më ®Çu PAGE 1 LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của Đề tài Một hệ thống giá dịch vụ và cơ chế điều hành giá dịch vụ linh hoạt là yếu tố góp phần không nhỏ vào việc thu hút khách hàng, nâng cao hiệu quả sản[.]
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Một hệ thống giá dịch vụ và cơ chế điều hành giá dịch vụ linh hoạt làyếu tố góp phần không nhỏ vào việc thu hút khách hàng, nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trongquá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việc xây dựng, quản lý và điều hành giádịch vụ trở thành một vấn đề cấp thiết trong kinh doanh và cung cấp dịch vụtại các Tổng công ty Nhà nước nói chung và tại Tổng công ty Khai thác Cảnghàng không miền Bắc nói riêng
Là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích được thành lập trên cơ sởCụm Cảng hàng không miền Bắc trước đây, nhiệm vụ của Tổng công ty làcung cấp các dịch vụ hàng không phục vụ cho các chuyến bay an toàn và hiệuquả Để đảm bảo sản xuất kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn và tàisản của Nhà nước, đảm bảo sự phát triển bền vững và thích ứng với quá trìnhhội nhập kinh tế của đất nước, Tổng công ty cần nâng cao năng lực cạnh tranhcủa sản phẩm dịch vụ, cải tiến mạnh mẽ hơn nữa các chính sách, cơ chế quản
lý và tổ chức hoạt động nhằm tiến gần hơn đến chất lượng dịch vụ của cácCảng hàng không trên thế giới Một trong những vấn đề cần tập trung cải cách
đó là công tác quản lý và điều hành giá dịch vụ hàng không Vì vậy, với kiến
thức đã học và xuất phát từ yêu cầu của đơn vị, em đã chọn Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý và điều hành giá dịch vụ tại Tổng công ty Khai thác Cảng hàng không miền Bắc” làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ.
2 Mục đích nghiên cứu của Luận văn
Một là, Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý và điều hành giá
dịch vụ hàng không;
Hai là, Phân tích thực trạng quản lý và điều hành giá dịch vụ tại Tổng
Trang 2công ty Khai thác Cảng hàng không miền Bắc;
Ba là, Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản
lý và điều hành giá dịch vụ tại Tổng công ty Khai thác Cảng hàng không miền Bắc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hoạt động kinh doanh dịch vụ củaTổng công ty Khai thác Cảng hàng không miền Bắc Dịch vụ hàng không màTổng Công ty đang triển khai gồm nhiều loại như: dịch vụ phục vụ hànhkhách, dịch vụ phục vụ máy bay, dịch vụ nhượng quyền và các dịch vụthương mại khác… Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian và xuất phát từ tínhthời sự của Đề tài, Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu công tác quản lý và điềuhành giá các dịch vụ phục vụ hành khách và phục vụ máy bay diễn ra tạiCảng hàng không
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 và tập trung chủ yếu từ năm 2004đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, Luận văn đã kết hợpgiữa lý luận với thực tiễn, sử dụng các phương pháp phân tích và so sánh đểđạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
5 Kết cấu Luận văn
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý và điều hành giá dịch vụ
hàng không
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý và điều hành giá dịch vụ của
Tổng công ty Khai thác Cảng hàng không miền Bắc
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác
quản lý và điều hành giá dịch vụ tại Tổng công ty Khai thác Cảng hàng khôngmiền Bắc
Trang 3CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH
GIÁ DỊCH VỤ HÀNG KHÔNG
1.1 Đặc điểm và phân loại sản phẩm dịch vụ hàng không
1.1.1 Khái niệm về Dịch vụ hàng không.
Ngày nay, trong tổng sản phẩm quốc dân của một nước không thể khôngtính đến sự đóng góp của lĩnh vực dịch vụ Tỷ lệ này ngày càng cao ở nhữngnước có nền kinh tế phát triển Cùng với sự phát triển của sản xuất, tiến bộkhoa học kỹ thuật, thì cũng có nhiều loại hình dịch vụ phát triển hết sức đadạng và phong phú
Cho đến nay, khái niệm dịch vụ vẫn chưa được thống nhất một cáchhoàn toàn, bởi vì việc thâu tóm các hoạt động phong phú, đa dạng và rất khácnhau về bản chất của dịch vụ trong sản xuất kinh doanh là hết sức phức tạp
Vì vậy dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động dịch vụ:
Có quan niệm cho rằng dịch vụ là hoạt động đầu tư lao động, tiền vốn,
kỹ thuật, nghệ thuật nhằm phục vụ và thúc đẩy sản xuất, đời sống vật chất,văn hóa xã hội
Dịch vụ và sản phẩm của việc sản xuất và cung ứng những “hiệu năngích dụng” của một hoạt động lao động xác định có thể tồn tại độc lập hoặcgắn liền với việc thương mại một sản phẩm vật chất nào đó để thỏa mãn nhucầu của một tổ chức hoặc cá nhân xác định - đó là một khái niệm phân địnhtường minh hơn về bản chất marketing của dịch vụ
Theo quan điểm của Philip Kotler: “Dịch vụ là một giải pháp hay lợi ích
mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫnđến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặckhông gắn liền với sản phẩm vật chất”
Trang 4Các ngành dịch vụ rất phong phú và đa dạng Khu vực Chính phủ vớicác tòa án, các bệnh viện, các tổ chức cho vay, các cơ quan công an, cứu hỏa,bệnh viện và các trung tâm tư vấn là thuộc loại hình kinh doanh dịch vụ Khuvực phi lợi nhuận độc lập như các viện bảo tàng, các hội từ thiện… cũng hoạtđộng dịch vụ Trong lĩnh vực dịch vụ có một phần không nhỏ thuộc khu vựcthương mại như các doanh nghiệp hàng không, các ngân hàng, các khách sạn,công ty bảo hiểm….
Hàng không là một ngành dịch vụ, một ngành kinh tế mũi nhọn, đónggóp không nhỏ vào phát triển kinh tế đất nước và Ngân sách Nhà nước hàngnăm Đây là ngành luôn được Nhà nước và Chính phủ các nước rất quan tâm.Dịch vụ hàng không là các dịch vụ liên quan đến vận chuyển hành khách vàhàng hóa bằng tàu bay, liên quan đến các hoạt động bay diễn ra tại Cảng hàngkhông Do đặc thù của ngành hàng không nên các sản phẩm dịch vụ hàngkhông luôn đòi hỏi yêu cầu chất lượng rất cao
1.1.2 Các loại sản phẩm dịch vụ hàng không
Ngành hàng không dân dụng bao gồm ba lĩnh vực chủ yếu là: Điều hànhbay quá cảnh; Vận chuyển hành khách và Cảng hàng không, từ đó dịch vụhàng không cũng được chia thành 3 loại tương ứng, cụ thể là:
- Dịch vụ điều hành bay quá cảnh: Là dịch vụ điều hành bay qua bầutrời (không phận) của một nước hay còn gọi là dịch vụ điều hành bay quácảnh Tại Việt Nam dịch vụ này do một doanh nghiệp Nhà nước hoạt độngcông ích là Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam cung cấp và được phânthành ba Trung tâm theo khu vực: Trung tâm quản lý bay miền Bắc, Trungtâm quản lý bay miền Trung và Trung tâm quản lý bay miền Nam
- Dịch vụ vận tải hàng không: Là dịch vụ vận chuyển hành khách, hànghóa bằng đường hàng không do các Hãng hàng không trong và ngoài nướccung cấp Hiện nay ở Việt Nam dịch vụ vận chuyển hành khách nội địa do
Trang 5Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) và Công ty Cổ phầnHàng không Pacific (Pacific Airlines) cung cấp; Dịch vụ vận chuyển hànhkhách quốc tế do hai Hãng hàng không trong nước kể trên và các Hãng hàngkhông nước ngoài thực hiện.
- Các dịch vụ tại Cảng: Là các dịch vụ phục vụ máy bay, hành khách đitàu bay và các dịch vụ khác nhằm duy trì hoạt động tại Cảng hàng không.Hiện nay tại Việt Nam dịch vụ này do các doanh nghiệp Nhà nước hoạt độngcông ích là các Tổng công ty (TCT) Khai thác Cảng hàng không chịu tráchnhiệm quản lý và cung cấp dịch vụ và cũng được chia theo khu vực, đó là:TCT Khai thác Cảng hàng không miền Bắc, TCT Khai thác Cảng hàng khôngmiền Trung và TCT Khai thác Cảng hàng không miền Nam
Do giới hạn của Đề tài, Luận văn chỉ đề cập đến các dịch vụ hàng khôngđược cung cấp bởi các TCT khai thác Cảng hàng không nói chung và TCTkhai thác Cảng hàng không miền Bắc nói riêng
Các Cảng hàng không là yếu tố quan trọng của kết cấu hạ tầng hàngkhông dân dụng, đóng vai trò bảo đảm việc cất cánh và hạ cánh của máy bay,đồng thời cũng là nơi chuyển tiếp giữa vận tải mặt đất và vận tải hàng không.Các Cảng hàng không sân bay quốc tế là cửa ngõ hàng không của quốc gia,nơi xuất cảnh người và hàng hóa ra nước ngoài và nhập cảnh người, hàng hóa
từ nước ngoài đến bằng đường hàng không
Theo điều 23 - Khoản 1 - Luật Hàng không dân dụng Việt Nam: “Cảng
hàng không là một tổ hợp công trình bao gồm: Sân bay, nhà ga và trang thiết
bị, công trình mặt đất cần thiết được sử dụng cho tàu bay đi và đến, thực hiện dịch vụ vận chuyển hàng không”.
Hiện nay các Cảng hàng không Việt Nam thuộc sở hữu Nhà nước, đó lànhững tổ hợp kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ, cung cấp các dịch vụ phục vụ máybay và hành khách đi tàu bay, đảm bảo cho các chuyến bay được an toàn và
Trang 6hiệu quả, tạo môi trường kinh doanh công bằng và thuận tiện cho các doanhnghiệp kinh doanh tại Cảng
Dịch vụ hàng không là dịch vụ phục vụ tàu bay và hành khách đi tàu bay,
do nhà chức trách Cảng hàng không cung cấp hoặc tổ chức cung cấp dướihình thức liên doanh, liên kết hoặc nhượng quyền cho các đơn vị khác cungcấp Các dịch vụ hàng không được cung cấp bằng 3 phương thức sau:
Trực tiếp cung cấp dịch vụ: Do Cảng hàng không tự tổ chức cungcấp dịch vụ hàng không
Liên doanh, liên kết: Cảng hàng không kết hợp với các doanhnghiệp để tổ chức cung cấp dịch vụ hàng không
Nhượng quyền cho các doanh nghiệp: Giao cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Còn các nhà tổ chức tại Cảng hàng không thu tiền cho thuê mặtbằng kinh doanh và phí nhượng quyền khai thác
Do tính chất phức tạp và đa dạng của dịch vụ hàng không, việc phân loạidịch vụ nhằm: Đảm bảo hoạt động của Cảng hàng không an toàn, thuận tiện,
và đạt hiệu quả kinh tế cao; Ưu tiên các lợi ích công cộng, nhiệm vụ chính trị
và an ninh quốc gia; Phân định rõ hoạt động công ích và hoạt động kinhdoanh đảm bảo hiệu quả thu hồi vốn để tái đầu tư; Đảm bảo tổ chức và cungcấp các dịch vụ với chất lượng cao, tận dụng mọi lợi thế để khai thác, kinhdoanh dịch vụ
Có rất nhiều cách phân loại các sản phẩm dịch vụ hàng không Tuynhiên, căn cứ vào tính chất các dịch vụ được thực hiện tại Cảng hàng không,dịch vụ hàng không được chia thành:
Trang 7khách, hành lý và hàng hoá Các dịch vụ này được thực hiện chủ yếu ở các gahành khách, hàng hoá, khu vực đường băng, đường lăn, sân đỗ tàu bay và cáckhu vực hạ tầng kỹ thuật liên quan Bao gồm:
- Dịch vụ phục vụ máy bay: vệ sinh tàu bay; kéo dắt tàu bay, làm mát
phanh, khởi động tàu bay…
- Dịch vụ điều hành hạ, cất cánh (trong vòng bán kính 5km tính từ sân
bay là thuộc quyền kiểm soát, điều hành của Cảng hàng không);
- Dịch vụ phục vụ hành khách, hành lý và hàng hoá: soi chiếu an ninhhành khách, hành lý; cho thuê cầu hành khách lên xuống tàu bay; sử dụngbăng chuyền trả hành lý…
- Dịch vụ sân đỗ tàu bay;
- Dịch vụ khẩn nguy, cứu hộ, cứu nạn;
- Dịch vụ phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất;
* Các sản phẩm dịch vụ phi hàng không:
Là các dịch vụ được cung cấp tại Cảng hàng không nhưng không liênquan đến các hoạt động vận tải hàng không, nói cách khác, đó là các dịch vụkhông liên quan trực tiếp trong quá trình phục vụ tàu bay, hành khách, hành
lý và hàng hóa Các dịch vụ phi hàng không bao gồm:
- Dịch vụ bán hàng miễn thuế;
- Dịch vụ kinh doanh thương mại: cửa hàng bách hoá, lưu niệm, siêu thị;
- Dịch vụ vận tải hành khách;
- Dịch vụ khách sạn, ăn uống, giải khát;
- Dịch vụ giải trí: Phòng chiếu phim, khu vui chơi giải trí… Các dịch vụnày tạo nguồn thu nhập khá lớn và hiện nay đang được các Cảng hàng khôngtrên thế giới rất chú trọng, tuy nhiên các Cảng hàng không Việt Nam chưaphát triển dịch vụ này
- Dịch vụ nhượng quyền khai thác;
Trang 8- Dịch vụ cho thuê mặt bằng, mặt bằng quảng cáo;
- Dịch vụ quảng cáo;
* Các dịch vụ thiết yếu khác:
Bao gồm các dịch vụ cơ bản như thông tin liên lạc, điện, nước,
Sự phân định các dịch vụ theo tính chất chỉ là tương đối Dịch vụ hàngkhông dù phân loại theo cách nào thì cũng mang đầy đủ các đặc điểm vốn cócủa sản phẩm dịch vụ
1.1.3 Đặc điểm của dịch vụ hàng không có liên quan đến giá cả dịch vụ
Dịch vụ hàng không mang đầy đủ đặc điểm của dịch vụ gắn với các hoạtđộng của dịch vụ hàng không, đó là:
Tính vô hình của dịch vụ hàng không:
Dịch vụ hàng không cũng như các loại hình dịch vụ khác đều không tồntại dưới dạng vật thể Chúng ta không thể sờ thấy, nhìn thấy, cảm thấy, nghethấy hay ngửi thấy chúng trước khi có được các sản phẩm của dịch vụ Ngườiđược phục vụ không thể biết được nội dung và giá trị của sự phục vụ mà họ sẽđược hưởng như thế nào nên họ phải có sự tin tưởng rất cao ở người phục vụ
Ví dụ: Một người đi máy bay không biết trước chắc chắn rằng chuyến bay có
an toàn hiệu quả hay không, có cất cánh theo đúng lịch trình hay không và cóđược phục vụ chu đáo hay không Chất lượng của dịch vụ chủ yếu phụ thuộcvào sự cảm nhận của khách hàng Họ sẽ nhận biết về chất lượng của dịch vụthông qua cơ sở vật chất, con người, sự phục vụ, giá cả của dịch vụ và uy tíncủa cơ sở cung cấp dịch vụ Nhiệm vụ của người cung cấp dịch vụ là vậndụng những bằng chứng để làm cho cái vô hình thành hữu hình Do đó, đểcủng cố lòng tin của khách hàng đối với mình, người cung cấp dịch vụ có thểphải thực hiện một số công việc để tăng cường sự tín nhiệm của khách hàng
Họ có thể làm tăng tính hiện hữu của dịch vụ bằng cách mô tả dịch vụ trướckhi thực hiện dịch vụ cho khách hàng, đồng thời phải làm cho khách hàng chú
Trang 9ý đến những lợi ích kèm theo của dịch vụ đó Các nhà cung cấp dịch vụ có thểtriển khai những tên hiệu cho dịch vụ của mình để làm tăng sự tin cậy củakhách hàng, đó là cách mà Hãng hàng không United Airlines của Mỹ đã thựchiện - Sự phục vụ “trên thảm đỏ” (phục vụ cho các thượng khách VIP) Và đểtạo bầu không khí tin cậy hơn, khuyếch trương tên tuổi của mình, nhà cungcấp dịch vụ có thể tài trợ cho các chương trình hoạt động xã hội và tăngcường quảng cáo cho chất lượng dịch vụ của Hãng Từ đặc điểm này cho thấycác Hãng hàng không có tên tuổi sẽ được khách hàng dễ chấp nhận giá dịch
vụ cao hơn so với các hãng khác
Tính không đồng nhất về cảm nhận chất lượng dịch vụ:
Do đặc trưng cá biệt hoá cung cấp và tiêu dùng dịch vụ, những hoạtđộng dịch vụ cùng loại có thể khác nhau rất lớn vì chất lượng của nó phụthuộc vào người thực hiện dịch vụ cũng như thời gian và địa điểm thực hiệnhoạt động dịch vụ đó Và việc tiêu dùng dịch vụ đến mức nào - cao hay thấp,còn phụ thuộc vào mỗi khách hàng Hơn nữa do đặc tính của dịch vụ khônghiện hữu nên không thể đo lường và chuẩn hoá chất lượng cụ thể như chấtlượng hàng hoá được Ví dụ: Cùng là dịch vụ phục vụ hành khách trên máybay, nhưng với mỗi hành khách đi trên cùng một chuyến bay thì dịch vụngười này nhận được không giống với dịch vụ của người kia và cảm nhận củamỗi người về dịch vụ đó cũng không giống nhau, điều này là do sự phục vụcủa mỗi tiếp viên trên chuyến bay đó không giống nhau và yêu cầu của mỗihành khách đối với sự phục vụ đó không giống nhau Vì thế mà sản phẩmdịch vụ hàng không cũng giống như các sản phẩm dịch vụ khác có tínhkhông đồng nhất về chất lượng Sự không đồng nhất về cảm chận chất lượngdịch vụ này giải thích vì sao người mua dịch vụ thường hỏi ý kiến nhữngngười mua khác khi lựa chọn người cung cấp dịch vụ Điều này ảnh hưởnglớn đến sự đánh giá của khách hàng về giá dịch vụ
Trang 10 Tính không tách rời:
Sản phẩm dịch vụ có tính không tách rời Việc tiêu dùng sản phẩm dịch
vụ được tiến hành song song với việc cung cấp dịch vụ Vì thế, sản phẩm dịch
vụ được tiêu dùng ở mọi thời điểm cùng với sự tham gia của người tiêu dùngdịch vụ đó
Sản phẩm dịch vụ hàng không cũng không nằm ngoài đặc điểm này.Hành khách mua vé máy bay là đã mua luôn cả dịch vụ được phục vụ trênmáy bay Họ không thể đi máy bay ngày hôm nay nhưng ngày mai mới nhậnđược sự phục vụ của các tiếp viên hàng không, tàu bay của các Hãng hàngkhông cũng không thể bay đi/đến các Cảng hàng không mà không cần đếndịch vụ mặt đất tại Cảng Những hoạt động này được tiến hành song song, chỉkhi các tiếp viên hàng không thể hiện sự phục vụ với hành khách hay các nhàcung cấp dịch vụ hàng không cung cấp dịch vụ cho tàu bay của các hãng hàngkhông và khách hàng nhận những sự phục vụ đó thì dịch vụ mới được coi là
đã thực hiện Vì vậy mà sản phẩm dịch vụ hàng không cũng như các sảnphẩm dịch vụ nói chung đều có tính không tách rời Đặc điểm này chi phốiquá trình xây dựng giá dịch vụ phải phù hợp với các tập khách hàng khácnhau và với các Hãng hàng không khác nhau
Tính không thể cất giữ:
Các dịch vụ không thể lưu kho được Nếu một dịch vụ mà không được
sử dụng khi nó đang sẵn có thì năng lực dịch vụ sẽ bị phung phí Đến giờcất cánh, máy bay không thể hoãn giờ bay lại được mà vẫn phải tiến hànhtheo lịch trình quy định với nửa khoang ghế trống Trong khi nhu cầu vềdịch vụ dao động theo mùa: mùa cao điểm và mùa thấp điểm thì các nhàcung cấp dịch vụ hàng không vẫn phải đảm bảo các chi phí để duy trì hoạtđộng của mình Đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều hànhgiá của các doanh nghiệp hàng không sao cho kích thích nhu cầu của khách
Trang 11vào các giờ thấp điểm và dàn mỏng cầu vào các giờ cao điểm.
Việc xem xét mỗi đặc tính của dịch vụ, có thể đưa ra một dịch vụ và còn
có thể là nguồn cho sự phân biệt hoá sản phẩm của dịch vụ Một dịch vụ có thểphân biệt được mức độ qua lợi ích của nó nhờ việc ước lượng hoặc nhờ một lợithế riêng biệt vượt quá sự hiện hữu tối thiểu nào đó của sản phẩm dịch vụ
1.2 Phân loại và cơ cấu giá dịch vụ hàng không
1.2.1 Khái niệm về giá dịch vụ hàng không
Có nhiều khái niệm khác nhau về giá cả hàng hóa, dịch vụ
Với hoạt động trao đổi, Giá cả là mối tương quan trao đổi trên thịtrường
Với người mua, Giá cả của một sản phẩm hoặc dịch vụ là khoản tiền màngười mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩmhay dịch vụ đó
Còn với người bán, Giá cả của một hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập
mà người bán nhận được nhờ việc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đó
Trong các biến số của Marketing hỗn hợp đối với dịch vụ, giá cả có một
ý nghĩa đặc biệt Nó là chỉ tiêu quan trọng trong quá trình lựa chọn và tiêudùng dịch vụ Trong khi giá dịch vụ là chỉ tiêu đầu tiên trong nhận thức vềchất lượng dịch vụ chuyển giao thì quan hệ chất lượng/giá cả lại là chỉ tiêucuối cùng để khách hàng đánh giá về chất lượng dịch vụ và nó trở thành mộttrong những yếu tố quyết định đối với việc nâng cao tỷ lệ mua lại (trungthành) của khách hàng
Giá cả trong cơ chế thị trường mang tính linh hoạt, giá của từng loạihàng hoá, dịch vụ phần lớn được quyết định bởi quan hệ cung cầu của chúngtrong từng thời điểm khác nhau và khả năng chấp nhận của khách hàng Vìthế khi định giá các sản phẩm và dịch vụ, doanh nghiệp phải căn cứ vào quan
Trang 12hệ cung cầu trên thị trường, giá của các đối thủ cạnh tranh và các mặt hàngcạnh tranh khác có trên thị trường
Hiện nay vẫn còn một số lĩnh vực kinh doanh dịch vụ chịu sự quy định
và quản lý trực tiếp của Nhà nước về giá, trong đó có các dịch vụ hàng không.Giá dịch vụ hàng không là các khoản chi phí mà các đối tượng sử dụngdịch vụ hàng không phải trả cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàngkhông Giá dịch vụ hàng không được áp dụng theo từng đối tượng, trong mộtkhoảng thời gian nhất định và đối với từng dịch vụ cụ thể
1.2.2 Phân loại giá dịch vụ hàng không
Như đã đề cập ở phần trước, người ta có thể phân loại các dịch vụ hàngkhông theo nhiều cách khác nhau Căn cứ vào tính chất các dịch vụ tại Cảng,
có thể phân loại giá dịch vụ hàng không như sau:
* Giá dịch vụ hàng không: Là giá của các dịch vụ có liên quan trực tiếp
đến tàu bay và hoạt động vận tải hàng không, được cung cấp cho các Hãngvận chuyển và hành khách tại các Cảng hàng không
Tuỳ thuộc mức độ phát triển và quan niệm của các Cảng hàng khôngkhác nhau mà hệ thống các loại giá dịch vụ hàng không cũng khác nhau, songnhìn chung danh mục các loại giá được xếp vào nhóm giá dịch vụ hàng khônggồm các loại sau đây:
1)Giá hạ cánh tàu bay (Landing Charges): là loại giá chủ yếu nhất có liênquan trực tiếp đến hoạt động của tàu bay tại các Cảng hàng không Giá nàyđược thu từ các đối tượng sử dụng đường băng, đường lăn và các khu vực sân
đỗ, bao gồm cả hệ thống chiếu sáng đi kèm và việc cung cấp dịch vụ điềuhành tiếp cận và di chuyển trên sân đỗ
2)Giá phục vụ hành khách (Passenger Service Charges): Là loại giá chủyếu liên quan trực tiếp đến hoạt động của hành khách tại các Cảng hàngkhông
Trang 133)Giá sử dụng sân đậu tàu bay (Parking Charges) là loại giá trực tiếp liênquan đến hoạt động của tàu bay trong khoảng thời gian sau khi hạ cánh vàtrước khi cất cánh tại các Cảng hàng không Loại giá này là các khoản thu từcác nhà khai thác tàu bay cho việc sử dụng một khoảng diện tích trong phạm
vi Cảng hàng không để đậu tàu bay (đối với các trường hợp không tính gộpvào phí hạ cánh)
4)Giá đảm bảo an ninh (Security Charges) là giá của dịch vụ đảm bảo anninh cho tàu bay, hành khách, hành lý, hàng hóa tại các Cảng hàng không.5)Giá sử dụng cầu dẫn hành khách (Aerobridge Charges): đây là loại giáchỉ có tại các Cảng hàng không đã trang bị các loại cầu dẫn khách chuyêndụng Giá này được thu từ các Hãng hàng không sử dụng cầu dẫn hành kháchcho việc nhận, trả khách từ Nhà ga đến tàu bay
6)Giá sử dụng băng truyền trả hành lý (Conveyor Belt Charges): Đây làgiá của dịch vụ cung ứng hệ thống thiết bị băng truyền trả hành lý và nhâncông phục vụ việc xếp - dỡ hành lý Giá này được thu từ các Hãng hàngkhông
7)Giá phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất (Ground Handling Charges):
Là giá của một loạt các dịch vụ trong dây chuyền phục vụ tàu bay - hànhkhách - hành lý và hàng hóa cho các Hãng hàng không Đó có thể là giá trọngói cho toàn bộ các dịch vụ hoặc giá cho từng dịch vụ như: làm vệ sinh tàubay, làm vệ sinh lốp tàu bay, khởi động điện - khí nén, thổi khí lạnh (đối vớitàu bay)…
* Giá dịch vụ phi hàng không:
Là giá của các sản phẩm dịch vụ không trực tiếp liên quan đến quy trìnhphục vụ tàu bay, hành khách, hành lý và hàng hoá tại Cảng hàng không, haynói cách khác là các loại giá còn lại không thuộc danh mục giá hàng không đãnêu ở phần trên
Trang 14Danh mục các loại giá này thường rất phong phú, thay đổi theo từng giaiđoạn phát triển của Cảng hàng không Ở mỗi Cảng hàng không khác nhau,danh mục các loại giá này cũng khác nhau Tuy nhiên, có thể liệt kê một sốloại giá dịch vụ phi hàng không chủ yếu sau đây :
1) Giá nhượng quyền khai thác: Là loại giá quan trọng, phổ biến ở hầu
hết các Cảng hàng không trên thế giới Giá nhượng quyền là giá mà các đơn
vị lĩnh nhượng phải trả cho quyền được kinh doanh, cung cấp các dịch vụhàng không nói chung và nhà ga hành khách nói riêng, cũng như các dịch vụđược cung cấp từ các nhà chức trách Cảng hàng không để hỗ trợ cho các hoạtđộng của họ
- Các hoạt động nhượng quyền liên quan trực tiếp tới khai thác các dịch
vụ vận tải tại Cảng hàng không bao gồm: Kinh doanh cung cấp xăng dầu
hàng không; Cung cấp suất ăn trên máy bay; Dịch vụ kỹ thuật mặt đất…
- Các hoạt động nhượng quyền khác: Kinh doanh hàng chịu thuế; Kinh
doanh nhà hàng, quầy bar; Kinh doanh hàng miễn thuế (Duty Free Shop);Kinh doanh khách sạn, giải trí; Kinh doanh xăng dầu mặt đất, sửa chữa ôtô;Dịch vụ bưu điện, ngân hàng,…
2) Giá cho thuê mặt bằng, cơ sở hạ tầng, phương tiện: là giá Cảng hàngkhông cho các Hãng hàng không hay các đơn vị cần đặt văn phòng tại Cảngthuê Giá này bao gồm giá phải trả cho phần mặt bằng thuê, các trang thiết bị,điện, nước, dịch vụ đi kèm (nếu có)
3) Giá cho thuê quảng cáo, giá dịch vụ quảng cáo: Đây là các loại giádịch vụ tương đối đặc biệt và phổ biến tại các Cảng hàng không Các công ty,nhà hàng, khách sạn cần quảng cáo tại Cảng hàng không sẽ phải trả mộtkhoản tiền cho việc thuê mặt bằng, các vị trí trong và ngoài nhà ga phục vụcho mục đích quảng cáo
Trang 154) Giá vận tải đường bộ: Là giá chuyên chở hành khách, hàng hoá từcác khu vực lân cận đi/đến các Cảng hàng không của địa phương Trên thực
tế, các Cảng hàng không thường ít thực hiện dịch vụ này mà chỉ tham gia với
tư cách bên nhượng thầu khai thác dịch vụ
* Giá dịch vụ thiết yếu khác:
Bao gồm các loại giá dịch vụ cơ bản như thông tin liên lạc, điện, nước.Đối với các dịch vụ này các Cảng hàng không cũng chủ yếu tham gia với tưcách nhượng quyền khai thác hoặc cung cấp một cách hạn chế
1.2.3 Cơ cấu giá dịch vụ hàng không
Cơ chế quản lý và khung giá dịch vụ tại các Cảng hàng không có sự khácnhau tùy theo điều kiện pháp lý và sở hữu của từng nước Tuy nhiên dù làdịch vụ hàng không hay dịch vụ phi hàng không thì giá dịch vụ cũng đều phảiđược xây dựng dựa trên cơ cấu chi phí tại Cảng hàng không
Phân tích và so sánh các chi phí Cảng hàng không khó hơn đánh giá cácthu nhập Cảng hàng không do đặc thù của các sản phẩm, dịch vụ được cungcấp tại Cảng hàng không phải có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều khâu.Đây là đặc điểm nổi bật của ngành công nghiệp dịch vụ tiên tiến này Hơnnữa, việc xem xét chi phí ở các Cảng hàng không trên thế giới cũng khácnhau và không có một cơ cấu chi phí mẫu nào cho tất cả các Cảng hàngkhông đang hoạt động trên toàn cầu Vì thế xác định chi phí Cảng hàng không
là công việc không dễ dàng
Cơ cấu giá dịch vụ hàng không có thể bao gồm các khoản sau:
* Chi phí:
- Chi phí tiền lương:
Là những khoản thanh toán trực tiếp cho bộ máy quản lý và nhân viênlàm việc tại Cảng, cũng như các chi phí cho BHXH, BHYT, chi trả trợ cấp,
Trang 16các chi phí liên quan đến việc thanh toán cho nhân viên, các khoản trợ cấp đilại và các chi phí khác liên quan đến việc trả lương của Cảng hàng không Nhìn chung chi phí tiền lương thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phícủa Cảng hàng không và phụ thuộc nhiều vào việc tổ chức khai thác của cácnhà chức trách Cảng hàng không Nếu như mọi hoạt động cung cấp dịch vụđược thực hiện bởi các nhà chức trách Cảng hàng không thì tất yếu số lượnglao động sẽ tăng lên và kéo theo chi phí lao động tăng lên Ngược lại, nếu cáchoạt động ở Cảng hàng không được nhượng quyền khai thác cho các công tyhàng không, hay các tổ chức kinh doanh khác thì số lượng nhân viên củaCảng hàng không sẽ ít đi và chi phí lao động sẽ giảm.
- Chi phí khấu hao cơ bản:
Đây là một trong những thành phần chủ yếu của chi phí Cảng hàng không
Nó phụ thuộc vào quy tắc chi phí của mỗi Cảng hàng không khác nhau, nếunhư không tính chi phí khấu hao cần thiết cho tài sản của Cảng hàng khôngthì chi phí cơ bản sẽ chiếm tỷ lệ thấp trong tổng chi phí, đặc biệt là khinhững tài sản này được xây dựng từ nguồn kinh phí của Chính phủ hoặccác nguồn bên ngoài khác
Khấu hao tài sản cố định là chí phí cho việc sử dụng trang thiết bị,phương pháp tính khấu hao được Cảng hàng không tính toán theo qui địnhcủa Nhà nước
- Chi phí nguyên, nhiên, vật liệu:
Bao gồm các chi phí về nguyên, nhiên, vật liệu; vật tư, công cụ
Chi phí nguyên, nhiên, vật liệu, vật tư, công cụ: Là các chi phí cho linhkiện thay thế; các nguyên vật liệu tiêu hao và cung cấp năng lượng như nhiênliệu và điện năng mà Cảng hàng không thực tế đã đưa vào sử dụng trong quátrình vận hành, khai thác và bảo dưỡng các cơ sở vật chất cũng như cung cấpdịch vụ Ngoài ra còn bao gồm các đồ dùng, các công cụ và các thiết bị lâu
Trang 17bền như phương tiện và các thiết bị khi không được xem là tài sản tính khấuhao, cùng các chi phí về điều hoà nhiệt độ, chiếu sáng, nước, vệ sinh, vănphòng phẩm và chi phí của bưu điện.
- Chi phí đào tạo, bồi dưỡng: đây là một khoản chi phí quan trọng trong
cơ cấu chi phí của Cảng hàng không Đó là các khoản chi liên quan đến việchuấn luyện, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công nhân viên của Cảng
- Các chi phí khác:
+ Chi phí các dịch vụ thuê ngoài: đó là các khoản chi cho việc thuê bấtđộng sản và các thiết bị sử dụng cho mục đích khai thác và bảo dưỡng, sửachữa, kiểm tra, chạy thử thiết bị Chi phí này cũng bao gồm cả chi phí chocông tác kiểm soát không lưu, khí tượng, không báo
+ Lãi phải trả: Là khoản lãi phải trả cho các khoản vay trong năm dùđược thanh toán hay chưa Riêng đối với lãi của các hạng mục trong quá trìnhthực hiện đầu tư xây dựng được tính vào hạng mục tài sản cố định
+ Các chi phí kiểm tra, kiểm định: đó là chi phí kiểm tra các thiết bị dẫnđường vô tuyến và các đài rađa được sử dụng cho hoạt động của sân bay.Việc tính toán chính xác các khoản chi phí tại Cảng hàng không nhằm tạo
cơ sở để tính toán và định giá cho các dịch vụ hàng không mà Cảng cung cấp
* Lợi nhuận:
Thông thường, lợi nhuận của Cảng hàng không trước hết được chi trảcho các khoản chi để thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước Phần còn lại đượcphân bổ vào các quỹ của Cảng hàng không như: Quỹ Phát triển sản xuất, Quỹkhen thưởng phúc lợi, Quỹ dự phòng tài chính
Tuỳ thuộc vào chiến lược kinh doanh, vào mục đích của nhà chức tráchCảng hàng không mà xác định mức lợi nhuận dự kiến đối với từng loại dịch
vụ Mức lợi nhuận dự kiến mà các nhà chức trách Cảng hàng không đưa rahàng năm là không cố định Đối với những dịch vụ mới phát sinh và cần thu
Trang 18hút khách hàng, nhà chức trách Cảng hàng không có thể chấp nhận lợi nhuận
âm trong một thời gian nhất định nhằm đạt được mục đích của mình Nhưng
có những loại dịch vụ yêu cầu phải thu được lợi nhuận để bù đắp chi phí,thậm chí đảm bảo bù lỗ cho những dịch vụ mới phát sinh Bên cạnh chấtlượng dịch vụ thì yếu tố lợi nhuận luôn được các nhà chức trách Cảng hàngkhông quan tâm hàng đầu và được điều chỉnh một cách linh hoạt nhằm đạtđược mục tiêu trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp
1.3 Nội dung quản lý và điều hành giá dịch vụ hàng không
1.3.1 Phương thức quản lý và điều hành giá dịch vụ hàng không.
Quản lý và điều hành giá dịch vụ trong dài hạn là một nội dung của côngtác lập kế hoạch dài hạn về giá dịch vụ tại Cảng, thường phụ thuộc vào tínhchu kỳ phát triển của nền kinh tế thế giới, của nền kinh tế đất nước và củariêng ngành hàng không
Quản lý và điều hành giá dịch vụ trong ngắn hạn thường là theo năm tàichính Để quản lý và điều hành giá dịch vụ trong ngắn hạn được hiệu quả đòihỏi phải khảo sát thị trường và lập kế hoạch kiểm tra chi tiết nhằm xác địnhchính xác từng thời gian vận dụng chính sách giá Ví dụ: kiểm tra việc điềuchỉnh giá dịch vụ phục vụ tàu bay vào mùa du lịch (mùa cao điểm) có thể caohơn giá dịch vụ vào mùa thấp điểm; giá dịch vụ vào thời gian thấp điểm trongngày có thể thấp hơn giá dịch vụ vào thời gian cao điểm; hay chính sách giảmgiá đối với các Hãng hàng không dự kiến mở đường bay mới trong năm tàichính Kế hoạch về giá được lập ra và định hướng điều chỉnh đều phải đượckiểm tra để đảm bảo chấp hành nghiêm các quy định đề ra, phát hiện các hiệntượng vi phạm để xử lý kịp thời
Ngành hàng không dân dụng chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tếcủa mỗi quốc gia nên hầu hết các Chính phủ đều kiểm soát giá một số dịch vụhàng không quan trọng trong đó bao gồm cả các dịch vụ tại Cảng, nhằm đảm
Trang 19bảo lợi ích cộng đồng và thực hiện các mục tiêu kinh tế - chính trị- xã hội củaNhà nước Còn lại một số dịch vụ thuộc quyền định giá của nhà chức tráchCảng hàng không nên Nhà nước chỉ quản lý về khung giá, mức giá cụ thể là
do Cảng hàng không tự quyết định
Vì những nguyên nhân nêu trên, có hai phương thức quản lý và điềuhành giá dịch vụ hàng không đó là Nhà nước quản lý và doanh nghiệp tựquản lý
Quản lý giá ở cấp Nhà nước:
Các Cảng hàng không nói riêng và ngành hàng không Việt Nam nóichung đều chịu sự quản lý về giá của Nhà nước thông qua Cục quản lý giá BộTài chính và Cục Hàng không Việt Nam Nhà nước quy định cơ chế quản lýgiá đối với các Cảng hàng không như sau:
- Để thúc đẩy hoạt động của ngành hàng không, giá dịch vụ hàng khôngphải được xây dựng dựa trên cơ sở chi phí hợp lý, có tính đến khả năng thuhồi vốn đầu tư và tạo tích luỹ cho các doanh nghiệp, đồng thời phải đảm bảomức giá phù hợp với các nước trong khu vực, thực hiện các khuyến cáo tronglĩnh vực giá của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO Giá dịch vụhàng không còn phải được xây dựng trên cơ sở chế độ, chính sách của Nhànước trong lĩnh vực hàng không; đảm bảo hài hòa lợi ích của đơn vị và củakhách hàng; không được nâng giá bất hợp lý do tính chất độc quyền trongkinh doanh
- Đối với các loại hình kinh doanh, dịch vụ có tính độc quyền cao, liênquan trực tiếp hoặc có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng cơ sở hạ tầng tạiCảng hàng không, hoặc có ảnh hưởng trực tiếp tới các đối tượng sử dụng vậntải hàng không và các nhà vận chuyển có hoạt động tại các Cảng hàng khôngtrên lãnh thổ Việt Nam, Nhà nước quản lý giá thông qua việc quy định cácloại giá hoặc quy định nguyên tắc định giá, khung giá của các loại hình dịch
Trang 20vụ này Đối với các loại hình kinh doanh dịch vụ khác: các đơn vị tính giátheo cơ chế thị trường, nhưng không được lợi dụng thế độc quyền liên minhđộc quyền để nâng giá, ép giá khách hàng và phải chịu sự quản lý chung vềgiá của các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước là Cục quản lý giá Bộ Tàichính và Cục Hàng không Việt Nam.
Nhà nước - trực tiếp là Cục hàng không Việt Nam và Cục quản lý giá
Bộ Tài chính xây dựng hoặc hướng dẫn các Cảng hàng không xây dựngphương án và thẩm định các loại giá sau: Giá hạ/cất cánh tàu bay; Giá soichiếu an ninh; Giá phục vụ hành khách tại Cảng hàng không;
Nhà nước, mà cụ thể là Cục hàng không Việt Nam căn cứ vào tình hìnhthực tế hoặc theo đề nghị của các Cảng hàng không để quy định khung giá,nguyên tắc định giá cho các loại giá dịch vụ sau:
+ Giá làm mát phanh, vệ sinh lốp tàu bay;
+ Giá kéo dắt tàu bay;
+ Giá cho thuê cầu hành khách;
+ Giá sử dụng băng truyền trả hành lý;
Loại giá dịch vụ do Nhà nước quản lý trực tiếp hoàn toàn cứng nhắc,việc quản lí và điều hành loại giá dịch vụ này phải đảm bảo đúng giá hoặctrong khung giá Nhà nước qui định, Cảng hàng không không có quyền thayđổi, nếu muốn phải đề nghị và chỉ được thay đổi khi Nhà nước chấp nhậnbằng văn bản
Quản lý giá ở cấp độ doanh nghiệp:
Ở cấp độ doanh nghiệp, công tác quản lý giá có thể là chủ động định giácho các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp theo đúng luật pháp ban hành,hoặc ở góc độ thực hiện các loại giá, khung giá và xây dựng giá theo đúngnguyên tắc định giá được Nhà nước quy định
Trang 21Ngoài những dịch vụ do Nhà nước quản lý, nhà chức trách Cảng hàngkhông có quyền xây dựng và điều hành giá các loại dịch vụ mà mình cungcấp Xuất phát từ nhu cầu thị trường và trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắchoặc khung giá do Cục Hàng không Việt Nam và Cục quản lý giá Bộ Tàichính quy định, nhà chức trách Cảng hàng không quy định mức giá cụ thể chocác loại giá đã được quy định khung giá, nguyên tắc định giá nói trên Cácloại giá dịch vụ do doanh nghiệp tự định giá gồm:
+ Giá canh gác máy bay;
+ Giá trông giữ xe đạp, xe máy tại Cảng hàng không;
+ Giá cho thuê mặt bằng kinh doanh;
+ Giá dịch vụ phục vụ mặt đất;
+ Giá các loại dịch vụ khác
Nhà chức trách Cảng hàng không có thể quản lý và điều hành giá dịch vụthông qua các công cụ điều tiết giá như chính sách giá theo mùa vụ, chínhsách giảm giá để thu hút khách hàng thông qua các hợp đồng cung cấp dịch
vụ với khách hàng và các qui định hoạt động tại Cảng
Khi phát sinh loại hình dịch vụ mới, chưa được Nhà nước quy định cụthể thì Cảng hàng không được phép tạm thời áp dụng mức giá thoả thuận vớikhách hàng hoặc mức giá do Cảng hàng không quy định Trong vòng 15 ngày
kể từ ngày ban hành giá dịch vụ nhà chức trách Cảng hàng không phải báocáo bằng văn bản phương án hoặc khung giá cho Cục Hàng không Việt Nam
và Cục quản lý giá Bộ Tài chính xem xét, quyết định (trừ các loại giá Cảnghàng không được phép tự quyết định nêu trên)
Trong quá trình thực hiện, xuất phát từ yêu cầu thực tế, Cảng hàngkhông được quyền xây dựng và điều chỉnh mức tăng giảm đối với giá dịch vụ
do đơn vị tự định giá, tuy nhiên phải đăng ký lại trước khi áp dụng chính thứcmức giá mới chậm nhất là 15 ngày (trừ các loại giá do Cục Hàng không quy
Trang 22định nêu trên) Các trường hợp có sự thay đổi cả về nội dung thì phải đăng kýlại nội dung ngay khi áp dụng nội dung mới.
Tuy nhiên để đảm bảo xác định đúng giá dịch vụ, một yêu cầu quantrọng là nhà chức trách Cảng hàng không phải xác định thật chi tiết chi phíđối với từng loại dịch vụ mà mình cung cấp từ đó có thể đưa ra các mức giálinh hoạt phù hợp với từng thời điểm cụ thể
1.3.2 Nội dung quản lý và điều hành giá dịch vụ hàng không.
1.3.2.1 Nội dung quản lý giá dịch vụ hàng không
a) Quản lý công tác định giá
Nguyên lý cơ bản có tính kinh điển của kinh tế học về sự hình thành giátrên thị trường là: giá cả hàng hóa, dịch vụ được hình thành từ mối quan hệcung cầu về hàng hóa, dịch vụ đó Trong đó, người bán luôn muốn bán hànghóa, dịch vụ của mình với mức giá cao nhất nhằm tối đa hóa thu nhập Cònngười mua luôn muốn mua với mức giá thấp nhất nhằm tối thiểu hóa chi phí
Vì thế, họ phải trao đổi với nhau để đi đến một mức giá thống nhất mà ở đóngười bán đồng ý bán và người mua đồng ý mua
Tuy nhiên, không phải bất cứ người bán nào, người mua nào và bất cứthời điểm nào trên thị trường giá cả cũng ở mức cân bằng, mà nó luôn luônbiến động, luôn phải chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau Do vậy,trong từng thời kỳ nhất định, việc định giá của doanh nghiệp đối với hànghóa, dịch vụ của mình không thể chỉ đơn thuần tuân theo quy luật cung cầucủa thị trường Điều đó buộc các doanh nghiệp phải xây dựng một kế hoạchcho việc định giá sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình, nói cách khác cácdoanh nghiệp phải xây dựng được chính sách giá
* Mục tiêu của chính sách giá:
Để xây dựng được một chính sách giá hợp lý, doanh nghiệp ngoài việcphân tích kỹ các nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ và giá dịch vụ cần phải quán
Trang 23triệt mục tiêu chính sách giá Mục tiêu của chính sách giá dịch vụ hàng khôngcần đạt được là:
Một là, Phải tạo lập và phát triển được các nguồn thu một cách hài hòa,
hợp lý lợi ích xét từ phía Cảng hàng không và từ phía khách hàng
Trên thực tế, lợi ích của các Cảng hàng không và khách hàng (còn là quan
hệ giữa người mua và người bán) luôn có xu hướng mâu thuẫn khi các Cảnghàng không luôn mong muốn thu hồi vốn đầu tư nhanh nhất, mức lãi là lớnnhất còn khách hàng lại luôn muốn điều ngược lại là bỏ ra chi phí thấp nhất
có thể nhưng lại yêu cầu được hưởng dịch vụ tốt nhất Để đạt được mục tiêunày, quan điểm về lợi ích cần phải được thống nhất: Phía các Cảng hàngkhông đó là việc bù đắp được chi phí đã bỏ ra và có mức lợi nhuận hợp lý (cóthể phải chấp chận cung cấp những loại dịch vụ mà không đạt được lợi nhuậnmong muốn) Còn từ phía khách hàng, đó là sự hài lòng của phần lớn kháchhàng đối với số lượng và chất lượng của dịch vụ mà họ nhận được từ Cảnghàng không
Hai là, Phải đảm bảo được tính cạnh tranh, tính phù hợp nhất định so với
giá dịch vụ cùng loại trên thị trường khu vực và thế giới
Mục tiêu này thể hiện xu thế toàn cầu hóa, hội nhập về kinh tế của tất cảcác nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới hiện nay Trong điều kiện hiệnnay, không một Cảng hàng không nào được phép tự cho mình “một mình mộtchợ” trái với các thông lệ và mặt bằng chung của khu vực cũng như thế giới
* Yêu cầu của chính sách giá:
Một là, Tuân thủ các quy định của Nhà nước về xây dựng và quản lý giá dịch vụ: Việc xây dựng giá dịch vụ hàng không cũng như giá dịch vụ nói
chung phải tuân theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước, cụ thể là: Pháplệnh Giá số 40/2002/UBTVQH10 ngày 26/4/2002; Quy chế tính giá tài sản,hàng hóa, dịch vụ ban hành kèm theo Quyết định số 06/2005/QĐ-BTC ngày
Trang 2418/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính; và một số văn bản liên quan khác.Trong quá trình xây dựng giá, TCT phải tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục,trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định Ví dụ: đối với dịch vụ
do Nhà nước định giá, TCT phải lập, trình phương án giá để Bộ Giao thôngvận tải (Cục hàng không Việt Nam), Cục quản lý giá Bộ Tài chính xem xét
và đề nghị Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định ban hành
Hai là, Giá dịch vụ phải đảm bảo bù đắp được chi phí và có lợi nhuận hợp lý Khai thác và cung cấp dịch vụ hàng không cũng là một hoạt động kinh
doanh vì vậy để Cảng hàng không tồn tại và phát triển thì giá dịch vụ hàngkhông phải được xây dựng dựa trên cơ sở chi phí hợp lý, đảm bảo thu hồi vốnđầu tư và có tích luỹ cho doanh nghiệp, phù hợp với chất lượng dịch vụ vàmức giá trung bình của cùng loại dịch vụ trong khu vực
Ba là, Đảm bảo tính linh hoạt Do đặc thù của Ngành hàng không có
tính thời vụ theo mùa trong năm, dịp lễ tết thường đông hơn ngày bìnhthường, mùa du lịch thường đông hơn các mùa khác trong năm thậm chí trongmột ngày lượng hành khách và tàu bay tập trung chủ yếu vào một số giờ nhấtđịnh Vào những thời điểm đó, Cảng hàng không phải tập trung nhân lực, vậtlực nhiều hơn, máy móc thiết bị hoạt động nhiều hơn Vì vậy việc định giádịch vụ cần phải linh hoạt phù hợp với từng thời kỳ, từng thời điểm khuyếnkhích khách hàng sử dụng dịnh vụ vào những thời gian thấp điểm nhằm hạnchế tình trạng quá tải của Cảng hàng không, có như vậy mới nâng cao đượchiệu quả và chất lượng của dịch vụ cung cấp đồng thời tăng doanh thu, tối đahóa lợi nhuận cho doanh nghiệp
Bốn là Đảm bảo tính công bằng đối với mọi khách hàng Dịch vụ cung
cấp tại Cảng hàng không là dịch vụ tiêu chuẩn và đồng nhất đối với tất cảkhách hàng sử dụng dịch vụ, vì vậy việc định giá dịch vụ phải đảm bảo tínhcông bằng Các nhà chức trách Cảng hàng không không thể tính giá dịch vụ
Trang 25phục vụ các Hãng hàng không nội địa cũng như hành khách đi các chuyến baynội địa thấp hơn các Hãng hàng không quốc tế và hành khách đi các chuyếnbay quốc tế trong cùng điều kiện thực hiện hoạt động hàng không Tuyệt đốikhông được nâng giá bất hợp lý do tính chất độc quyền trong kinh doanh.
* Quản lý công tác định giá dịch vụ hàng không
Quản lý công tác định giá dịch vụ hàng không là một nội dung quantrọng trong quản lý giá Để quản lý công tác định giá dịch vụ có hiệu quả thìcần phải xác định chính xác chi phí cấu thành nên dịch vụ
Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO đã đưa ra khuyến cáo vềcách xác định chi phí phục vụ cho công tác định giá dịch vụ hàng khôngnhằm đảm bảo tính thống nhất, cạnh tranh và công bằng Mặc dù chỉ mangtính chất khuyến cáo nhưng được các Hãng hàng không và các Cảng hàngkhông trên thế giới thừa nhận và áp dụng Những khuyến cáo cơ bản củaICAO trong việc xác định chi phí của các dịch vụ tại Cảng bao gồm:
Thứ nhất, Xác định chi phí Cảng hàng không một cách đầy đủ;
Nhà chức trách Cảng hàng không phải xác định giá dịch vụ dựa vào chiphí phát sinh, không được tính phí Cảng hàng không chỉ hoàn toàn dựa vàoviệc cho phép một tàu bay được quyền bay ra, bay vào hay bay qua lãnh thổcủa một nước
Thứ hai, Phải loại trừ các chi phí điều chuyển nội bộ để tránh trùng lặp
chi phí của Cảng hàng không;
Các chi phí Cảng hàng không phải được phân bổ hợp lý và đầy đủ cho cảdịch vụ hàng không và dịch vụ phi hàng không
Thứ ba, Phải loại trừ các chi phí không thuộc Cảng hàng không như chi
phí phục vụ các chuyến bay quân đội hoặc phục vụ Nhà nước
Thứ tư, Giá dịch vụ phục vụ tàu bay của Hãng hàng không của quốc gia
thành viên này không được cao hơn các quốc gia thành viên khác trong cùng
Trang 26hoạt động vận tải hàng không quốc tế tương tự Nói cách khác là phải thựchiện nguyên tắc bình đẳng, không được có sự phân biệt đối xử giữa Hãnghàng không của quốc gia này với một Hãng hàng không của quốc gia khác,giữa Hãng hàng không trong nước hay nước ngoài.
Như vậy, công tác định giá dịch vụ hàng không vừa phải dựa vào chi phíthực tế cấu thành nên dịch vụ, vừa phải dựa vào mức giá trung bình của cácCảng hàng không trong khu vực và đảm bảo sự bình đẳng để xác định giá cácdịch vụ tại Cảng hàng không Cách định giá này giúp cho nhà chức tráchCảng hàng không đưa ra được mức giá phù hợp với tình hình thực tế và mặtbằng chung
Theo khuyến cáo của ICAO, nhà chức trách của các Cảng hàng không cóthể xác định giá dịch vụ tại Cảng như sau:
Đối với các dịch vụ hàng không:
Các dịch vụ hàng không thường là các dịch vụ liên quan đến tàu bay vàhành khách đi tàu bay Vì vậy việc định giá dịch vụ hàng không trước hết phảicăn cứ vào cơ cấu chi phí Cảng hàng không, bên cạnh đó còn phải dựa vào:Trọng lượng cất cánh tối đa (MTOW) hoặc trọng lượng tối đa cho phép đượcghi trong chứng chỉ khả phi của máy bay; Đường kính (diện tích chiếm giữ)của tàu bay; Số ghế thiết kế của tàu bay; Số lượng hành khách qua Cảng; Sốtấn hàng hoá được vận chuyển qua Cảng để làm cơ sở tính toán
Chi phí cấu thành các dịch vụ hàng không: Yếu tố cấu thành nên chi phícủa dịch vụ hàng không thường khác nhau giữa các Cảng hàng không và baogồm: Chi phí vận hành, bảo dưỡng và các chi phí quản lý hành chính; Chi phíkhấu hao tài sản, chi phí vay vốn Ví dụ: Chi phí cho dịch vụ hạ cất cánh cóthể bao gồm: Chi phí đường lăn, đường băng, sân đỗ máy bay, Chi phí hệthống chiếu sáng; Chi phí an toàn, cấp cứu và cứu hoả, Chi phí kiểm soát
Trang 27không lưu, dịch vụ khí tượng Chi phí của Cảng hàng không cần phải đượcphân bổ hợp lý và đầy đủ cho từng dịch vụ hàng không.
Đối với các dịch vụ phi hàng không:
Chi phí của các dịch vụ phi hàng không tương tự chi phí của dịch vụhàng không Vì cả hai được xác định từ cùng một tổng chi phí của các hoạtđộng tạo ra doanh thu hay không tạo ra doanh thu, các chi phí này đều đượcphân bổ cho cả các hoạt động tạo ra doanh thu và không tạo ra doanh thu Đểxác định chi phí cho từng dịch vụ phi hàng không, trước hết cần xác định cơcấu tạo ra doanh thu của từng hoạt động Chi phí của các dịch vụ như: điện,nước, điều hoà nhiệt độ, dịch vụ thông tin liên lạc… phải được phân bổ chocác dịch vụ phi hàng không trên cơ sở định mức sử dụng Theo chủ thể cungcấp dịch vụ, dịch vụ phi hàng không có thể phân thành hai loại là nhượngquyền khai thác và các dịch vụ thương mại khác
- Giá nhượng quyền khai thác: Nhượng quyền khai thác là việc chophép các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tại Cảng hàng không và thu mộtphần phí dựa vào tỷ lệ phần trăm trên doanh thu của loại dịch vụ đượcnhượng quyền Tuy nhiên trước khi quyết định mức giá nhượng quyền (tỷ
lệ phần trăm), Cảng hàng không cần phải ước tính các chi phí phải trả chonhà xưởng, đất đai của từng loại hình thuê, nhượng liên quan để xác lậpmức giá cho thuê, phí nhượng quyền nhỏ nhất đối với từng trường hợp
- Giá các dịch vụ thương mại khác: Căn cứ vào cơ cấu chi phí phân bổcho từng loại dịch vụ, nhà chức trách Cảng hàng không xác định giá dịch vụdựa trên cơ sở chi phí được phân bổ của dịch vụ và yếu tố đặc thù cũng nhưlợi thế thương mại tại Cảng hàng không
Ngoài hai yếu tố cơ bản là chi phí cấu thành nên dịch vụ và mặt bằng giácủa các Cảng hàng không trong khu vực, quản lý việc định giá còn phải căn
cứ vào tình hình cung cấp dịch vụ của các Cảng hàng không cạnh tranh trong
Trang 28khu vực và các dịch vụ thương mại có thể thay thế tại Cảng hàng không
b) Kiểm tra việc thực hiện các quy định về giá
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các qui định về giá dịch vụ là mộttrong những khâu quan trọng không những của công tác quản lý giá mà còncủa công tác điều hành giá
Nhà nước kiểm tra việc chấp hành các quy định về giá tại các Cảng hàngkhông một cách độc lập hoặc có thể phối hợp với các ban ngành có liên quanthành lập các đoàn kiểm tra nhằm kiểm tra tình hình thực hiện các qui định vềgiá dịch vụ của Nhà nước, các nguyên tắc tính giá, xây dựng giá tại các Cảnghàng không Các Cảng hàng không phải có trách nhiệm báo cáo tình hìnhthực hiện các quy định về giá lên các cấp có thẩm quyền theo qui định Thôngqua công tác kiểm tra đánh giá việc thực hiện các quy định giá sẽ giúp choNhà nước và các cơ quan có thẩm quyền xử lý kịp thời các trường hợp viphạm theo quy định hiện hành đồng thời bổ sung, sửa đổi các trường hợpgiá, khung giá không còn phù hợp với tình hình doanh nghiệp cũng như tìnhhình thị trường
Các Cảng hàng không, thông qua kiểm tra nhằm đánh giá hiệu quả củatừng dịch vụ, những bất cập của từng mức giá cụ thể đối với từng loại dịch
vụ và khách hàng để có những điều chỉnh cho phù hợp Thông qua kiểm traviệc thực hiện các qui định về giá, nhà chức trách Cảng hàng không cònchấn chỉnh được bộ máy thực hiện thu dịch vụ nhằm đạt hiệu quả kinhdoanh
Nội dung kiểm tra việc thực hiện các qui định về giá dịch vụ bao gồm:
Tính hợp lí của chi phí tính cho từng loại dịch vụ: từng loại dịch
vụ cụ thể đã tính đúng, tính đủ chi phí hay chưa?
Sự phù hợp về mức giá dịch vụ đối với từng loại dịch vụ cụ thể: sosánh mức giá từng loại dịch vụ của Việt Nam với các nước trong khu vực, đối
Trang 29với các loại giá do doanh nghiệp tự định giá có thể so sánh giữa các Cảnghàng không trong nước với nhau
Căn cứ pháp lý và sự phù hợp trong định giá dịch vụ đối với cáctập khách hàng
Tình hình chấp hành các qui định của Nhà nước về giá dịch vụ trong việc định giá, triển khai áp dụng các quyết định giá trong thực tiễn của doanhnghiệp
Tình hình chấp hành các quy định về giá đối với giá dịch vụ doTCT ban hành nhằm đảm bảo các bộ phận thu dịch vụ chấp hành nghiêmchỉnh, từ đó phát hiện các sai sót và xử lý kịp thời
1.3.2.2 Nội dung điều hành giá dịch vụ hàng không
Trong nền kinh tế thị trường điều hành giá dịch vụ là một nội dung quantrọng trong quản lý của doanh nghiệp, điều hành giá dịch vụ nhằm đạt đượcmục đích kinh doanh đã đề ra Nội dung cơ bản của điều hành giá dịch vụ baogồm: Lập kế hoạch giá; Nghiên cứu thị trường và xử lý thông tin kinh tế trongtừng thời kỳ; Điều chỉnh giá dịch vụ trong từng thời kỳ phục vụ mục đíchkinh doanh của doanh nghiệp
Do đặc thù của ngành hàng không và đặc trưng của dịch vụ hàng khôngnên giá dịch vụ hàng không có những đặc điểm riêng Để đảm bảo hoạt độngkinh doanh của Cảng hàng không trong từng thời kỳ đồng thời hướng tới sựphát triển bền vững trong xu thế hội nhập, bên cạnh chất lượng dịch vụ thìmức giá của từng loại dịch vụ là công cụ cạnh tranh của Cảng hàng không Một nguyên tắc trong điều hành giá mà Tổ chức hàng không dân dụngquốc tế khuyến cáo các Hãng hàng không cũng như các Cảng hàng không
đó là: cần xác lập quyền ưu tiên cho việc chọn lựa những hoạt động nàomang lại doanh thu thuần cao nhất cũng như điều tiết giá linh hoạt có tínhđến sự thuận tiện cho khách hàng
Trang 30Nội dung công tác điều hành giá dịch vụ có thể tóm tắt qua Sơ đồ sau
So sánh với giá của các đối thủ cạnh tranh
Tổng hợp, phân tích các thông tin về thị trường và giá dịch vụ
Ra quyết định điều chỉnh giá
Thẩm định đề nghị điều chỉnh giá
dịch vụ Xây dựng phương án đề nghị điều
chỉnh giá dịch vụ
Trang 31Toàn bộ nội dung công việc trong Sơ đồ trên do Ban Nghiên cứu vàĐiều hành giá thực hiện và đề xuất phương án điều chỉnh giá dịch vụ.
Để điều hành giá một cách linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế cầnphải căn cứ vào các chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước trongtừng thời kỳ Việc cập nhật và nắm bắt các chính sách mới giúp cho cácdoanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp hàng không nói riêng địnhhướng ưu tiên phát triển dịch vụ của mình đồng thời đưa ra chính sách giáphù hợp với từng loại dịch vụ và xu thế phát triển kinh tế chung
Để điều hành giá dịch vụ có hiệu quả thì việc thu thập thông tin từ cáckhách hàng và các đối thủ cạnh tranh là vô cùng quan trọng Các nội dung cầnquan tâm về giá của các đối thủ cạnh tranh thường là chất lượng dịch vụ, cơcấu giá, mức giá cụ thể của từng loại dịch vụ Trên cơ sở thông tin về doanhnghiệp cạnh tranh và dịch vụ có thể thay thế mà nhà chức trách Cảng hàngkhông đưa ra các mức giá phù hợp
Một nội dung cần quan tâm để điều hành giá dịch vụ đạt hiệu quả cao làviệc xác định và xây dựng được biểu đồ và tần suất sử dụng dịch vụ của từngHãng hàng không, theo từng mùa vụ và từng thời điểm trong ngày nhằm đưa
ra các mức giá áp dụng cho phù hợp với từng Hãng hàng không, từng mùahay từng thời điểm trong ngày nhằm tối đa hóa hiệu suất sử dụng dịch vụ vàđiều tiết tần suất sử dụng dịch vụ cho phù hợp
Bộ phận điều hành phải nghiên cứu các yếu tố về thị trường, khách hàng
và các đối thủ cạnh tranh, để từ đó xác định sẽ điều chỉnh giá theo hướng nào.Đối với dịch vụ hàng không, có một số phương pháp điều chỉnh giá sau đây:
- Chiết khấu giá (discounting): do đặc thù của ngành hàng không, các
phương pháp chiết giá được sử dụng gồm:
Chiết giá khuếch trương thương mại, được sử dụng trong trườnghợp Cảng hàng không khai trương một loại dịch vụ mới tại Cảng
Trang 32 Chiết giá thanh toán nhanh, nhằm khuyến khích các Hãng hàngkhông thanh toán trước thời hạn, các khoản chiết giá này thường được đưangay vào điều khoản thanh toán của hợp đồng cung cấp dịch vụ với các Hãnghàng không.
Chiết giá số lượng, nhằm khuyến khích các Hãng hàng không tăngtần suất bay đi/đến Cảng hàng không Loại chiết giá này được thực hiện bằngcách áp dụng mức giá giảm cùng với việc phân khu vực xử lý hành khách củatừng Hãng hàng không tại Cảng hàng không
Chiết giá theo mùa, theo thời điểm trong ngày, loại chiết giá nàynhằm điều tiết tần suất bay đi/đến, tần suất sử dụng dịch vụ tại Cảng hàngkhông theo mùa trong năm và theo thời điểm trong ngày
- Định giá để quảng cáo: Việc áp dụng phương pháp định giá để quảng
cáo chỉ được các Cảng hàng không sử dụng trong trường hợp quảng bá hìnhảnh của mình ra thế giới nhằm lôi kéo nhiều Hãng hàng không bay đi/đếnCảng hoặc phục vụ mục đích quảng bá hình ảnh đất nước theo yêu cầu củangành hàng không và của Nhà nước
- Định giá theo địa lý: Phương pháp này được nhà chức trách Cảng hàng
không thực hiện triệt để vì một nhà chức trách Cảng hàng không thường quản
lý một số Cảng hàng không, sân bay nhất định và chất lượng cơ sở vật chất vàdịch vụ tại mỗi Cảng hàng không, sân bay lại rất khác nhau vì vậy cần phảiđịnh giá dịch vụ theo chất lượng phục vụ của từng sân bay nhằm đưa ra mứcgiá hợp lý và tạo sự lựa chọn cho các Hãng hàng không
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và điều hành giá dịch vụ hàng không.
1.4.1 Nhóm nhân tố vĩ mô:
Chính sách của Nhà nước:
Đây là nhân tố thuộc môi trường vĩ mô và có ảnh hưởng rất lớn đến
Trang 33doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý và điều hành giá dịch vụ Đối với một sốgiá dịch vụ do Nhà nước quản lý mỗi khi có sự thay đổi trong chính sách giádịch vụ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của Cảng hàng không Các chínhsách của Nhà nước ảnh hưởng đến công tác quản lý và điều hành giá dịch vụhàng không như:
Một là, Cơ chế quản lý ngành hàng không của Nhà nước: Cơ chế, chính
sách quản lý ngành hàng không có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý vàđiều hành giá của nhà chức trách Cảng hàng không, đến quyền chủ động và
cơ chế áp dụng giá đối với từng khách hàng của Cảng hàng không
Hai là, Chính sách tài chính, tiền tệ của Nhà nước cũng là nhân tố ảnh
hưởng lớn đến quản lý và điều hành giá dịch vụ Ví dụ trong điều kiện lạmphát, giá cả đầu vào tăng mạnh nhưng giá dịch vụ hàng không thuộc danhmục giá Nhà nước quản lý không được tăng nhằm giảm lạm phát
Ba là, Chính sách kinh tế đối ngoại: do việc cung cấp dịch vụ phải
đảm bảo chất lượng dịch vụ quốc tế và mặt bằng giá dịch vụ tương đươngcác nước trong khu vực nên Chính sách kinh tế đối ngoại cũng ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc quản lý và điều hành giá dịch vụ hàng không
Ngoài ra các chính sách về tổ chức và lưu thông hàng hóa, chính sách
mở cửa bầu trời không chỉ là những công cụ quản lý vĩ mô của nền kinh tế
mà còn là công cụ quản lý và điều hành giá hữu hiệu
Sự phát triển của nền kinh tế đất nước: cũng ảnh hưởng tới công
tác quản lý và điều hành giá dịch vụ
Khi nền kinh tế phát triển, mức sống của người dân được nâng cao.Ngoài nhu cầu ăn, mặc, ở ngày một hoàn thiện thì các nhu cầu khác như đilại, du lịch cũng thay đổi theo Đối với họ, tiết kiệm về mặt thời gian sẽ làquan trọng hơn cả vì vậy lượng người có nhu cầu đi lại bằng đường hàngkhông sẽ tăng lên
Trang 34Trong xu thế mở cửa và hội nhập, Việt Nam ngày càng tham gia nhiềuvào các hoạt động, các diễn đàn trong khu vực và trên thế giới, đứng ra đăngcai tổ chức nhiều hội nghị lớn tầm cỡ quốc tế Điều đó giúp quảng bá rộng rãihình ảnh của Việt Nam ra nước ngoài khiến ngày càng nhiều các đối tác muốntìm hiểu và hợp tác với Việt Nam, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đếnViệt Nam.
Việc có nhiều Hãng hàng không muốn mở đường bay mới tới Việt Nam
và việc tăng chuyến của các Hãng hàng không đang hoạt động tại Việt Namcũng đồng nghĩa với việc sử dụng các dịch vụ hàng không ngày một tăng.Điều này ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý và điều hành giá Ngoài việclàm tăng doanh thu cho doanh nghiệp, quản lý và điều hành giá dịch vụ cũngphải linh hoạt trong từng thời kỳ và tùy từng đối tượng khách hàng cụ thể
Sự phát triển của ngành hàng không trong khu vực và trên thế giới
Sự phát triển của ngành hàng không trong khu vực và trên thế giới nóichung sẽ ảnh hưởng đến sản lượng tàu bay và hành khách qua Cảng Cùngvới sự phát triển của ngành hàng không nói chung sẽ kéo theo sức ép cạnhtranh giữa các Cảng hàng không trên thế giới trong việc lôi kéo các Hãnghàng không bay đi/đến Đứng trước sự phát triển không ngừng của ngànhhàng không trong khu vực và trên thế giới, hàng không Việt Nam muốn đứngvững và nâng cao vị thế thì cần phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch
vụ và giá cả cạnh tranh Tác động của yếu tố này tương tự như sự phát triểncủa nền kinh tế
Các khuyến cáo của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO:
Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO là một tổ chức nghề nghiệp
có qui mô toàn thế giới, các khuyến cáo của tổ chức này đưa ra tuy chỉ mang
Trang 35tính chất “khuyến cáo” nhưng được các Hãng hàng không và các Cảng hàngkhông trên toàn thế giới thừa nhận, vì vậy nó có tác động rất lớn tới hoạt độngquản lý và “qui tắc ứng xử” của các nhà chức trách Cảng hàng không và các Hãng hàng không.
Các yếu tố cạnh tranh : Quy luật cạnh tranh là tất yếu trong nền
kinh tế thị trường Luật hàng không đã cho phép các tổ chức, cá nhân thuộcmọi thành phần kinh tế được phép tham gia họat động hàng không nếu tuânthủ luật pháp Việt Nam và đáp ứng các điều kiện cơ bản đề ra về ngành vì đây
là một ngành đặc thù Điều này sẽ khuyến khích sự cạnh tranh lành mạnh giữacác doanh nghiệp hàng không và chất lượng dịch vụ sẽ được cải thiện Tuynhiên, để thu hút được khách hàng, không chỉ có chất lượng dịch vụ mà giádịch vụ cũng phải hết sức cạnh tranh và hợp lý Đây thực sự là một bài toánkhó đối với các cơ quan quản lý, các cấp lãnh đạo ngành hàng không trongviệc quản lý và điều hành giá dịch vụ
Chính sách giá của các Cảng hàng không các nước trong khu vực, kếhoạch mở đường bay của các Hãng hàng không đều có ảnh hưởng đến việcthu hút các Hãng hàng không sử dụng dịch vụ tại Cảng Vì vậy ngoài việcđảm bảo an ninh và sự thuận tiện tối đa cho Hãng hàng không và hành khách
đi tàu bay, chính sách giá dịch vụ cũng là một yếu tố để các Hãng hàng khôngcân nhắc cho việc mở đường bay của mình
1.4.2 Nhóm nhân tố vi mô
Chiến lược phát triển của Cảng hàng không:
Ngày nay, trong xu thế mở cửa và hội nhập, ngày càng có nhiều Hãnghàng không bay đến với Việt Nam Khách du lịch đến Việt Nam ngày càngnhiều vì vậy nhu cầu đi lại bằng đường hàng không rất lớn Sự tăng trưởng về
số lượng máy bay, chủng loại máy bay cũng như hành khách, hành lý ra vàocảng làm cho các nhà chức trách Cảng hàng không luôn phải tìm cách đáp
Trang 36ứng các yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhà ga như: trang bị thêmcầu dẫn hành khách ra máy bay, đường băng và các trang thiết bị cần thiếtkhác Tất cả đều phục vụ cho một mục đích duy nhất là tạo điều kiện thuậnlợi, nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả cho khách hàng Yếu tố này cũng ảnhhưởng không nhỏ đến công tác xây dựng, quản lý và điều hành giá nhằm thuhồi vốn của doanh nghiệp và tạo lợi nhuận để tái đầu tư.
Năng lực cạnh tranh của Cảng hàng không cũng là một yếu tố có ảnhhưởng rất lớn tới công tác quản lý và điều hành giá dịch vụ Năng lực cạnhtranh thể hiện thông qua nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực và chiến lượcmarketing của Cảng hàng không Năng lực tài chính càng vững mạnh sẽ tạothuận lợi cho các nhà chức trách Cảng hàng không trong việc mạnh dạn đưa
ra quyết định đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhà ga Để quảng bá,giới thiệu hình ảnh của doanh nghiệp thì chiến lược marketing cũng đóng gópmột vai trò không nhỏ
Trình độ của cán bộ quản lý và nhân viên Cảng hàng không:
Một nhân tố quan trọng trong sự phát triển của các doanh nghiệp nói chung vàcủa các TCT khai thác Cảng hàng không nói riêng đó là nguồn nhân lực vàchất lượng nguồn nhân lực Trình độ của các cán bộ quản lý có ảnh hưởng rấtlớn tới công tác tổ chức triển khai, quản lý và điều hành giá Sự hướng dẫn,chỉ đạo của các cán bộ quản lý càng sát sao sẽ giúp cho các nhân viên trongviệc định giá, triển khai thực hiện giá càng khoa học Đội ngũ nhân viên thựcthi nhiệm vụ quản lý và điều hành giá với trình độ quản lý hiện đại, thôngthạo ngoại ngữ, nắm vững các chế độ chính sách sẽ có ảnh hưởng rất lớn đếnhiệu quả của công tác điều hành triển khai giá dịch vụ
1.5 Kinh nghiệm quản lý và điều hành giá dịch vụ hàng không ở một số nước và bài học có thể vận dụng ở Việt Nam
Trang 371.5.1 Kinh nghiệm quản lý và điều hành giá dịch vụ của Cảng hàng không Kuala Lumpua (Malaysia):
Cảng hàng không Kuala Lumpur với sản lượng hành khách 24 triệu
hành khách/năm Dịch vụ hàng không được chia làm các loại như sau:
- Nhà nước quản lí bao gồm: Dịch vụ điều hành bay quá cảnh, dịch vụđiều hành hạ cất cánh tại Cảng, dịch vụ an ninh Đối với các dịch vụ này Nhànước ban hành khung giá dịch vụ, Nhà chức trách các Cảng hàng không căn cứvào khung giá dịch vụ để áp dụng và điều hành giá Cảng hàng không KualaLumpur cũng áp dụng chính sách giá dịch vụ không cố định mà có sự tăng giảmtheo mùa vụ
- Đối với dịch vụ an ninh tại Cảng hàng không được Cục Hàng khôngdân dụng Malaysia thuê riêng một công ty chuyên trách đảm bảo an ninh chotoàn bộ hoạt động trong Nhà ga và phí của từng loại dịch vụ an ninh đối vớicác Hãng hàng không được ấn định một mức giá cụ thể
- Đối với các dịch vụ khác: Giá dịch vụ do nhà chức trách Cảng hàngkhông tự quyết định trên cơ sở chi phí và giá thành dịch vụ và được áp dụngriêng đối với từng Hãng hàng không, các Hãng hàng không được phân khuvực để hoạt động Nhà chức trách Cảng hàng không luôn có chính sáchkhuyến khích các Hãng hàng không tăng tần suất bay đi và đến Cảng hàngkhông cũng áp dụng chính sách giảm giá đối với các Hãng hàng không mởđường bay mới
Đối với các dịch vụ thương mại trong nhà ga như kinh doanh hàng báchhóa, lưu niệm, siêu thị, sách báo, khu vui chơi giải trí hiện nay Cảng hàngkhông Kuala Lumpur đang thực hiện song song hai hình thức: nhà chức tráchCảng hàng không tự kinh doanh và nhượng quyền lại cho các doanh nghiệpkhác khai thác dịch vụ Nhà chức trách sân bay chỉ quản lý khung giá trên cơ
sở khuyến khích các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tham gia khai thác và khi
Trang 38có yêu cầu giảm giá dịch vụ trong những mùa giảm giá theo chính sách quảng
bá du dịch của Nhà nước các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bắt buộc phảiđăng ký và thực hiện
Để quản lý và điều hành giá được linh hoạt và có hiệu quả, Cảng hàngkhông Kuala Lumpur có riêng bộ phận nghiên cứu thị trường Bộ phận nàychuyên chịu trách nhiệm khảo sát và đánh giá thị trường, cập nhật đầy đủ, kịpthời các thông tin hàng không trong khu vực và trên thế giới Các loại giá doNhà nước quản lý luôn được các nhà chức trách Cảng hàng không so sánhvới giá các hoạt động hàng không cùng loại của các nước trong khu vực và trênthế giới để có sự điều chỉnh kịp thời
1.5.2 Kinh nghiệm quản lý và điều hành giá dịch vụ của Cục hàng không Singapore.
Do qui mô quản lý của ngành hàng không Singapore không lớn nên mọihoạt động của các Cảng hàng không của Singapore đều do Cục hàng khôngSingapore thống nhất quản lý Phần lớn các dịch vụ phục vụ tại Cảng hàngkhông được nhà chức trách hàng không nhượng quyền khai thác cho các nhàcung cấp dịch vụ thông qua đấu thầu hoặc chỉ định, Cục hàng khôngSingapore chỉ quản lý khung giá dịch vụ và áp dụng giá dịch vụ cũng như chỉđịnh nhà cung cấp một cách linh hoạt tùy thuộc vào mục đích quản lý và tùytừng khách hàng, cụ thể như sau:
- Đối với dịch vụ điều hành bay quá cảnh: do Trung tâm điều hành baytrực thuộc Cục hàng không Singapore đảm nhiệm, giá dịch vụ này tuân thủtheo mặt bằng và thông lệ quốc tế
- Đối với dịch vụ an ninh: được giao cho một công ty chuyên cung cấpdịch vụ an ninh đảm nhiệm, Nhà chức trách hàng không trả tiền theo hợpđồng cung cấp dịch vụ Dịch vụ này được thu lại từ các Hãng hàng không
Trang 39thông qua giá vé máy bay và giá dịch vụ hạ cất cánh tàu bay mà không thu từhành khách đi tàu bay
- Đối với các dịch vụ mặt đất phục vụ máy bay tại Cảng hàng không:được trao cho các công ty chuyên trách cung cấp dịch vụ thông qua một quitrình lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ của Cục Hàng không Singapore
- Đối với các dịch vụ phi hàng không và dịch vụ thương mại khác: Cụchàng không Singapore khuyến khích rộng rãi các nhà cung cấp dịch vụ đếnkinh doanh tại Cảng hàng không Mỗi nhà cung cấp dịch vụ đến kinh doanhtại Cảng đều phải trả phí thuê mặt bằng hoặc tự chịu chi phí trang bị một “môdul” dịch vụ nào đó sẽ được miễn phí trong một thời gian nhất định
Các Hãng hàng không bay đi/đến Cảng hàng không Singapore được
bố trí các vị trí đón, trả khách khác nhau và áp dụng giá dịch vụ khác nhautùy thuộc vào lưu lượng hành khách và tần suất bay của Hãng hàng không đó.Nhờ có chính sách linh hoạt trong quản lý, điều hành dịch vụ và giá dịch
vụ hàng không mà doanh thu phi hàng không của các Cảng hàng khôngSingapore chiếm tới 70% doanh thu của toàn Cảng Đây là một tỷ lệ rất caođối với các Cảng hàng không trên thế giới
1.5.3 Kinh nghiệm quản lý và điều hành giá dịch vụ của Cục hàng không Thái Lan.
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm quản lý, quy định vàphê chuẩn các loại giá trong lĩnh vực hàng không dân dụng (giá vận tải hàngkhông, sân bay và quản lý điều hành bay) Hội đồng hàng không dân dụng(Civil Aviation Board - CAB) là cơ quan thẩm định và quy định các loại giátrong lĩnh vực hàng không dân dụng khi được sự phê chuẩn của Bộ trưởng BộGiao thông vận tải Cục hàng không Thái Lan trực thuộc Bộ Giao thông Vậntải là cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hàng không dân dụng và cũng
là cơ quan trực tiếp xây dựng và trình Hội đồng hàng không dân dụng các quy
Trang 40định về giá đồng thời giám sát việc thực hiện các quy định về giá hàng không.Hiện nay, Cảng vụ hàng không Thái Lan là doanh nghiệp Nhà nước trựcthuộc Cục hàng không Thái Lan đang quản lý 5 Cảng hàng không dân dụngquốc tế (Bangkok, Chiang Rai, Chiang Mai, Hat Yai, Phu Ket) thông quaCảng vụ hàng không Thái Lan và 26 Cảng hàng không nội địa khác Ngoài racòn có sân bay Utapao dùng chung với quân đội.
Qua thực tế khảo sát cho thấy Cục Hàng không Thái Lan và Bộ Giao thôngvận tải Thái Lan chỉ quy định giá một số dịch vụ chủ yếu tại Cảng hàngkhông như giá dịch vụ hạ cất cánh tàu bay, giá dịch vụ điều hành bay, giádịch vụ sân đậu tàu bay, giá phục vụ hành khách… Cảng vụ hàng không TháiLan được quyền chủ động xây dựng và quy định các loại giá khác, thông quahình thức đấu thầu cung ứng dịch vụ Một số loại giá phải đăng ký giá vớiCục hàng không, còn phần lớn được thực hiện theo cơ chế thị trường Nguyêntắc áp dụng để giám sát hoạt động định giá của các đơn vị là không được caohơn mức giá thông thường trong thành phố và đảm bảo hợp lý, khuyến khíchtối đa tiêu dùng của khách tại Cảng hàng không
1.5.4 Một số bài học có thể vận dụng ở Việt Nam
Qua nghiên cứu thực tế tại Malaysia, Singapore và Thái Lan là nhữngnước có điều kiện kinh tế - xã hội tương đối giống Việt Nam, chúng ta có thểrút ra một số bài học kinh nghiệm trong quản lý và điều hành dịch vụ và giádịch vụ hàng không, cụ thể như sau:
Một là, Nhà chức trách hàng không và nhà chức trách Cảng hàng không
đều không phân định một cách quá cụ thể trách nhiệm kiểm tra, điều hànhdịch vụ và giá dịch vụ mà đều tuân thủ một nguyên tắc tạo mọi điều kiệnthuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ hàng không Việc áp dụng giá dịch vụđược vận dụng một cách linh hoạt tùy từng đối tượng cụ thể