PAGE Trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội Khoa Quản Lý Kinh Doanh 1 MỞ ĐẦU 1 Sự cần thiết của hoạt động môi giới chứng khoán tại Công ty cổ phần chứng khoán VNDIRECT Với xu hướn[.]
Trang 1CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNDIRECT
Họ và tên sinh viên
Nguyễn Đức Duy 1131090089 K11
Quản trị kinh doanh Th/S Ngô Văn Quang
Trang 2Trên cơ sở tham khảo và chọn lọc mô hình TTCK trên thế giới, TTCK ViệtNam đã chính thức ra đời với sự thành lập 2 trung tâm giao dịch chứng khoán(TTGDCK) ở Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 27/07/2000 và Hà Nội vào tháng03/2005.
TTCK Việt Nam đã đi vào hoạt động được hơn 10 năm Các CTCK cũng lầnlượt được thành lập và đi vào hoạt động để đáp ứng nhu cầu thị trường Môi giớichứng khoán là nghiệp vụ cơ bản mà hầu hết các CTCK đều triển khai TrongTTCK nghiệp vụ môi giới đóng vai trò rất quan trọng: nó là cầu nối giữa nhà đầu tưvà CTCK, đồng thời môi giới chứng khoán không chỉ đem lại lợi ích cho nhà đầu
tư, cho bản thân CTCK mà còn mang lại lợi ích cho sự phát triển của TTCK
TTCK Việt Nam đã khẳng định vai trò quan trọng của mình: là kênh huyđộng vốn cho nhà nước và doanh nghiệp, là sân chơi cho các nhà đầu tư trong vàngoài nước Tuy nhiên, TTCK Việt Nam còn non trẻ, khung pháp lý chưa đầy đủ,sự quan tâm, hiểu biết của các doanh nghiệp, của nhà đầu tư còn hạn chế Hoạt độngmôi giới tại công ty chứng khoán bị giới hạn bởi công nghệ, năng lực, kinh nghiệm,chất lượng tư vấn đầu tư của đội ngũ nhân viên hoạt động môi giới nên chưa thựcsự thuyết phục được các nhà đầu tư giao dịch thường xuyên và tăng doanh số giaodịch Để giải quyết các vấn đề trên thì việc phát triển nghiệp vụ môi giới chứngkhoán là điều rất quan trọng Môi giới chứng khoán sẽ là một cầu nối giữa CTCK
Trang 3và khách hàng để một mặt giúp TTCK Việt Nam ngày càng phát triển, mặt khácmôi giới chứng khoán giúp tư vấn cho khách hàng tham gia đầu tư trên TTCK.
Công ty cổ phần chứng khoán VNDIRECT được thành lập ngày 07/11/2006.Với mục đích là trung tâm môi giới và kinh doanh chứng khoán, đến nayVNDIRECT đã lọt vào TOP 10 CTCK có thị phần lớn trên TTCK Tuy nhiên,TTCK Việt Nam hiện đã có 105 công ty chứng khoán đang hoạt động – con số khálớn so với quy mô thị trường mới có trên một triệu tài khoản và giá trị vốn hóa thịtrường chứng khoán mới đạt khoảng 643 395 tỷ đồng UBCK NN đã ban hànhThông tư 74/2011 quy định một nhà đầu tư được phép mở nhiều tài khoản tại nhiềucông ty chứng khoán Mặt khác đến năm 2012, nhà đầu tư ngoại được phép thànhlập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Các vấn đề này sẽ dẫnđến sự cạnh tranh miếng bánh thị phần giữa các CTCK ngày càng khốc liệt màVNDIRECT cùng tham gia Do vậy, để cạnh tranh và trụ vững trên thị trườngchứng khoán, VNDIRECT phải tìm ra các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động môigiới chứng khoán nếu không muốn bị phá sản, bị thâu tóm và nguy cơ thua “trắngbụng” trên sân nhà trước các nhà đầu tư nước ngoài Đó chính là những lý do để tác
giả chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới tại Công ty cổ phần chứng khoán VNDIRECT” để nghiên cứu và viết chuyên đề tốt nghiệp của
mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và vai trò của hoạt động môi giới chứngkhoán tại các CTCK
- Phân tích thực trạng hoạt động môi giới của Công ty cổ phần chứng khoánVNDIRECT, từ đó đánh giá những điểm mạnh, hạn chế, nguyên nhân làm hạn chếhoạt động môi giới chứng khoán của VNDIRECT
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động môi giới của Công ty cổphần chứng khoán VNDIRECT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 4Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp là những vấn đề lý luận vàthực tiễn hoạt động môi giới chứng khoán của Công ty cổ phần chứng khoánVNDIRECT trong bối cảnh chung của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp là hoạt động môi giới củaCông ty cổ phần chứng khoán VNDIRECT trong giai đoạn 2008 – 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng các phương pháp sau để nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin số liệu, trong đó các số liệu được lấy từ:+ Các báo cáo tài chính, các báo cáo tổng kết kết quả hoạt kinh doanh củaCông ty cổ phần chứng khoán VNDIRECT thời gian 2008 – 2011
+ Số liệu từ phòng hành chính của Công ty VNDIRECT
- Phương pháp phân tích, tổng hợp:
+ Phân tích tổng hợp theo thời gian (giai đoạn 2008-2011)
+ Phân tích tổng hợp theo không gian (so sánh với các doanh nghiệptrong ngành)
- Phương pháp dự báo
5 Ý nghĩa của chuyên đề
Chuyên đề hệ thống lại các vấn đề lý luận, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạtđộng môi giới tại CTCK Từ đó xác định những vấn đề còn phù hợp với thực tế,những vấn đề cần phải sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp với hiện tại và định hướngtương lai của TTCK Việt Nam
Chuyên đề đánh giá thực trạng hoạt động môi giới của CTCP chứng khoánVNDIRECT, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạtđộng môi giới tại Công ty giúp Công ty cải thiện dịch vụ, tăng thị phần, tăng uy tíntrên TTCK Việt Nam
6 Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề bao gồm 3 chương:
Trang 5Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hoạt động môi giới của Công
1.1 Khái quát về Công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm Công ty chứng khoán
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu thì quá trình trao đổi hànghóa diễn ra với quy mô ngày càng lớn, chủng loại hàng hóa ngày càng phong phú,phương thức trao đổi ngày càng đa dạng TTCK được xem là một trong những đặctrưng cơ bản của nền kinh tế hiện đại Là một bộ phận cấu thành của thị trường tàichính, TTCK được hiểu một cách chung nhất là nơi diễn ra các giao dịch mua bán,trao đổi các chứng khoán – các hàng hóa và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể thamgia Việc trao đổi này được thực hiện theo những nguyên tắc ấn định trước
TTCK có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động vốn và sử dụng vốncho nền kinh tế Để hình thành và phát triển TTCK hiệu quả, một yếu tố không thểthiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường Một trong những chủthể tham gia trên thị trường là các CTCK Sự ra đời của các CTCK và những nhàmôi giới chuyên nghiệp là kết quả tất yếu của sự phát triển TTCK
Nguồn gốc ban đầu của các CTCK là từ các nhà môi giới cá nhân hoạt độngđộc lập Khi TTCK chưa phát triển, số lượng các nhà đầu tư tham gia thị trường cònít, các nhà môi giới độc lập có thể đảm nhận vai trò trung gian giữa người mua vàngười bán Đến khi TTCK phát triển, số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường ngày
Trang 6càng nhiều, chức năng và hoạt động giao dịch của nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự
ra đời của CTCK là tập hợp của các nhà môi giới riêng lẻ
Theo Luật Chứng khoán năm 2006 của Việt Nam, CTCK được tổ chức dướihình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty cổ phần theo quy định củaLuật doanh nghiệp năm 2005, do Ủy ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phépthành lập và hoạt động, giấy phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh.Các CTCK được phép thực hiện các nghiệp vụ sau:
- Môi giới chứng khoán
- Tự doanh chứng khoán
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán
- Tư vấn đầu tư chứng khoán
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: “Công ty chứng khoán là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán”
1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ mà công tythực hiện, quy mô hoạt động kinh doanh chứng khoán…Tuy nhiên, cơ cấu tổ chứccủa các CTCK đều có đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban chức năng thườngđược chia thành hai khối khác nhau là: Khối nghiệp vụ và khối phụ trợ
5
SVTH: Nguyễn Đức Duy
Lớp: QTKD2 – K11
GVHD: Th.s Ngô Văn Quang
BAN ĐIỀU HÀNH
Giám đốc/Tổng Giám đốcPhó Giám đốc/Phó TGĐ
ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU
Hội đồng quản trịChủ tịch Công ty
KHỐI NGHIỆP VỤ
(Front office)
Môi giớiTự doanh
KHỐI PHỤ TRỢ
(Back office)
Kế toánKho quỹVăn phòng
Trang 7Hình 1.1: Cơ cấu tổ chức của Công ty chứng khoán
(Nguồn: Bài giảng khóa học chứng chỉ hành nghề “ Môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán” - Trung Tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán)
- Khối nghiệp vụ: Là khối thực hiện các giao dịch kinh doanh và dịch vụ
chứng khoán Tương ứng với mỗi dịch vụ, CTCK có thể thực hiện tổ chức các bộphận, phòng ban hoạt động cụ thể: Phòng môi giới, phòng tự doanh, phòng bảo lãnhphát hành, phòng tư vấn, phòng ký quỹ…
- Khối phụ trợ: Là khối không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh,
nhưng nó không thể thiếu được trong quá trình hoạt động của các CTCK vì hoạtđộng của nó mang tính chất trợ giúp cho khối nghiệp vụ Khối này bao gồm các bộphận như: Phòng phân tích và thông tin thị trường, phòng kế hoạch công ty, phòngcông nghệ thông tin, phòng hành chính - nhân sự, phòng kiểm soát nội bộ,…
1.1.3 Đặc điểm của Công ty chứng khoán
1.1.3.1 Công ty chứng khoán là trung gian tài chính trên Thị trường tài chính
Vai trò trung gian là một trong những đặc điểm nổi bật của CTCK thể hiện:trung gian về vốn, trung gian về thông tin, trung gian về rủi ro và trung gian vềthanh toán
- CTCK là tổ chức trung gian về vốn
Trên thị trường tài chính các trung gian tài chính huy động vốn từ nhữngngười có vốn bằng nhiều hình thức thành vốn kinh doanh của mình Sau đó họ sửdụng vốn kinh doanh này để cho những người cần vốn vay lại hoặc thực hiện các
Trang 8hình thức đầu tư khác nhau Ở các CTCK đặc điểm này thể hiện rõ nhất thông quanghiệp vụ cầm cố chứng khoán và bảo lãnh thanh toán lệnh mua CTCK đứng giữangân hàng và nhà đầu tư Nhà đầu tư dùng chứng khoán trong tài khoản của mìnhlàm tài sản đảm bảo cho các khoản vay Ngân hàng thông qua các CTCK thực hiệnnghiệp vụ cho vay của mình Điều này vừa cung cấp thêm cơ hội cho nhà đầu tư,đẩy mạnh hoạt động tín dụng của ngân hàng, lại vừa làm phong phú thêm sản phẩmdịch vụ của CTCK
- CTCK là tổ chức trung gian về thông tin
CTCK là nơi tích tụ, xử lý các thông tin liên quan đến chứng khoán vàTTCK, sau đó cung cấp đến các nhà đầu tư Với điều kiện cơ sở vật chất, trang bị
kỹ thuật hiện đại, cùng đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn trong việc thuthập và xử lý thông tin, CTCK thực hiện tìm kiếm, thu thập các thông tin cập nhậtnhất, thực hiện phân tích và xử lý những nguồn tin thu thập được thành nhữngthông tin có ích, thực hiện cung cấp cho các nhà đầu tư CTCK cung cấp các sảnphẩm thông tin cho các khách hàng của mình thông qua hoạt động môi giới, tư vấntài chính, tư vấn đầu tư…Yếu tố trung gian về thông tin được thể hiện rất rõ quaviệc hầu hết các CTCK đều thực hiện cung cấp các bản tin thị trường, bản tin nội bộcho nhà đầu tư, xây dựng website riêng,…
- CTCK là tổ chức trung gian về rủi ro
Trên TTCK luôn luôn tiềm ẩn mọi rủi ro, vì vậy tất cả các thành viên thamgia thị trường đều có thể gặp nhiều rủi ro CTCK trong phạm vi hoạt động của mìnhcũng sẽ gặp nhiều rủi ro Khi các nhà đầu tư gặp rủi ro nhiều thì họ sẽ đầu tư ít đihoặc có thể sẽ không tham gia nữa mà chuyển sang hình thức đầu tư khác Điều nàysẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của CTCK Trung gian rủi ro thểhiện ở việc công ty là người đứng giữa và thực hiện các giao dịch cho khách hàng,trong giao dịch đó sẽ có người được lợi và người gặp rủi ro
Với những ưu thế về thông tin, nguồn vốn, CTCK có thể giảm thiểu rủi rocho khách hàng thông qua hoạt động ủy thác đầu tư, bảo lãnh phát hành CTCK có
Trang 9thể đứng giữa tập hợp nguồn vốn của các khách hàng có nhu cầu, thực hiện giảmthiểu rủi ro cho khách hàng thông qua các danh mục đầu tư hiệu quả hơn, chia sẻ rủi
ro với các tổ chức phát hành thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành
- CTCK là tổ chức trung gian về thanh toán
CTCK là một trung gian lưu ký chứng khoán, thanh toán bù trừ giữa nhà đầu
tư và tổ chức phát hành, giữa các nhà đầu tư với nhau…Công ty thực hiện khớplệnh để thanh toán cho các nhà đầu tư sau khi có kết quả thanh toán bù trừ từ trungtâm lưu ký chứng khoán và ngân hàng chỉ định thanh toán
1.1.3.2 Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh có điều kiện
Kinh doanh chứng khoán là ngành nghề kinh doanh đòi hỏi ngoài các điềukiện về chuyên môn, giấy phép hành nghề, còn đòi hỏi các yêu cầu về tài chính Cụthể được cấp phép thành lập CTCK, các tổ chức phải đáp ứng các điều sau:
- Điều kiện về vốn
CTCK phải có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định Vốn phápđịnh thường được quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ
Theo điều 18, Nghị định 14/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật chứngkhoán thì vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK, CTCK có vốnđầu tư nước ngoài, chi nhánh CTCK nước ngoài tại Việt Nam là:
Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam
Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam
Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam
Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam
Trường hợp công ty chứng khoán muốn thực hiện cấp giấy phép cho nhiềunghiệp vụ kinh doanh, vốn pháp định là tổng số vốn pháp định tương ứng với từngnghiệp vụ xin cấp phép
- Điều kiện về nhân sự
Trang 10Những người quản lý hay nhân viên giao dịch của công ty phải đáp ứng cácyêu cầu về kiến thức, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm, cũng như mức độ tínnhiệm, tính trung thực Hầu hết các nước đều yêu cầu nhân viên của CTCK phải cógiấy phép hành nghề Những người giữ các chức danh quản lý còn phải đòi hỏi cógiấy phép đại diện Ở Việt Nam tiêu chuẩn để có giấy phép hành nghề là phải cótrình độ đại học, có trình độ chuyên môn về chứng khoán và TTCK, có đủ 07 chứngchỉ chứng khoán do UBCKNN cấp và phải làm việc tại một CTCK.
- Điều kiện về cơ sở vật chất
Theo điều 62, Luật chứng khoán Việt Nam năm 2006, điều kiện cấp Giấyphép thành lập và hoạt động của CTCK bao gồm:
+ Có trụ sở; có trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán;+ Có đủ vốn pháp định theo quy định của Chính phủ;
+ Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinhdoanh chứng khoán phải có Chứng chỉ hành nghề chứng khoán
1.1.3.3 Hoạt động của CTCK phải theo nguyên tắc đạo đức và tài chính
Mọi hoạt động của CTCK phải được thực hiện theo 2 nhóm nguyên tắc là:Nhóm nguyên tắc đạo đức và nhóm nguyên tắc tài chính:
- Nhóm nguyên tắc đạo đức:
Theo nhóm nguyên tắc này, hoạt động của CTCK phải:
+ CTCK phải cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin cho khách hàng
+ CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực, công bằng vì lợi ích của kháchhàng
+ Ngăn ngừa xung đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch vớinhững người có liên quan
+ Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của côngty
Trang 11+ Khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng,CTCK phải thu thập, tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khảnăng chấp nhận rủi ro của khách hàng; đảm bảo các khuyến nghị, tư vấn đầu tư củaCTCK cho khách hàng phải phù hợp với đối tượng khách hàng đó.
+ Không được đưa ra nhận định hoặc đảm bảo với khách hàng về mức thunhập hoặc lợi nhuận đạt được trên khoản đầu tư của mình, hoặc đảm bảo kháchhàng không bị thua lỗ, trừ trường hợp đầu tư vào chứng khoán có thu nhập cố định
+ Không được tiết lộ thông tin về khách hàng, trừ trường hợp được kháchhàng đồng ý hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
CTCK không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù laothông thường cho dịch vụ tư vấn của mình
- Nhóm nguyên tắc tài chính
Theo nhóm nguyên tắc này các hoạt động của CTCK cần phải:
+ CTCK phải đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạchtoán, báo cáo theo quy định Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanhchứng khoán với khách hàng
+ CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinhdoanh, ngoài trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng
+ CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản củacông ty và không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp để vayvốn, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản.
1.1.4 Các hoạt động cơ bản của Công ty chứng khoán
1.1.4.1 Hoạt động môi giới
Theo Luật chứng khoán thì “Môi giới chứng khoán là việc Công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng” Nhà
đầu tư thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trườngOTC Như vậy, về phía khách hàng sẽ ra các quyết định mua, bán loại chứng
Trang 12khoán, khối lượng, giá cả, thời điểm mua bán Nhà đầu tư sẽ hưởng và chịu tráchnhiệm về kết quả của việc mua bán đồng thời phải trả phí cho CTCK
Thông qua hoạt động môi giới, CTCK cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tưvấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với nhà đầu tư mua chứngkhoán
1.1.4.2 Hoạt động tự doanh
Hoạt động tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán cácchứng khoán cho chính mình Hoạt động tự doanh của các CTCK có thể được thựchiện trên thị trường OTC, thị trường giao dịch tập trung…Mục đích của hoạt độngnày là nhằm thu lợi cho chính công ty thông qua hành vi mua bán chứng khoán vớikhách hàng
1.1.4.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành
Tổ chức phát hành (Chính phủ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp,
…) muốn huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán không thể thực hiệnthành công nếu không có các CTCK CTCK thường nhận làm đầy đủ các công việc:thực hiện tư vấn cho đợt phát hành, thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán racông chúng Chính CTCK bằng các nghiệp vụ của mình giúp thực hiện thành côngcác đợt chào bán chứng khoán ra công chúng
Như vậy, hoạt động bảo lãnh phát hành của CTCK là việc CTCK có chứcnăng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bánchứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoántrong giai đoạn đầu sau khi phát hành Bảo lãnh phát hành bao gồm cả việc tư vấnđầu tư tài chính và phân phối chứng khoán
CTCK sẽ được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên sốtiền thu được Do đó hoạt động này chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanhthu của các CTCK
Việc bảo lãnh phát hành thường thực hiện theo một trong ba phương thứcsau: Bảo lãnh cam kết chắc chắn; bảo lãnh cam kết cố gắng tối đa; bảo lãnh cam kết
Trang 13bán tất cả hoặc không.
1.1.4.4 Hoạt động tư vấn đầu tư
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán là việc CTCK đưa ra những lờikhuyên, phân tích các tình huống hay thực hiện một số công việc có tính chất dịchvụ cho khách hàng
Dựa vào các tiêu chí khác nhau, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán đượcphân loại như sau:
- Theo hình thức của hoạt động tư vấn: Bao gồm tư vấn trực tiếp (gặp gỡ
khách hàng trực tiếp hoặc thông qua thư từ, điện thoại) và tư vấn gián tiếp (thôngqua các ấn phẩm, sách báo…) để tư vấn cho khách hàng
- Theo mức độ uỷ quyền của tư vấn: Bao gồm tư vấn gợi ý (gợi ý cho khách
hàng về cách thức đầu tư cho hợp lý, quyết định đầu tư là của khách hàng) và tư vấnuỷ quyền (vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, uỷ quyền thực hiện củakhách hàng)
- Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: Bao gồm tư vấn cho người phát hành
và tư vấn đầu tư cho khách hàng đầu tư trên TTCK về giá, thời gian mua bán, địnhhướng lựa chọn các loại chứng khoán…
Do đặc điểm riêng có của TTCK là giá cả có sự biến động cao, liên tục nênviệc tư vấn về giá trị chứng khoán là rất khó khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiềumâu thuẫn về lợi ích Vì vậy, hoạt động này cần được quản lý chặt chẽ và đòi hỏiphải có những giới hạn nhất định trong khi thực hiện công việc như người làm tưvấn phải có kiến thức chuyên môn sâu trong lĩnh vực của mình, phải có giấy phéphành nghề tư vấn chứng khoán,…
1.1.4.5 Các hoạt động phụ trợ khác
Ngoài 4 hoạt động cơ bản nêu ở trên, CTCK còn có các hoạt động phụ trợkhác:
Trang 14- Phân tích đầu tư: Là việc nghiên cứu tình hình thị trường, về các chứng
khoán để đưa ra những nhận định về xu hướng, hướng đầu tư cung cấp cho các hoạtđộng tự doanh, tư vấn đầu tư của CTCK
- Lưu ký chứng khoán: Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách
hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán Thực hiện dịch vụ lưu ký chứngkhoán cho khách hàng, CTCK sẽ thu được các khoản phí lưu ký chứng khoán, phígửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán
- Quản lý thu nhập của khách hàng: Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán
cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán vàđứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoảncủa khách hàng
- Nghiệp vụ tín dụng: CTCK được phép cho vay chứng khoán để khách hàng
thực hiện giao dịch bán khống, hoặc cho phép khách hàng vay tiền để thực hiệnnghiệp vụ mua ký quỹ
1.2 Hoạt động môi giới của Công ty chứng khoán
1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc của hoạt động môi giới chứng khoán
Trên TTCK người ta mua bán, trao đổi với nhau một loại hàng hóa đặc biệt:đó là chứng khoán – tài sản tài chính Loại tài sản này không thể đánh giá bằng việccân, đo, đong đếm… mà để nhận định nó, những người tham gia TTCK phải có khảnăng phân tích, nhận định tình hình và đưa ra những xu hướng về hàng hóa đó Từđó, họ sẽ ra quyết định đối với loại hàng hóa này và tìm kiếm đối tác trên thị trường.Tuy nhiên, không phải nhà đầu tư nào khi tham gia TTCK cũng được trang bị đầyđủ kiến thức và kinh nghiệm để có thể ra quyết định, có thể tìm ra đối tác một cáchhiệu quả do vậy họ cần tới hoạt động môi giới của CTCK
Như vậy hoạt động môi giới là một giao dịch kinh doanh của CTCK, trongđó CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịchtại Sở giao dịch chứng khoán hay trên thị trường OTC mà chính khách hàng làngười phải chịu trách nhiệm về kết quả khi đưa ra quyết định giao dịch đó và phải
Trang 15trả một khoản phí gọi là phí giao dịch cho CTCK
Môi giới là một trong những hoạt động cơ bản nhất của CTCK và nó cónhững nguyên tắc hoạt động sau:
- Hoạt động môi giới dễ dẫn đến xung đột lợi ích giữa CTCK và khách hàng:
Bên cạnh hoạt động môi giới, CTCK còn có hoạt động tự doanh Khi CTCK thamgia vào việc kinh doanh thì CTCK cũng sẽ đặt mục tiêu lợi nhuận và như thế sẽ xảy
ra mâu thuẫn giữa CTCK và nhà đầu tư Để tránh xung đột lợi ích, CTCK cần phảituân thủ những quy định sau:
+ Tách biệt hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới: CTCK phải tách biệthai hoạt động này về nhân sự, về quy trình nghiệp vụ và tách biệt giữa nguồn vốncủa khách hàng với Công ty
+ Ưu tiên khách hàng: CTCK phải đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu.Cụ thể: Công ty phải cung cấp thông tin cho khách hàng một cách trung thực, chínhxác và kịp thời nhất; ưu tiên lệnh giao dịch của khách hàng trước lệnh giao dịch củaCông ty
- Đối với nhân viên môi giới phải luôn phải đặt đạo đức nghề nghiệp lên
+ Phải trung thực, công bằng trong hoạt động môi giới: Phải ưu tiên lợi íchcủa khách hàng; phải tôn trọng tài sản, bảo vệ quyền lợi của khách hàng; phải cungcấp thông tin đầy đủ và chính xác cho khách hàng, đặc biệt không gợi ý khách hàngmua bán vì lợi ích riêng, không được xúi giục khách hàng mua, bán chứng khoán đểkiếm hoa hồng mà nên đưa ra những lời khuyên hợp lý để hạn chế đến mức thấpnhất về thiệt hại, rủi ro cho khách hàng; không đưa ra những lời hứa hẹn đảm bảo
Trang 16lợi ích của khách hàng sẽ nhận được; không có hành vi và biểu hiện có thể gây ra sựhiểu lầm về sự trung thực, độ tin cậy cho khách hàng.
+ Hoạt động phải mang tính chuyên nghiệp: Nhân viên thực hiện theo đúngyêu cầu của khách hàng, tuân theo quy định về nghiệp vụ, quy định khác của công
ty Nhân viên môi giới phải không ngừng nâng cao trình độ tay nghề, cũng nhưtrình độ chuyên môn về chứng khoán và TTCK để cung cấp cho khách hàng nhữngsản phẩm tốt nhất
+ Phải bảo mật: Bảo quản hồ sơ, tài liệu của khách hàng; không được thảoluận bất kỳ thông tin nào về khách hàng với người không có liên quan; không sửdụng thông tin của khách hàng dưới bất cứ hình thức nào để tác động tới các giaodịch vì lợi ích của nhân viên môi giới, của công ty hay của khách hàng khác
- Khi tham gia TTCK thì nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư của mình.
Hoạt động môi giới của CTCK chỉ đóng vai trò là cầu nối giữa NĐT vớinhau, giúp NĐT thực hiện quyết định giao dịch của mình và không phải chịu tráchnhiệm với kết quả đầu tư của nhà đầu tư
1.2.2 Vai trò của hoạt động môi giới
1.2.2.1 Đối với thị trường chứng khoán
- Góp phần phát triển các sản phẩm dịch vụ trên TTCK
Bản chất của hoạt động môi giới là trung gian giữa người mua và người bánchứng khoán trên TTCK, do đó nhà môi giới sẽ luôn tìm hiểu mọi nhu cầu, yêu cầuvề sản phẩm, dịch vụ Từ đó, họ sẽ nghiên cứu và đề xuất ra những sản phẩm, dịchvụ mới nhằm phục vụ nhà đầu tư một cách hiệu quả nhất, tạo sự phong phú, đa dạnghơn về hàng hóa trên TTCK
- Tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ nhờ cạnh tranh
Để thành công trong lĩnh vực môi giới chứng khoán thì CTCK phải khôngngừng nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp trên thị trường để có thể thu hút nhiềunhà đầu tư mới, giữ chân nhà đầu tư cũ, gia tăng tài sản mà các nhà đầu tư ủy thác
Trang 17cho Công ty Để làm được những điều trên các nhà môi giới phải không ngừng traudồi kiến thức nghiệp vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng hành nghề Quátrình này đã nâng cao được chất lượng và hiệu quả của hoạt động môi giới trênTTCK
- Hoàn thiện môi trường pháp lý cho kinh doanh chứng khoán
Chính hoạt động của các CTCK và các nhân viên môi giới chứng khoán làmột yếu tố góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý cho kinh doanh chứng khoánbởi lĩnh vực này là nơi phát sinh và bộc lộ rõ những xung đột lợi ích giữa những đốitượng tham gia thị trường Hoạt động môi giới sẽ đưa pháp luật đến với người đầu
tư, đồng thời cũng phản ánh những bất cập trong điều chỉnh của khuôn khổ pháp lýtới các nhà làm luật để kịp thời chỉnh sửa cho phù hợp
1.2.2.2 Đối với CTCK
- Hoạt động môi giới mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho CTCK
Khi thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽthu phí giao dịch Hoạt động của nhân viên môi giới đưa lại nguồn thu nhập lớn chocác CTCK Đối với các CTCK đặc biệt là các công ty mới đi vào hoạt động, thì môigiới là hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu cho công ty Chính đội ngũ nhân viênnày góp phần tăng tính cạnh tranh cho công ty, thu hút khách hàng và đa dạng hoásản phẩm dịch vụ của công ty
1.2.2.3 Đối với nhà đầu tư
- Góp phần làm giảm chi phí giao dịch
Trên TTCK cả người mua và người bán đều mua bán một loại hàng hoá đặcbiệt đó là chứng khoán Loại hàng hóa đặc biệt này chỉ có giá trị chứ không có giátrị sử dụng như các hàng hoá thông thường khác nên nhà đầu tư không thể kiểm trachất lượng hàng hoá bằng những giác quan mà họ phải bỏ ra một khoản chi phí,tham gia các lớp học đào tạo kỹ năng phân tích và quy trình giao dịch trên thịtrường Những chi phí đó chỉ có các CTCK hoạt động chuyên nghiệp trên quy môlớn mới có khả năng trang trải do được hưởng lợi ích kinh tế nhờ quy mô Thông
Trang 18qua hoạt động môi giới của các CTCK mà các nhà đầu tư có thể tiết kiệm được mộtlượng không nhỏ chi phí giao dịch.
- Cung cấp các thông tin và tư vấn cho khách hàng.
Trên TTCK thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nó góp phần khôngnhỏ ảnh hưởng tới giá cả của chứng khoán Các nhân viên môi giới thay mặt CTCKcung cấp cho khách hàng các thông tin liên quan đến tình hình thị trường, đếnchứng khoán niêm yết và các thông tin khác có liên quan đến chứng khoán Dựatrên các thông tin này, nhà đầu tư tiến hành phân tích và đưa ra các quyết định vềviệc mua bán chứng khoán cũng như giá cả sao cho hợp lý
Do vậy thông tin mà nhà đầu tư có được do nhà môi giới cung cấp có ýnghĩa đặc biệt quan trọng
- Cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tài chính giúp khách hàng thực hiện các giao dịch theo yêu cầu vì mục đích của họ.
Nhà môi giới nhận lệnh của khách hàng và thực hiện giao dịch cho họ Quytrình đó bao gồm các công việc: nhận lệnh của khách hàng, thực hiện giao dịch, xácđịnh kết quả giao dịch và chuyển kết qủa giao dịch đó tới khách hàng cũng như cácthông báo về số dư tài khoản tiền mặt, số dư chứng khoán được phép giao dịch vàthông báo thường xuyên tới khách hàng để từ đó đưa ra các khuyến cáo và cung cấpthông tin Hơn thế, nhà môi giới cần nắm bắt được sự thay đổi trong nhu cầu tàichính của khách hàng cũng như mức độchấp nhận rủi ro để từ đó đưa ra các khuyếnnghị và các chiến lược phù hợp
1.2.3 Quy trình hoạt động môi giới
Quy trình nghiệp vụ là các bước công việc mà bộ phận môi giới, các nhân viênmôi giới phải làm để thực hiện hoạt động môi giới Thông thường, mỗi CTCK cóquy trình nghiệp vụ môi giới riêng phụ thuộc vào đặc điểm của từng công ty Tuynhiên về nội dung cơ bản quy trình môi giới của các CTCK bao gồm các bước sau:
- Tìm kiếm khách hàng
- Sàng lọc khách hàng, lựa chọn các nhóm khách hàng tiềm năng
Trang 19- Tìm hiểu cụ thể nhu cầu, mục tiêu tài chính, khả năng chấp nhận rủi ro,…
của khách hàng
- Thực hiện giới thiệu, khuyến nghị với các khách hàng về các sản phẩm dịch
vụ phù hợp với mục tiêu và nhu cầu của từng khách hàng
- Cung cấp các dịch vụ cho khách hàng và đảm bảo các dịch vụ sau bán
hàng cho các khách hàng
- Bên cạnh những công việc trên, các nhân viên môi giới còn thực hiện các công việc giao dịch, bao gồm:
+ Nhận lệnh giao dịch cho khách hàng
+ Nhận, giao chứng khoán và tiền cho khách kể cả cổ tức, tiền do mua bánchứng khoán, lưu ký chứng khoán,…
+ Theo dõi hoạt động của tài khoản, xử lý kế toán cho tài khoản tiền mặt nhưgửi, rút tiền, chuyển khoản tiền…(thường do kế toán giao dịch xử lý)
+ Giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng, xử lý các khiếu nại
+ Nghiên cứu thị trường, phân tích, đưa ra các báo cáo khuyến nghị mua,bán, cung cấp dịch vụ phù hợp với từng khách hàng
Các hoạt động phụ trợ này có thể do nhân viên môi giới hoặc được phân bổcho một số bộ phận khác cùng đảm nhiệm tùy theo quy mô hoạt động của công ty
1.2.4 Các loại hình môi giới chứng khoán
1.2.4.1 Môi giới trên sàn giao dịch chứng khoán
Hoạt động môi giới trên sàn giao dịch bao gồm ba loại: Môi giới hai đô la,môi giới thông thường và môi giới lập giá
- Môi giới hai đô la
Môi giới hai đôla hay còn gọi là những nhà môi giới độc lập Họ làm việccho chính mình và hưởng hoa hồng hay thù lao dịch vụ Họ là một thành viên tự bỏtiền ra thuê chỗ tại Sở giao dịch giống như các CTCK thành viên Họ chuyên thựcthi các lệnh cho các công ty thành viên khác của Sở giao dịch
Ban đầu các nhà môi giới độc lập này được trả 2 đôla cho một lô tròn chứng
Trang 20khoán (100 cổ phiếu) nên người ta quen gọi là môi giới 2 đôla Họ có tư cách độclập, tức là không đại diện cho bất kỳ một CTCK nào cả Đây là nguồn bổ sung nhânlực cho các CTCK, là lực lượng dự bị tạo ra độ co giãn để đáp ứng tốt hơn nhu cầucủa nhà đầu tư, là môi trường tốt để đào tạo nguồn nhân lực cho nghề môi giới Sựtồn tại của môi giới hai đô la là một nhân tố góp phần tạo ra sức cạnh tranh lớn hơncho chính các nhà môi giới trên sàn vì họ luôn có áp lực bị thay thế.
- Môi giới thông thường
Hình 1.2: Hoạt động môi giới thông thường
Sở giao dịch chứng khoán(Trung tâm giao dịch)
Duyệt lệnh và chuyển lệnh vào trung tâm giaodịch
Khách hàng đặt lệnh bán chứng khoán
Khách hàng đặt lệnh
mua chứng khoán Nhân viên môi giới thông thường
Nhập lệnh mua bán của khách hàng vào hệ thốngXác nhận giao dịch cho
khách hàng
Trang 21(Nguồn: Bài giảng khóa học chứng chỉ hành nghề “ Môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán” - Trung Tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán)
Hoạt động môi giới thông thường chỉ bao gồm việc mua, bán chứng khoánhộ cho khách hàng và thu phí giao dịch Hoạt động môi giới thông thường chủ yếudiễn ra trên TTCK tập trung vì tại thị trường này, cơ chế xác định giá là cơ chế đấugiá tập trung Do đó, khách hàng phải đặt lệnh thông qua nhân viên môi giới tạiCTCK Sau đó, CTCK sẽ chuyển lệnh của khách hàng đến SGDCK, tại trung tâmgiao dịch lệnh của khách hàng sẽ được so khớp về mức giá khối lượng và thời gian
từ đó tìm ra lệnh đối ứng Cuối cùng, nếu lệnh của khách hàng thành công, CTCKđứng ra thực hiện thanh toán và lưu ký chứng khoán cho khách hàng
- Môi giới lập giá
Sở giao dịch chứng khoán(Trung tâm giao dịch)
Duyệt lệnh và chuyển lệnh vào trung tâm giaodịch
Lệnh chào mua 1Lệnh chào mua 2
………… mua n
Khách hàng bán chứng khoán
Lệnh chào bán 1
Lệnh chào bán 2
khách hàng
Trang 22Hình 1.3: Hoạt động môi giới lập giá
(Nguồn: Bài giảng khóa học chứng chỉ hành nghề “ Môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán” - Trung Tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán)
Hình thức môi giới lập giá là hoạt động môi giới trong đó người môi giới sẽtìm đến những người mua và bán chứng khoán để giúp kết nối họ với nhau thôngqua các lệnh chào mua và chào bán Trong khi môi giới thông thường chỉ dừng lại ởviệc tư vấn và nhận lệnh trực tiếp do khách hàng yêu cầu và thực hiện các nghiệp vụđể giao dịch được hoàn tất thì môi giới lập giá là một quá trình tìm kiếm và kết nốigiữa người mua và người bán trên thị trường Doanh số thu được từ hoạt động lậpgiá gồm: Phí giao dịch môi giới và chênh lệch giữa giá chào bán của bên bán và giáchào mua của bên mua
1.2.4.2 Hoạt động môi giới trên thị trường OTC
Hoạt động môi giới trên thị trường OTC thể hiện thông qua vai trò của hoạtđộng tạo lập thị trường Các nhà tạo lập thị trường tạo tính thanh khoản cho thịtrường, duy trì giao dịch liên tục cho các chứng khoán thông qua việc thường xuyênnắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định mà họ làm tạo lập thị trường để sẵnsàng mua bán với khách hàng và hưởng chênh lệch giá mua, bán
21
SVTH: Nguyễn Đức Duy
Lớp: QTKD2 – K11
GVHD: Th.s Ngô Văn Quang
Tổ chức phát hành(Đại diện của tổ chức phát hành)Xác nhận chuyển nhượng, đổi tên tại sổ cổ đông, cấp chứng chỉ
Chứng chỉ
Thỏa thuận giá
cả, khối lượng,
hình thức thanh
toán, phí, ký đơn
Trang 23Hình 1.4: Quy trình hoạt động môi giới trên thị trường OTC
(Nguồn: Bài giảng khóa học chứng chỉ hành nghề “ Môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán” - Trung Tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán)
Các nhà tạo lập thị trường được coi là động lực của thị trường này, họ muabán chứng khoán kiếm lời và tự chịu rủi ro Họ phải đăng ký hoạt động với các cơquan quản lý chứng khoán và phải có nghĩa vụ tuân thủ các chuẩn mực về kỹ thuậtnghiệp vụ, tài chính cũng như đạo đức hành nghề
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển hoạt động môi giới của Công
ty chứng khoán
Hoạt động môi giới được coi là phát triển khi mà hoạt động này mang lạinhững dịch vụ ngày càng hoàn thiện hơn, chất lượng hơn và phù hợp với từng nhàđầu tư tham gia trên TTCK; đồng thời dẫn đến sự phát triển của TTCK nói chung vàcủa CTCK nói riêng
Để đánh giá hiệu quả, mức độ phát triển của hoạt động môi giới có rất nhiềuchỉ tiêu khác nhau, tuy nhiên có thể chia ra thành 2 nhóm:
1.3.1 Các chỉ tiêu định lượng
1.3.1.1 Số lượng tài khoản mở tại CTCK
Số lượng tài khoản mở tại CTCK là chỉ tiêu phán ánh một cách tổng quannhất sự phát triển của hoạt động môi giới của CTCK Các CTCK đều cố gắng thu
Trang 24hút nhà đầu tư đến mở tài khoản tại công ty mình vì CTCK sẽ không thể hoạtđộng ổn định nếu không có tài khoản của nhà đầu tư nào hoặc số lượng tài khoảnđược mở quá ít CTCK cần phải có các tài khoản để thực hiện các giao dịch và sửdụng các sản phẩm, dịch vụ của công ty Số lượng tài khoản được mở thể hiện quy
mô khách hàng, quy mô giao dịch tại công ty và uy tín của CTCK trên TTCK. 1.3.1.2 Doanh thu từ hoạt động môi giới
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng thì doanh thu chủ yếu củacác CTCK là doanh thu từ hoạt động môi giới Khi các nhà đầu tư đến giao dịch tạicông ty thì phải mất phí giao dịch cho CTCK Phí giao dịch này lớn hay nhỏ tùythuộc vào tổng giá trị giao dịch thành công của nhà đầu tư đó Vì vậy, công ty códoanh thu từ hoạt động môi giới chiếm tỷ trọng, số lượng lớn chứng tỏ hoạt độngmôi giới của công ty đang phát triển mạnh
1.3.1.3 Thị phần hoạt động môi giới của CTCK
Một CTCK với chất lượng dịch vụ tốt sẽ thu hút được nhiều khách hàng.Môi giới chứng khoán là một dịch vụ Trong môi trường cạnh tranh như hiện nay,
số lượng khách hàng có giới hạn mà các CTCK được thành lập ngày càng nhiều, vìvậy CTCK nào thu hút được nhiều khách hàng, chiếm thị phần lớn hơn trên TTCKthì công ty đó sẽ có ưu thế hơn trong cạnh tranh Thị phần lớn đồng nghĩa với vị thếsẽ cao hơn, doanh thu và lợi nhuận đem lại từ hoạt động môi giới cũng sẽ cao hơn.Đồng thời thị phần lớn hơn cũng thể hiện sự tin tưởng từ phía khách hàng đối vớiCTCK
1.3.2 Các chỉ tiêu định tính
Đây là nhóm chỉ tiêu rất khó lượng hóa thành các con số cụ thể, thôngthường đánh giá nó gián tiếp qua các chỉ tiêu định lượng Một số chỉ tiêu cơ bảnnhư sau:
1.3.2.1 Mức độ chuyên nghiệp của nhân viên môi giới
Mức độ chuyên nghiệp của nhân viên môi giới được thể hiện ở rất nhiều khíacạnh Một trong những khía cạnh để đánh giá mức độ chuyên nghiệp của nhân viên
Trang 25môi giới là cách tiếp cận khách hàng, phong cách phục vụ khách hàng, tác phonglàm việc của họ,… Một nhân viên môi giới chuyên nghiệp giàu kinh nghiệm sẽ tạocho mình một tác phong làm việc năng động và khoa học, xây dựng cho riêng mìnhmột quy trình môi giới chuẩn,
Hoạt động của CTCK là cung cấp các dịch vụ cho khách hàng, thỏa mãn nhucầu của khách hàng Do đó sự thành công của CTCK phụ thuộc rất nhiều vào độingũ nhân viên môi giới, vì vậy việc xây dựng một đội ngũ những nhà môi giớichứng khoán chuyên nghiệp là một trong những yếu tố chiến lược trong quá trìnhhoạt động của các CTCK
1.3.2.2 Mức độ hoàn thiện quy trình nghiệp vụ môi giới
Một quy trình nghiệp vụ môi giới ngắn gọn, đơn giản mà vẫn đạt đượcnhững yêu cầu của nhà đầu tư, của TTCK sẽ thu hút được nhiều khách hàng sửdụng các dịch vụ của CTCK để tham gia vào TTCK
1.3.2.3 Mức độ hài lòng, sự tin tưởng và trung thành của khách hàng
Mức độ hài lòng của khách hàng đối với các dịch vụ mà công ty cung cấp thểhiện ở thái độ, phản ứng của khách hàng đối với công ty Sẽ là không tốt đối vớicông ty nếu liên tục có những xung đột, hiểu nhầm từ phía khách hàng của công ty.Nếu khách hàng thường xuyên phàn nàn về thái độ, tác phong làm việc của nhânviên môi giới, thường xuyên xảy ra các xung đột lợi ích giữa môi giới với kháchhàng, giữa công ty với nhà đầu tư, điều đó sẽ gây khó khăn rất lớn cho hoạt độngmôi giới nói riêng và hoạt động của toàn công ty nói chung
Mặt khác khách hàng chính là một kênh marketing hữu hiệu nhất đối vớicông ty Một khi đã giành được sự tin tưởng từ phía khách hàng, họ sẽ là một kênhthu hút khách hàng hiệu quả, hình thức marketing truyền miệng chính là một hìnhthức đắc lực và lâu dài Sự giới thiệu, truyền bá từ những khách hàng này cho ngườithân quen, bạn bè là một nguồn thông tin khá tin cậy đối với tâm lý người ViệtNam Vì vậy, giành đựợc niềm tin từ phía khách hàng, khiến họ trở thành nhữngkhách hàng trung thành là một yếu tố sống còn đối với sự tồn tại của các CTCK
Trang 261.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động môi giới của CTCK
1.4.1 Chiến lược và định hướng phát triển của Công ty
Chiến lược kinh doanh và định hướng phát triển của CTCK ảnh hưởng trựctiếp đến hoạt động môi giới CTCK quan tâm phát triển hoạt động môi giới như thếnào thì sẽ có chiến lược khách hàng phù hợp với kiểu hoạt động môi giới mà CTCKđã lựa chọn Bên cạnh đó các chiến lược phát triển nghiệp vụ, các chiến lược xuấtphát từ nhu cầu đa dạng của khách hàng như chính sách sản phẩm, chính sách phímôi giới linh hoạt cũng là các nhân tố quan trọng góp phần phát triển hoạt động môigiới
1.4.2 Mô hình tổ chức và hoạt động của CTCK
Một CTCK có thể hoạt động một hay nhiều lĩnh vực trong bốn nghiệp vụtrên TTCK Môi giới chứng khoán là nghiệp vụ chủ yếu và là bề nổi của CTCK nên
đa phần các CTCK đều đăng ký hoạt động trong lĩnh vực này Do đó mô hình tỏchức cũng như lĩnh vực hoạt động của CTCK rất đa dạng và có ảnh hưởng trực tiếpđến hoạt động môi giới: một Công ty đa năng dễ tạo được những tác động liênhoàn, hỗ trợ nhau giữa các hoạt động, còn Công ty chuyên biệt có thể tập trungnguồn lực cho phát triển
1.4.3 Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của CTCK
Công tác kiểm tra giám sát được thực hiện tốt sẽ giúp CTCK quản lý chặtchẽ hoạt động môi giới, đảm bảo các nhà môi giới thực hiện nghiệp vụ của mìnhtheo đúng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Muốn vậy, công tác kiểm tra giám sátphải được kiểm tra chặt chẽ ở tất cả các khâu, từ khâu mở tài khoản, nộp rút tiền,thông báo kết quả giao dịch đối với khách hàng đến các khâu nhận lệnh, nhập lệnhcủa khách hàng, thu nợ của khách hàng,…Ở từng khâu, công ty cần có các quy trìnhnghiệp vụ cụ thể mà các nhân viên của công ty đặc biệt là các nhà môi giới phảituân thủ một cách nghiêm ngặt để tránh xung đột giữa quyền lợi của công ty vớiquyền lợi của khách hàng, quyền lợi của các khách hàng khác nhau, tránh vi phạmđạo đức nghề nghiệp
Trang 271.4.4 Quy mô về vốn
Vốn là yếu tố không thể thiếu đối với bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hànhhoạt động sản xuất kinh doanh Kinh doanh chứng khoán là ngành nghề kinh doanhđòi hỏi ngoài các điều kiện về chuyên môn, giấy phép hành nghề, còn đòi hỏi cácyêu cầu về tài chính Ở Việt Nam quy định phải có vốn tối thiểu bằng vốn phápđịnh Đối với hoạt động môi giới, nghị định 14/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hànhLuật chứng khoán quy định mức vốn pháp định là 25 tỷ đồng Tuy nhiên đây chỉ làmức vốn tối thiểu, hoạt động môi giới đòi hỏi phải có một lượng vốn không nhỏ đểcó thể phát triển tốt các sản phẩm, dịch vụ nhằm thu hút và giữ chân các khách hàngnhư: chi phí cho máy móc thiết bị để thực hiện giao dịch hay tìm kiếm, phân tíchthông tin, chi phí để nghiên cứu thị trường, tìm hiểu khách hàng để xây dựng, cungcấp các dịch vụ phù hợp, chi phí cho hoạt động marketing, quảng cáo, tìm kiếm mởrộng và giữ chân khách hàng…
Bên cạnh đó, quy mô vốn lớn cũng là một yếu tố làm tăng thêm niềm tin từphía khách hàng đối với công ty Một quy mô vốn dồi dào, mạng lưới rộng khắp vớicác dịch vụ tiện ích đa dạng luôn luôn là một trong những yếu tố cạnh tranh mạnhmẽ của các CTCK
1.4.5 Biểu phí và các dịch vụ cung cấp
Một chính sách phí cạnh tranh với các dịch vụ cung cấp đa dạng là một trongnhững yếu tố tác động không nhỏ đến sự phát triển của hoạt động môi giới chứngkhoán nói riêng và sự phát triển của CTCK nói chung Một CTCK với biểu phí ưuđãi, hợp lý, dịch vụ cung cấp nhanh gọn, đa dạng sẽ thu hút được nhà đầu tư đến vớihọ Từ đó mở rộng được mạng lưới khách hàng, nâng cao doanh số, góp phần quantrọng vào sự phát triển hoạt động môi giới của công ty
1.4.6 Năng lực của đội ngũ nhân viên
Năng lực của đội ngũ nhân viên là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chấtlượng của các CTCK nói chung và nghiệp vụ môi giới chứng khoán nói riêng Đặcbiệt với hoạt động môi giới chứng khoán, đòi hỏi về yếu tố con người lại càng cao
Trang 28CTCK có đội ngũ nhân lực mạnh tất yếu sẽ góp phần không nhỏ tạo nênthành công lớn của công ty Vì vậy các CTCK muốn giành thắng lợi trong cạnhtranh thì công ty phải không ngừng đào tạo đội ngũ nhân viên môi giới trở thành cácnhà môi giới chuyên nghiệp, có kỹ năng, có đạo đức nghề nghiệp để chiếm đượclòng tin từ phía khách hàng, góp phần làm tăng hiệu quả của hoạt động môi giớichứng khoán Từ đó nâng cao uy tín, khẳng định vị thế của công ty trên thị trường
1.4.7 Cơ sở vật chất và trình độ công nghệ
Hoạt động môi giới chứng khoán đòi hỏi rất lớn về hệ thống cơ sở vật chấtvà công nghệ thông tin Cơ sở vật chất kỹ thuật của một CTCK bao gồm: hệ thốngcác sàn giao dịch tập trung, hệ thống bảng điện tử, máy chiếu, hệ thống thông tinnội bộ, website của công ty, hệ thống nhập lệnh của phòng môi giới, Cơ sở vậtchất kỹ thuật hiện đại giúp công ty có thể tiếp nhận, xử lý nhanh và chính xác cáclệnh của khách hàng Điều này có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của mộtCTCK
Một cơ sở hạ tầng tốt, trụ sở đẹp ở vị trí thuận lợi cũng là một yếu tố đóngvai trò to lớn trong việc thu hút khách hàng, tạo nên sự thành công của CTCK
Tóm lại, trong chương 1 tác giả đề cập đến những vấn đề lý luận chung vềhoạt động môi giới của CTCK Thông qua chương này tác giả cũng nêu vấn đề lýthuyết về các chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển hoạt động môi giới của CTCK; cácnhân tố ảnh hưởng đến hoạt động môi giới để làm cơ sở nghiên cứu, đánh giá thựctrạng hoạt động môi giới tại VNDIRECT trong chương 2 và đề xuất các giải phápnâng cao hiệu quả hoạt động môi giới cho VNDIRECT tại chương 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNDIRECT
Trang 292.1 Thực trạng hoạt động môi giới tại VNDIRECT
2.1.1 Giới thiệu về hoạt động môi giới của VNDIRECT
Ngay từ những ngày đầu thành lập, VNDIRECT đã định hướng xây dựngcông ty trở thành CTCK cung cấp dịch vụ môi giới bán lẻ, trên nền tảng hệ thốngcông nghệ hiện đại, quy trình nghiệp vụ khoa học có kiểm soát chặt chẽ, chất luợngvà đạo đức của đội ngũ nhân viên dịch vụ phù hợp với đối tượng khách hàng mụctiêu lựa chọn Công ty có chiến lược chiếm lĩnh phân khúc nhà đầu tư nhỏ, trungthành với dịch vụ Công ty, để tạo uy tín và tính đại chúng của thương hiệu, phù hợpvới năng lực dịch vụ của đội ngũ trong giai đoạn khởi đầu
Hiện tại, trong giao dịch với VNDIRECT, nhà đầu tư có thể thực hiện tất cảcác nghiệp vụ từ xa, bao gồm từ bước mở tài khoản, chuyển tiền, đặt lệnh, thực hiệnquyền, tới tra cứu thông tin tài khoản và truy cập trao đổi với đội tư vấn đầu tư qua
3 kênh:
- Hệ thống tổng đài Call Center tại số điện thoại 1900 54 54 09
- Trực tuyến qua website https://www.vndirect.com.vn
- Điện thoại di động tại http://mobile.vndirect.com.vn
Hoạt động môi giới tại VNDIRECT có các dịch vụ sau:
Dịch vụ hỗ trợ giao dịch đầu tư bao gồm:
- Dịch vụ hỗ trợ vốn: VNDIRECT phối hợp với các Ngân hàng cung cấp cácdịch vụ hỗ trợ vốn khác nhau cho các nhà đầu tư, bao gồm cầm cố chứng khoánniêm yết, bảo lãnh thanh toán lệnh mua, hỗ trợ lãi suất
- Dịch vụ thanh toán chuyển tiền: rất đơn giản, thuận tiện Nhà đầu tư có thểđặt lệnh chuyển tiền qua ba kênh: tại sàn, qua điện thoại và trực tuyến
- Dịch vụ hỗ trợ thông tin:
+ Tra cứu thông tin của tổ chức phát hành: website của VNDIRECT là côngcụ hữu hiệu để nhà đầu tư dễ dàng tra cứu, tìm kiếm thông tin về tổ chức phát hành,tin tức về thị trường chứng khoán, các số liệu sử dụng trong phân tích cơ bản vàphân tích kỹ thuật trong hoạt động đầu tư
Trang 30+ Nhà đầu tư có thể sử dụng các công cụ chuyên biệt hỗ trợ phân tích đầu tưchứng khoán do VNDIRECT phát triển và cung cấp cho các khách hàng giao dịch
tại VNDIRECT như: Stock Screener (công cụ sàng lọc cổ phiếu giúp nhà đầu tư tìm kiếm các cơ hội đầu tư theo các tiêu chí tự xác định); Đồ thị phân tích kỹ thuật
(flash chart - đồ thị thời gian thực hàng ngày và lịch sử giá giao dịch của cổ phiếu)
giúp nhà đầu tư theo sát sự biến động về giá trị, khối lượng của các cổ phiếu và các
chỉ số chứng khoán); VistaDirect (là công cụ cung cấp dữ liệu cập nhật nhất, hiệu
quả nhất giúp các nhà đầu tư quan sát và phân tích thị trường theo thời gian thực và
phục vụ riêng cho nhà đầu tư VNDIRECT); Trung Tâm Phân tích (cung cấp video
và bản tin nóng nhận định thị trường hàng ngày do các chuyên gia phân tích củaVNDIRECT thực hiện)
Các loại dịch vụ thiết kế phù hợp với từng phân khúc thị trường bao gồm:
- Gói dịch vụ dành cho nhà đầu tư độc lập (Direct Account) là gói dịch vụ
được thiết kế phù hợp với nhu cầu giao dịch cơ bản của nhóm nhà đầu tư độc lập,muốn tìm giải pháp dịch vụ tốt với chi phí thấp nhất
- Gói dịch vụ quản lý tài khoản (Prime Account): Đầu tư chứng khoán không
còn đơn giản là mua/bán được, mà còn phải kịp thời cập nhật thông tin thị trường,theo dõi quản lý danh mục tích cực hơn, thì mới giảm thiểu rủi ro và khai thác tối đa
cơ hội biến động trên thị trường Do đó công ty đã triển khai xây dựng đôi ngũchuyên viên môi giới quản lý tài khoản, phục vụ nhóm nhà đầu tư có nhu cầu tư vấn
hỗ trợ giao dịch
- Gói dịch vụ đặc biệt (Special Account): TTCK Việt Nam đã bắt đầu xuất
hiện những nhóm nhà đầu tư chuyên nghiệp, đòi hỏi những gói dịch vụ và sản phẩmchuyên sâu, thiết kế riêng phù hợp với nhu cầu đầu tư và giao dịch chứng khoán củamình VNDIRECT thành lập một phòng giao dịch đặc biệt, với đội ngũ nhân viêngiao dịch có kỹ năng nghiệp vụ tốt, chuyên nghiệp, đảm bảo tuyệt đối tránh cácxung đột lợi ích và bí mật kinh doanh của nhà đầu tư
Trang 312.1.2 Tổ chức khối môi giới tại VNDIRECT
Dựa vào các gói dịch vụ giao dịch cung cấp cho nhà đầu tư, khối môi giớicủa VNDIRECT được bố trí thành các phòng, mỗi phòng cung cấp một gói dịch vụgiao dịch, đồng thời có các phòng khác hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động môi giới
Hiện nay, khối môi giới được chia ra làm 5 bộ phận:
- Phòng dịch vụ Direct (phòng DS) cung cấp nghiệp vụ giao dịch cơ bảnphục vụ nhu cầu giao dịch của nhà đầu tư độc lập, có kinh nghiệm và chỉ sử dụngdịch vụ giao dịch của công ty chứng khoán
Hình 2.1: Tổ chức khối môi giới tại VNDIRECT
(Nguồn: Phòng hành chính – CTCP Chứng khoán VNDIRECT)
- Phòng dịch vụ Quản lý tài khoản riêng (các phòng môi giới) cung cấp dịchvụ Prime account: phục vụ nhóm nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng chuyên viên giaodịch riêng
Dịch vụ quản lý tài khoản riêng biệt tại VNDIRECT thiết kế thành các phòngmôi giới hoạt động độc lập với nhau Hiện tại Công ty đã thành lập được 04 phòngmôi giới đó là : phòng môi giới 1, phòng môi giới 2, phòng môi giới 3 và phòngmôi giới 5
PHÒNG DỊCH VỤ QLTK RIÊNG
PHÒNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH
PHÒNG DỊCH VỤ ĐẶC BIỆT PHÒNG DS
KHỐI MÔI GIỚI
PHÒNG MG2 PHÒNG MG1
PHÒNG MG5 PHÒNG MG3
PHÒNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG
Trang 32- Phòng dịch vụ đặc biệt (phòng GD_VIP) cung cấp dịch vụ đặc biệt Phòngnày là một bộ phận chuyên biệt được thiết kế để phục vụ nhóm nhà đầu tư có nhucầu giao dịch lớn, sử dụng các dịch vụ tài chính phức tạp hơn và ít có nhu cầu về tưvấn đầu tư.
- Phòng dịch vụ khách hàng: thực hiện các nghiệp vụ giao dịch tại sàn; hỗ trợcác phòng kinh doanh giao dịch Direct và phòng quản lý tài khoản riêng, chăm sócquan hệ khách hàng, cập nhật thông tin dịch vụ mới, kiểm soát chất lượng dịch vụcủa các bộ phận và hỗ trợ phát triển khách hàng mới cho Công ty
- Phòng phát triển kinh doanh chịu trách nhiệm đánh giá thị trường, mở rộngmạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch
2.1.3 Quy trình hoạt động môi giới tại VNDIRECT
Hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động mà VNDIRECT làm trunggian mua hoặc bán các loại chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch Các bướcgiao dịch tại VNDIRECT như sau:
NHÀ ĐẦU TƯ
Ký quỹ(tiền)Lưu ký
MÁY CHỦ SỞ GIAO DỊCH
Gửi kết qủa Gửi lệnh Xác nhận kếtquả