1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn thạc sĩ kế toán doanh thu vận tải tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt việt nam

116 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn thạc sĩ kế toán doanh thu vận tải tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kế toán doanh thu vận tải
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 535 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PhÇn më ®Çu PAGE 1 Phần mở đầu 1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Đường sắt Việt Nam là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước Với phương ch[.]

Trang 1

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đường sắt Việt Nam là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trongchiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước Với phương châm: “ Nhanhhơn, an toàn hơn, liên tục và hiệu quả hơn”, ngành Đường sắt Việt Nam đangđứng trước thách thức mới, đồng thời cũng là cơ hội tạo ra động lực phát triểnmới nhằm đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hoá- hiện đại hoá trong xu thếhội nhập và phát triển hiện nay Trong nền kinh tế thị trường các doanhnghiệp có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinhdoanh, trong đó có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh vận tải Trước

sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt của các thành phần kinh tế khácnhau, doanh thu vận tải Đường sắt được xem là một trong các chỉ tiêu kinh tếtổng hợp quan trọng của ngành kinh doanh vận tải nói chung và kinh doanhvận tải đường sắt nói riêng nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh vận tải của ngành Đường sắt Để từng bước hội nhập vào nền kinh tếkhu vực và thế giới, từng bước khẳng định ưu thế của mình trong cạnh tranh,nhằm thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh vậntải Đường sắt thì kế toán phải được sử dụng như một công cụ quản lý kinh tếhữu hiệu nhất, trong đó kế toán Doanh thu vận tải là một bộ phận quan trọngnhằm xác định và đánh giá hiệu quả của dịch vụ vận tải đường sắt đã cungcấp, trên cơ sở đó xác định kết quả kinh doanh của dịch vụ vận tải Đường sắt,đảm bảo chất lượng ngành và từng bước khẳng định vị trí của ngành trên thị

trường vận tải nói chung Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “ Hoàn thiện kế

toán Doanh thu vận tải tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt Việt Nam “ làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.

Trang 2

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Về thực tiễn:

+ Khảo sát tình hình thực tế về kế toán Doanh thu vận tải tại các doanhnghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt Việt Nam, đánh giá thực trạng tình hìnhcông tác kế toán doanh thu vận tải tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tảiĐường sắt Việt Nam

+ Tìm hiểu mô hình kế toán doanh thu vận tải của một số nước trên thếgiới và rót ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu vận tải tại cácdoanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về việc xác định doanhthu vận tải, điều kiện ghi nhận và tổ chức hạch toán kế toán doanh thu vận tảitại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt Việt Nam cả về mặt lýluận và thực tiễn

- Tác giả chỉ tập trung vào việc nghiên cứu dịch vụ vận tải tại Tổngcông ty Đường sắt Việt Nam Bởi vậy, các nghiệp vụ phản ánh doanh thu đềcập trong luận văn chỉ giới hạn trong phạm vi các nghiệp vụ doanh thu vận tảiphát sinh tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách và vận tải hàng

Trang 3

hoá trực thuộc Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam Luận văn không đề cậpđến kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ và các khoản thu nhập khác ngoàidoanh thu vận tải Đường sắt.

4 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng đểnghiên cứu các vấn đề vừa toàn diện, vừa hệ thống, đảm bảo tính logic và tínhthực tiễn của các giải pháp

- Vận dụng các phương pháp cụ thể trong nghiên cứu khoa học kinh tếnhư: hệ thống hoá, diễn giải, so sánh, phân tích, để rót ra kết luận hợp lý

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nhận thức mới, những vấn đề

lý luận cơ bản về doanh thu, thời điểm ghi nhận doanh thu và kế toán doanhthu vận tải tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải theo chuẩn mực kế toánquốc tế và khái quát hoá được mô hình kế toán doanh thu vận tải của một sốnước trên thế giới, từ đó làm cơ sở lý luận cho các giải pháp hoàn thiện kếtoán doanh thu vận tải tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt ViệtNam

- Đánh giá khách quan những tồn tại và vướng mắc về kế toán doanhthu vận tải tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt Việt Nam làm

cơ sở thực tiễn cho việc đưa ra những giải pháp hoàn thiện

- Luận văn đã khái quát được mô hình kế toán doanh thu vận tải củamột số nước trên thế giới để rót ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Luận văn đã đề xuất được những giải pháp hoàn thiện kế toán doanhthu vận tải trên cả hai góc độ lý luận và thực tiễn tại các doanh nghiệp kinh doanhvận tải nói chung và tại các doanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt nói riêng

Trang 4

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán Doanh thu vận tải tại các doanh

nghiệp kinh doanh vận tải

Chương 2: Thực trạng kế toán Doanh thu vận tải tại các doanh nghiệp

kinh doanh vận tải Đường sắt Việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện kế toán Doanh thu vận tải tại các doanh nghiệp

kinh doanh vận tải Đường sắt Việt Nam

Trang 5

1.1.1 Đặc điểm kinh doanh và tổ chức quá trình vận tải Đường sắt

1.1.1.1 Vị trí, vai trò của ngành vận tải Đường sắt trong nền kinh

tế quốc dân

Trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội, giao thông vận tải

có vai trò rất quan trọng Giao thông vận tải là sự tiếp tục quá trình sản xuất ởlĩnh vực lưu thông nhằm nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa các khu vựckinh tế với nhau, nền sản xuất ngày càng phát triển, khối lượng sản phẩm tạo

ra ngày càng lớn thì nhu cầu vận tải ngày càng tăng Nói về vai trò của giaothông vận tải, CácMác đã viết: “ Ngoài ngành khai khoáng, nông nghiệp,công nghiệp còn có một ngành sản xuất vật chất thứ 4 nữa, đó là ngành vậntải không kể vận tải người hay hàng hoá “ CácMác cho rằng GTVT là mộtngành sản xuất vật chất đặc biệt Điều này được thể hiện ở chỗ :

- Sản phẩm của vận tải không mang hình thái vật chất mà chỉ là sự dichuyển vị trí, địa điểm của hàng hoá và hành khách

Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, nhu cầu vận tải hàng hoá

Trang 6

và giao lưu giữa các vùng, các khu vực và trên toàn thế giới tăng rất nhanh.GTVT càng có vị trí quan trọng

Đối với sự phát triển kinh tế xã hội, GTVT vận chuyển sản phẩm củatất cả các ngành kinh tế quốc dân, là sự tiếp tục quá trình sản xuất ở lĩnh vựclưu thông Ngành vận tải không sáng tạo ra các sản phẩm mới cho xã hội,nhưng nó tạo ra khả năng sử dụng các sản phẩm của xã hội bằng cách đưa sảnphẩm từ nơi này đến nơi khác

Ngành vận tải còn thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội thông quaviệc vận chuyển hành khách đáp ứng nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư

Vì vậy, phát triển ngành vận tải sẽ tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, thúcđẩy sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân Vận tải thúc đẩy

sự phát triển của hợp tác quốc tế thông qua vận chuyển hàng hoá và hànhkhách giữa các nước trong khu vực và trên toàn thế giới

Ngày nay trên thế giới có nhiều loại hình vận tải khác nhau: vận tảiđường bộ, đường thuỷ, hàng không, đường sắt,…Mỗi loại hình vận tải có đặcđiểm kinh tế kỹ thuật khác, có thế mạnh khác đối với từng loại hàng hoá vậntải và chiếm một vị trí nhất định trên thị trường vận tải và trong nền sản xuất

xã hội Trong đó, vận tải đường sắt là một trong các loại hình vận tải quantrọng trong nền kinh tế quốc dân bởi một số các đặc điểm sau:

+ Hệ thống vận tải đường sắt tạo thành xương sống của mạng lưới vậntải quốc gia, đáp ứng phần lớn nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành kháchcho nền kinh tế quốc dân

+ Hệ thống đường sắt giữ vai trò là phương tiện vận tải liên vùng.Trong quãng đường dài thì vận tải đường sắt có sức cạnh tranh lớn với cácphương tiện vận tải khác như: đường bộ, đường sông

+ Vận tải đường sắt là phương tiện vận tải quan trọng của sản xuất, sảnphẩm cho ngành dịch vụ du lịch, phục vụ cho an ninh quốc phòng

Trang 7

+ Vận tải đường sắt là phương tiện Ýt tốn kém, đáp ứng nhu cầu vận tải

có khối lượng lớn và ngày càng tăng Vận tải đường sắt có ưu thế là: Chởnhiều, chở nặng, chở được những hàng hoá khồng khềnh, cự li vận chuyểndài, tốc độ bình quân tương đối cao, Ýt phụ thuộc vào thời tiết và việc đi lạitrên các chuyến tàu khá thoải mái nhất là tàu có thứ hạng cao

+ Vận tải đường sắt có khả năng góp phần tham gia hội nhập với cộngđồng quốc tế Ngày nay, cùng với sự hội nhập về phát triển kinh tế, thươngmại, GTVT, đặc biệt là đường sắt giữ vai trò quan trọng trong việc nối liềnvận chuyển hàng hoá giữa các nước trong khu vực và trên thế giới

1.1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm vận tải Đường sắt

- Sản phẩm của vận tải đường sắt không có hình thái hiện vật Quá trìnhsản xuất của vận tải đường sắt không tạo ra sản phẩm mới cho xã hội Sảnphẩm vận tải đường sắt chỉ là sự di chuyển vị trí, địa điểm của hàng hoá vàhành khách Chính vì vậy, sản phẩm vận tải đường sắt được đo bằng tấn,tấn.km (hàng hoá) và người.km (hành khách) có thể gọi chung là tấn.km tính đổi

- Giá trị sản phẩm vận tải đường sắt được tạo ra trong quá trình vận tải

và hợp vào giá trị của hàng hoá được vận chuyển Phần chênh lệch giữa giá trịhàng hoá nơi đến và nơi đi chính là giá trị của vận tải Vì vậy, việc xác địnhđúng doanh thu vận tải có ý nghĩa vô cùng quan trọng sẽ có thể tác động trựctiếp hoặc gián tiếp đến các mặt khác của quá trình sản xuất kinh doanh củangành đường sắt ( tính toán và xác định các chi phí sản xuất vận tải, kế hoạchlao động tiền lương, )

- Sản phẩm của ngành vận tải đường sắt không có dự trữ cho quá trìnhsản xuất sản phẩm vận tải chính là quá trình tiêu dùng của xã hội Dự trữtrong quá trình vận tải đó là dự trữ năng lực vận tải: năng lực phương tiện,đầu máy, toa xe, dự trữ năng lực chuyên chở

- Quá trình sản xuất của vận tải đường sắt không dùng nguyên liệu như

Trang 8

các ngành sản xuất khác, vì vận tải đường sắt không tạo ra sản phẩm mới cho

xã hội mà chỉ là sự di chuyển vị trí, địa điểm của hàng hoá, hành khách Do

đó, yếu tố hiện vật quan trọng của quá trình sản xuất chỉ là các TSCĐ ( đầumáy toa xe, cơ sở hạ tầng, ) và nhiên liệu

- Ngành vận tải nói chung và vận tải đường sắt nói riêng không chỉ cóvận chuyển hàng hoá mà còn có vận chuyển hàng khách Do đó, ngoài yêucầu như đối với vận chuyển hàng hoá, đòi hỏi vận chuyển hành khách phảituyệt đối an toàn đi đến đúng giờ, thái độ phục vụ phải hoà nhã, lịch sự,phương tiện phục vụ phải thuận tiện và đầy đủ tiện nghi

1.1.1.3 Đặc điểm tổ chức quá trình vận tải và quản lý vận tải Đường sắt

Với những đặc điểm của sản phẩm vận tải đường sắt kể trên, việc tổchức quá trình vận tải và quản lý sản xuất vận tải có những đặc điểm rất khácbiệt so với các ngành khác, cụ thể như sau:

- Quá trình sản xuất của vận tải đường sắt bao gồm rất nhiều khâu cóliên quan chặt chẽ với nhau như giao dịch, ký hợp đồng và thanh thanh toánvới khách hàng, kết hợp với quản lý đường sắt, thông tin, tín hiệu, nhà ga,…

để lập kế hoạch điều vận, quản lý kỹ thuật vận chuyển, bảo quản, bảo dưỡngphương tiện, sử dụng các phương tiện và điều hành tới các nhà ga, hạt vậnchuyển

- Quá trình sản xuất của vận tải đường sắt diễn ra trên phạm vi rất rộng,công tác quản lý vận tải đường sắt rất phức tạp: từng chuyến tàu, từng cungđường, từng tuyến đường vận chuyển Do đó phải có kế hoạch tác nghiệp rất

cụ thể và chi tiết (đầu máy, toa xe, nhà ga, )

- Vận tải đường sắt bao gồm rất nhiều loại phương tiện có tính năng kỹthuật khác nhau, sử dụng nhiên liệu khác nhau Vì vậy, việc tổ chức quản lý

và điều hành phương tiện cũng khác nhau

- Tổ chức quá trình vận tải của ngành đường sắt chịu ảnh hưởng nhiều

Trang 9

của tình trạng kỹ thuật và giao thông của hệ thống đường sắt, khí hậu thời tiếtcũng mang tính chất thời vụ ( mùa khô nhu cầu vận chuyển cao hơn, ngày lễTết, mùa du lịch, thi cử, nhu cầu vận chuyển có thể tăng đột biến)

- Quá trình sản xuất của ngành vận tải đường sắt không chỉ mang tínhchất kinh doanh thuần tuý mà còn mang tính xã hội cao, đáp ứng nhu cầu củacác tầng lớp dân cư có thu nhập khác nhau, trực tiếp quan hệ với mọi tầng lớpdân cư có thu nhập khác, trực tiếp quan hệ với mọi tầng lớp trong xã hội Vìvậy, vận tải đường sắt đòi hỏi tính văn minh, lịch sự, đồng thời góp phần đảmbảo an ninh trật tự, an toàn giao thông

Trong nền kinh tế thị trường, quá trình vận chuyển hàng hoá và hànhkhách từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, từ nơi cần đi đến được mọi phươngtiện vận tải với mọi thành phần của xã hội tham gia Các doanh nghiệp vận tảiphải tự tìm kiếm nguồn hàng, khách hàng vận chuyển theo yêu cầu của thịtrường Các doanh nghiệp vận tải được tự do cạnh tranh, tự chủ sản xuất kinhdoanh trên cơ sở chính sách, thể chế và pháp luật của nhà nước Vì vậy, côngtác vận tải hàng hoá và hành khách trong nền kinh tế thị trường có những đặcđiểm sau:

- Sự hình thành các nguồn hàng là do yêu cầu của cung cầu trong sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm, ngoài ra còn có sự chênh lệch về giá giữa cácvùng, khu vực kinh tế

- Sự hình thành luồng hàng, luồng khách hàng của mỗi phương tiện vậntải chịu sự chi phối của quy luật giá trị mà cước phí vận tải là yếu tố quantrọng nhất để quyết định

- Một số phương tiện vận tải có tốc độ vận chuyển cao, chất lượng phục

vụ tốt, an toàn sẽ thu hút được luồng khách, luồng hàng

Từ những đặc điểm trên, vận tải đường sắt có những nét đặc trưng sau:

* Luồng hàng trên tuyến đường sắt: Do mỗi ngành vận tải có những

Trang 10

đặc trưng kỹ thuật- công nghệ - kinh tế riêng, dẫn đến ưu thế trong thị trườngvận tải một số hàng hoá và cự li nhất định:

- Luồng hàng vận chuyển bằng đường sắt là luồng hàng có khối lượnglớn và tập trung Thông thường là khối lượng của ngành công nghiệp khaikhoáng, than, quặng, ngành xây dựng, Những loại hàng này có khối lượngvận tải lớn, tập trung sẽ tạo điều kiện sử dụng tốt các thiết bị kỹ thuật, ápdụng các biện pháp cơ giới hoá trong xếp dỡ Với luồng hàng có khối lượnglớn và tập trung làm cho các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật vận tải đường sắt tốt lên,đồng thời dẫn tới tăng năng xuất lao động và giảm giá thành của ngành

- Luồng hàng vận chuyển trên đường sắt được vận chuyển với nhữngkhoảng cách trung bình và xa Sở dĩ hình thành nên đặc điểm này là do kếtcấu của chi phí vận chuyển trong quá trình vận tải bằng đường sắt

- Luồng hàng vận chuyển bằng đường sắt có ưu thế đối với những nơi

có khối lượng gửi nhận có đường nhánh Thường đó là những nơi có điềukiện tổ chức các đoàn tàu suốt từ nơi xếp hàng Đối với những đơn vị có gửi

và nhận hàng có đường sắt chuyên dùng thì cự li vận chuyển có thể ngắn hơn

- Luồng hàng vận chuyển bằng đường sắt thường là luồng hàng trao đổigiữa các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, giữa các vùng nông nghiệp vớicác khu chế biến, giao lưu giữa các đầu mối vận tải

- Luồng hàng vận chuyển bằng đường sắt bao giờ cũng có sự mất cânđối về hướng đi, nghĩa là tạo nên một hướng có khối lượng lớn (chiều nặng)

và hướng ngược lại gọi là hướng nhẹ Đặc điểm này hình thành một cáchkhách quan do sự phân bố lực lượng sản xuất trên lãnh thổ Ngoài ra, còn bịmất cân đối về thời gian nghĩa là khối lượng vận chuyển giữa các tháng, quýtrong năm là không đều nhau Nguyên nhân này cũng do tác động khách quancủa tính chất sản xuất và tiêu thụ theo mùa của một số loại hàng trong nềnkinh tế

Trang 11

Đặc điểm của luồng hàng và tốc độ phát triển của nó sẽ ảnh hưởng tớicác chỉ tiêu khai thác vận tải, giá thành vận tải, do đó sẽ ảnh hưởng đến doanhthu vận tải đường sắt.

* Luồng hành khách trên đường sắt: Cũng như luồng hàng, luồng hành

khách trong nền kinh tế thị trường cũng được tạo nên do sự tác động củanhiều yếu tố khách quan (dân cư, mục đích của chuyến đi, mức sống của nhândân, ) và yếu tố chủ quan của ngành (Chất lượng tuyến đường, tốc độ vậnchuyển, ) đã tạo nên những quy luật của luồng hành khách:

- Luồng hành khách ở chiều đi và về luôn luôn bằng nhau, Ýt bị mấtcân đối về hướng đi

- Mật độ hành khách luôn tỉ lệ thuận với số lượng dân cư và tỉ lệ nghịchvới khoảng cách Luồng hành khách giao lưu giữa thành phố và khu côngnghiệp lớn, đều đặn

- Luồng hành khách trên tuyến đường sắt có ưu thế đối với hành kháchtrên các tuyến có cự ly vận chuyển xa và dài Đối với những chuyến đi xa, cóthời gian hành trình cả ngày lẫn đêm, đòi hỏi an toàn cao thì ưu thế của vậnchuyển hành khách bằng đường sắt là hơn hẳn so với các phương tiện vậnchuyển hành khách khác

Đặc điểm của luồng hàng hoá và hành khách cũng như nhịp điệu pháttriển của nó có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả của ngành vận tải đườngsắt Nghiên cứu sự biến động của luồng hành khách và hàng hoá giúp chongành vận tải đường sắt có giải pháp tổ chức quá trình vận tải hợp lý, tăngmức dự trữ các phương tiện vận tải của ngành (đầu máy, nhà ga, cơ sở hạtầng, ) Đồng thời còn giúp cho việc quản lý doanh thu vận tải có hiệu quảnhằm nâng cao hoạt động của ngành Đường sắt

1.1.2 Doanh thu và vai trò của kế toán Doanh thu tại các Doanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt

Trang 12

1.1.2.1 Doanh thu và phân loại Doanh thu tại các Doanh kinh doanh vận tải

* Khái niệm về Doanh thu:

Trong quá trình SXKD, tài sản của doanh nghiệp được vận động quacác giai đoạn khác nhau của quá trình tái sản xuất Tài sản vận động qua cácgiai đoạn nào là tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp, nhưng nhìn chungkhi tài sản của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hàng hoá (dịch vụ) sang hìnhthái tiền tệ thì chính là lúc doanh nghiệp thực hiện việc bán hàng và cung cấpdịch vụ và cũng có nghĩa là doanh thu đã được tạo ra Vậy doanh thu là gì?

Theo Học viện đào tạo các kế toán viên công cộng của Mỹ ( AICPA)thì “ Doanh thu là tổng số gia tăng tài sản hay là sự giảm gộp các khoản nợđược công nhận và được định lượng theo đúng các nguyên tắc kế toán đượcchấp nhận, là kết quả của các loại hoạt động có lợi nhuận của doanh nghiệp

và có thể làm thay đổi vốn chủ sở hữu” [29,tr.133]

Theo cách nhìn của các tác giả người Mỹ trong cuốn Principles ofAccounting: “ Doanh thu là dòng vào, hay sự tăng lên các loại vốn của đơn vị,hay sự giải quyết các khoản nợ từ việc giao hàng, sản xuất hàng hoá, cung cấpdịch vụ hoặc những hoạt động khác, hình thành nên hoạt động chủ yếu củađơn vị, trong trường hợp đơn giản nhất, chúng tương đương với giá cả hànghoá đã bán ra hay dịch vụ đã cung ứng trong một thời kỳ nhất định [55,tr.68]

Theo khái niệm của Chuẩn mực kế toán Trung Quốc thì “ Doanh thu làtổng nguồn lợi kinh tế thu được phát sinh trong hoạt động thường kỳ củadoanh nghiệp như hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và sử dụng tài sảncủa các doanh nghiệp khác Các khoản thu hé cho bên thứ ba hoặc cho kháchhàng không được tính vào doanh thu” Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS

sè 18 thì Doanh thu là giá trị gộp của các lợi Ých kinh tế mà doanh nghiệp đạtđược trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động thông thường của doanh

Trang 13

nghiệp, tạo nên sự tăng của vốn chủ sở hữu, ngoài phần tăng lên từ các khoảnđóng góp thêm của các cổ đông”

Qua khái niệm doanh thu của quốc tế và một số nước trên thế giới, cóthể thấy khái niệm về doanh thu được diễn đạt theo cách này hay cách khác,nhưng đều có sự tương đồng về cách hiểu và nội dung của khoản được coi làdoanh thu của doanh nghiệp Doanh thu là giá trị của các lợi Ých kinh tế đãnhận và có thể nhận mà nó làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

1.1.2.2 Phân loại doanh thu

Để thuận tiện cho công tác quản lý và kế toán doanh thu thì doanh thu

có thể được phân loại theo những tiêu thức nhất định tuỳ theo mục đích, yêucầu của quản lý và kế toán Với phạm vi nghiên cứu của đề tài là doanh thuvận tải, giới hạn quy mô trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải Đườngsắt nên việc phân loại doanh thu trong phần này chỉ đề cập đến doanh thu vậntải Đường sắt có thể dựa trên các tiêu thức sau:

* Phân loại theo loại hình kinh doanh vận tải: Doanh thu vận tải

đường sắt được chia thành:

- Doanh thu vận tải hành khách – hành lý : là toàn bộ khối lượng dịch

vụ vận tải hành khách-hành lý được cung ứng cho khách hàng đã hoàn thành,được khách hàng chấp nhận thanh toán và được xác định là tiêu thụ trong kỳ

kế toán

- Doanh thu vận tải hàng hoá : là toàn bộ khối lượng dịch vụ vận tảihàng hoá được cung ứng cho khách hàng đã hoàn thành, được khách hàngchấp nhận thanh toán và được xác định là tiêu thụ trong kỳ kế toán

Với cách phân loại này giúp cho việc xác định doanh thu vận tải theotừng hình thức kinh doanh vận tải trong tổng doanh thu vận tải Qua đó thấyđược vai trò chủ đạo của từng hình thức kinh doanh vận tải tại các doanhnghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt

* Phân loại theo mối quan hệ với khu vực địa lý: Doanh thu vận tải

Trang 14

được chia thành hai loại, đó là doanh thu vận tải nội địa và doanh thu vận tảiliên vận quốc tế Cách phân loại này giúp nhà quản trị đánh giá được mức độhoạt động theo khu vực địa lý; là cơ sở để kế toán mở ra các tài khoản và các

sổ chi tiết doanh thu tương ứng; là căn cứ để đánh giá mức sinh lợi cũng nhưrủi ro trong kinh doanh của từng khu vực, phục vụ cho việc lập báo cáo tàichính bộ phận của doanh nghiệp theo khu vực địa lý

* Phân loại theo mối quan hệ với điểm hoà vốn: Doanh thu vận tải

được chia thành 2 loại là doanh thu hoà vốn và doanh thu an toàn

- Doanh thu hoà vốn: là doanh thu của khối lượng sản phẩm vận tải đãcung ứng cho khách hàng đã hoàn thành ở điểm hoà vốn

- Doanh thu an toàn: là phần chênh lệch của doanh thu thực hiện vớidoanh thu doanh thu hoà vốn

Cách phân loại này giúp nhà quản trị nhận thức được những vấn đề cơbản và trực quan về tình hình kinh doanh nói chung và của từng loại hình vậntải, bộ phận nói riêng, xác định phạm vi lời lỗ cũng như đo lường được mức

độ an toàn hay tính được mức rủi ro trong kinh doanh của từng loại hình kinhdoanh vận tải hay bộ phận kinh doanh

* Phân loại theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp: Doanh thu vận tải được chia thành 2 loại:

- Doanh thu vận tải cung cấp ra bên ngoài: là toàn bộ doanh thu củakhối lượng dịch vụ vận tải đã được cung cấp thực tế của doanh nghiệp chocác khách hàng bên ngoài hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp

- Doanh thu nội bộ: là doanh thu của khối lượng sản phẩm đã đượccung cấp trong nội bộ hệ thống tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp (cungcấp dịch vụ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng 1 công ty, cùng mộtngành )

Cách phân loại này giúp cho việc xác định chính xác kết quả kinh

Trang 15

doanh thực tế của doanh nghiệp trong kỳ và phục vụ cho việc lập báo cáo kếtquả kinh doanh hợp nhất mang tính chất toàn ngành.

Ngoài các tiêu thức phân loại trên, doanh thu vận tải còn có thể đượcphân loại thành doanh thu thực tế, doanh thu bị giảm trừ, doanh thu của dịch

vụ bị trả lại, doanh thu thuần, hay cũng có thể phân loại theo các dặm đườngtrên một hành trình vận tải, Nhìn chung, với mỗi cách thức phân loại doanhthu cung cấp dịch vụ đều có ý nghĩa nhất định đối với nhà quản trị doanhnghiệp Do đó, tuỳ thuộc vào yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp mà kếtoán thực hiện tổ chức thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về doanh thu theonhững cách thức nhất định

1.1.2.2 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán Doanh thu trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải

Kế toán là một bộ phận cấu thành trong hệ thống các công cụ quản lýkinh tế tài chính Ở góc độ quản lý, kế toán có vai trò tích cực trong điềuhành, kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính; ở góc độ cung cấp thông tin,

kế toán đảm nhận chức năng cung cấp thông tin về các hoạt động kinh tế tàichính của doanh nghiệp cho những người sử dụng thông tin để họ đưa raquyết định kinh tế đối với doanh nghiệp trong qúa trình kinh doanh Vì vậy,

kế toán có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với bản thân doanhnghiệp, mà còn hết sức cần thiết cho những người có lợi Ých trực tiếp haygián tiếp đối với hoạt động cuả doanh nghiệp Kế toán doanh thu vận tải làmột bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán doanh thu nói riêng và hệ thống

kế toán doanh nghiệp nói chung, nã cung cấp thông tin về toàn bộ tình hìnhdoanh thu vận tải của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt Thôngtin về doanh thu vận tải là dòng thông tin quan trọng nhất để người sử dụngthông tin phân tích, đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh vận tải củadoanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt Qua đó đánh giá được khả năng

Trang 16

cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp và khả năng đạt đượcnhững mục tiêu mà doanh nghiệp đã đưa ra Do vậy, kế toán doanh thu vận tảitrong các doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống kế toánnói riêng và công tác quản lý nói chung.

Để thực hiện được yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin cho người sửdụng, phát huy vai trò của kế toán thì kế toán doanh thu vận tải trong cácdoanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

- Xác định đúng đắn phạm vi và thời điểm ghi nhận doanh thu vận tảiđường sắt Tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu của nguyên tắc kế toán “ Dồn tích”

và nguyên tắc “ Phù hợp” trong hạch toán doanh thu vận tải, đảm bảo yếu tốđúng kỳ của doanh thu vận tải, để trên cơ sở đó đảm bảo yếu tố đúng kỳ củalợi nhuận

- Tổ chức hạch toán ban đầu theo đúng quy định của chế độ kế toánhiện hành, đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu quản lý doanh thu vận tải củadoanh nghiệp, tổ chức luân chuyển chứng từ khoa học, hợp lý, đảm bảo cungcấp thông tin kịp thời, tránh chồng chéo

- Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác tình hình doanh thuvận tải của doanh nghiệp trong kỳ Ngoài việc phản ánh doanh thu vận tải trên

sổ kế toán tổng hợp, kế toán doanh thu vận tải cần phải theo dõi ghi chép chitiết về số lượng, giá trị dịch vụ vận tải cung cấp trên tổng số và theo từng loạihình vận tải (hành khách, hàng hoá),

- Phải nắm vững nội dung và cách thức xác định các chỉ tiêu liên quanđến doanh thu vận tải, chi phí và xác định kết quả kinh doanh của dịch vụ vậntải Bao gồm doanh thu vận tải chưa có TGTGT, TGTGT, các khoản giảm trừdoanh thu, giá vốn của dịch vụ vận tải đã cung cấp ( chi phí sản xuất các dịchvụ) nhằm xác định kết quả của hoạt động cung cấp dịch vụ vận tải

- Tổ chức lập báo cáo doanh thu vận tải theo yêu cầu quản lý của doanh

Trang 17

nghiệp, tổ chức phân tích báo cáo, lập dự toán doanh thu vận tải, tư vấn chochủ doanh nghiệp và giám đốc lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả,

1.2 Lý luận cơ bản về kế toán Doanh thu vận tải tại các Doanh nghiệp kinh doanh vận tải Đường sắt

1.2.1 Kế toán Doanh thu vận tải theo quan điểm của kế toán tài chính

1.2.1.1 Kế toán doanh thu vận tải theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 18

Doanh thu vận tải và phương pháp kế toán doanh thu vận tải được quyđịnh chủ yếu trong chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 18 - Doanh thu, chuẩnmực này được thông qua 1982, sửa đổi 1993 và bắt đầu có hiệu lực đối vớibáo cáo tài chính từ 1/1/1995 Nội dung cơ bản của chuẩn mực này như sau:

* Mục đích của chuẩn mực: đưa ra phương pháp hạch toán doanh thu

phát sinh từ các loại giao dịch và sự kiện nhất định

* Phạm vi của chuẩn mực: áp dụng trong hạch toán các khoản doanh

thu phát sinh từ các giao dịch và sự kiện: bán hàng, cung cấp dịch vụ và lợinhuận thu được từ việc cho các đơn vị khác sử dụng tài sản như lợi tức, tiềnbản quyền, cổ tức

Trong đó, cung cấp dịch vụ gồm rất nhiều loại hình khác nhau (dịch vụvận tải, du lịch, tư vấn, môi giới, ) Do phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đềcập đến doanh thu cung cấp vận tải nên những nội dung đề cập ở chuẩn mựcdoanh thu trong bài viết này chỉ giới hạn trong phạm vi đó

* Định nghĩa của chuẩn mực:

- Doanh thu là “ giá trị gộp của các lợi Ých kinh tế mà doanh nghiệpđạt được trong kỳ kế toán phát sinh từ các hoạt động thông thường của doanhnghiệp, tạo nên sự tăng lên của vốn chủ sở hữu, ngoài phần tăng lên từ cáckhoản đóng góp thêm của các cổ đông”

Như vậy, doanh thu chỉ bao gồm giá trị gộp của các lợi Ých kinh tế đã

Trang 18

nhận được và có thể nhận được của riêng doanh nghiệp Các khoản thu hộ bênthứ 3 không phải là nguồn lợi Ých kinh tế của doanh nghiệp và không làmtăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thì không được coi là doanh thu

- Giá trị tương đương: là giá trị mà một tài sản được trao đổi, hay mộtkhoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểubiết trong mét giao dịch trao đổi ngang giá

* Xác định doanh thu: Doanh thu được xác định cụ thể trong từng

trường hợp như sau:

- Trường hợp cung cấp dịch vụ thu tiền hoặc các khoản tương đươngtiền: Doanh thu = Số tiền hoặc các khoản tương đương tiền thu được

- Trường hợp cung cấp dịch vụ cho người mua trả chậm

Nếu cung cấp dịch vụ trả sau cho khách hàng mà không tính lãi thì:Doanh thu = Số tiền hoặc các khoản tương đương tiền sẽ nhận được

Nếu cung cấp dịch vụ trả sau cho khách hàng mà có tính lãi thì: Doanhthu = Giá trị hiện tại của các khoản thu trong tương lai

Tính giá trị hiện tại theo tỷ lệ lãi suất quy đổi có thể là: tỷ lệ lãi suấthiện hành của các công cụ nợ tương tự đối với hoạt động tín dụng hoặc tỷ lệlãi suất mà chiết khấu phần giá trị danh nghĩa của các khoản nợ ngang bằngvới giá bán hiện tại trả tiền ngay của dịch vụ đó

- Trường hợp trao đổi dịch vụ:

+ Trao đổi dịch vụ có cùng tính chất và giá trị thì doanh thu khôngđược ghi nhận

+ Trao đổi dịch vụ không tương tự thì doanh thu được ghi nhận: Doanhthu = giá trị thực tế dịch vụ đó nhận được

* Ghi nhận doanh thu: Vấn đề quan trọng nhất trong kế toán doanh thu

là xác định khi nào ghi nhận doanh thu, điều này có ý nghĩa quan trọng trongviệc xác định yếu tố đúng kỳ của doanh thu và là cơ sở để xác định chính xác

Trang 19

lợi nhuận thực hiện trong kỳ của doanh nghiệp Nhìn chung, doanh thu củamột giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thoả mãn 4 điều kiện sau:

- Doanh thu có thể được xác định một cách chắc chắn

- Có khả năng là doanh nghiệp sẽ thu được lợi Ých kinh tế từ giao dịch

- Giai đoạn hoàn tất có thể tính được một cách chắc chắn

- Chi phí phát sinh và chi phí để hoàn thành giao dịch có thể được tínhtoán một cách tin cậy

Để hiểu và vận dụng 4 điều kiện ghi nhận doanh thu kế toán doanh thuvận tải, 4 điều kiện trên có thể được hiểu và phân tích như sau:

+ Điều kiện thứ 1: Doanh thu có thể được xác định một cách chắc chắnViệc xác định một cách chắc chắn giá trị của các khoản doanh thu cầnđược xác định theo giá trị tương đương của khoản đã thu hoặc sẽ thu được.Trong đó, giá trị tương đương theo định nghĩa của chuẩn mực này là giá trị

mà một tài sản được trao đổi hay một khoản nợ được thanh toán một cách tựnguyện của các bên có đầy đủ hiểu biết trong mét giao dịch trao đổi ngang giá

+ Điều kiện thứ 2: Có khả năng là doanh nghiệp sẽ thu được lợi Ýchkinh tế từ giao dịch

Doanh thu cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi tương đối chắc chắnrằng doanh nghiệp sẽ nhận được lợi Ých kinh tế từ giao dịch đó đem lại Khikhông có cơ sở chắc chắn rằng doanh nghiệp sẽ thu được lợi Ých kinh tế từgiao dịch thì theo nguyên tắc “Thận trọng” doanh thu chưa được ghi nhậnngay mà phải chờ khi điều nghi ngờ đó được phải giải toả thì Doanh thu mớiđược ghi nhận Tuy nhiên nếu không chắc chắn thu hồi được một khoản màtrước đã ghi vào doanh thu thì phải dự phòng nợ phải thu khó đòi mà khôngđược ghi giảm doanh thu, nó được ghi nhận như một khoản chi phí

Điều kiện thứ 3: Giai đoạn hoàn tất có thể xác định một cách chắc chắn.Phần công việc hoàn thành có thể được xác định theo nhiều hình thức

Trang 20

khác nhau Tuỳ theo từng doanh nghiệp bản chất của từng loại công việc màdoanh nghiệp sẽ sử dụng cách thức đúng đắn nhất và xác định công việc đãhoàn thành:

- Đánh giá phần công việc đã hoàn thành

- So sánh tỷ lệ ( %) giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổngkhối lượng công việc phải hoàn thành

- Tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoànthành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ

Phần công việc đã hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanhtoán định kỳ hay các khoản ứng trước của khách hàng

Điều kiện thứ 4: Chi phí phát sinh và chi phí để hoàn thành giao dịch

có thể được tính toán một cách tin cậy

Để đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc “ Phù hợp” thì doanh thu vàchi chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải ghi nhận đồng thời Khi màcác khoản chi phí phát sinh hoặc chi phí để hoàn thành giao dịch không đượcxác định một cách tin cậy thì doanh thu không được ghi nhận

Như chóng ta đã biết, trong giai đoạn đầu của một giao dịch về cungcấp dịch vụ, kết quả của giao dịch đó thường rất khó ước tính một cách đángtin cậy Tuy nhiên, có thể tương đối chắc chắn là doanh nghiệp sẽ thu hồiđược các chi phí phát sinh cho việc thực hiện giao dịch đó Vì vậy, doanh thuchỉ được ghi nhận trong chừng mực những chi phí đã phát sinh mà có thể thuhồi được, vì kết quả của hoạt động dịch vụ không thể được dự tính một cáchchắc chắn, đáng tin cậy và các chi phí phát sinh cũng chưa chắc đã thu hồiđược thì doanh thu sẽ không được ghi nhận và các chi phí đã phát sinh đượchạch toán vào chi phí Ví dụ đối với dịch vụ vận tải hành khách của mộtchuyến tàu nào đó thì doanh thu vận tải hành khách thực hiện trong kỳ đượcxác định bằng tổng giá trị thu bán chúng từ đầu kỳ trở về trước nhưng thực

Trang 21

hiện vận chuyển trong kỳ và chứng từ trong kỳ trừ đi giá trị các chứng từhoàn, huỷ, đổi phát sinh trong kỳ và trừ đi giá trị các chứng từ thu bán phátsinh trong kỳ nhưng thực hiện ở kỳ sau.

* Về chế độ kế toán: Trên báo cáo tài chính cần phải trình: Cơ sở tính

doanh thu được sử dụng, phương pháp công nhận doanh thu được sử dụng,phương pháp giai đoạn hình thành dịch vụ

* Về báo cáo tài chính: Chuẩn mực này yêu cầu doanh nghiệp phải

trình bày giá trị từng nhóm cơ bản của doanh thu được ghi nhận trong kỳ( doanh thu phát sinh từ bán hàng, cung cấp dịch vụ, lợi tức, bản quyền, cổtức, và khoản doanh thu từ việc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ nằm trongtừng nhóm doanh thu cơ bản nói trên)

1.3.1.2 Kế toán doanh thu vận tải theo chuẩn mực kế toán Việt nam VAS 14 "Doanh thu và thu nhập khác"

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế với các quốc gia trongkhu vực và thế giới Một trong những nền tảng dẫn tới sự thành công của quátrình hội nhập kinh tế của Việt Nam là hội nhập về hệ thống kế toán tài chính.Điều đó tạo ra nhu cầu đòi hỏi Việt Nam phải có hệ thống chuẩn mực kế toánđược xây dựng trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc tế và được quốc tế thừanhận Việc xây dựng Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS được thực hiện trênnguyên tắc là dựa vào chuẩn mực kế toán quốc tế IAS do Uỷ ban chuẩn mực

kế toán quốc tế IFRS để tạo ra sự hoà nhập, công nhận của quốc tế, và phảiđược xây dựng phù hợp với Việt Nam Do đó, phương pháp tiếp cận đối vớiviệc ban hành các chuẩn mực kế toán Việt Nam là xem xét kỹ lưỡng các IAStương đương, và sửa đổi những phần của IAS không phù hợp với quy địnhhiện tại của Việt Nam Đến tháng 3/2005, Việt Nam đã ban hành được 22chuẩn mực kế toán, trong đó, chuẩn” Doanh thu và thu nhập khác” được quyđịnh ở VAS 14, là một trong 4 chuẩn mực kế toán được ban hành và công bố

Trang 22

đợt 1 theo quyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001

a) Về nội dung của VAS 14

Do cách diễn đạt và trình bày khá cụ thể nội dung của IAS sè 18 ở phầntrên về kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ, nên cách diễn đạt tốt nhất nộidung của VAS 14 là đưa ra sù so sánh giữa IAS 18 và VAS 14 để tìm ranhững điểm giống và khác nhau giữa hai chuẩn mực này

Nhìn chung, toàn bộ nội dung của VAS 14 nói chung và những nộidung quy định về doanh thu cung cấp dịch vụ nói riêng (chủ yếu là bàn vềdoanh thu vận tải) về cơ bản là phù hợp với IAS 18 Tuy nhiên có vài điểmkhác biệt khi xem xét, nghiên cứu những quy định về doanh thu cung cấp dịch

vụ trong IAS 18 và VAS 14 đó là:

* Tên của chuẩn mực: IAS 18 có tên gọi là: “ Doanh thu”, còn VAS 14

là “ Doanh thu và thu nhập khác” Thực chất trong nội dung phản ánh củaIAS 18 và VAS 14 hoàn toàn có sự tương đồng với nhau, nhưng có sự khácnhau về tên gọi là do cách hiểu về doanh thu chưa có sự đồng nhất Theo IAS

18, thì doanh thu là các khoản thu nhập từ các hoạt động chính của doanhnghiệp và được gọi bằng nhiều tên khác nhau như doanh thu bán hàng, cungcấp dịch vụ, lệ phí, lợi tức, cổ tức, phí bản quyền Còn theo VAS 14 thì cáckhoản thu từ việc bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ, tiền lãi, tiền bản quyền, cổtức, lợi nhuận được chia được coi là doanh thu, còn các khoản thu khác từhoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu gọi là thu nhập khác

* Phạm vi của chuẩn mực: đều có phạm vi áp dụng giống nhau Tuy

nhiên, trong IAS 18 đưa ra những trường hợp cụ thể mà chuẩn mực nàykhông áp dụng, còn trong VAS 14 thì sử dụng phép loại trừ để đề cập đến vấn

đề này

* Định nghĩa trong chuẩn mực: Theo IAS 18, chỉ đưa ra 2 định nghĩa

về doanh thu và giá trị tương đương Trong khi đó, theo VAS 14 thì đưa ra 7

Trang 23

định nghĩa, đó là: Doanh thu, chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, giátrị hàng bán bị trả lại, chiết khấu thanh toán, thu nhập khác, giá trị hợp lý [10,tr.192] Trong đó, giá trị tương đương theo IAS 18 và giá trị hợp lý theo VAS

14 chỉ là 2 cách diễn đạt khác nhau của cùng một nội dung Trong định nghĩa

về doanh thu và giải thích định nghĩa đề có sự tương đồng của hai chuẩn mực.Doanh thu chỉ bao gồm giá trị các lợi Ých kinh tế doanh nghiệp đã thu đượchoặc sẽ thu được, đều có khẳng định rằng các khoản thu hộ bên thứ ba khôngphải là nguồn lợi Ých kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanhnghiệp sẽ không được coi là doanh thu [10, tr.193]

* Xác định doanh thu: Đều được xác định theo giá trị hợp lý (giá trị

tương đương) của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được Trường hợp cung cấpdịch vụ cho người mua trả chậm thì doanh thu không đuợc ghi nhận theo giátrị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được, mà phải ghi nhận theo giá trị thực tế(VAS 14) hoặc giá trị tương đương (IAS 18) và được xác định bằng cách quyđổi (hoặc chiết khấu) các khoản sẽ thu được trong tương lai về thời điểm hiệntại theo tỷ lệ lãi suất quy đổi Theo IAS 18 đã đưa ra cách xác định tỷ lệ lãisuất quy đổi khá cụ thể, còn trong VAS 14 thì chỉ đề cập chung rằng đó là tỷ

lệ lãi suất hiện hành

* Về điều kiện ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ: Nhìn chung 4 điều

kiện ghi nhận doanh thu trong VAS 14 là tương đồng với 4 điều kiện ghi nhậndoanh thu trong IAS 18, tuy nhiên cũng có sự thay đổi Ýt nhiều trong cáchdiễn đạt và những giải thích của từng điều kiện

* Về trình bày báo cáo tài chính: Khác với IAS 18, doanh thu được

trình bày theo 5 nhóm cơ bản; trong VAS 14, yêu cầu doanh nghiệp phải trìnhbày doanh thu của từng loại giao dịch và sự kiện, chia thành 3 nhóm, đó là:

- Doanh thu bán hàng

- Doanh thu cung cấp dịch vụ

Trang 24

- Tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia

Ngoài ra, các khoản thu nhập khác trong đó có thu nhập bất thườngtrình bày cụ thể theo yêu cầu của VAS 14

b) Những ảnh hưởng của VAS 14 đến phương pháp xác định, ghi nhận và kế toán doanh thu vận tải

Việc ban hành VAS 14 theo quyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày31/12/2001 và thông tư hướng dẫn số 89/2002/TT-BTC ngày 9/10/2002,hướng dẫn kế toán 4 chuẩn mực đã có những ảnh hưởng nhất định đếnphương pháp xác định, ghi nhận và kế toán doanh thu vận tải Cụ thể là:

* Xác định doanh thu: Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của

các khoản đã thu hoặc sẽ thu được Trong đó được cụ thể hoá thành cáctrường hợp như sau:

- Trường hợp cung cấp dịch vụ vận tải phát sinh chiết khấu thương mại,giảm giá dịch vụ, các dịch vụ vận tải cung cấp hoàn trả lại thì doanh thu đượcxác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được sau khi trừ

đi các khoản giảm trừ doanh thu

- Trường hợp trao đổi dịch vụ vận tải, được chia thành hai trường hợp

là trao đổi dịch vụ vận tải tương tự về bản chất, giá trị và trao đổi dịch vụ vậntải không tương tự Trong đó chỉ có trao đổi dịch vụ vận tải không tương tự làgiao dịch tạo ra doanh thu và được xác định bằng giá trị hợp lý của dịch vụvận tải nhận về hoặc giá trị hợp lý của dịch vụ vận tải đem trao đổi đã điềuchỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm

* Ghi nhận doanh thu: Thời điểm ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ

vận tải không chỉ thuần tuý là khi người mua đã chấp nhận thanh toán, đã thuđược tiền mà dịch vụ vận tải đó phải thực hiện hoàn thành một hành trình.Theo quy định của chuẩn mực này, chỉ ghi nhận doanh thu trong kỳ kế toánkhi thoả mãn đồng thời 4 điều kiện ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ

Trang 25

* Phương pháp kế toán doanh thu vận tải:

+ Về tài khoản kế toán: Vì phạm vi của đề tài chỉ giới hạn ở kế toán

doanh thu vận tải nên trong phần này cũng chỉ tập trung trình bày trong phạm

vi đó của đề tài

Thứ nhất là đổi tên TK 511 “Doanh thu bán hàng” thành TK 511

“Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” Vì vậy doanh thu vận tải cũngdùng TK này để phản ánh

- Nội dung của tài khoản: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu

cung cấp dịch vụ vận tải - là toàn bộ số tiền thu được, hoặc sẽ thu được từ cácgiao dịch cung cấp dịch vụ vận tải cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụthu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) Tài khoản này chỉ dùng để phảnánh doanh thu vận tải của khối lượng dịch vụ đã cung cấp được xác định làtiêu thụ trong kỳ không phân biệt doanh thu đã thu tiền hay sẽ thu được tiền

Trường hợp doanh nghiệp có doanh thu cung cấp dịch vụ bằng ngoại

tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá thực tế phát sinhhoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng doNgân hàng Nhà nước Việt nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinhtế

Doanh thu vận tải thuần mà doanh nghiệp thực hiện được trong kỳ kếtoán có thể thấp hơn doanh thu vận tải ghi nhận ban đầu là do các nguyênnhân: doanh nghiệp chiết khấu thương mại, giảm giá dịch vụ vận tải đã cungcấp cho khách hàng hoặc dịch vụ vận tải bị trả lại, hoàn đổi,

- Các nguyên tắc cần được tôn trọng khi sử dụng tài khoản này:

\ Đối với dịch vụ vận tải thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phươngpháp khấu trừ, doanh thu cung cấp vận tải là giá bán chưa có thuế GTGT

\ Đối với dịch vụ vận tải thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phươngpháp trực tiếp, doanh thu cung cấp vận tải là tổng giá thanh toán

Trang 26

\ Đối với dịch vụ cung cấp vận tải nhận bán đại lý, ký gửi theo phươngthức bán đúng giá hưởng hoa hồng thì hạch toán vào doanh thu cung cấp dịch

vụ phần hoa hồng dịch vụ mà doanh nghiệp được hưỏng

\ Riêng đối với doanh thu vận tải của đường sắt thì còn có cả phầndoanh thu vận tải tác nghiệp được hưởng trả công giữa các loại doanh thu vậntải do tính chất đặc thù của ngành là các ga hàng hoá và hành khách là chungvới nhau Mét ga nào đó thuộc công ty vận tải hành khách vẫn phải thực hiệntác nghiệp vận tải hàng hoá và ngược lại, do đó dẫn đến doanh thu vận tải củađơn vị ngoài phần chính công việc của mình vẫn còn được hưởng một phầndoanh thu vận tải do làm hộ hoạt động vận tải khác

\ Những sản phẩm dịch vụ vận tải được xác định là tiêu thụ, nhưng vì lý

do nào đó người mua gửi trả lại người bán, yêu cầu giảm giá và được doanhnghiệp chấp nhận; hoặc người mua mua nhiều được hưởng chiết khấu thươngmại thì các khoản giảm trừ doanh thu vận tải được theo dõi riêng biệt trên các

TK 531 - Dịch vụ vận tải bị trả lại; TK 532 - Giảm giá dịch vụ đã cung cấp;

TK 521 - Chiết khấu thương mại

\ Đối với doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm vận tảitheo yêu cầu của Nhà nước, được nhà nước trợ cấp, trợ giá theo quy định thìdoanh thu trợ cấp, trợ giá là số tiền được Nhà nước chính thức thông báo,hoặc thực tế trợ cấp, trợ giá Doanh thu trợ cấp, trợ giá được phản ánh trên

TK 5114 - Doanh dịch vụ trợ cấp, trợ giá

Thứ hai đổi tên TK 3387 “Doanh thu nhận trước” thành TK 3387”Doanh thu chưa thực hiện” Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu cungcấp dịch vụ chưa thực hiện trong kỳ kế toán

Một số các quy định cần tôn trọng khi hạch toán tài khoản này:

- Khi cung cấp dịch vụ vận tải theo phương thức trả chậm thì doanh thuđược ghi nhận theo giá bán trả ngay tại thời điểm ghi nhận doanh thu Giá bán

Trang 27

trả ngay được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽthu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thutheo tỷ lệ lãi suất hiện hành Phần lãi cung cấp dịch vụ vận tải trả chậm làchênh lệch giữa giá bán trả chậm với giá bán trả ngay được ghi nhận vào TK

“Doanh thu chưa thực hiện” Doanh thu chưa thực hiện sẽ được ghi nhận làdoanh thu của kỳ kế toán theo quy định tại đoạn 25(a) của VAS 14

Ngoài ra một số các tài khoản khác cũng có sự thay đổi mà doanhnghiệp dùng để phản ánh các nghiệp vụ có liên quan đến kế toán doanh thuvận tải như:

- Đổi tên TK 512 “Doanh thu bán hàng nội bộ “ thành “Doanh thu nộibộ” trong đó TK 5123 dùng để phản ánh “Doanh thu nội bộ cung cấp dịchvụ”

- Bổ sung TK 521 “Chiết khấu thương mại” để phản ánh khoản chiếtkhấu thương mại mà doanh nghiệp giành cho người mua với khối lượng dịch

vụ được cung cấp là lớn

- Bổ sung TK 515 “Doanh thu hoạt động tài chính” và TK 635 “Chi phítài chính”; bỏ TK 711 “Thu nhập hoạt động tài chính” và TK 811 “Chi phíhoạt động tài chính”

+ Về phương pháp hạch toán: Cũng có một số những thay đổi nhất

định để đảm bảo tính khoa học và phản ánh đúng bản chất của nghiệp vụ kinh

tế Cụ thể là:

- Thuế GTGT phải nộp ở những doanh nghiệp nộp thuế theo phươngpháp trực tiếp trên GTGT được hạch toán ghi giảm trừ doanh thu Điều nàytạo ra tính thống nhất trong phương pháp kế toán đối với các khoản thuế đượcthu chìm trong giá bán của dịch vụ vận tải được cung cấp

- Khoản chiết khấu thương mại giành cho khách hàng khi phát sinhđược hạch toán vào TK 521, cuối kỳ được kết chuyển sang TK 511 để xác

Trang 28

định doanh thu thuần của dịch vụ vận tải được thực hiện trong kỳ.

- Khoản lãi cung cấp dịch vụ vận tải trả chậm không được hạch toán

ngay toàn bộ vào doanh thu hoạt động tài chính, mà phải ghi nhận vào TK

3387 “Doanh thu chưa thực hiện” Hàng kỳ, kế toán tính, xác định và kết

chuyển vào doanh thu hoạt động tài chính trong kỳ

- Ngoài ra, đối với các nghiệp vụ cung cấp dịch vụ vận tải thu ngoại tệ,

chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi thanh toán phải được hạch toán theo

quy định của VAS 10 “ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái” và Thông

tư hướng dẫn 105/2003/TT-BTC ngày 4/11/2003 Có thể khái quát quy trình

hạch toán kế toán doanh thu vận tải qua sơ sau:

Sơ đồ số 1.1: Phương pháp hạch toán kế toán doanh thu vận tải

(1a): Doanh thu cung cấp dịch vụ vận tải (Doanh nghiệp áp dụng phương

pháp nộp VAT theo phương pháp trực tiếp)

(1b): Doanh thu cung cấp dịch vụ vận tải (Doanh nghiệp áp dụng phương

pháp nộp VAT theo phương pháp khấu trừ)

(2): Trị giá vốn của dịch vụ vận tải đã cung cấp

(3): Chiết khấu thương mại, giảm giá, dịch vụ bị trả lại

(4): Chiết khấu thanh toán giành cho khách hàng

635 154,631 632 911 521,531,532 511,512

(7) (6)

(5) (9)

(3)

(4)

Trang 29

(5): Cuối kỳ kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu

(6): Tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp

(7): Hoa hồng giành cho bên nhận đại lý

(8): Cuối kỳ kết chuyển giá vốn dịch vụ đã tiêu thụ

(9): Cuối kỳ kết chuyển Doanh thu thuần

1.3.1 Kế toán Doanh thu vận tải theo quan điểm của kế toán quản trị

1.3.2.1 Mục tiêu của kế toán quản trị doanh thu vận tải

Với vai trò cung cấp thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định, thôngtin của kế toán đối với quản trị về doanh thu là vô cùng quan trọng vì đối vớinhà quản trị đây là thông tin đầu ra của hoạt động kinh doanh, đạt được mụctiêu về doanh thu là điều kiện để thực hiện các mục tiêu khác của doanhnghiệp Với các doanh nghiệp kinh doanh vận tải thì hoạt động vận tải có thểgồm nhiều loại hình khác khác nhau như vận tải hành khách, vận tải hàng hoáđược thực hiện bởi nhiều bộ phận kinh doanh doanh và hoạt động kinh doanhtrên nhiều khu vực địa lý khác nhau, thì nhu cầu thông tin về tình hình và kếtquả kinh doanh của từng loại hình vận tải, từng bộ phận, từng khu vực địalý, thực tế là bao nhiêu, có đạt được so với dự toán ban đầu hay kỳ vọng đặt

ra hay không là vô cùng quan trọng đối với nhà quản trị Với mỗi loại hìnhkinh doanh vận tải nhà quản trị không chỉ nắm bắt được tình hình và kết quảkinh doanh như thế nào, mà còn phải hiểu rõ được cần phải cung cấp baonhiêu sản phẩm vận tải hay phải có mức doanh thu là bao nhiêu để đạt đượcđiểm hoà vốn Trên cơ sở những hiểu biết về thị trường, về cung cấp sảnphẩm vận tải mà doanh nghiệp đang kinh doanh và mục tiêu lợi nhuận đã xácđịnh, từ đó nhà quản trị có thể đưa ra các chính sách giá cả phù hợp với từngtrường hợp cụ thể, khi chưa đạt được điểm hoà vốn và khi đạt được điểm hoàvốn thì như thế nào Điều quan trọng hơn nữa là trong điều kiện kinh doanh

Trang 30

nhiều loại hình vận tải khác nhau, ở những khu vực địa lý khác nhau, mỗi loạihình vận tải lại có lãi trên biến phí khác nhau, để có thể đạt được mức lợinhuận cao nhất với điều kiện hiện có, nhà quản trị phải biết kết hợp kinhdoanh một cách hợp lý tỷ trọng giữa các loại hình hay bộ phận, khu vực nào

đó là một trong những quyết định hết sức quan trọng và phải có sự cân nhắc

kỹ càng Nguồn thông tin kế toán quản trị về doanh thu vận tải sẽ là một trongnhững nguồn thông tin quan trọng nhất, là cơ sở quan trọng để nhà quản trịđưa ra quyết định đúng đắn

Với chức năng cơ bản này thì mục tiêu kế toán quản trị doanh thu vậntải là phải cung cấp thông tin về doanh thu vận tải, doanh thu hoà vốn của cácloại hình vận tải, các bộ phận kinh doanh nói chung và chi tiết riêng cho từngloại hình vận tải, từng bộ phận kinh doanh, từ khâu lập dự toán, đến tổ chứcthực hiện thu thập thông tin, phân tích, đánh giá phục vụ cho việc ra quyếtđịnh của nhà quản trị doanh nghiệp

1.3.2.2 Nội dung tổ chức kế toán quản trị doanh thu vận tải

Để thực hiện được mục tiêu của kế toán quản trị doanh thu, thì việc tổchức kế toán quản trị doanh thu vận tải phải bao gồm những nội dung sau:

* Thứ nhất, xây dựng dự toán về doanh thu vận tải:

Dự toán là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết, tỉ mỉ vàtoàn diện nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiệnmột khối lượng công việc nhất định trong một khoảng thời gian nhất địnhđược biểu hiện bằng một hệ thống các chỉ tiêu vầ số lượng và giá trị Thựcchất của việc lập dự toán là lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, là xây dựng cácmục tiêu cần đạt được trong kỳ kế hoạch và xác định các bước thực hiện đểđạt được mục tiêu

Việc lập dự toán có ý nghĩa rất lớn đối với nhà quản trị trong việc cungcấp thông tin một cách có hệ thống toàn bộ kế hoạch của doanh nghiệp Dự

Trang 31

toán về doanh thu vận tải là nền tảng để lập các dự toán khác của doanhnghiệp, vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của ngườitiêu dùng, kết hợp với năng lực hoạt động của mình để lên kế hoạch và lập dựtoán doanh thu vận tải cho sát với tình hình thị trường Khi lập dự toán doanhthu vận tải cần dựa trên các cơ sở sau đây:

- Tình hình kinh dịch vụ vận tải

- Chính sách quảng cáo, khuyến mại của doanh nghiệp

- Thu nhập của người tiêu dùng

- Chính sách giá cả, tình hình biến động kinh doanh theo mùa vụ

- Năng lực hoạt động của doanh nghiệp

- Môi trường kinh tế, xã hội và chính trị

- Xu hướng phát triển của ngành kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt độngViệc lập dự toán doanh thu được thực hiện theo nguyên tắc là dự toánđược từ cấp cơ sở lên Theo nguyên tắc này các nhà quản trị các cấp cơ sở( các ga, bộ phận kinh doanh, ) căn cứ vào thị trường, điều kiện và khả năngcủa đơn vị để lập dự toán doanh thu, dự toán doanh thu được xây dùng chotừng loại hình vận tải, từng thị trường cung cấp dịch vụ vận tải trong nướchay liên vận quốc tế, sau đó trình lên các nhà quản trị cấp trung gian Trên cơ

sở tổng các chỉ tiêu dự toán ở bộ phận mình để trình lên các nhà quản trị cấpcao Bộ phận quản trị cấp cao tổng hợp các chỉ tiêu dự toán các cấp trung giankết hợp với cách nhìn doanh nghiệp là một khối thống nhất của nhiều bộ phậnriêng để xây dựng lên dự toán doanh thu vận tải của toàn ngành có tính thốngnhất cao

Dự toán về doanh thu vận tải phải được xây dựng chi tiết cho từng loạihình vận tải, từng khu vực địa lý trên cơ sở dự toán về khối lượng cung cấpdịch vụ vận tải và dự toán về đơn giá bán sản phẩm Đồng thời căn cứ vàochính sách cung cấp dịch vụ vận tải của doanh nghiệp để ước tính dòng thu

Trang 32

tiền vào từ hoạt động cung cấp dịch vụ vận tải trong từng kỳ Ta có thể lậpbảng dự toán tiêu thụ qua biểu dưới đây:

BIỂU 1.1: DỰ TOÁN TIÊU THỤ

+ Nợ phải thu khó đòi

Ngoài ra doanh nghiệp có thể tính toán chi tiết đến các trường hợpdoanh nghiệp chưa đạt được điểm hoà vốn, đã vượt qua điểm hoà vốn trongđiều kiện kinh doanh bình thường hay trong điều kiện kinh doanh có sự thayđổi về giá cả, định phí, biến phí; dự toán doanh thu vận tải của từng loại hìnhkinh doanh vận tải trong mối qua hệ với kết cấu kinh doanh vận tải để làm saođạt được mục tiêu lợi nhuận mong muốn với chi phí thấp nhất Ngoài việc xâydựng dự toán doanh thu vận tải cho từng loại hình vận tải, còn phải xây dựng

dự toán doanh thu cho từng bộ phận kinh doanh thu (Trung tâm doanh thu)

Dự toán được xây dựng khoa học, hợp lý là cơ sở quan trọng cho việc tổ chứcđiều hành, kiểm tra, đánh giá thông tin phản hồi từ thực tế kinh doanh và từ

đó có thể kịp thời chuyển hoá thành những thông tin dự báo cho tương lai

* Thứ hai, tổ chức thu thập thông tin chi tiết về doanh thu vận tải phục vụ yêu cầu quản trị

Quá trình thu thập thông tin về doanh thu vận tải của KTQT bao gồmnội dung cơ bản từ khâu tổ chức hạch toán ban đầu, tổ chức vận dụng tàikhoản, sổ sách kế toán đến khâu lập hệ thống báo cáo quản trị Để đáp ứng

Trang 33

được mục tiêu của KTQT doanh thu vận tải đặt ra thì việc tổ chức KTQT đểthu thập thông tin về doanh thu vận tải phải được chi tiết theo từng loại hìnhvận tải, từng doanh thu trung tâm, khu vực địa lý kinh doanh của doanhnghiệp, đảm bảo tính hệ thống từ khâu lập chứng từ đến khâu lập báo cáo.

Hiện nay có hai quan điểm tổ chức công tác KTQT:

- Quan điểm 1: Kết hợp tổ chức thu thập thông tin về doanh thu vận tải giữa KTQT với KTTC trong cùng một bộ máy kế toán:

+ Xây dựng hệ thống tài khoản kế toán bao gồm cả tài khoản tổng hợpphục vụ cho KTTC và các tài khoản chi tiết phục vụ cho việc cung cấp thôngtin của KTQT Quá trình thực hiện ghi chép được thực hiện song song

+ Xây dựng hệ thống sổ kế toán tại từng phần hành công việc bao gồmcác sổ kế toán tổng hợp và chi tiết để phục vụ cho việc xử lý thông tin củaKTTC và KTQT

+ Phân định rõ trách nhiệm của nhân viên kế toán cho từng phần hànhcông việc bao gồm cả công việc xử lý thông tin của KTTC và KTQT để từ đóxác định việc xây dựng dự toán cho từng bộ phận

Với việc tổ chức công tác KTQT doanh thu vận tải theo quan điểm này

sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có thể quản lý được các chỉ tiêukinh tế ở cả hai góc độ tổng hợp và chi tiết; tiết kiệm được thời gian và chiphí hạch toán Tuy nhiên, nếu theo quan điểm này thì lại có nhược điểm làkhó phân định rạch ròi giữa KTTC với KTQT Mô hình này phù hợp với cácnước có KTTC và KTQT cùng được xây dựng trên nền tảng kế toán động, cácnguyên tắc và phương pháp hạch toán doanh thu, chi phí là phù hợp nhaugiữa KTTC và KTQT

- Quan điểm 2: Tổ chức thu thập thông tin về doanh thu vận tải độc lập giữa KTQT với KTTC:

Theo quan điểm này thì KTQT được tách ra khái KTTC, hai dòng

Trang 34

thông tin này sử dụng hệ thống tài khoản và sổ kế toán riêng biệt Các tàikhoản của kế toán tài chính thì tuân thủ theo hệ thống tài khoản được banhành của nhà nước, còn KTQT thì được xây dựng riêng và qui định phươngpháp ghi chép, phù hợp với nội dung cơ bản của KTQT Thông tin được thuthập, xử lý theo yêu cầu của việc lập dự toán.

+ Việc tổ chức công tác kế toán Doanh thu vận tải được chia thành haiphần riêng biệt là KTTC và KTQT chứng tỏ công tác kế toán đã được chuyênmôn hoá cao Tuy nhiên, lại rất khó có thể kết hợp được thông tin tổng quát

và chi tiết trong cùng một lúc và mất nhiều thời gian, không tiết kiệm đượcchi phí hạch toán Mô hình này phù hợp với các nước có KTTC và KTQTcùng được xây dựng trên nền tảng kế toán tĩnh, các nguyên tắc và phươngpháp hạch toán doanh thu, chi phí là khác nhau giữa KTTC và KTQT

KTQT là nguồn cung cấp chủ yếu các thông tin cần thiết cho các nhàquản lý để ra các quyết định kinh doanh ở các khâu của quá trình kinh doanhvận tải như: lập kế hoạch, dự toán tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá Vìvậy, để có thể tổ chức KTQT doanh thu vận tải thích hợp thì các doanhnghiệp phải dựa trên cơ sở yêu cầu quản lý, đặc điểm tổ chức, trình độ quản

lý, để lựa chọn cho mình một trong hai mô hình tổ chức KTQT trên

Thứ ba, tổ chức phân tích tình hình thực hiện dự toán doanh thu vận tải

Bằng cách thiết lập hệ thống các chỉ tiêu phân tích nhằm đánh giá tìnhhình thực hiện dự toán doanh thu vận tải cả về mặt khối lượng dịch vụ vận tải

đã thực hiện xong và đơn giá của dịch vụ vận tải, để từ đó tìm ra các nguyênnhân, xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới doanh thu vận tải củatừng loại hình vận tải, trung tâm doanh thu, khu vực địa lý, Từ đó có được nhữngquyết định đúng đắn, hữu hiệu trong kinh doanh của nhà quản trị doanh nghiệp

1.3 Mô hình kế toán Doanh thu vận tải của một số nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.

Trang 35

1.3.1 Mô hình kế toán Doanh thu vận tải của một số nước trên thế giới

Để hoàn thiện công tác kế toán nói chung và kế toán doanh thu vận tảinói riêng, việc tiếp thu những kinh nghiệm về kế toán của các nước có nềnkinh tế thị trường phát triển, có hệ thống mà nhiều quốc gia đã áp dụng hoặctham khảo để xây dựng hệ thống kế toán là hoàn toàn cần thiết Từ đó cónhững cách nhìn toàn diện, tổng thể về kế toán của các quốc gia đã được xâydựng dựa trên đặc thù riêng của nền kinh tế và cách thức kiểm soát của nhànước đối với doanh nghiệp Trong nội dung này, luận văn đi sâu tìm hiểu về

kế toán doanh thu vận tải của Mỹ và Pháp Đây là hai nước điển hình cho haitrường phái kế toán khác nhau trên thế giới

1.3.1.1 Kế toán doanh thu vận tải theo mô hình kế toán tài chính

Mỹ ( trường phái Anglô-Sacxon)

* Ghi nhận doanh thu

Theo nguyên tắc cơ bản của kế toán Mỹ, doanh thu là dòng tiền vào, sựtăng lên của các loại vốn của đơn vị, hay sự giải quyết các khoản nợ (hoặc kếthợp cả hai) từ việc giao hàng, sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ hoặcnhững hoạt động khác hình thành nên những hoạt động chủ yếu của đơn vị,trong trường hợp đơn giản nhất, chúng tương đương với giá cả hàng hoá đãbán ra hay dịch vụ đã cung ứng trong một thời kỳ nhất định Nói cách khác,doanh thu được xác định là giá trị tài sản hoặc việc chấp nhận nợ mà doanhnghiệp có được từ việc cung cấp các sản phẩm, hàng hoá hoặc thực hiện dịch

vụ Một trong những vấn đề quan trọng nhất của kế toán doanh thu vận tải làphải xác định được thời điểm ghi nhận doanh thu Nhìn chung, việc ghi nhậndoanh thu vận tải được thực hiện trên nguyên tắc khi xác định được hoặc cóthể xác định được và khi thực thu được Doanh thu được xác định khi hànghoá và dịch vụ được trao đổi để nhận về một khoản tiền hoặc quyền được đòitiền Doanh thu thực thu được khi doanh nghiệp về cơ bản đã hoàn thành quá

Trang 36

trình cung cấp dịch vụ vận tải và thu được lợi Ých Tuy nhiên, do có sự đadạng khác nhau của các nghiệp vụ doanh thu nên doanh thu cũng có thể đượcghi nhận tại những thời điểm khác nhau trong quá trình cung cấp dịch vụ vậntải

+ Trường hợp 1: Ghi nhận doanh thu vận tải theo phương thức tiêu thụtrực tiếp

Theo phương thức tiêu thụ này, thời điểm thực hiện xong việc cung cấpdịch vụ vận tải cho khách hàng là thời điểm ghi nhận doanh thu vận tải Tổng

số tiền mà khách hàng thanh toán ngay, hoặc chấp nhận nợ sẽ được ghi nhận

là doanh thu vận tải của số dịch vụ vận tải đã thực hiện xong

Phương pháp hạch toán theo trường hợp này được phản ánh như sau:

Nợ TK “ Tiền mặt”

Nợ TK “ Phải thu ở khách hàng”

Có TK “ Doanh thu cung cấp dịch vụ”

+ Trường hợp 2: Ghi nhận doanh thu vận tải theo phương thức tiêu thụ

uỷ thác

Theo phương thức tiêu thụ này, các doanh nghiệp sẽ chuyển các chứng

từ thu bán (thường là các vé tàu, vé máy bay, ) cho các đại lý, uỷ thác cho cácđại lý bán hộ Doanh thu vận tải sẽ được ghi nhận khi doanh nghiệp nhậnđược báo cáo về các chứng từ thu bán và tiền bán do các đại lý chuyển đến.Doanh nghiệp sẽ phải trả cho các đại lý tiền hoa hồng do bán hộ các chứng từthu bán

Khi các đại lý nộp báo cáo các chứng từ thu bán và nộp tiền cho doanhnghiệp, kế toán ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ vận tải như sau:

Nợ TK “ Tiền mặt”

Nợ TK “ Chi phí hoa hồng”

Có TK “ Doanh thu cung cấp dịch vụ”

* Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu

Trang 37

- Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền chênh lệch giữa giá hoá đơn vàgiá niêm yết mà khách hàng được hiện khi sử các dịch vụ vận tải của doanhnghiệp Chiết khấu thương mại không được ghi lại trên sổ sách kế toán bởi vì

số chiết khấu thương mại này đã được phản ánh trong giá bán thực tế củadoanh nghiệp

- Giảm giá hàng bán: phát sinh khi cung cấp dịch vụ vận tải không đạtyêu cầu về chất lượng như đã qui định trong hợp đồng Khách hàng có thểyêu cầu doanh nghiệp giảm giá dịch vụ vận tải đã cung cấp Khoản dịch vụ bịgiảm giá này được hạch toán vào tài khoản “Giảm giá dịch vụ đã cung cấp”.Đây là tài khoản điều chỉnh cho tài khoản doanh thu

- Chiết khấu thanh toán: Là số tiền người mua được hưởng do thanhtoán trước thời hạn qui định Chiết khấu thanh toán thường được qui địnhngay trên hoá đơn cung cấp dịch vụ Có hai phương pháp ghi doanh thu đượcchấp nhận có liên quan đến chiết khấu thanh toán là doanh thu gộp và doanh thuròng

+ Phương pháp doanh thu gộp: Theo phương pháp này, doanh thu đượcghi nhận theo giá đã cung cấp dịch vụ vận tải Khoản chiết khấu thanh toángiành cho khách hàng trong thời hạn được hưởng chiết khấu phản ánh vào tàikhoản chiết khấu thanh toán Đây là tài khoản giảm trừ doanh thu

+ Phương pháp doanh thu ròng: Theo phương pháp này, khi thực hiệnxong việc cung cấp dịch vụ vận tải thì doanh thu vận tải được ghi sổ theo giá

đã trừ đi khoản chiết khấu cho khách hàng Do đó, nếu thu tiền của kháchhàng ngoài thời hạn được hưởng chiết khấu thì kế toán ghi khoản chiết khấu

đã tính trừ vào tài khoản chiết khấu thanh toán được hoàn lại và được xemnhư một tài khoản điều chỉnh tăng doanh thu

Nhận xét mô hình kế toán Mỹ

Ưu điểm:

Trang 38

- Mô hình kế toán Mỹ thuộc trường phái kế toán của các nước săcxon, đây là mô hình kế toán động, hướng tới thị trường tài chính là chủyếu nên cho phép các doanh nghiệp được tự do trong việc tổ chức kế toán.Nhà nước kiểm soát hoạt động kế toán thông qua các nguyên tắc kế toán đượcxây dựng thành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia, không có chế độ kếtoán Do hệ thống chuẩn mực kế toán được xây dựng rất cụ thể, chi tiết, cácnguyên tắc kế toán được giải thích rõ ràng đến từng trường hợp cụ thể.

Ănglo Vì là hệ thống kế toán mở nên kế toán doanh thu vận tải tại các doanhnghiệp có thể dựa vào chuẩn mực kế toán để thiết lập toàn bộ hệ thống thôngtin về kế toán doanh thu vận tải, từ đó giúp cho doanh nghiệp có thể chủ độngtrong công tác hạch toán kế toán

- Về thời điểm ghi nhận doanh thu vận tải được quy định về phươngpháp ghi nhận và hạch toán doanh thu vận tải rất rõ ràng và đều đặn dựa trênnguyên tắc đảm bảo tính thận trọng tối đa cho doanh nghiệp

Nhược điểm:

- Khoản chiết khấu thanh toán được xử lý ghi giảm trừ doanh thu dịch

vụ là không hợp lý, không đúng với bản chất nghiệp vụ

- Hạch toán khoản chiết khấu thanh toán theo phương pháp doanh thuròng là không hợp lý, vì tại thời điểm thực hiện xong việc cung cấp dịch vụvận tải chưa đủ bằng chứng pháp lý cần thiết để kế toán khấu trừ luôn khoảnchiết khấu này trừ vào doanh thu vận tải của doanh nghiệp trong khi thực tếkhoản chiết khấu thanh toán này chưa phát sinh

1.3.1.2 Kế toán doanh thu vận tải theo mô hình kế toán tổng quát Pháp ( trường phái Tây Âu)

Với mô hình kế toán tĩnh-thuế, kế toán được xem là một công cụ đểkiểm soát thuế của nhà nước, nên khác với kế toán Mỹ, kế toán Pháp quy địnhrất cụ thể, chi tiết cho các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh

Trang 39

tế Về kế toán doanh thu vận tải theo quy định kế toán tổng quát của Pháp như sau:

* Ghi nhận nghiệp vụ cung cấp dịch vụ vận tải

- Giá của dịch vụ đã cung cấp được hạch toán là giá thực tế, tức là tổng

số tiền ghi trên hoá đơn trừ đi các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu chấpthuận cho khách hàng

- Giá bán không bao gồm các khoản thuế đã thu của khách hàng và phảinộp cho nhà nước sau này

- Nếu có chiết khấu chấp thuận cho người mua đã trừ bớt đi trên tổngtrị giá hoá đơn cung cấp dịch vụ vận tải cũng phải kể vào giá dịch vụ Khoảnchiết khấu này được hạch toán vào chi phí tài chính

* Thời điểm ghi nhận doanh thu

Theo kế toán tổng quát của Pháp thì thời điểm ghi nhận doanh thu vậntải là khi việc cung cấp dịch vụ vận tải đã hoàn thành và đã có trong tay kếtquả của nghiệp vụ để ghi nhận vào sổ sách Cơ sở của quy định này là:

- Khi dịch vụ đã thực hiện xong, doanh nghiệp đã hoàn tất hết các côngviệc cung cấp dịch vụ vận tải cho khách hàng, còn các công việc còn lại sẽkhông đáng kể

- Vào thời điểm cung cấp dịch vụ vận tải thì giá đã được người bán vàngười mua thoả thuận là một sự đo lường khách quan thu nhập

- Thời điểm dịch vụ vận tải đã được thực hiện thì đồng thời cũng là lúcdoanh thu vận tải hình thành

* Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu

- Giảm giá: là khoản giảm trừ được chấp thuận một cách đặc biệt trêngiá đã thoả thuận vì lý do chất lượng dịch vụ vận tải không đạt yêu cầu theohợp đồng

- Bớt giá: là khoản giảm trừ trên giá dịch vụ thông thường vì lý do sửdụng dịch vụ vận tải với khối lượng lớn, khách hàng quen thuộc,

Trang 40

- Hồi khấu: là khoản giảm trừ tính trên tổng số các nghiệp vụ đã thựchiện với một khách hàng trong một thời gian nhất định.

- Chiết khấu thanh toán: là khoản tiền thưởng chấp nhận cho kháchhàng đã thanh toán trước thời hạn

Việc kế toán các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu được phân biệtthành hai trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu được ghi trênhoá đơn dịch vụ, các khoản này được trừ vào tổng số tiền ghi trên hoá đơn

Kế toán chỉ ghi nhận doanh thu vận tải theo giá bán thực thu

Trường hợp 2: Nếu các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu được chấpthuận ngoài hoá đơn dịch vụ, thì người cung cấp dịch vụ phải lập hoá đơn báo

có gửi cho khách hàng và khoản giảm trừ này được ghi giảm doanh thu dịch

vụ vận tải vào cuối kỳ Nếu nghiệp vụ này xảy ra vào cuối năm, doanh nghiệpchưa lập hoá đơn báo có gửi cho khách hàng thì kế toán tạm thời ghi nhậnkhoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu sẽ trả cho khách hàng và kết chuyển cáckhoản giảm trừ này vào doanh thu cung cấp dịch vụ vận tải trong kỳ Sangnăm sau ghi bút toán đảo ngược để xoá bỏ bút toán đã điều chỉnh ở cuối nămtrước Sau đó khi lập hoá đơn thì kế toán ghi nhận bình thường như đã nêu

Về kế toán khoản chiết khấu thanh toán được hạch toán là một khoảnchi phí tài chính của doanh nghiệp

Theo chế độ kế toán Pháp ban hành 1982 đã sửa đổi theo Quyết định

9903 ngày 29/4/1999 thì tài khoản sử dụng chủ yếu để kế toán doanh thu cungcấp dịch vụ vận tải là TK 706 “Cung cấp dịch vụ” Ngoài ra, kế toán còn sửdụng một số các tài khoản khác liên quan là: TK 4457 “Thuế TVA thu hộ”;

TK 411 “Khách hàng”; TK 709 “Giảm giá, bớt giá, hồi khấu do doanh nghiệpchấp nhận”; TK 665 “Chiết khấu đã chấp thuận”; TK 531 “Tiền mặt”; TK

512 “Tiền gửi ngân hàng”; TK 44587 “TVA hoá đơn chưa lập”, TK418 “

Ngày đăng: 14/03/2023, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w