Khuyến khích người nhà bệnh nhân phối hợp với cán bộ y tế tham gia giám sát bệnh nhân dùng thuốc đúng nguyên tắc, đặc biệt là dùng thuốc đều đặn trong giai đoạn điều trị duy trì.. Mục ti
Trang 1Đặt vấn đề: Tình hình bệnh lao trên thế giới trong những năm gần đây đã có xu hướng quay trở lại và trầm trọng lên, đặc biệt ở các nước đang phát triển Tuân thủ các nguyên tắc điều trị lao (NTĐT) là điều kiện tiên quyết bảo đảm điều trị thành công Mục tiêu: Mô tả thực trạng tuân thủ các nguyên tắc điều trị (TTĐT) của bệnh nhân lao phổi Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang, phỏng vấn có cấu trúc 174 bệnh nhân lao phổi đến khám và điều trị tại phòng khám lao quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân lao phổi không TTĐT còn cao Nhìn chung trong giai đoạn tấn công, tỷ lệ không TTĐT cao hơn giai đoạn duy trì Tỷ lệ không tuân thủ các NTĐT
ở hai giai đoạn tương ứng là 88,5% và 66,7% Tỷ lệ không tuân thủ từ 3 NTĐT trở lên cao, chiếm 30% và 22,4%; NTĐT không được tuân thủ nhiều nhất là dùng thuốc đều đặn, chiếm 90% và 86,2%
ở hai giai đoạn tấn công và duy trì Khuyến nghị: cần tăng cường nâng cao nhận thức cho bệnh nhân, cá nhân và cộng đồng về ý nghĩa của TTĐT Khuyến khích người nhà bệnh nhân phối hợp với cán bộ y tế tham gia giám sát bệnh nhân dùng thuốc đúng nguyên tắc, đặc biệt là dùng thuốc đều đặn trong giai đoạn điều trị duy trì
Từ khóa: tuân thủ điều trị, nguyên tắc điều trị, lao
Current situation of treatment adherence among pulmonary tuberculosis patients
Uong Thi Mai Loan (*), Ho Thi Hien (**), Luu Thi Lien (*)
Background: In recent years, recurrence and worsening situation of tuberculosis (TB) have been found worldwide, especially in many developing countries Treatment adherence is the crucial factors ensuring the effectiveness of treatment Objectives: to describe the situation on treatment adherence among patients with pulmonary TB Methods: The study employed a cross sectional design, with structured-questionnaire interviews given to 174 patients treated at Hai Ba Trung district TB clinic Results: The proportion of TB pulmonary patients who were not in compliance with treatment is still high In general, the adherence is better in initial intensive phase compared to maintenance phase The percentage of patients not adhering to treatment was 88.6 and 66.7% in the initial and maintenance phases, respectively The percentage of patients not adhering to at least 3 principles
Thực trạng tuân thủ các nguyên tắc điều trị lao của bệnh nhân lao phổi điều trị tại phòng khám
lao Hai Bà Trưng năm 2009
Uông Thị Mai Loan (*), Hồ Thị Hiền (**), TS Lưu Thị Liên (*)
Trang 21 Đặt vấn đề
Tình hình bệnh lao trên thế giới trong những
năm gần đây đã có xu hướng quay trở lại và trầm
trọng lên Trên thế giới hiện nay có khoảng 2,2 tỷ
người đã nhiễm lao (chiếm 1/3 dân số thế giới) Có
khoảng 95% số bệnh nhân lao và 98% số người chết
do lao ở các nước có thu nhập vừa và thấp, 75% số
bệnh nhân ở độ tuổi lao động [3]
Mặc dù vắc-xin BCG đã được đưa vào chương
trình tiêm chủng mở rộng, chương trình chống lao
triển khai đến tuyến xã đảm bảo phát hiện và tổ
chức quản lý điều trị lao theo chiến lược hóa trị liệu
ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp (DOTS) với độ bao
phủ hơn 99% dân số, Việt Nam vẫn đứng thứ 12
trong 22 quốc gia có tỷ lệ lao cao trên thế giới Hàng
năm cả nước xuất hiện khoảng 150.000 bệnh nhân
lao mới (tương đương với 173/100.000 dân), tỷ lệ
hiện mắc các thể lao là 225/100.000 dân Số người
chết do lao khoảng 20.000 (23/100.000 dân) [2]
Bên cạnh đó, tỷ lệ kháng thuốc ở mức báo động cao
[4], chiếm 32,5%, chỉ đứng sau Thái Lan (36,6%),
Latvia (34%) và Cộng hòa Dominica (40,6%) [8]
Chi phí điều trị bệnh nhân lao kháng đa thuốc tăng
lên 100 lần so với bệnh nhân lao không kháng thuốc
và thậm chí không điều trị được ở một số trường
hợp Song hành với lao là đại dịch HIV làm trầm
trọng thêm tình trạng nhiễm lao và hiệu quả điều trị
của hai bệnh này Vì thời gian điều trị lao thường
kéo dài, cho nên TTĐT lao còn gặp nhiều khó khăn
Việc TTĐT lao là điều kiện quyết định kết quả điều trị, giảm tình trạng kháng thuốc
Quận Hai Bà Trưng là một quận nội thành có số lượng và tỷ lệ bệnh nhân lao nhiều nhất thành phố, tỷ lệ mắc lao cao nhất thành phố Hà Nội [1] Mỗi năm phòng khám lao Hai Bà Trưng thu nhận khoảng 300 bệnh nhân lao Tỷ lệ tái phát và thất bại khá cao chiếm 13,8%, tỷ lệ điều trị khỏi năm 2009
ở đây chỉ đạt 78% Trong khi đó, mục tiêu chương trình chống lao Hà Nội là đạt tỷ lệ khỏi trên 90% Qua sổ sách và đánh giá sơ bộ về tình hình TTĐT bệnh lao ở đây cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân không làm đủ xét nghiệm đờm trong điều trị lao phổi là 12%, không lĩnh đủ thuốc là 16% Việc điều trị lao còn gặp nhiều khó khăn chủ yếu là do bệnh nhân chưa thực hiện TTĐT đúng
Mục tiêu của bài viết này nhằm Mô tả thực trạng tuân thủ 6 nguyên tắc điều trị bệnh lao của bệnh nhân lao phổi được quản lý và theo dõi điều trị tại phòng khám lao Hai Bà Trưng năm 2009; từ đó đề ra một số giải pháp tăng cường tuân thủ các nguyên tắc điều trị cho bệnh nhân lao phổi Các số liệu phân tích về mối liên quan, các yếu tố nguy cơ về TTĐT đã được trình bày ở các bài báo khoa học khác [10]
2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang Số liệu được nghiên cứu viên chính thu thập trên
was high as well, accounting for 30% and 22.4% in the two phases The principle of regular medication was least adhered by 90% and 86.2% of patients at the initial and maintenance phases, respectively Recommendations: Raising awareness on the significance of treatment adherence for
TB patients and the community is needed It is important to encourage family members of TB patients
to collaborate with health workers in monitoring patients using medications, especially adherence
to the principle of regular medication at maintenance phase
Key words: treatment adherence, treatment principles, tuberculosis, TB
Tác giả:
(*) - Ths Uông Thị Mai Loan - Bệnh viện Phổi Hà Nội
E mail:uongmailoan@yahoo.com Điện thoại: 0985 086 488
- TS Lưu Thị Liên - Bệnh viện Phổi Hà Nội.
(**) TS Hồ Thị Hiền - Bộ môn Dịch tễ Thống kê - Trường Đại học Y tế Công cộng
Địa chỉ: 138 Giảng Võ - Ba Đình - Hà Nội E.mail: hth1@hsph.edu.vn
Trang 3174 bệnh nhân lao phổi, sử dụng bộ câu hỏi có cấu
trúc Phương pháp chọn mẫu toàn bộ bệnh nhân
được sử dụng
Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân lao phổi được
thu nhận quản lý, điều trị tại phòng khám lao Hai
Bà Trưng kể từ tháng 1/2009 đến 12/2009 đáp ứng
được các tiêu chuẩn sau:
- Từ 15 tuổi trở lên
- Bệnh nhân có tên trong sổ đăng ký điều trị của
phòng khám năm được thu nhận từ tháng 1-12/2009
- Có đủ sức khỏe tham gia nghiên cứu
Bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp tại nhà Sử
dụng bộ câu hỏi có cấu trúc về kiến thức, thái độ,
thực hành của bệnh nhân về TTĐT Số liệu thứ cấp
được sử dụng để đối chiếu từ sổ theo dõi quản lý
bệnh nhân và hồ sơ bệnh án của bệnh nhân tại
phòng khám Thu thập số liệu được thực hiện bởi
nghiên cứu viên chính là bác sĩ trực tiếp điều trị
Số liệu thu thập được được nhập bằng phần
mềm EpiDaa 3.1 và sử dụng phần mềm SPSS 16.0
để phân tích số liệu Trong bài viết này, các biến số
được sử dụng để phân tích thống kê mô tả Các nội
dung liên quan đến thống kê phân tích, xác định các
mối liên quan, yếu tố nguy cơ đã được trình bày
trong các bài viết khác
Các thang điểm về thực hành được tính toán
như sau: tính điểm 6 nguyên tắc điều trị tương ứng
với 6 câu hỏi Bệnh nhân trả lời thực hiện đúng mỗi
nguyên tắc tính 1 điểm Tổng điểm đạt 6 là bệnh
nhân tuân thủ đúng NTĐT, dưới 6 là không tuân thủ
đúng NTĐT
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Thông tin chung về đối tượng
nghiên cứu
Có 174 bệnh nhân (91% số bệnh nhân được
chọn) tham gia vào nghiên cứu Thông tin chung
của đối tượng nghiên cứu được trình bày ở Bảng 1
Phần lớn bệnh nhân lao phổi trong nghiên cứu
là nam giới, chiếm 82,2% Tuổi trung bình của đối
tượng nghiên cứu là 42 Hầu hết bệnh nhân tham gia
nghiên cứu đã học hết trung học cơ sở (THCS) và
trung học phổ thông (THPT), chiếm tỷ lệ tương ứng
là 32,8% và 39,7% Nghề tự do, bao gồm buôn bán,
nội trợ, lái xe chiếm tỷ lệ cao nhất (58%), tiếp đến
là cán bộ (17,8%); học sinh, sinh viên chiếm 13,8%
Hầu hết bệnh nhân có mức sống nghèo (23,6%) và
trung bình (74,7%) Thang điểm về mức sống được đối tượng nghiên cứu tự đánh giá
Bảng 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 2 Phân bố tiền sử của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3 Phân bố thể bệnh lao của đối tượng nghiên cứu
Trang 4Trong số bệnh nhân được phỏng vấn 60,3% có
tiền sử hút thuốc lá, 18,4% bệnh nhân được tiêm
phòng lao (Bảng 2)
Trong 174 bệnh nhân có 139 trường hợp lao
phổi mới chiếm 79,9%; và 35 bệnh nhân lao phổi
điều trị lại (20,1%) (Bảng 3)
3.2 Thực hành về việc tuân thủ các nguyên
tắc điều trị
Nhìn chung, trong giai đoạn tấn công, bệnh nhân
TTĐT tốt hơn Giai đoạn tấn công số bệnh nhân
TTĐT chiếm 88,5% Có 20 bệnh nhân không tuân
thủ các nguyên tắc điều trị chiếm 11,5% Giai đoạn
duy trì số bệnh nhân TTĐT thấp hơn, chiếm 66,7%
(Bảng 4)
Mức độ không TTĐT của bệnh nhân được trình
bày trong Bảng 5: Bệnh nhân không tuân thủ 1
nguyên tắc chiếm tỷ lệ cao nhất: 65% ở giai đoạn tấn
công; tỷ lệ này ở giai đoạn duy trì thấp hơn (55,2%)
Tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ 3 NTĐT là cao nhất,
tương ứng là 15% và 8,6% ở giai đoạn tấn công và
duy trì Tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ từ 3 NTĐT
trở lên còn cao, chiếm tỷ lệ tương ứng là 30% và 22,4% ở giai đoạn tấn công và duy trì Không có bệnh nhân nào không tuân thủ cả 6 nguyên tắc điều trị Bảng 6 mô tả mức độ tuân thủ từng NTĐT trong
2 giai đoạn Nguyên tắc dùng thuốc đều đặn, nhiều bệnh nhân không tuân thủ nhất, 90% ở giai đoạn tấn công và 86,2% ở giai đoạn duy trì Tiếp đến là nguyên tắc khám bệnh đúng hẹn (30% ở giai đoạn tấn công và 41,4% ở giai đoạn duy trì) Ở cả hai giai đoạn, số bệnh nhân không tuân thủ nguyên tắc dùng thuốc đúng liều ít nhất (chiếm khoảng 5% ở cả hai giai đoạn)
4 Bàn luận 4.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Trong mẫu nghiên cứu, 174 bệnh nhân lao phổi được quản lý và điều trị tại quận Hai Bà Trưng từ 01/01/2009 đến 31/12/2009, nam giới là chủ yếu, chiếm 82,2% Kết quả này tương tự với tình trạng mắc lao chung là nam gặp nhiều hơn nữ và tương tự với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Tiến trong
6 năm từ 1998-2003 [6] Mắc bệnh tập trung ở lứa tuổi lao động, 15-44 chiếm tỷ lệ cao 52,2%; lứa tuổi từ 45-59 chiếm 28,7%
Về trình độ học vấn, bệnh nhân học hết THCS và THPT chiếm đa số (32,8% và 39,7%) Trình độ cao đẳng chiếm 11,5%, đại học chiếm 8,0% Điều này cho thấy, có lẽ người có trình độ học vấn cao có kiến thức, biết cách phòng bệnh và có điều kiện môi trường sống tốt hơn nên tỷ lệ mắc lao thấp hơn Bệnh nhân chủ yếu làm nghề tự do, buôn bán chiếm 55,8% Phần lớn bệnh nhân làm buôn bán nhỏ ở
Bảng 4 Tình hình tuân thủ các nguyên tắc điều trị
của bệnh nhân
Bảng 5 Mức độ không tuân thủ các nguyên tắc điều trị
Bảng 6 Mức độ không tuân thủ từng nguyên tắc điều
trị của ĐTNC
Trang 5những khu chợ chật chội, điều kiện sống và làm
việc thấp kém, bốc vác là nghề vất vả thường ở
những khu lao động, đây là những yếu tố làm cho
họ có nguy cơ mắc bệnh lao cao hơn Hai Bà Trưng
lại là địa bàn đất chật người đông, nhiều ngõ ngách
ẩm thấp tối tăm, môi trường sống không thông
thoáng, thường xuyên bị ô nhiễm [9] Mức sống của
đối tượng nghiên cứu: nghèo chiếm 23,6%; trung
bình chiếm tỷ lệ cao nhất (74,7%) Điều kiện sống
khó khăn cũng là môi trường ảnh hưởng đến tình
trạng nhiễm lao
Trong số bệnh nhân tham gia phỏng vấn, tỷ lệ
bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá cao (60,3%) Đây
cũng là yếu tố làm bệnh nhân lao mắc kèm thêm
các bệnh phổi và ảnh hưởng xấu đến quá trình điều
trị bệnh lao Tỷ lệ bệnh nhân tham gia nghiên cứu
được tiêm phòng lao thấp, chỉ có 18,4% Đây cũng
là một nhiệm vụ mà chương trình lao cần phối hợp
với chương trình tiêm chủng mở rộng để đảm bảo
100% trẻ em được tiêm phòng lao
4.2 Thực hành việc tuân thủ các nguyên tắc
điều trị của bệnh nhân lao
Tỷ lệ TTĐT ở hai giai đoạn tấn công và duy trì
tương ứng là 88,5% và 66,7% Tỷ lệ tuân thủ ở
nghiên cứu này cao hơn nghiên cứu của Nguyễn
Duy Hưng ở Châu Giang, Hưng Yên với tỷ lệ điều
trị không đúng ở giai đoạn tấn công 50,9% và duy
trì là 44,5% [5] Sự khác biệt này có lẽ do sự quan
tâm chưa đồng đều về chương trình chống lao quốc
gia, mặt khác do nhận thức của người dân nông thôn
về điều trị lao còn thấp hơn ở thành phố; phần vì do
điều kiện kinh tế ở Châu Giang thấp hơn nhiều so
với ở Hai Bà Trưng, Hà Nội
Trong giai đoạn tấn công, TTĐT được thực hiện
tốt hơn giai đoạn điều trị duy trì Trong giai đoạn tấn
công bệnh nhân phải ra trạm y tế phường hàng ngày
để tiêm và uống thuốc dưới sự giám sát trực tiếp của
cán bộ y tế phường Hơn nữa bệnh nhân điều trị ở
giai đoạn đầu của bệnh tâm lý còn lo lắng nên tập
trung nhiều vào việc điều trị bệnh Những tháng
sau bệnh nhân được phát thuốc về nhà tự uống, lúc
này người bệnh thường không còn triệu chứng gì
như: sốt, ho, đau ngực… mà ăn ngủ tốt, lên cân (nhờ
kết quả giai đoạn điều trị tấn công) Nhiều bệnh
nhân tin rằng mình đã khỏi bệnh, không dùng thuốc
nữa và lại tiếp tục đi làm Điều này rất nguy hiểm
vì bệnh chưa khỏi, lúc đó mới chỉ những vi khuẩn
khu trú ở lòng các hang lao bị tiêu diệt, còn các vi
khuẩn "nằm vùng" vẫn tồn tại và sẽ phát triển trở lại Người bệnh sẽ bị bệnh với bệnh cảnh nặng hơn, chữa khó hơn, tốn kém hơn vì có nhiều khả năng vi khuẩn đã kháng thuốc thứ phát với các thuốc lao Nếu người bệnh trở thành nguồn lây thì truyền bệnh cho những người khác với chủng vi khuẩn lao đã kháng thuốc
Về mức độ TTĐT, ở giai đoạn duy trì, trong số
58 bệnh nhân không TTĐT thì số bệnh nhân không tuân thủ một nguyên tắc chiếm tỷ lệ cao nhất 55,2% Không có bệnh nhân nào không tuân thủ cả
6 nguyên tắc Tuy vậy, mức độ không tuân thủ nhiều nguyên tắc còn cao Tỷ lệ không tuân thủ từ
3 nguyên tắc trở lên chiếm 22,4%
Nguyên tắc dùng thuốc đều đặn bệnh nhân không tuân thủ nhiều nhất, chiếm 86,2% Đây có lẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tái phát, thất bại trong điều trị tại quận Hai Bà Trưng cao; tiếp theo là nguyên tắc khám bệnh đúng hẹn 24/58 (chiếm 41,4%) Trong nghiên cứu của Nguyễn Duy Hưng ở Châu Giang, Hưng Yên, bệnh nhân không dùng thuốc đúng quy cách chiếm tỷ lệ cao nhất (39,1%) [5], còn trong nghiên cứu của Phạm Ngọc Hân ở Hoàn Kiếm, Hà Nội, bệnh nhân không dùng thuốc đủ thời gian chiếm tỷ lệ cao nhất 84,9% [7] Theo số liệu từ sổ sách tại quận Hai Bà Trưng, số bệnh nhân không đến lĩnh đủ thuốc là 15/174 (chiếm 8,6%)
Một số lý do khiến bệnh nhân không TTĐT là do mệt (25,9%), do quên (chiếm 25,9%), do bận công việc (chiếm 24,1%), cảm thấy đỡ cho là bệnh đã khỏi (13,8%), chưa kịp lĩnh thuốc khi hết (10,3%), ngoài
ra có một số lý do khác như cho là thuốc gây hại phải uống lúc no, nghỉ để điều trị bệnh khác, do mất thuốc, cán bộ y tế chưa tư vấn kỹ…chiếm tỷ lệ thấp
Một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ các nguyên tắc điều trị như: Bệnh nhân có trình độ học vấn càng cao thì TTĐT tốt hơn những bệnh nhân có trình độ học vấn thấp; bệnh nhân là cán bộ công nhân viên chức, học sinh sinh viên TTĐT tốt hơn bệnh nhân có nghề nghiệp tự do (buôn bán, ở nhà…); bệnh nhân không có tác dụng phụ của thuốc TTĐT tốt hơn những bệnh nhân có tác dụng phụ của thuốc; Có sự quan tâm, gần gũi, động viên nhắc nhở của người thân, gia đình, cán bộ y tế, các ban ngành đoàn thể địa phương cũng làm bệnh nhân TTĐT tốt hơn Tóm lại, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu TTĐT còn chưa cao Số không tuân thủ TTĐT còn nhiều,
Trang 633,3% ở giai đoạn duy trì Mức độ không tuân thủ
nhiều nguyên tắc còn tương đối cao, 22,4% sai từ 3
nguyên tắc trở lên Nguyên tắc điều trị đều đặn
bệnh nhân không tuân thủ nhiều nhất: 50/58 trường
hợp không tuân thủ chiếm tỷ lệ 86,2% Nguyên tắc
1 (dùng thuốc đúng liều) bệnh nhân không tuân thủ
ít nhất: 3/58 chiếm tỷ lệ 5,2%
Nhìn chung, TTĐT lao của bệnh nhân còn thấp,
trong đó, giai đoạn điều trị duy trì bệnh nhân TTĐT
kém hơn Ở giai đoạn điều trị duy trì, nguyên tắc
điều trị đều đặn bệnh nhân không tuân thủ nhiều
nhất 86,2% Nguyên tắc dùng thuốc đúng liều bệnh
nhân không tuân thủ ít nhất, chiếm 5,2%
Cần tăng cường công tác truyền thông giáo dục cho bệnh nhân và cộng đồng về NTĐT và tầm quan trọng của tuân thủ điều trị bệnh lao Đồng thời, tư vấn cho gia đình, người thân những kiến thức về bệnh lao đặc biệt là việc giám sát điều trị bệnh nhân để họ phối hợp với cán bộ y tế trong việc giám sát quá trình tuân thủ điều trị của bệnh nhân đặc biệt là trong giai đoạn duy trì Phối hợp tư vấn cho người nhà và bệnh nhân đặc biệt là về nguyên tắc dùng thuốc đều đặn Tăng cường thực hiện DOTS trong cả hai giai đoạn điều trị tại tuyến xã phường
Tài liệu tham khảo
1 Bệnh viện lao và bệnh phổi (2009), Báo cáo hoạt động
chương trình phòng chống lao Hà Nội 6 tháng đầu năm 2009,
Hà Nội
2 Chương trình chống lao quốc gia Việt Nam (2009), Hướng
dẫn quản lý bệnh lao, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
3 Chương trình phòng chống lao Việt Nam (2009), Bệnh
lao, truy cập từ:
http//:digitaltelevision.wetpaint.com/page/CHƯƠNG+TRÌ
NH+PHÒNG+CHỐNG+LAO+VIỆT+NAM, ngày
20/3/2009.
4 Lưu Thị Liên, Trần Văn Sáng (2002), Nhận xét tình hình
kháng thuốc của vi khuẩn lao ở những bệnh nhân lao phổi
thất bại và tái phát, Tóm tắt các công trình nghiên cứu khoa
học Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nội, Hà Nội.
5 Nguyễn Duy Hưng (1998), Một số yếu tố ảnh hưởng đến
điều trị lao phổi ở huyện Châu Giang,Hưng Yên, Luận văn thạc
sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
6 Nguyễn Đình Tiến (2004), Tình hình phát hiện và điều trị lao trong 6 năm (1998 2003) tại khoa lao và bệnh phổi -Bệnh viện 103 Vientiane - Lào, Nội san lao và bệnh phổi, Tập 40, tr 27-30.
7 Phạm Ngọc Hân (2005), Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới việc tuân thủ nguyên tắc điều trị của bệnh nhân lao được quản lý, điều trị tại quận Hoàn Kiếm - Hà Nội, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại hoc Y tế Công cộng, Hà Nội.
8 Trần Văn Sáng (1999), Vi khuẩn lao kháng thuốc cách phòng và điều trị, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
9 Ủy ban nhân dân quận Hai Bà Trưng (2009), Hội nghị tổng kết công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân năm 2009, phương hướng nhiệm vụ năm 2010, Hà Nội.
10 Uông Thị Mai Loan, Hồ Thị Hiền, Vũ Thị Tường Vân (2011) Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị lao ở bệnh nhân lao phổi Tạp chí y tế Công cộng, số 20 (20), tr 24-28