Chất lượng dịch vụ điện tử Theo Santos 2003, chất lượng dịch vụ trực tuyến được xác định thông qua sự nhận xét, đánh giá tổng thể của khách hàng về quá trình cung cấp dịch vụ trong một t
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THU HÚT NGƯỜI NỘP THUẾ GIAO DỊCH THUẾ ĐIỆN TỬ VỚI CƠ QUAN THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN
BÌNH TÂN
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT i
ABSTRACT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Lý thuyết về Dịch vụ điện tử công 5
2.1.1 Lý thuyết về dịch vụ 5
2.1.2 Tổng quan về dịch vụ điện tử 6
2.1.3 Dịch vụ điện tử công 10
2.2 Lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng 24
2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ điện tử công với sự hài lòng của người dân 25
2.4 Các mô hình nghiên cứu trước đây 27
2.4.1 Các mô hình nghiên cứu nước ngoài 27
2.4.2 Các mô hình nghiên cứu trong nước 31
2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút Người nộp thuế khi giao dịch điện tử với cơ quan thuế 33
2.5.1 Thành phần Tính tiện lợi (Utility) 33
2.5.2 Thành phần Độ tin cậy (Reliability) 34
2.5.3 Thành phần Tính hiệu quả (Efficiency) 34
2.5.4 Thành phần Độ an toàn và bảo mật (security/privacy) 35
Trang 32.5.5 Thành phần Đáp ứng (responsiveness) 35
2.5.6 Sự tin tưởng (Trust) 36
2.5.7 Giao diện website (Site aesthetics) 37
2.6 Mô hình nghiên cứu đề nghị và các giả thuyết nghiên cứu 37
Tóm tắt chương 2 : 39
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 Thiết kế nghiên cứu 40
3.1.1 Nghiên cứu định tính 40
3.1.2 Nghiên cứu định lượng 42
3.1.3 Thiết kế mẫu 42
3.1.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 43
3.2 Quy trình nghiên cứu 44
3.3 Xây dựng thang đo 44
3.3.1 Thang đo thành phần Sử dụng dễ dàng 45
3.3.2 Thang đo thành phần Giao diện Website 46
3.3.3 Thang đo thành phần Dịch vụ đảm bảo, tin cậy 46
3.3.4 Thang đo thành phần Tính hiệu quả 47
3.3.5 Thang đo thành phần Độ an toàn và bảo mật 47
3.3.6 Thang đo thành phần Mức độ sẵn sàng của cơ quan thuế 48
3.3.7 Thang đo thành phần Mức độ tin tưởng của người giao dịch 49
3.3.8 Thang đo thành phần Sự hài lòng người nộp thuế 49
Tóm tắt chương 3: 50
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
4.1 Tóm tắt mẫu nghiên cứu 51
4.2 Phân tích mô tả mẫu nghiên cứu 52
4.3 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 53
4.3.1 Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến Sự hài lòng của người nộp thuế 54
4.3.2 Thang đo Sự hài lòng của người nộp thuế 57
4.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 58
4.4.1 Thang đo các thành phần chất lượng dịch vụ thuế điện tử 58
4.4.2 Thang đo Sự hài lòng của người nộp thuế 62
Trang 44.5 Kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phân tích hồi quy bội 64
4.5.1 Xem xét ma trận tương quan giữa các biến 64
4.5.2 Phân tích hồi quy bội 65
4.5.3 Mô hình hiệu chỉnh lần 2 68
4.5.4 Kết quả các nghiên cứu phụ 68
Kết luận chương 4: 70
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Một số kiến nghị nhằm thu hút người nộp thuế giao dịch thuế điện tử với cơ quan thuế tại Chi cục thuế quận Bình Tân 72
5.2.1 Kiến nghị đối với Dịch vụ đảm bảo, tin cậy 72
5.2.2 Kiến nghị đối với Mức độ sẵn sàng của cơ quan thuế 74
5.2.3 Kiến nghị đối với Sử dụng dễ dàng 75
5.2.4 Kiến nghị đối với Tính hiệu quả 76
5.2.5 Kiến nghị đối với Giao diện website 77
5.2.6 Nhóm các kiến nghị nhằm bổ trợ 77
5.3 Hạn chế của đề tài 78
Kết luận chương 5: 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 83
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại hàng hóa và dịch vụ dựa trên đặc điểm của chúng 7
Bảng 2.2: Các mức độ tương tác trong Chính phủ điện tử 15
Bảng 2.3: Các loại hình giao dịch trong CPĐT 17
Bảng 3.1: Các thành phần của thang đo Sử dụng dễ dàng 45
Bảng 3.2: Các thành phần của thang đo Giao diện Website 46
Bảng 3.3: Các thành phần của thang đo Dịch vụ đảm bảo, tin cậy 47
Bảng 3.4: Các thành phần của thang đo Tính hiệu quả 47
Bảng 3.5: Các thành phần của thang đo Độ an toàn và bảo mật 48
Bảng 3.6: Các thành phần của thang đo Mức độ sẵn sàng của cơ quan thuế 48
Bảng 3.7: Các thành phần của thang đo Mức độ tin tưởng của người giao dịch 49
Bảng 3.8: Các thành phần của thang đo Sự hài lòng người nộp thuế 49
Bảng 4.1: Kết quả thông tin cá nhân của khách hàng 52
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định thang đo Cronbach’s alpha các yếu tố ảnh hưởng đến Sự hài lòng người nộp thuế lần 1: 54
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định thang đo Cronbach’s alpha Mức độ sẵn sàng của cơ quan thuế lần 2: 56
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định thang đo Cronbach’s alpha Sự hài lòng người nộp thuế lần 1: 57
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định thang đo Cronbach’s alpha Sự hài lòng người nộp thuế lần 2: 58
Bảng 4.7: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng người nộp thuế 58
Bảng 4.8: Kết quả EFA thang đo Sự hài lòng người nộp thuế 62
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định sự tương quan 64
Bảng 4.10: Kết quả phân tích hồi quy bội 65
Bảng 4.11: Kết quả phân tích ANOVA 69
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Các giai đoạn của CPĐT theo mô hình của Gartner 11
Hình 2.2: Mô hình tiến hóa các giai đoạn của Portal 13
Hình 2.3: Mô hình dịch vụ kê khai, nộp thuế điện tử 20
Hình 2.4: Mô hình tổng thể nghiệp vụ hệ thống ETS trong thời gian tới 21
Hình 2.5: Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng 26
Hình 2.6: Những nhân tố tác động đến việc chấp nhận dịch vụ 26
Hình 2.7: Mô hình EGOVSAT của Abhichandani et al (2006) 28
Hình 2.8: Mô hình chỉ số hài lòng Mỹ (ACSI) 31
Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu đề nghị của tác giả 38
Hình 2.10: Mô hình nghiên cứu của tác giả 41
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 44
Hình 4.2: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh 63
Hình 4.3: Mô hình hiệu chỉnh lần 2 68
Trang 8CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU2.1 Lý thuyết về Dịch vụ điện tử công
2.1.1 Lý thuyết về dịch vụ
2.1.1.1 Định nghĩa dịch vụ
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ trong kinh
tế học, được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa - dịch vụ.”
Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005) định nghĩa: Dịch vụ là thực hiện những gì mà công
ty đã hứa hẹn nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ đối tác lâu dài với khách hàng và thị trường Dịch vụ chỉ đạt chất lượng khi khách hàng cảm nhận rõ ràng là việc thực hiện các hứa hẹn đó của công ty mang đến cho khách hàng giá trị gia tăng nhiều hơn các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh vực
2.1.1.2 Đặc trưng của dịch vụ
Dịch vụ có những đặc trưng riêng cơ bản khác biệt với sản phẩm hữu hình:
- Tính vô hình (intangibility): sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi, khách hàng không thể thấy, nếm, sờ, ngửi trước khi mua, đặc điểm này của dịch vụ gây rất nhiều khó khăn cho việc quản lý hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ
- Tính không thể chia tách (inseparability): sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạtđộng sản xuất và phân phối chúng, quá trình cung ứng dịch vụ cũng là tiêu thụ dịch
vụ, do vậy, không thể dấu được các sai lỗi của dịch vụ
- Tính không đồng nhất (heterogeneity): dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát trước hết do hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp dịch
vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong khoảng thời gian hoàn toàn khác nhau, nghĩa là gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau
- Tính dễ hỏng (perishability): dịch vụ không thể tồn kho, không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác, không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng, người cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc
2.1.2 Tổng quan về dịch vụ điện tử
2.1.2.1 Định nghĩa về dịch vụ điện tử
Santos (2003) cho rằng: Dịch vụ điện tử đã trở thành phổ biến trên thế giới với sự giatăng của Internet, nhưng lý thuyết và thực hành về dịch vụ điện tử vẫn còn trong giai đoạn sơ khai, hay nói một cách khác vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch
vụ điện tử
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Khái niệm dịch vụ điện tử đại diện cho một ứng dụng nổi bật của việc sử dụng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong các lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, việc cung cấp một định nghĩa chính xác của dịch vụ điện tử là khó khăn bởi các nhà nghiên cứu đã sử dụng các định
Trang 9nghĩa khác nhau để mô tả dịch vụ điện tử Mặc dù có những định nghĩa khác nhau,nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng ý về vai trò của công nghệ trong việcthúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ khác nhau của dịch vụ điện tử.
Rowley (2006) có cách tiếp cận định nghĩa dịch vụ điện tử khá dễ hiểu ông cho rằng dịch vụ điện tử là: “những hành động, nỗ lực, làm những công việc có giao hàng qua trung gian công nghệ thông tin Dịch vụ điện tử này bao gồm các yếu tố dịch vụ của một gian hàng trực tuyến, hỗ trợ khách hàng và cung cấp dịch vụ”
Hai nhóm nghiên cứu gồm Irma Buntantan, et al (2004) và Muhammad Rais et al
(2003) thì định nghĩa: Dịch vụ điện tử (tiếng anh là e-Service) là một thuật ngữ rất chung chung, thường đề cập đến “Việc cung cấp các dịch vụ thông qua Internet, do
đó Dịch vụ điện tử cũng có thể bao gồm thương mại điện tử, mặc dù nó cũng có thể bao gồm các dịch vụ phi thương mại (trực tuyến), mà thường được cung cấp bởi Chính phủ”
Theo Ada scupola (2008) cho rằng: dịch vụ điện tử là một dịch vụ được sản xuất, cung cấp đến khách hàng tiêu dùng thông qua việc khách hàng sử dụng mạng công nghệ thông tin và truyền thông như hệ thống mạng internet và các giải pháp di động
2.1.2.2 Đặc điểm dịch vụ điện tử
Theo Scupola (2008), dịch vụ điện tử có ba đặc điểm chính:
+ Dịch vụ này có thể truy cập thông qua Internet hoặc các mạng điện tử khác.+ Dịch vụ này được tiêu thụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua Internet hoặc mạng điện tử khác
+ Có thể có một khoản phí mà người tiêu dùng phải trả cho nhà cung cấp để sửdụng các dịch vụ điện tử (ví dụ một khoản phụ phí để mua vé một bộ phim quamạng), tuy nhiên điều này thường không xảy ra đối với các dịch vụ điện tử đượccung cấp bởi Chính phủ
Theo Hofacker et al (2007) khác với hàng hóa và dịch vụ truyền thống, dịch vụ điện tử có 4 đặc điểm sau:
-Tính vô hình
-Tính không đồng nhất
-Tính tự phục vụ
-Tính không tranh giành
Ta có thể theo dõi sự khác nhau trong đặc điểm của dịch vụ điện tử với hàng hóa và dịch vụ truyền thống qua bảng:
Bảng 2.1: Phân loại hàng hóa và dịch vụ dựa trên đặc điểm của chúng
thống
Trang 10Tính tự phục vụ
Không tranh giành
KhôngKhông
KhôngKhông
CóCó
Nguồn: Hofacker et al (2007)
2.1.2.3 Phân loại dịch vụ điện tử
Hofacker et al (2007) xác định ba hình thức của dịch vụ điện tử đó là:+ Dịch vụ điện tử bổ sung để tồn tại dịch vụ ngoại tuyến và hàng hóa Ví dụ có thể đặt chỗ trực tuyến được cung cấp bởi các hãng hàng không và đại lý du lịch.+ Dịch vụ điện tử thay thế cho dịch vụ ngoại tuyến hiện tại Ví dụ có thể sửdụng dịch vụ báo điện tử (Ihlstrom Eriksson et al., 2008) hoặc đấu giá trực tuyếnnhư e-bay (Wang et al., 2008)
+ Dịch vụ điện tử lõi độc đáo Ví dụ có thể là trò chơi trực tuyến máy tính, hoặc công cụ tìm kiếm như ví dụ Google (Vragov, 2009)
Phần lớn các tài liệu lý thuyết về dịch vụ điện tử được tìm thấy trong các tài liệu về dịch vụ và marketing và tập trung chủ yếu nghiên cứu dịch vụ điện tử trên phương diện có thể thay thế hoặc bổ sung để giao dịch ngoại tuyến hàng hoá hoặc dịch vụ Điều này khiến ta có một cách tiếp cận thương mại để nghiên cứu dịch vụ điện tử (Hofacker et al., 2007) Tuy nhiên, có rất nhiều dịch vụ điện tử được cung cấp mà không mang tính thương mại, ví dụ một dịch vụ điện tử được cung cấp bởi các cơ quan Chính phủ hoặc là dịch vụ điện tử cung cấp và hợp tác sản xuất, bởi người sử dụng như tài liệu bách khoa toàn thư mở (Gogia, 2008) Vì vậy, chúng ta nên có một cách tiếp cận rộng hơn với dịch vụ điện tử hơn chỉ là tiếp cận dịch vụ và thương mại điện tử, chúng ta có thể phân biệt 4 nhóm chính về dịch vụ điện tử:
+ Business-to-business (B-to-B): chúng đóng một vai trò quan trọng trong xu hướng hướng tới hội nhập chuỗi cung ứng và phân phối (Iyer et al., 2004) Ví dụ trong trường hợp thuê ngoài dịch vụ in ấn và các cơ sở (Penttinen et al., 2008).+ Business-to-consumer (B-to-C): chúng chủ yếu là dịch vụ thương mại điện tử như dịch vụ ngân hàng điện tử chẳng hạn (Toufaily et al., 2009), báo điện tử (Ihlstrøm et al., 2008) và một số loại cổng thông tin (Pejic-Bach & Pejic-Bach, 2008)
+ Government-to-business (G-to-B) Government-to-consumer (G-to-C): các dịch vụ điện tử này thường không mang tính chất thương mại ví dụ như có thể có các dịch vụ an sinh xã hội cung cấp trực tuyến cho vùng sâu vùng xa (Rubeck & Miller, 2008), y học từ xa (Gogia, 2008) hoặc thư viện trực tuyến (Scupola & Nicolajsen, 2009)
2.1.2.4 Chất lượng dịch vụ điện tử
Theo Santos (2003), chất lượng dịch vụ trực tuyến được xác định thông qua sự nhận xét, đánh giá tổng thể của khách hàng về quá trình cung cấp dịch vụ trong một thị trường ảo Các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm và thành công trong việc cung cấp dịch vụ trực tuyến thường bắt đầu bằng sự nhận định rằng ngoài sự hiện diện của trang web, giá cả thấp, điều quan trọng trong sự thành công hay thất bại còn bao gồmcác yếu tố chất lượng dịch vụ trực tuyến So với việc đánh giá chất lượng các
Trang 11dịch vụ truyền thống thì thông qua Internet, khách hàng dễ dàng so sánh chất lượng dịch vụ giữa các nhà cung cấp hơn, vì thế đây cũng là lý do cần thiết nâng cao chất lượng dịch vụ trực tuyến Khách hàng sử dụng dịch vụ trực tuyến mong đợi chất lượng dịch vụ được cung cấp bằng hoặc cao hơn chất lượng dịch vụ truyền thống được cung cấp.
Dịch vụ truyền thống và dịch vụ trực tuyến có sự khác biệt rất lớn Đối với dịch vụ truyền thống, quá trình diễn ra có sự tiếp xúc trực tiếp của người cung cấp dịch vụ vàkhách hàng thông qua nhiều hành vi mang tính chất cá nhân như thái độ, hành vi, nụ cười, Các yếu tố này ảnh hưởng đến sự hài lòng, thỏa mãn của khách hàng, chúng quyết định đến chất lượng dịch vụ Trong dịch vụ trực tuyến thì chỉ có sự tiếp xúc giữa khách hàng và trang web của nhà cung cấp qua Internet Đồng thời, tự bản thân khách hàng phải thực hiện toàn bộ quá trình tìm hiểu thông tin và giao dịch đặt vé qua mạng internet
Chất lượng dịch vụ trực tuyến không những có tiềm năng đem lại những lợi ích chiến lược mà còn giúp tăng cường hiệu quả hoạt động và đem lại lợi nhuận cho người cung cấp dịch vụ này Chất lượng dịch vụ trực tuyến ngày càng trở nên quan trọng đối với các công ty trong việc thu hút và giữ chân khách hàng Nếu khách hàng cảm nhận được chất lượng dịch vụ trực tuyến mà công ty cung cấp là tốt thì điều này có thể khiến khách hàng quay trở lại sử dụng dịch vụ trực tuyến của công
ty trong tương lai Oliveria et al (2002) cho rằng các doanh nghiệp có thể đạt được
năng lực cạnh tranh bằng cách cung cấp các dịch vụ trực tuyến tốt cho khách hàng Việc cải tiến chất lượng dịch vụ trực tuyến để thỏa mãn và giữ chân khách hàng đang trở thành một thách thức đối với các doanh nghiệp
2.1.3 Dịch vụ điện tử công
2.1.3.1 Tổng quan về Chính phủ điện tử
Khái niệm về Chính phủ điện tử (e - Government)
Chính phủ điện tử (CPĐT) là Chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông (CNTT–TT) để đổi mới tổ chức, đổi mới quy tắc hoạt động, tăng cường năng lực của Chính phủ, làm cho Chính phủ làm việc có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn, cung cấp thông tin tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, các tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý nhà nước Nói một cách ngắn gọn, CPĐT là Chính phủ hiện đại, đổi mới, vì dân, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, cung cấp dịch vụ tôt hơn trên cơ sở ứng dụng CNTT– TT
Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới (World Bank) “CPĐT là việc các cơ quan của Chính phủ sử dụng một cách có hệ thống CNTT – TT để thực hiện quan hệ với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội nhờ đó giao dịch của các cơ quan Chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăng trưởng và giảm chi phí” Như vậy CPĐT là việc ứng dụng CNTT-TT, cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp và tạo ra sự công khai minh bạch
Trang 12Tham gia CPĐT có 3 chủ thể: người dân, Chính phủ và doanh nghiệp Tùy theo mối quan hệ tương tác giữa 3 chủ thể ta có:
- G2C: Quan hệ Chính phủ với người dân
- G2B: Quan hệ Chính phủ với doanh nghiệp
- G2G: Quan hệ các cơ quan Chính phủ với nhau
Mục tiêu cơ bản của CPĐT là cải tiến quy trình công tác trong cơ quan Chính phủthông qua nền hành chính điện tử, cải thiện quan hệ với người dân thông qua côngdân điện tử và tiến tới xây dựng một xã hội tri thức trên nền tảng CNTT
Việc phát triển Chính phủ điện tử trải qua một số giai đoạn khác nhau Cứ qua từnggiai đoạn (thực hiện và duy trì) thì tính phức tạp lại tăng thêm, nhưng giá trị mà nómang lại cho người dân và doanh nghiệp cũng tăng lên (trong đó có phần tăng choChính phủ qua việc có thể có thêm nguồn gián thu hay trực thu)
Một mô hình CPĐT đã được sử dụng rộng rãi, do hãng tư vấn và nghiên cứuGartner xây dựng nên, chỉ ra bốn giai đoạn (hay thời kỳ) của quá trình phát triểnChính phủ điện tử
Hình 2.1: Các giai đoạn của CPĐT theo mô hình của Gartner
- Thông tin: Trong giai đoạn đầu, Chính phủ điện tử có nghĩa là hiện diện trên trang web và cung cấp cho công chúng các thông tin (thích hợp) Giá trị mang lại ở chỗ công chúng có thể tiếp cận được thông tin của Chính phủ, các quy trình trở nên minh bạch hơn, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ Với G2G, các cơ quan Chính phủ cũng có thể trao đổi thông tin với nhau bằng các phương tiện điện tử, như Internet, hoặc trong mạng nội bộ
- Tương tác: Trong giai đoạn thứ hai, sự tương tác giữa Chính phủ và công dân (G2C và G2B) được thông qua nhiều ứng dụng khác nhau Người dân có thể hỏi
Trang 13qua thư điện tử, sử dụng các công cụ tra cứu, tải xuống các biểu mẫu và tài liệu Các tương tác này giúp tiết kiệm thời gian Thực tế, việc tiếp nhận đơn từ có thể thực hiệntrực tuyến 24 giờ trong ngày Thông thường, những động tác này chỉ có thể được thực hiện tại bàn tiếp dân trong giờ hành chính Về mặt nội bộ (G2G), các tổ chức của Chính phủ sử dụng mạng LAN, intranet và thư điện tử để liên lạc và trao đổi dữ liệu Rõ ràng giai đoạn này chỉ có thể thực hiện được khi đã thực hiện cải cách hành chính (với cơ chế một cửa điện tử, cơ chế một cửa liên thông điện tử) theo tinh thần Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Giao dịch: Với giai đoạn thứ ba, tính phức tạp của công nghệ có tăng lên, nhưng giá trị của khách hàng (trong G2C và G2B) cũng tăng Các giao dịch hoàn chỉnh có thể thực hiện mà không cần đi đến cơ quan hành chính Có thể lấy ví dụ về các dịch vụ trực tuyến như: Đăng ký thuế thu nhập, đăng ký thuế tài sản, gia hạn/cấp mới giấy phép, thị thực và hộ chiếu, biểu quyết qua mạng Giai đoạn 3 là phức tạp bởi các vấn
đề an ninh và cá thể hóa, chẳng hạn như chữ ký số (chữ ký điện tử) là cần thiết để cho phép thực hiện việc chuyển giao các dịch vụ một cách hợp pháp Về khía cạnh doanh nghiệp, Chính phủ điện tử bắt đầu với các ứng dụng mua bán trực tuyến Ở giai đoạn này, các quy trình nội bộ (G2G) phải được thiết kế lại để cung cấp dịch vụ được tốt Chính phủ cần những luật và quy chế mới để cho phép thực hiện các giao dịch không sử dụng tài liệu bằng giấy
- Chuyển hóa: Giai đoạn thứ tư là khi mọi hệ thống thông tin được tích hợp lại
và công chúng có thể hưởng các dịch vụ G2C và G2B tại một bàn giao dịch (điểm giao dịch ảo)
Ở giai đoạn này, tiết kiệm chi phí, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu khách hàng đã đạt được các mức cao nhất có thể được
Không nhất thiết mọi bước phát triển và dịch vụ đều phải nằm cùng một giai đoạn.Quả thực, điều quan trọng là phải biết lọc ra một số dịch vụ cần đưa sang giai đoạn
2 và giai đoạn 3 và đưa ra những mô hình về vai trò và động cơ để tiến lên làm tiếp
Về vấn đề trọng tâm của G2C và G2B, với G2C nên đặt trọng tâm vào các giai đoạn ban đầu là 1 và 2 Tuy nhiên, với G2B thì nên tập trung nỗ lực đạt được giai đoạn 2
và giai đoạn 3 và đích cuối cùng là giai đoạn 4 (nhưng đây là mục tiêu dài hạn (10 đến 15 năm)
Hình 2.2: Mô hình tiến hóa các giai đoạn của Portal
Trang 14Các mục tiêu của Chính phủ điện tử
Mục tiêu chung là tăng cường năng lực, nâng cao hiệu quả điều hành nhà nước củaChính phủ, mang lại thuận lợi cho dân chúng, tăng cường sự công khai minh bạch(transparency), giảm chi tiêu Chính phủ Mục tiêu cụ thể là:
- Nâng cao năng lực quản lý điều hành của Chính phủ và các cơ quan chính quyền các cấp (trao đổi văn bản điện tử, thu thập thông tin chính xác và kịp thời ra quyết định, giao ban điện tử …)
- Cung cấp cho người dân và doanh nghiệp các dịch vụ công tạo điều kiện cho nguời dân dễ dàng truy nhập ở khắp mọi nơi
- Người dân có thể tham gia xây dựng chính sách, đóng góp vào quá trình xây dựng luật pháp, quá trình điều hành của Chính phủ một cách tích cực
- Giảm được chi phí cho bộ máy Chính phủ
- Thực hiện một Chính phủ hiện đại, hiệu quả và minh bạch
Chính phủ điện tử sẽ tạo ra phong cách lãnh đạo mới, phương thức mới, cung cấp dịch vụ cho người dân và nâng cao được năng lực quản lý điều hành đất nước Do vậy mà trong thời gian qua, các nước đều cố gắng đầu tư xây dựng CPĐT Xây dựng CPĐT ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết, nó là một phần quan trọng trong tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia
Lợi ích của Chính phủ điện tử
CPĐT là Chính phủ đảm bảo được cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết và đúng lúc cho việc ra quyết định CPĐT lý tưởng là một Chính phủ cung cấp đầy đủ thông tin, đúng thời điểm cho những người quyết định, đó là lợi thế lớn nhất của CNTT CPĐT
sử dụng CNTT để tự động hoá các thủ tục hành chính của Chính phủ, áp dụng CNTTvào các quy trình quản lý, hoạt động của Chính phủ do vậy tốc độ xử lý các thủ tục hành chính nhanh hơn rất nhiều lần
CPĐT cho phép công dân có thể truy cập tới các thủ tục hành chính thông qua phương tiện điện tử, ví dụ như: Internet, điện thoại di động, truyền hình tương tác CPĐT giúp cho các doanh nghiệp làm việc với Chính phủ một cách dễ dàng bởi mọi thủ tục đều được hiểu, hướng dẫn và mỗi bước công việc đều được đảm bảo thực hiện tốt, tin cậy Mọi thông tin kinh tế mà Chính phủ có đều được cung cấp đầy đủ cho các doanh nghiệp để hoạt động hiệu quả hơn
Đối với công chức, CNTT dùng trong CPĐT là một công cụ giúp họ hoạt động hiệu quả hơn, có khả năng đáp ứng nhu cầu của công chúng về thông tin truy cập và xử lýchúng
Đối với người dân và doanh nghiệp: Giảm thiểu thời gian cho công dân, doanh nghiệp và người lao động khi truy nhập và sử dụng dịch vụ của Chính phủ và do đó giảm thiếu chi phí của nhân dân Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động của Chính phủ
Đối với Chính phủ: Giảm “nạn giấy tờ” văn phòng – công sở, tiết kiệm thời gian, hợp lý hoá việc vận hành công việc, cho phép các cơ quan Chính phủ cung cấp các dịch vụ chất lượng cao hơn và giảm ngân sách chi tiêu của Chính phủ
Trang 15Bảng 2.2: Các mức độ tương tác trong Chính phủ điện tử
- Tiếp nhận, giải quyết
- Thực hiệnthanh toán điệntử
- Cung cấpthông tin chokhách hàng
Diễn đàn trao đổi, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn
- Giải quyết các dịch vụ công theo yêu cầu
- Khách hàng có thểkiểm tra kết quả, những thông tin liên quan đến cá nhân
Các mô hình giao dịch trong CPĐT
Trang 16Tham gia Chính phủ điện tử có 3 thực thể: Chính phủ, người dân và doanh nghiệp.Trên cơ sở quan hệ giữa các chủ thể trên, ta có thể phân loại CPĐT ra thành 4 loại,tương ứng với 4 dạng dịch vụ Chính phủ bao gồm:
G2C (Government to Citizens): được hiểu như khả năng giao dịch và cung cấp dịch
vụ của Chính phủ trực tiếp cho người dân, ví dụ : Tổ chức bầu cử của công dân, thăm dò dư luận, quản lý quy hoạch xây dựng đô thị, tư vấn, khiếu nại, giám sát và thanh toán thuế, hoá đơn của các ngành với người thuê bao, dịch vụ thông tin trực tiếp 24/7, phục vụ công cộng, môi trường giáo dục
G2B (Government to Business): Dịch vụ và quan hệ Chính phủ đối với các doanh nghiệp, các tổ chức phi Chính phủ, nhà sản xuất như: dịch vụ mua sắm, thanh tra, giám sát doanh nghiệp (về đóng thuế, tuân thủ luật pháp,…); thông tin về quy hoạch
sử dụng đất, phat triển đô thị, đấu thầu, xây dựng; cung cấp thông tin dạng văn bản, hướng dẫn sử dụng, quy định, thi hành chính sách nhà nước,… cho các doanh nghiệp Đây là thành phần quan hệ cơ bản trong mô hình nhà nước là chủ thể quản lý
vĩ mô nền kinh tế, xã hội thông qua chính sách, cơ chế và luật pháp và doanh nghiệp như là khách thể đại diện cho lực lượng sản xuất trực tiếp của cải vật chất của nền kinh tế
G2E (Government to Employees): chỉ các dịch vụ, giao dịch trong mối quan hệ giữa Chính phủ đối với công chức, viên chức bảo hiểm, dịch vụ việc làm, trợ cấp thất nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, nhà ở…
G2G (Government to Government): được hiểu như khả năng phối hợp, chuyển giao
và cung cấp các dịch vụ mọtt cách có hiệu quả giữa các cấp, ngành, tổ chức, bộ máynhà nước trong việc điều hành và quản lý nhà nước, trong đó chính bản thân bộ máycủa Chính phủ vừa đóng vai trò là chủ thể và khách thể trong mối quan hệ này.Toàn bộ hệ thống quan hệ, giao dịch của Chính phủ như G2C, G2E, G2B, và G2G phải được đặt trên một hạ tầng vững chắc của hệ thống: độ tin cậy (trust), khả năng đảm bảo tính riêng tư (privacy) và bảo mật – an toàn (security) và cuối cùng tất cả đều dựa trên hạ tầng công nghệ và truyền thông với các quy mô khác nhau: mạng máy tính, mạng Intranet, Extranet và Internet Ngoài 4 mô hình giao dịch chủ yếu trên bảng dưới đây cho thấy những hình thức giao tiếp khác trong CPĐT
Bảng 2.3: Các loại hình giao dịch trong CPĐT
công dân chính, nhà nước (kinh tế) (NPI/NGO)
Nhà nước, cơ quan
hành chính
Trang 17Khu vực III
N2C(NPI/NGO)
Các hình thức hoạt động chủ yếu của Chính phủ điện tử
- Thư điện tử
Thư điện tử (e-mail) giúp tiết kiệm được chi phí và thời gian Có thể sử dụng e-mail
để gửi các bản ghi nhớ, thông báo, báo cáo, bản tin CPĐT yêu cầu mỗi cán bộ côngchức phải có địa chỉ e-mail để trao đổi thông tin qua mạng Việt Nam phấn đấu đến
2010, 70% - 80% tài liệu, công văn được chuyển qua mạng
- Mua sắm công trong CPĐT
Việc mua sắm công có thể thực hiên được qua mạng đảm bảo tiết kiệm được thời gian, chi phí Việc mua sắm công tập trung sẽ đảm bảo tiết kiệm được chi phí, chống tiêu cực
- Trao đổi dữ liệu điện tử
Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI) là việc trao đổi các dữliệu dưới dạng “có cấu trúc” (Structured Form) từ máy tính này sang máy tính điện
tử khác trong nội bộ cơ quan hay giữa các cơ quan EDI có tính bảo mật cao
- Tra cứu, cập nhật thông tin qua mạng
Chính phủ thông qua mạng internet có thể cung cấp thông tin cho người dân và doanh nghiệp các loại thông tin về kinh tế, xã hội, về chủ trương chính sách, và các hướng dẫn các thủ tuc hành chính
Các dạng dịch vụ mà CPĐT cung cấp
Trước đây các cơ quan Chính phủ cung cấp dịch vụ công cho người dân tại trụ sởcủa mình thì nay có thể cung cấp dịch vụ công qua mạng thông qua cổng thông tinđiện tử Người dân không phải đến trực tiếp, chờ đợi tại các trụ sở cơ quan trên nhưtrước đây
Một số dịch vụ công có thể cung cấp qua mạng là:
- Cung cấp thông tin văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương chính sách
- Cung cấp thông tin kinh tế, xã hội và thị trường;
- Cung cấp dịch vụ đăng ký, cấp phép xuất nhập khẩu trực tuyến;
- Cung cấp dịch vụ khai báo thuế trực tuyến;
- Cung cấp dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến
GIS và các dịch vụ được cung cấp qua CPĐT
CPĐT có thể sử dụng Internet và GIS để cung cấp được nhiều những dịch vụ mới
mà người dân và doanh nghiệp quan tâm
- Cung cấp dịch vụ ứng dụng của GIS để quản lý đất đai, giấy phép xây dựng
- Cung cấp dịch vụ thông tin quy hoạch
- Cung cấp dịch vụ ứng dụng GIS để trao đổi thông tin giữa các cơ quan, chính quyên các cấp phục vụ quản lý tài nguyên
Trang 182.1.3.2 Thuế điện tử Việt Nam
Mô hình chung
Thuế điện tử là một hệ thống thông tin về thuế cung cấp dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân bên ngoài ngành thuế Các dịch vụ thuế điện tử sẽ bao gồm: cung cấp qua mạng các thông tin tham khảo liên quan đến lĩnh vực thuế, đối thoại hỏi đáp trực tiếp, đăng ký thuế, nộp tờ khai, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế, giải quyết khiếu nại tố cáo của NNT và cung cấp hóa đơn điện tử,… nhằm tạo thuận lợi cho NNT, giảm thiểu chi phí thực hiện nghĩa vụ thuế, cắt giảm thời gian và thủ tục giấy tờ
Một trong những chiến lược hiện đại hóa nền tảng công nghệ thông tin chủ đạo cho ngành Thuế trong những năm vừa qua đó là xây dựng các hệ thống quản lý thuế theo mô hình xử lý tập trung Trên cơ sở đó việc triển khai giải pháp triển khai hệ thống dịch vụ Thuế điện tử cũng cần phải tính đến những thay đổi quan trọng đang diễn ra và đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu sau đây:
- Đăng ký sử dụng dịch vụ Thuế điện tử với Cơ quan Thuế quản lý: Người nộpthuế là tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có thể làm hồ sơ yêu cầu Đăng ký sử dụngdịch vụ với Cơ quan Thuế quản lý Người nộp thuế cần phải sử dụng dịch vụ chữ ký
số trong các giao dịch với Cơ quan Thuế
- Đăng ký thuế điện tử: Người nộp thuế có thể thực hiện đăng ký thuế và cậpnhật thông tin đăng ký thuế cho Người nộp thuế là tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân
- Kê khai thuế điện tử:Người nộp thuế có thể xem danh sách các nghĩa vụ kê khai thuế và thực hiện việc kê khai và nộp tờ khai cho Cơ quan Thuế Người nộp thuế có thể tra cứu và xem kết quả xử lý tờ khai của Cơ quan Thuế và nghĩa vụ nộp thuế
- Nộp thuế điện tử: Người nộp thuế có thể xem danh sách các nghĩa vụ nộpthuế và thực hiện việc nộp thuế cho Cơ quan Thuế thông qua dịch vụ ngân hàng
- Thông báo đến Người nộp thuế về các nội dung liên quan trực tiếp đến Ngườinộp thuế cũng như các thông báo chung về các thay đổi liên quan đến thủ tục về thuếtrên hệ thống dịch vụ thuế điện tử
- Tra cứu các thông tin về Người nộp thuế: Người nộp thuế cũng như cán bộ thuế có thể tra cứu các thông tin về người nộp thuế
- Quản lý lưu trữ hồ sơ điện tử đồng thời cho phép tra cứu và xem lại các hồ
ký số Bắt đầu triển khai từ tháng 8/2009, hệ thống khai thuế qua mạng (sau đây gọi tắt là iHTKK) được triển khai thí điểm đầu tiên đối với các doanh nghiệp tại 4 địa
Trang 19bàn: Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Bà Rịa – Vũng Tàu cho các tờ khai thuế: Giá trị gia tăng, Thu nhập doanh nghiệp, Tiêu thụ đặc biệt, Tài nguyên, Thu nhập cá nhân, Báo tình hình sử dụng hóa đơn, Tờ khai thuế nhà thầu nước ngoài Tính đến thời điểm 12/2014 hệ thống iHTKK đã được triển khai rộng rãi trên cả 63 tỉnh thành trên cả nước và đạt được những kết quả tốt Với việc nâng cấp nên hệ thống iHTKK phiên bản 3.1.0, ngoài việc kê khai thuế qua mạng hiện nay hệ thống này cũng bước đầu thí điểm thành công việc nộp thuế qua mạng.
Hình 2.3: Mô hình dịch vụ kê khai, nộp thuế điện tử
Như vậy tính đến thời điểm hiện tại Tổng cục thuế đã ứng dụng thành công việc kê khai và nộp thuế qua mạng thông qua hệ thống iHTKK phiên bản 3.1.0 và trong thời gian tới sẽ tiếp tục phát triển và ứng dụng hệ thống ETS trong thời gian tới để không chỉ áp dụng hỗ trợ kê khai và nộp thuế qua mạng mà còn triển khai thêm nhiều hình thức khác như: đăng ký thuế, tra cứu thông báo hỏi đáp
Trong phạm vi nghiên cứu của tác giả, tính đến thời điểm hiện tại do Cục thuế vẫn đang sử dụng hệ thống iHTKK hỗ trợ hai hình thức là kê khai thuế và nộp thuế qua mạng nên tác giả cũng chỉ đo lường sự hài lòng của người nộp thuế đối với chất lượng của hai dịch vụ này
Trang 20Hình 2.4: Mô hình tổng thể nghiệp vụ hệ thống ETS trong thời gian tới
Tình hình kê khai và nộp thuế điện tử tại Việt Nam
Thực hiện theo tiến độ triển khai của dự án kê khai và nộp thuế điện tử, ngày 15/8/2014, Tổng cục Thuế đã ban hành công văn số 3291/TCT-CNTT về việc Triển khai mở rộng khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử Trải qua hơn 5 năm áp dụng, tính đến hết tháng 8/2014, kết quả triển khai hệ thống khai và nộp thuế điện tử đã đạt được các kết quả cụ thể như sau:
- Về khai thuế điện tử:
Triển khai cho 63 tỉnh, thành phố và trên 300 Chi cục Thuế trực thuộc đã triển khai
hệ thống khai thuế qua mạng
Hệ thống khai thuế qua mạng đã cung cấp dịch vụ được cho hơn 397.130 người nộp thuế (NNT) thực hiện khai thuế điện tử; đồng thời hệ thống khai thuế qua mạng
Trang 21cũng đã tiếp nhận và xử lý hơn 17,6 triệu hồ sơ thuế điện tử vào hệ thống quản lý thuế.
Trong quá trình triển khai chương trình khai thuế điện tử có những thuận lợi sau: Nhận được sự đồng thuận và ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp đối với việc khai thuế điện tử Doanh nghiệp có thể thực hiện nghĩa vụ thuế nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm, thời gian, chi phí thực hiện thủ tục về thuế, góp phần tăng cường áp dụng CNTT trong chính nội bộ DN
Với vai trò là đơn trị trực tiếp triển khai hệ thống khai thuế qua mạng tới DN, các Cục Thuế, cán bộ thuế địa phương đã tổ chức tốt công tác triển khai, từ khâu tuyên truyền đến việc tập huấn, hướng dẫn và hỗ trợ NNT sử dụng ứng dụng
Có sự tham gia tích cực, hỗ trợ có hiệu quả của các đơn vị cung cấp dịch vụ CNTT như các nhà cung cấp chữ ký số, T-VAN Với số lượng hàng trăm nghìn doanh nghiệp sử dụng ứng dụng, hạ tầng kỹ thuật mạng để kê khai thuế, nếu không có sự tham gia hỗ trợ của các nhà cung cấp dịch vụ CNTT thì các cơ quan Thuế khó có đủ nhân lực để triển khai và hỗ trợ kịp thời cho các doanh nghiệp trong quá trình khai thuế qua mạng
Bên cạnh những thuận lợi, ngành Thuế cũng gặp một số khó khăn trong công tác triển khai như sau:
Trình độ về CNTT tại một số doanh nghiệp còn thấp nên việc thực hiện khai thuế điện tử còn nhiều lúng túng Điều kiện áp dụng CNTT (máy tính, đường truyền…) cũng ảnh hưởng đến chất lượng khai thuế điện tử Tâm lý doanh nghiệp vẫn muốn kêkhai bằng giấy đến nộp trực tiếp tại cơ quan thuế để nắm thêm thông tin về chính sách thuế Một số doanh nghiệp không muốn thay đổi phương thức kê khai thủ công sang điện tử vì phải chi phí cho việc mua chứng thư số (CA) và dịch vụ TVAN Thờigian đầu, có hiện tượng hạ tầng kỹ thuật mạng có sự cố, quá tải ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Đến nay, các vấn đề về hạ tầng kỹ thuật đã được khắc phục, đáp ứng được số lượng lớn DN tham gia khai thuế điện tử
Ngành Thuế sẽ tiếp tục hoàn thiện giải pháp kỹ thuật nhằm đáp ứng triển khai
mở rộng hệ thống khai thuế qua mạng cho tất cả các Chi cục Thuế còn lại trên cả nước Đồng thời, thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính, trong năm 2014 các đơn vị thực hiện triển khai hệ thống khai thuế qua mạng đạt 95%, phấn đấu 100% số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thực hiện khai thuế qua mạng
- Về nộp thuế điện tử
Với những kết quả đã đạt được trong quá trình triển khai chương trình khai thuế điện tử, ngành Thuế tiếp tục xây dựng kế hoạch mở rộng các dịch vụ công điện tử cung cấp cho NNT Cụ thể từ ngày 9/2/2014, chương trình nộp thuế điện tử được triển khai cho 3 tỉnh thành phố (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh) Tính đến hết tháng 8/2014, việc triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử đã đạt được các kết quả cụ thể như sau:
Triển khai hệ thống dịch vụ nộp thuế cho 18 tỉnh, thành phố trên cả nước, bao gồm: Thành phố Hồ Chí Minh ,Thành phố Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hải Phòng, Thành phố Đà Nẵng, Thanh Hoá, Bà Rịa - Vũng Tàu, Nghệ An, Khánh
Trang 22Hoà, Bình Định, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Quảng Bình.
Tính đến thời điểm quý 1/2017, Tại Chi cục thuế Quận Bình Tân:
Tổng số doanh nghiệp đã đăng ký tham gia dịch vụ: 12.332 doanh nghiệp, đạt tỷ lệ 98.66%
Tổng số tiền đã nộp vào Ngân sách nhà nước qua cổng thông tin dịch vụ nộp thuế điện tử của cơ quan Thuế: hơn 431.251 triệu đồng
Dự kiến thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính ngànhThuế sẽ hoàn thiện giải pháp kỹ thuật nhằm đáp ứng triển khai mở rộng hệ thốngnộp thuế điện tử cho tất cả các Cục Thuế còn lại trên cả nước
2.2 Lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng
Lý thuyết về sự hài lòng là một đề tài không mới và được rất nhiều các học giả quan tâm và nghiên cứu cũng chính vì thế, có rất nhiều định nghĩa về sự hài lòng của khách hàng
Theo Bachelet (1995) định nghĩa sự hài lòng của khách hàng là một phản ứng mangtính cảm xúc của khách hàng đáp lại với kinh nghiệm của họ với một sản phẩm haydịch vụ
Theo Oliver (1997): Sự thỏa mãn là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc được đáp ứng những mong muốn Định nghĩa này có hàm ý rằng sự thỏa mãn chính
là sự hài lòng của người tiêu dùng trong việc tiêu dùng sản phẩm hay dịch vụ do nó đáp ứng những mong muốn của họ, bao gồm cả mức độ đáp ứng trên mức mong muốn và dưới mức mong muốn
Theo Kotler (2001) sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó
- Kỳ vọng: được xem là ước mong hay mong đợi của con người Nó bắt nguồn
từ nhu cầu cá nhân, kinh nghiệm trước đó và thông tin bên ngoài như quảng cáo, thông tin truyền miệng từ bạn bè, gia đình,
- Nhu cầu cá nhân: hình thành từ nhận thức của con người mong muốn thỏa mãn cái gì đó như nhu cầu thông tin liên lạc, ăn uống,
Sự hài lòng là sự phản ứng của người tiêu dùng đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn trước đó (hoặc những tiêu chuẩn cho sự thể hiện) và
sự thể hiện thực sự của sản phẩm như là một sự chấp nhận sau khi dùng nó
2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ điện tử công với sự hài lòng của người dân
Thông thường các nhà kinh doanh dịch vụ thường quan niệm chất lượng của dịch vụchính là sự hài lòng của khách hàng Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chấtlượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng là hai khái niệm phân biệt (Zeithaml & Bitner 2000) Sự thỏa mãn của khách hàng là một khái niệm tổng quát, nói lên sự hàilòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ Trong khi đó, chất lượng dịch vụ chỉ tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ
Trang 23Trong các cuộc tranh luận về sự khác nhau giữa sự thỏa mãn và chất lượng dịch vụ,
có một số nhà nghiên cứu đề nghị nên xem xét sự hài lòng như là một sự đánh giá của khách hàng ở mức độ từng giao dịch riêng biệt thay cho sự đánh giá ở mức độ toàn bộ Trong khi các cuộc tranh luận chưa ngã ngũ, nhiều nhà nghiên cứu đề nghị nên xem xét hai khái niệm trên cả hai mức độ
Thực sự trong lĩnh vực dịch vụ, hai khái niệm “sự hài lòng của khách hàng” và “chất lượng dịch vụ” có sự khác nhau cơ bản dựa trên việc phân tích những quan hệ nhân quả giữa chúng Sự hài lòng của khách hàng nhìn chung là một khái niệm rộng lớn hơn chất lượng dịch vụ Với cách nhìn này ta có thể xem chất lượng dịch vụ như là một yếu tố tác động vào sự hài lòng của khách hàng
Hình 2.5: Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng
(Nguồn: Zeithaml & Bitner, 2000)Như vậy, rõ ràng là sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm rộng, bao gồm cácyếu tố tác động đến nó như: chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm, giá, các nhân
tố cá nhân và các nhân tố tình huống
Đồng thời, sự hài lòng của khách hàng là một trong những nhân tố chính của sự chấp nhận dịch vụ của khách hàng Có thể nói rằng đây là nhân tố quan trọng nhất dẫn đến việc khách hàng có chấp nhận dịch vụ hay không Mô hình sau sẽ cho chúng ta thấy rõ điều này:
Trang 24Bởi vì dịch vụ có tính chất vô hình nên khách hàng thường tìm kiếm những bằng chứng (hay những yếu tố “hữu hình”) trong những giao dịch mà họ thực hiện với các
tổ chức kinh doanh dịch vụ Những yếu tố này gồm có: con người, quá trình xử lý dịch vụ (vòng luân chuyển của hoạt động, các bước thực hiện dịch vụ, ), các yếu tố vật chất (phương tiện thông tin liên lạc, trang thiết bị, ) Tất cả những yếu tố này ít nhiều xuất hiện trong các giao dịch cụ thể giữa khách hàng với đơn vị kinh doanh dịch vụ và là những yếu tố quan trọng cho việc quản lý chất lượng dịch vụ, tạo ra sự hài lòng cho khách hàng
Theo quan điểm dịch vụ công điện tử “lấy người dân làm trung tâm”, các nhà nghiên cứu cho rằng việc nâng cao chất lượng dịch vụ sẽ làm gia tăng sự hài lòng của người dân làm họ cảm thấy thật sự thoải mái khi có những giao dịch liên quan đến cơ quan thuế
2.4 Mô hình nghiên cứu đề nghị và các giả thuyết nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu đề nghị
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây về dịch vụ điện tử đặc biết là một số nghiên cứu trong lĩnh vực điện tử công, tác giả đã xây dựng cho mình một thang đo dùng để đo lường sự hài lòng của người nộp thuế khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử tại Chi cục thuế Bình Tân Thang đo này gồm 7 yếu tố có tác động trực tiếp đến sự
Trang 25hài lòng của người nộp thuế khi giao dịch điện tử tại Chi cục thuế Bình Tân, trong
đó 3 yếu tố được tác giả kế thừa từ thang đo EGOVSAT là: Tính tiện lợi, Độ tinh cậy, Tính hiệu quả, 3 yếu tố tác giả kể thừa từ bộ thang đo E-SQ và E-ResS-Qual của Parasuraman et al (2005) là: Độ an toàn và bảo mật; Đáp ứng và Sự tin tưởng Riêng thang đo Giao diện website được tác giả tham khảo từ mô hình chỉ số hài
Giao diện Website
Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu đề nghị của tác giả
(Nguồn: Tác giả nghiên cứu và tổng hợp)
Các giả thuyết nghiên cứu đề nghị:
Giả thuyết H1: Có mối quan hệ dương giữa Tính tiện lợi và Sự hài lòng của người
nộp thuế khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử
Giả thuyết H2: Có mối quan hệ dương giữa Độ tin cậy và Sự hài lòng của người
nộp thuế khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử
Giả thuyết H3: Có mối quan hệ dương giữa Tính hiệu quả và Sự hài lòng của
người nộp thuế khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử
Trang 26Giả thuyết H4: Có mối quan hệ dương giữa Độ an toàn và bảo mật và Sự hài lòng
của người nộp thuế khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử
Giả thuyết H5: Có mối quan hệ dương giữa Đáp ứng và Sự hài lòng của người nộp
thuế khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử
Giả thuyết H6: Có mối quan hệ dương giữa Sự tin tưởng và Sự hài lòng của người
nộp thuế khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử
Giả thuyết H7: Có mối quan hệ dương giữa Giao diện website và Sự hài lòng của
người nộp thuế khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử
Tóm tắt chương 2 :
Trong chương 2, tác giả đề cập đến các cơ sở lý luận cơ bản liên quan đến dịch vụ điện tử và chất lượng dịch vụ điện tử, và mối quan hệ giữa chất lượng điện tử và sự hài lòng Thông qua nghiên cứu và kế thừa các mô hình trước mà cụ thể là mô hình EGOVSAT của Abhichandani et al (2006), mô hình E-SQ và E-ResS-Qual của Parasuraman et al (2005), mô hình chỉ số hài lòng Chính phủ Mỹ (ACSI) tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu đề nghị và các giả thuyết về chất lượng dịch vụ thuế điện tử cũng như sự hài lòng của khách hàng theo các thang đo của 3 mô hình này và
có sự hiệu chỉnh các biến quan sát cho phù hợp với dịch vụ kê khai thuế qua mạng tại Việt Nam
Tóm tắt chương 3:
Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng, đánhgiá các thang đo cho các khái niệm nghiên cứu và kiểm định mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết Phương pháp nghiên cứu được thực hiện qua 02 giai đoạn chính:nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiệnbằng cách thảo luận tay đôi với một số cán bộ thuộc bộ phận kê khai thuế qua mạng tiếp đó thang đo này được tác giả đưa vào thảo luận nhóm với nhóm nhỏ người nộp thuế tại chi cục thuế Bình Tân Tiếp theo nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện để điều chỉnh và hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát Nghiên cứu định lượng chính thức được tiến hành ngay sau khi bảng câu hỏi khảo sát được chỉnh sửa hoàn chỉnh Chất lượng dịch vụ thuế trực tuyến được đo lường thông qua 07 thành
Trang 27phần thang đo với tổng cộng 36 biến quan sát Dữ liệu sau khi được thu thập sẽ được tiến hành mã hóa, nhập liệu vào phần mền thống kê SPSS 20.0 để phân tích thông tin, xử lý số liệu phục vụ cho nghiên cứu.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong chương 3, nghiên cứu đã trình bày các phương pháp nghiên cứu được thực hiện để xây dựng, đánh giá thang đo và kiểm định mô hình nghiên cứu cùng các giả thiết Trong chương này, nghiên cứu trình bày kết quả đạt được sau khi phân tích dữ liệu Nội dung trình bày bao gồm: mô tả thông tin nghiên cứu, trình bày kết quả thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố EFA, hiệu chỉnh
mô hình nghiên cứu, kiểm định mô hình nghiên cứu, phân tích phương sai một nhân
tố để phát hiện sự khác biệt giữa các thành phần theo yếu tố nhân khẩu học và kiến nghị một số giải pháp nhằm thu hút người nộp thuế đến giao dịch điện tử với cơ quanthuế tại chi cục thuế Bình Tân
3.1 Tóm tắt mẫu nghiên cứu
Khảo sát được thực hiện trên bảng câu hỏi chính thức trong giai đoạn tháng 01 đến tháng 03 năm 2017 Kết quả khảo sát thu về như sau:
- Tổng số bảng khảo sát được gửi đi: 100 bảng câu hỏi + khảo sát qua mạng (Google Spreadsheets)
- Số bảng câu hỏi thu về: 225 bảng câu hỏi (trong đó gồm 86 bảng khảo sát bằng giấy + 139 quan sát được khảo sát qua mạng)
- Sau khi làm sạch dữ liệu và loại bỏ những mẫu không hợp lệ, số mẫu cuối cùng được sử dụng để phân tích dữ liệu là 210 mẫu Số lượng mẫu này đạt yêu cầu
về kích thước mẫu tối thiểu được đề cập ở Chương 3
Trang 283.2 Phân tích mô tả mẫu nghiên cứu
Bảng 4.1: Kết quả thông tin cá nhân của khách hàng
Từ 31 đến 40
Từ 41 đến 50Trên 50
Kế toán
Kế toán trưởngKhácDưới 1 giờ
Từ 1 – 5 giờ
Từ 6 – 10 giờ
Từ 11 đến 20 giờTrên 20 giờ
(Nguồn: Tính toán từ dữ liệu điều tra)
Từ kết quả thống kê trên 4.1 ta có thể nhận xét như sau:
- Về giới tính: Chiếm tỷ lệ áp đảo trong khảo sát là nữ giới (60,5%) trong khi
đó nam giới chiếm chưa tới 2/5 cả mẫu (39,5%) Điều này được lý giải là do đặc thù nghề nghiệp kế toán hiện nay chủ yếu là nữ giới và người trực tiếp kê khai thuế của doanh nghiệp thuộc bộ phận kế toán
- Về độ tuổi: Những người được khảo sát đa số nằm trong độ tuổi trung niên Chiếm nhiều nhất là nhóm có độ tuổi từ 31- 40 (chiếm 39,5%) kế ngay đó là nhóm
có độ tuổi từ 41 – 50 (chiếm 37,1%) Đây là những người thường có kinh nghiệm nhiều trong việc kê khai thuế Kế toán thuế là công việc đòi hỏi tính cẩn thận và khả năng nghiệp vụ vững vàng nên đa số các công ty thường giao cho nhân viên kế toán trong độ tuổi này Đối với doanh nghiệp lớn việc kế toán thuế thường do kế toán trưởng trực tiếp phụ trách và có bộ phận kế toán thuế riêng Một số công ty nhỏ thì
kế toán tổng hợp kiêm luôn kế toán thuế, chính vì đòi hỏi nghiệp vụ vững vàng và kiêm nhiều vị trí nên những người trong độ tuổi này thường được ưu tiên do đủ độ chín trong nghiệp vụ Nhóm có độ tuổi dưới 30 chiếm tỷ lệ không lớn trong mẫu (chiếm 13,8%) do độ tuổi này còn khá trẻ và còn thiếu kinh nghiệm trong nghiệp vụ nhưng ưu điểm của họ là tính tương tác và học hỏi công nghệ thông tin tốt hơn các nhóm còn lại Nhóm có độ tuổi trên 50 chiếm tỷ lệ rất thấp (chỉ 9,5%) do đây là độ
Trang 29tuổi sắp về hưu hơn nữa những người có tuổi thường tiếp thu chậm những ứng dụng công nghệ, đặc biệt là khi các công nghệ này được đổi mới liên tục.
- Về chức vụ của mẫu được khảo sát, đa phần người được khảo sát đều là kế toán thuế của các công ty (chiếm 49,0%) một số ít là kế toán trưởng (chiếm 33,3%)
do các công ty thường có bộ phận kế toán thuế riêng biệt Một số ít công ty có quy
mô nhỏ thì kế toán trưởng là người trực tiếp kê khai Điều đặc biệt là nhóm chức vụ khác chiếm tỷ lệ tới 17,6% điều này theo tìm hiểu của tác giả là do một số công ty nhỏ không có bộ phận kế toán nên có thể chính chủ doanh nghiệp trực tiếp kê khai hoặc nhờ một nhân viên văn phòng khác làm hộ vì số hóa đơn của những doanh nghiệp này không lớn có khi có tháng chỉ phát sinh một đến hai hóa đơn
- Về mức độ sử dụng internet trong tuần: Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay thì việc sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin để nâng caohiệu quả làm việc của nhân viên được doanh nghiệp quan tâm Qua khảo sát ta có nhận xét, thời gian truy cập internet trung bình tuần của đối tượng khảo sát chủ yếu ởmức từ 11 – 20 giờ trong tuần (chiếm 49,5%) đây mức truy cập so với thế giới là khácao và dần bắt kịp với các nước phát triển (trong nghiên cứu của Xenia
Papadomichelaki & Gregoris Mentzas, 2012 tỷ lệ truy cập internet trong tuần ở mức trên 20 giờ chiếm tới 46,9%) Kế đó là nhóm có thời gian truy cập từ 5 -10 giờ một tuần (chiếm 21,9%) Thấp nhấp là nhóm có mức độ truy cập dưới 1 giờ một tuần (chỉchiếm 7,6%) theo tìm hiểu thì đây là những công ty nhỏ và không có kết nối mạng internet
3.3 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
Theo quy ước thì một tập hợp các mục hỏi dùng để đo lường được đánh giá là tốt phải có hệ số Cronbach’s anpha lớn hơn hoặc bằng 0,8 Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng khi Cronbach’s Alpha từ 0,8 trở lên đến gần 1 thì thang đo lường là tốt, từ 0,7 đến gần 0,8 là sử dụng được Cũng có nhà nghiên cứu đề nghị rằng Cronbach‘s Alpha từ 0,6 trở lên là có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slater, 1995 trích trong Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ loại bỏ những thang đo
có hệ số Cronbach’s Alpha nhỏ hơn 0,6 và những biến có hệ số tương quan biến tổngnhỏ hơn 0,3
4.3.1 Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến Sự hài lòng của người nộp thuế
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định thang đo Cronbach’s alpha các yếu tố ảnh hưởng đến
Sự hài lòng người nộp thuế lần 1: