đã đạt được nhiều thành công mà các nước khác phải học hỏi kinh

nghiệm.Đó là, Phải xây dựng được mô hình kinh tế cụ thể cho cả quá trình phát triển

trong đó có mô hình, chiến lược và các chính sách thu hút FDI

 Từng bước mở rộng địa bàn thu hút FDI

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc chủ trương mở cửa vùng ven biển là nơi có vị trí

thuận lợi trong giao lưu buôn bán quốc tế Từ mở cửa ven biển sẽ dần dần mở sâu vào nội

địa Những bước đi như vậy đã dần hình thành kinh tế mở cửa nhiều tầng nấc, ra mọi

hướng theo phương châm mơ cửa từ điểm, đến tuyến, đến diện Với những bước đi thận

trọng nhưng khẩn trương, Trung Quốc đã tiến hành mở cửa từng khu vực, bắt đầu từ việc

Trang 31

thành lập 5 đặc khu kinh tế, sau đó là việc mở cửa 14 thành phố ven biển, 13 thành phố

ven biên giới nhằm mở rộng thương mại và đầu tư vùng biên

Xây dựng các đặc khu kinh tế ( Special Economic Zones- SEZs)

5 đặc khu kinh tế :Thâm Quyến tiếp giáp với Hồng Kông, Chu Hải nằm cạnh Ma

Cao, Sán Đầu và Hạ Môn đối diện với Đài Loan, riêng Hải Nam có vị trí vô cùng độc

đáo, không những có đường biển gần nhất nối Trung Quốc với Châu Âu, châu Phi, Châu

Đại Dương mà Nam Á còn là điểm giao hội ở vị trí cực nam Trung Quốc

5 đặc khu trên có đặc điểm chung là được đặt ở khu vực có quan hệ lâu dài với

nước ngoài và có vị trí thuận lợi trong thương mại quốc tế.Các đặc khu đều nằm sát các

thị trường tư bản,giao thông đường biển,đường không thuận tiện.Đây là con đường chủ

yếu để Trung Quốc du nhập vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của tư bản ở nước ngoài

vào Các đặc khu còn là quê hương của hang chục triệu người Hoa và Hoa kiều ở nước

ngoài Họ có vốn, có kỹ năng quản lý hiện đại, có kinh nghiệm ngân hàng, có kiến thức

tiếp thị…

Vị trí thuận lợi cộng với các chính sách ưu tiên và thể chế mang tính đặc thù,các đặc

khu kinh tế đã thực sự mang lại những thành tựu đáng kể,khuyến khích sự phát triển của

cả nền kinh tế Trung Quốc Các đặc khu kinh tế có điểm tương đồng với các khu chế xuất

ở các nước phát triển như nước ta,song nó có những điểm rất khác biệt.Đặc khu kinh tế

của Trung Quốc là nơi thử nghiệm các thể chế quản lý kinh tế và chính sách mới,làm bàn

đạp lan ra các khu vực khác

- Chính sách về lao động và tiền lương:

Các doanh nghiệp hoạt động trong đặc khu có quyền tuyển dụng lao động từ trong

và ngoài đặc khu Việc tuyển dụng được thực hiện theo chế độ hợp đồng lao động Công

ty có quyền quyết định số lượng biên chế, mức lương, có quyền kỷ luật, sa thải công

nhân theo pháp luật và các quy định trong hợp đồng lao động

- Chính sách về thị trường tiêu thụ sản phẩm:

Các sản phẩm sản xuất ra trong ĐKKT sẽ được tiêu thụ ở các thị trường sau:

+ Xuất khẩu ra thị trường nước ngoài

+ Tiêu thụ ở chính trong đặc khu

+ Đưa vào tiêu thụ trong thị trường nội địa Nhà nước Trung Quốc luôn khuyến

khích và yêu cầu các nhà sản xuất trong đặc khu nâng cao hơn nữa tỷ lệ xuất khẩu các

sản phẩm của mình thông qua các biện pháp hành chính và kinh tế Các doanh nghiệp có

vốn ĐTNN xuất khẩu trên 70% sản phẩm sản xuất ra sẽ được giảm thuế thu nhập 5%

Bên cạnh đó, một tỷ lệ nhất định hàng hoá được chuyển vào tiêu thụ tại thị trường nội

địa Tuy nhiên, những mặt hàng khi nhập vào thị trường nội địa phải chịu thuế nhập khẩu

Trang 32

như khi nhập từ thị trường nước ngoài Một phần hàng được tiêu thụ tại đặc khu và phần

này không phải chịu thuế

Như Trung Quốc ,ở Việt Nam việc xây dựng các đặc khu kinh tế là cần thiết để thu

hút FDI Các khu kinh tế tự do, hay còn gọi là đặc khu kinh tế, sẽ là đột phá về thể chế

kinh tế và xã hội của Việt Nam trong thời gian tới

b Xây dựng 14 thành phố mở cửa ven biển:

Thực hiện chính sách mở cửa “không thu lại mà bung ra”( Đặng Tiểu Bình),Trung

Quốc tiến hành mở cửa thêm các thành phố ven biển.Tháng 4-1984, TƯ ĐCS Trung

Quốc và Quốc vụ viện quyết định mở cửa 14 thành phố ven biển: Thiên Tân, Thượng

Hải, Đại Liên, Tần Hoàng Đảo, Yên Đài, Thanh Đảo, Liên Vân Cảng, Nam Thông, Ninh

Ba, Ôn Châu, Phúc Châu, Quảng Châu, Trạm Giang, Bắc Hải.

Các thành phố ven biển này là những hạt nhân để hình thành các khu kinh tế năng

động, thúc đẩy sự phát triển chung, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là

vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế biển Như vậy, sứ mệnh của các khu kinh tế

ven biển này chủ yếu là cùng với các thành phố lớn ven biển hiện có tạo thành những

trung tâm kinh tế biển mạnh, vươn ra biển xa

 Tăng cường sức hấp dẫn của môi trường đầu tư

+ Cải thiện môi trường đầu tư “mềm”

Môi trường đầu tư mềm là toàn bộ cơ chế,chính sách có liên quan đến hoạt động

đầu tư trực tiếp nước ngoài.Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và quá trình phát

triển của hoạt động đầu tư nước ngoài.Bởi lẽ,nó là một trong những yếu tố có ảnh hưởng

quan trọng nhất đến khả năng thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài.Sự thành công

trong thu hút vốn FDI của Trung Quốc trong thời gian qua có một phần đóng góp mang

tính quyết định của việc hoàn thiện môi trường đầu tư mềm này

+ Tạo dựng môi trường luật pháp cho đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Điều này thể hiện rất rõ qua việc rà soát 2.500 văn bản liên quan đến ĐTNN; thực

hiện chính sách 1 giá trên toàn quốc; không phân biệt đối xử giữa các loại hình DN trong

việc vay vốn, xin quỹ đất

Trung Quốc còn thể hiện sự quan tâm đến những quyền lợi của nhà đầu tư nước

ngoài bằng cách thường xuyên bổ sung, sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài, đảm bảo tính

thực thi nghiêm túc Những hoạt động thanh tra trái phép, thu lệ phí hay áp đặt thuế sai

quy định đối với các doanh nghiệp nước ngoài bị xử lý nghiêm khắc.Nhiều quy định

được xóa bỏ để phù hợp với pháp luật kinh doanh quốc tế như tỷ lệ nội địa hóa, cân đối

ngoại tệ

Trung Quốc đã ban hành hàng loạt bộ luật, văn bản dưới luật trên nhiều mặt

có liên quan đến hoạt động này, bao gồm:

Trang 33

Về hoạt động của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

Trung Quốc đã ban hành các văn bản pháp luật như: Quy định về cách thức

đăng ký doanh nghiệp liên doanh vào tháng 8 / 1990; Quy định về lao động trong

xí nghiệp liên doanh vào tháng 8 / 1990; Luật thuế thu nhập xí nghiệp nước ngoài

vào tháng 12 / 1981; Quyết định sửa đổi thuế thu nhập của doanh nghiệp liên

doanh vào tháng 8 / 1993; Luật xí nghiệp 100% vốn nước ngoài vào tháng 4 /

1986 Như vậy, chúng ta thấy các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của xí

nghiệp có vốn nước ngoài là khá đầy đủ và chi tiết, từ thủ tục đăng ký kinh doanh

đến tuyển dụng lao động, hay các quy định về thuế Hơn nữa, các quy định này lại

rất cụ thể và rõ ràng, tạo rất nhiều thuận lợi cho các xí nghiệp này hoạt động Theo

đánh giá của một số chuyên gia luật nước ngoài thì sự đảm bảo về mặt pháp lý cho

các nhà đầu tư nước ngoài dưới hình thức lập các xí nghiệp ở Trung Quốc là khá

đầy đủ và hiệu quả

Về việc bảo hộ bản quyền:

Trung Quốc đã ban hành những bộ luật sau: Luật nhãn hiệu, Luật li-xăng,

Luật quyền tác giả, Điều lệ bảo hộ phần mềm máy tính Ngoài ra, Trung Quốc còn

tham gia các tổ chức quốc tế về bảo vệ quyền tri thức, quyền sở hữu công nghiệp

như việc tham gia công ước Paris về bảo vệ bản quyền sở hữu công nghiệp Trung

Quốc còn ký hiệp định bảo hộ đầu tư với 67 nước, ký hiệp ước bảo hộ đa

biên Những việc làm như vậy của Trung Quốc đã tạo được tâm lý an toàn cho các

nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các nhà tư bản phương Tây và các công ty xuyên

quốc gia bởi họ đặc biệt sợ bị đánh cắp bản quyền khi đầu tư vào những nước đang

phát triển như Trung Quốc

- Về định hướng chiến lược thu hút FDI:

Đây là một vấn đề không chỉ Trung Quốc mà các nhà đầu tư cũng rất quan

tâm Vấn đề này đã được Trung Quốc đề cập tới khi ban hành “ Quy định của Quốc

vụ viện về khuyến khích đầu tư nước ngoài” (gọi tắt là quy định “22 điều mục”)

năm 1986 Quy định này nhấn mạnh việc ưu đãi đặc biệt cho các doanh nghiệp xuất

khẩu hàng hoá và doanh nghiệp kỹ thuật tiên tiến trên 5 mặt:

+ Hạ thấp phí sử dụng đất đai Ngoài các khu vực phồn hoa sầm uất của các

thành phố lớn, phí khai thác và phí sử dụng tính thu mỗi năm mỗi m2 là 5-20 NDT,

phí khai thác tính thu một lần Nếu các doanh nghiệp trên tự khai phát, phí sử dụng

cao nhất được tính là mỗi m2 mỗi năm 3 NDT

+ Hạ thấp phí lao động: các công trình thuỷ điện, giao thông, thông tin thu phí

theo tiêu chuẩn của các doanh nghiệp quốc doanh địa phương

Trang 34

+ Miễn giảm thuế: đối với các sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm dầu thô, thành

phẩm dầu và một số sản phẩm khác do nhà nước quy định được miễn thuế công

thương thống nhất

+ Khích lệ các nhà đầu tư nước ngoài tái đầu tư lợi nhuận Nếu thời gian kinh

doanh của dự án tái đầu tư trên 5 năm, qua cơ quan thuế vụ xét duyệt, người đầu tư

sẽ được trả lại 40% thuế thu nhập đã nộp đối với phần tái đầu tư

+ Bảo đảm hai điều kiện bên ngoài của doanh nghiệp kinh doanh sản xuất

(bao gồm nhập khẩu hàng hoá có liên quan), tạo môi trường hoạt động tiền tệ thuận

lợi cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp “22 điều mục” đã tạo một

phạm vi rộng đáng kể so với các chính sách trước đó Trước đây, các cơ sở đầu tư

liên doanh được hưởng ưu đãi hơn các cơ sở hợp đồng kinh doanh và cơ sở 100%

vốn nước ngoài Còn “22 điều mục” không tính đến sự phân biệt đó miễn là chúng

đủ tư cách là cơ sở kinh doanh xuất khẩu hoặc cơ sở kỹ thuật tiên tiến

Về mặt đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp có

xung đột:

Trung Quốc đã tiến hành rất nhiều hoạt động Chẳng hạn, nước này đã công

bố quy định cho phép các xí nghiệp dùng vốn nước ngoài có quyền từ chối và kiện

những ai tuỳ tiện đến thu các khoản lệ phí bất hợp pháp từ cấp chính quyền địa

phương cho đến cấp Trung Ương Việc làm này không những cho phép Trung

Quốc giảm đáng kể tình trạng hạch sách của một số cấp chính quyền đối với chủ

đầu tư nước ngoài mà còn giúp giải quyết nhanh chóng những thắc mắc của họ

Ngoài ra, để đảm bảo an toàn cho các nhà đầu tư nếu phải đưa sự vụ ra trọng tài,

Trung Quốc đã tham gia vào Trung Tâm quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư

(ICSID) và phê chuẩn công ước New York về thi hành các bản án của trọng tài

nước ngoài Ngoài ra, các cơ quan trọng tài của nước này cũng đã ký nhiều thoả

thuận song phương với các cơ quan nước ngoài như Trung tâm trọng tài Bắc Kinh

(BCC) ký thoả thuận hợp tác với Hiệp hội trọng tài Mỹ (AAA) về hợp tác giải

quyết tranh chấp đầu tư giữa Mỹ và Trung Quốc

Gần đây, sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã công bố “Bản danh sách về

các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài” Bản danh sách này bao gồm 371 lĩnh vực

dành cho đầu tư nước ngoài và có 34 lĩnh vực không dành cho đầu tư nước ngoài

Riêng Bắc Kinh đã mở cửa hoàn toàn với 262 lĩnh vực dành cho các nhà đầu tư

Trước khi gia nhập WTO, con số này chỉ là 186 lĩnh vực Phần lớn những lĩnh vực

tăng thêm gồm các ngành công nghệ sinh học, điện tử, thiết bị viễn thông, dụng cụ

và dây chuyền sản xuất Việc định ra danh sách này thể hiện quyết tâm của Trung

Quốc hướng FDI vào những ngành công nghệ hiện đại

Trang 35

Tóm lại, ta thấy chính phủ Trung Quốc đã rất chú trọng đến việc tạo lập và hoàn

thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây là một trong những

nguyên nhân quan trọng tạo nên thành công cho hoạt động thu hút và sử dụng FDI ở

Trung Quốc trong những năm qua

+ Đơn giản hóa thủ tục, quy trình đầu tư:

Về cải cách thủ tục hành chính, Trung Quốc thực hiện chế độ phân cấp ra quyết

định đầu tư cho các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư về

thời gian, chi phí trong việc làm các thủ tục xin đầu tư.Sau khi có giấy phép đầu tư,các

thủ tục liên quan đến triển khai dự án được giải quyết mau lẹ.Các vấn đề giả phóng mặt

bằng,cấp điện,cấp nước,giao thông,môi trường được giải quyết dứt điểm

+ Thực hiện các ưu đãi:

*Ưu đãi thuế:

Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp

Trước ngày 1.1.2008, tại Trung Quốc có 2 loại thuế thu nhập doanh nghiệp: Thuế

thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho doanh nghiệp trong nước, thuế thu nhập doanh

nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài Từ ngày 1.1.2008, thuế thu nhập

doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài được thay thế bởi thuế thu

nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng chung cho doanh nghiệp

trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.Luật thuế mới thống nhất và cắt

giảm thuế suất từ 33% xuống mức thuế suất chung là 25% cho cả doanh nghiệp trong

nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoai và hai mức thuế suất thấp hơn 15% và 20% sẽ

được áp dụng lần lượt cho các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ tiên tiến và các

doanh nghiệp nhỏ có mức lợi nhuận thấp,các doanh nghiệp nằm trong đặc khu kinh tế

(SEZs) Thống nhất chính sách ưu đãi thuế tạo nên chế độ ưu đãi thuế mới  trên nguyên

tắc “ưu đãi chủ yếu nhắm tới một số ngành khuyến khích phát triển, được hỗ trợ bởi việc

hạn chế các chính sách riêng của từng địa phương” Do vậy luật thuế mới đã góp phần

thúc đẩy các ngành, các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp công nghệ cao và tiên

tiến, ngành xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường và tài nguyên, tiết kiệm năng

lượng và sản xuất an toàn

Ở Trung Quốc, các dự án đầu tư vào đặc khu kinh tế, khu công nghệ cao sẽ được ưu

đãi về thuế, các dự án đầu tư vào các vùng kinh tế khó khăn như miền Tây, miền Trung

-sẽ được thuê đất miễn phí, miễn thuê thu nhập trong vòng 10 năm

Thuế nhập khẩu:

Trung quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng như: máy móc,

thiết bị, bộ phận rời, vật liệu được đưa vào khu chế xuất 14 thành phố ven biển; các vật

Trang 36

liệu bộ phận rời nhập để sản xuất hàng xuất khẩu Trung quốc cũng miến thuế xuất khẩu

cho các mặt hàng xuất khẩu được sản xuất ở các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển

*Ưu đãi về khu vực đầu tư:

Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài xây dựng ở các đặc khu kinh tế và ở 14 thành

phố ven biển được giảm thuế thu nhập 15% theo tỷ lệ thuế

*Ưu đãi về kỳ hạn kinh doanh:

Đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất,nếu kỳ hạn kinh

doanh trên 10 năm,tính từ năm bắt đầu có lãi,năm thứ nhất và năm thứ hai họ được miễn

thuế thu nhập,từ năm thứ 3 đến năm thứ 5 học được giảm một nửa thuế thu nhập

*Ưu đãi cho hành vi tái đầu tư:

Trung Quốc cung cấp cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoàn lại tiền thuế

của 40 phần trăm lợi nhuận được tái đầu tư để tăng vốn của công ty hoặc khởi động một

công ty Tuy nhiên, Lợi nhuận phải được tái đầu tư cho ít nhất năm năm

*Ưu đãi cho hành vi tái đầu tư đặc biệt:

Các nhà đầu tư tái đầu tư xây dựng ở một số lĩnh vực đặc biệt như mở rộng xí

nghiệp có kỹ thuật tiên tiến,mở rộng xí nghiệp xuất khẩu sản phẩm hoặc đầu tư cho các

hạng mục xây dựng cơ bản và mở mang nông nghiệp trong đặc khu kinh tế Hải Nam thì

có thể được trả lại toàn bộ số thuế thu nhập đối với phần vốn tái đầu tư

+ Cải thiện môi trường đầu tư “cứng”

*Cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật:

Cơ sở hạ tầng hiện đại, thuận tiện cho việc buôn bán và giao lưu quốc tế luôn là yếu

tố quan trọng hấp dẫn các nhà đầu tư.Chính vì vậy,Trung Quốc đã chủ động bỏ vốn ra

xây dựng cải tạo đường xá,bến bãi,kho tàng,cảng nước sâu,sân bay,hệ thống thông tin

Điển hình là kinh nghiệm xây dựng cơ sở hạ tầng ở các đặc khu kinh tế Trung Quốc

rất đáng được học tập

 Đa dạng hóa các hình thức đầu tư và chủ đầu tư

Trung Quốc khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tới Trung Quốc thành lập các

doanh nghiệp “ba vốn” là chủ yếu:

Doanh nghiệp chung vốn kinh doanh (còn gọi là doanh nghiệp liên doanh): doanh

nghiệp hợp doanh kiểu cổ phần, là phương thức chủ yếu để thu hút đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp hợp tác kinh doanh: Là doanh nghiệp kiểu hợp đồng, chủ đầu tư

nước ngoài cung cấp tiền vốn, thiết bị kỹ thuật, phái Trung Quốc cung cấp tiền vốn, địa

điểm, nhà xưởng hiện có, cơ sở trang thiết bị, sức lao động và các dịch vụ lao động…

Hai bên cùng nhau hợp tác hoạt động hoặc cùng hợp tác sản xuất kinh doanh

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp mà toàn bộ vốn do chủ đầu

tư nước ngoài đầu tư, xây dựng ở Trung Quốc theo luật pháp hữu quan của Trung Quốc

Trang 37

Ngoài ba hình thức chủ yếu trên,ở Trung Quốc còn có các hình thức đầu tư và

phương thức tổ chức thu hút đầu tư khác Ví dụ,hình thức công ty Cổ phần có vốn đầu tư

nước ngoài,Chi nhánh công ty nước ngoài

*Chính sách khuyến khích đầu tư đối với Hoa kiều và người Hoa:

- Người đầu tư là Hoa kiều có thể đầu tư trong các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực

thuộc, SEZs của Trung Quốc

- Có thể mở các doanh nghiệp “ba vốn”, triển khai mậu dịch bồi hoàn, mua cổ

phiếu, chứng khoán doanh nghiệp…

- Khích lệ các nhà đầu tư Hoa kiều mở các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm, các

doanh nghiệp kỹ thuật tiên tiến và có những ưu đãi tương ứng

- Có thể đầu tư bằng cách trao đổi tiền tệ tự do, các thiết bị máy móc hoặc các hiện

vật khác

- Các doanh nghiệp Hoa kiều về nước đầu tư được hưởng chính sách ưu đãi thuế: 2

năm đầu được miễn thuế, 3 năm sau giảm một nửa…

- Sản phẩm của cá doanh nghiệp được bán trên thị trường nội địa

Kết quả: Trung Quốc đã thu hút được nhiều đầu tư của Hoa kiều và người Hoa

Trong tổng số doanh nghiệp và tổng số đầu tư vào Trung Quốc, Hoa kiều và người Hoa

lần lượt chiếm trên 70% và 50%

* Khuyến khích đầu tư của các công ty xuyên quốc gia với các nhà tư bản lớn:

- Các quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư được bảo vệ Lợi nhuận của họ được

chuyển ra nước nogài

- Các doanh nghiệp chung vốn với TNCs được giao quyền độc lập và tự chủ trong

các hoạt động sản xuất kinh doanh

- Đơn giản hoá các thủ tục đầu tư

- Các nhà đầu tư được tiêu thụ một phần sản phẩm của mình trên thị trường Trung

Quốc

 Mở rộng các lĩnh vực đầu tư

Trung Quốc mở mới hoặc mở rộng một số lĩnh vực như tài chính, bảo hiểm, viễn

thông, phân phối,…Nới lỏng một số những hạn chế đầu tư nước ngoài vào một số lĩnh

vực như thương mại, ngoại thương, xe hơi, hóa chất công nghiệp, một số năng lượng, cơ

sở hạ tầng và dự án phát triển tài nguyên khoáng sản…

Về việc cho phép nhà đầu tư hoạt động trên thị trường tài chính :Trung Quốc mở

rộng các quy định về ngoại hối, vay ngoại tệ: Doanh nghiệp FDI được cấp giấy chứng

nhận quản lý ngoại hối, mở tài khoản ngoại tệ, vay vốn từ các ngân hàng Trung quốc nếu

được bảo lãnh bởi các cổ động nước ngoài Ngoài ra, nước này còn cho phép nhà đầu tư

Trang 38

nước ngoài được mua cổ phần của doanh nghiệp nhà nước như các ngân hàng (ngoại trừ

các doanh nghiệp đặc biệt quan trọng đến kinh tế và an ninh quốc gia)

Nâng cao vai trò của Chính phủ trong thu hút FDI

Năng lực quản lý của chính phủ có tác động lớn lên môi trường cạnh tranh của các

nhà đầu tư Chính phủ Trung Quốc trong thời gian qua đã thể hiện tốt vai trò của mình

trong công cuộc thu hút FDI

 Những thất bại

Thành công trong chính sách thu hút FDI của Trung Quốc là không thể phủ nhận

Tuy nhiên, khi nghiên cứu kinh nghiệm thu hút FDI của Trung Quốc, ta cũng cần nghiên

cứu cả những mặt chưa thành công trong những chính sách đó để rút ra những bài học

cần thiết trong việc giảm thiểu những mặt trái của FDI đối với nước nhận đầu tư

+ Hoạt động quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài còn nhiều bất

cập, cần rút kinh nghiệm

Trong hoạt động thu hút FDI ở Trung Quốc, ta thấy Trung Quốc đã mạnh

dạn thực hiện việc phân cấp quản lý cho các địa phương Đây là một việc làm tốt

và đã tạo ra không ít thành công cho Trung Quốc, song cũng chính điều này cũng

đã gây ra nhiều bất cập Đó là việc các địa phương đã đua nhau vượt quyền hạn của

mình, tự đề ra chính sách miễn giảm thuế, tranh giành thu hút đầu tư Nhiều địa

phương cho phép nhà đầu tư nước ngoài rào đất với số lượng lớn trong tình trạng

không xác định dự án Thậm chí có nơi cho phép thương gia nước ngoài tự đặt địa

điểm nhà máy, tự ý rào đất, không chịu sự giám sát, đôn đốc và hạn chế của địa

phương Hiện tượng lãng phí đất đã gây tổn thất rất lớn cho Trung Quốc Không

chỉ vậy, chính quyền nhiều địa phương còn tự tiện xây dựng khu khai phát kinh tế,

thường rập khuôn theo chế độ miễn giảm thuế cho các đặc khu và các khu khai

phát kinh tế được Quốc vụ viện phê chuẩn đồng thời làm ảnh hưởng xấu tới thuế

của cả địa phương và trung ương, gây tâm lý không tốt cho nhà đầu tư nước ngoài

Cũng do các địa phương đua nhau thu hút đầu tư, chỉ quan tâm tới lợi ích

trước mắt, nên họ thường đánh giá qua loa, đại khái đối với việc thu hút dự án,

không cân nhắc kỹ lưỡng những lợi ích lâu dài và năng lực vốn đồng bộ của Trung

Quốc Điều này dẫn đến tình trạng khi liên doanh cần mở rộng, phía Trung Quốc

thường thiếu tiền đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài phải bỏ thêm vốn, làm thu hẹp dần

số cổ phần của phía Trung Quốc Thậm chí ngày càng có nhiều nhà đầu tư nước

ngoài mua lại cổ phần của các đối tác Trung Quốc, khiến cho nhiều công ty lớn có

danh tiếng của Trung Quốc chỉ trong một thời gian ngắn đã bị công ty nước ngoài

đánh bại hay hợp nhất

Trang 39

Trong quá trình thu hút FDI, do tình trạng lãnh đạo nhiều đầu, quản lý phân

tán ở mức độ khác nhau, chức trách không rõ ràng, các doanh nghiệp của thương

gia nước ngoài đã lọt qua khe hở luật pháp, không kinh doanh chính đáng như: trốn

thuế, giả góp vốn Những thủ đoạn chủ yếu mà các doanh nghiệp này thường dùng

là:

- Chuyển thiết bị thành cổ phần, nâng cao giá Do nâng giá, tài sản cố định

của doanh nghiệp tăng, tăng giá trị khấu hao lên, giảm thuế, trong khi đó, các nhà

đầu tư nước ngoài dùng một khoản đầu tư tương đối thấp để thu được một khoản

lợi nhuận tương đối lớn

- Chuyển đầu tư thành cho vay, chỉ ngồi mà thu lợi bất chính Do vốn và lãi

của khoản cho vay được tính trước khi nộp thuế, lợi nhuận đầu tư lại tính sau khi

nộp thuế, nhà đầu tư nước ngoài sau khi chuyển đầu tư thành cho vay, tăng giá

thành doanh nghiệp, từ đó đạt mục đích là giảm thuế phải nộp

- Nhập cao xuất thấp, chuyển dịch lợi nhuận Một số doanh nghiệp nước

ngoài khi nhập khẩu báo giá cao nhưng khi xuất khẩu lại báo giá thấp, từ đó làm

tăng giá thành doanh nghiệp, giảm mức thuế phải nộp Một số công ty xuyên quốc

gia dùng thủ đoạn này để chuyển thuế ra nước ngoài Ngoài ra, có một số doanh

nghiệp “ba vốn” câu kết với các doanh nghiệp của nước ngoài để thực hiện thủ

đoạn này

- Làm lẫn lộn tiền thuế hàng tiêu thụ trong và ngoài nước, trốn thuế giá trị

gia tăng Do thu nhập từ tiêu thụ bên ngoài không phải nộp thuế giá trị gia tăng,

nên luật thuế của Trung Quốc quy định: các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài trực tiếp xuất khẩu hàng hoá do mình sản xuất, thì phần thuế của nguyên vật

liệu mua ở trong nước phải chịu sẽ không được thoái thuế, cũng không được trừ

vào các khoản thuế tiêu thụ trong nước Có doanh nghiệp “ba vốn” đã cố ý làm lẫn

lộn giữa hai loại thuế tiêu thụ trong và ngoài nước, nhờ đó trốn thuế giá trị gia

tăng

- Hợp tác liên doanh trên danh nghĩa để giành được những chính sách ưu đãi

Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp tiền đầu tư danh nghĩa nhưng không xuất vốn

thực tế đồng thời dựa vào đó để nhận tiền phí thủ tục và cổ phần tham gia; hoặc

thông qua nhiều hình thức để chuyển tiền trong nước ra nước ngoài, sau đó, lại lấy

danh nghĩa công ty nước ngoài quay lại đầu tư (round-tripping FDI), hoặc dùng

những báo cáo kiểm tra vốn đầu tư giả hoặc chứng nhận giấy tờ thu tiền ngân hàng

giả để xin giấy phép kinh doanh nhằm giành được những chính sách ưu đãi Hiện

tượng này được gọi là “chung vốn giả”.

Trang 40

- Thủ đoạn trốn thuế bằng cách biến mua thành gia công Theo quy định, các

doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài không được trực tiếp nhập vật liệu từ

nước ngoài, đồng thời phí gia công vật liệu từ nước ngoài của các doanh nghiệp

100% vốn phải nộp thuế giá trị gia tăng Nhưng khá nhiều doanh nghiệp 100% vốn

trên thực tế nhập vật liệu để gia công nhưng lại báo hải quan là nhập vật liệu để sản

xuất nhằm lừa đảo lấy quyền kinh doanh, trốn thuế

Cũng do tình trạng quản lý nhà nước còn sơ hở mà có một số doanh nghiệp

“ba vốn” đã vi phạm những quy định của Trung Quốc, trừ lương của phía công

nhân Trung Quốc, không cung cấp bảo hiểm xã hội như tiền dưỡng lão, thất nghiệp

cho nhân viên phía Trung Quốc, thiếu các biện pháp an toàn sản xuất, thậm chí tuỳ

tiện phạt, làm nhục nhân viên phía Trung Quốc, xâm phạm nghiêm trọng quyền con

người cơ bản

+Trong thu hút FDI, tài sản nhà nước bị thất thoát nghiêm trọng

Trong quá trình đánh giá lại tài sản để xác định giá trị cổ phần của cổ đông, các nhà

đầu tư nước ngoài thường đánh giá thấp tài sản của Trung Quốc, đánh giá cao đối với tài

sản của họ Nguyên nhân là do nắm quyền điều tiết cổ phần, các nhà đầu tư nước ngoài

khi nhập khẩu nguyên vật liệu và thiết bị, máy móc họ thường báo giá cao, ngược lại khi

xuất khẩu thành phẩm, bán thành phẩm họ lại báo giá thấp Hiện tượng “một cao, một

thấp” này có thể làm cho các thương gia nước ngoài dễ dàng biến lợi nhuận của doanh

nghiệp thành của riêng mình và chuyển dời ra bên ngoài, còn doanh nghiệp Trung Quốc

bị thua lỗ: Kỹ thuật thuộc tài sản vô hình, tính so sánh thấp, nên việc đánh giá càng khó

khăn Tài sản vô hình như loại sản phẩm, nhãn mác, kỹ thuật, mạng lưới thị trường, chế

độ quốc tế, đội ngũ công nhân lành nghề đã không được đánh giá đầy đủ, do vậy, tài

sản của Trung Quốc bị thất thoát nghiêm trọng

+Chưa có chính sách thích hợp để bảo hộ thị trường trong nước

Với phương châm “Lấy thị trường đổi lấy kỹ thuật”, “Lấy thị trường đổi lấy vốn”,

“Lấy thị trường để phát triển”, Trung Quốc đã cho thi hành chính sách quy định tỷ lệ tiêu

thụ trong nước và ngoài nước về sản phẩm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Tuy nhiên, hiện nay đã xuất hiện tình hình sản phẩm của một số doanh nghiệp tiền vốn

bên ngoài, đặc biệt là những sản phẩm công nghiệp nhẹ tiêu dùng hàng ngày tiêu thụ

ngày càng nhiều trên thị trường Trung Quốc Việc sản phẩm của doanh nghiệp vốn nước

ngoài nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường khiến cho một số doanh nghiệp trong nước

không cạnh tranh được, buộc phải rút ra khỏi lĩnh vực sản xuất cũ, hoặc giảm bớt thị

phần Công nhân viên chức trong các doanh nghiệp này bị thất nghiệp, mức sống bị hạ

thấp

Ngày đăng: 14/03/2023, 20:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w