1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN " Từ cổ mẫu đến hệ hình tượng nhân vật gây ám ảnh trong truyện ngắn Việt Nam đương đại " docx

44 858 8
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ Cổ Mẫu Đến Hệ Hình Tượng Nhân Vật Gây Ám Ảnh Trong Truyện Ngắn Việt Nam Đương Đại
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận Văn học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 364,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với truyện ngắn Việt Nam đương đại, một lần nữa cô mẫu lại trở thành một thành tô trong tư duy nghệ thuật, và không chỉ dừng lại ở đó, đôi khi nó còn đóng vai trò như một nhân vật góp p

Trang 1

WA BE A Ar rr ẤY ẤY ẤY ẤY YẤY ẤY ẤY TY YY VY

Trang 2

MỤC LỤC

DAN LUAN

1 Lý do chọn đề tai

2 Lịch sử nghiên cứu

3._ Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4 Phuong pháp nghiên cứu

5 Đóng góp của luận văn nhìn từ ý nehĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6 Kêt câu luận văn

CHUONG 1

HUYEN THOAI VA HUYEN THOAI TRONG VAN HỌC

1.1 Khái niệm “huyền thoại” và một số lý thuyết về huyền thoại

1.2 Huyễn thoại hóa như một thủ pháp đặc sắc của văn học hiện đại

1.3 Huyền thoại tronø văn học Việt Nam đương đại

Trang 3

2.1.2 Những môtip chuyển hóa từ truyền thuyết, huyền thoại cố

2.1.3 C6 mau va con đường thoát thai từ huyền thoại cổ

2 2 Từ cô mẫu đến hệ hình tương nhân vật gây ám ảnh trons truyện nøắn Việt Nam đương đại

2.2.1 Những vũ điệu của nước

2.2.2 C6 mau lia

2.2.3 Giác mơ như một cô mẫu

2.3 Giải huyện thoại - phản đề trong truyện

2.3.1 Quan niệm về “giải huyền thoại ”

2.3.2 Giải huyền thoại và cảm hứng giải thiêng trong truyện ngắn Việt Nam đương đại

Trang 4

CHƯƠNG 3

YEU TO HUYEN THOAI TRONG TRUYEN NGAN VIET NAM DUONG DAI — KHAO SAT TREN MOT SO PHUONG DIEN NGHE THUAT TIEU

BIEU

3.1 Người ké chuyén huyén thoai

3.1.1 Từ người kế chuyện dân gian

3.1.2 Đến người kế chuyện trong truyện ngắn đương đại

3.1.3 Song chiếu giữa người kế chuyện và điểm nhìn huyền thoại

3.2 Thời gian huyện thoại

3.2.1 Xóa mờ đường viên lịch sử

3.2.2 Thời gian tâm linh hư áo

3.3 Không gian huyện thoại

3.3.1 Không gian của bóng lồi và cõi âm,

3.3.2 Không gian mặt nước và những dấu chỉ linh thiêng

3.4 Câu trúc huyện thoại

3.4.1 Xung đột kích thước huyền thoại và đời thường qua tuyến nhân vật

Trang 5

3.4.2 Kịch tính phát triển xoáy theo độ thắt nút cốt truyện

3.4.3 Cấu tạo "dự ba", ám ảnh huyện thoại

KẾT LUẬN

THƯ MỤC THAM KHAO

Trang 6

Đi ra từ vô thức cộng đông, cỗ mẫu được đúc kết thành những biểu tượng mang tính phô quát và quy tụ vào huyện thoại dưới dạng một câu

chuyện kê Với truyện ngắn Việt Nam đương đại, một lần nữa cô mẫu lại trở

thành một thành tô trong tư duy nghệ thuật, và không chỉ dừng lại ở đó, đôi khi nó còn đóng vai trò như một nhân vật góp phân thúc đây diễn tiễn của tác phẩm Khi tìm hiểu về cô mẫu ước trong văn chương Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân cho rằng: “ khác với nhân vật - Người vốn

phổ biến, thường mở ra cánh cửa bước vào xã hội, nhán vật - Nước, vốn đặc

biệt, thường mở ra cánh cửa bước vào thiên nhiên ` [[ 70; 196] Đây cũng là

một gợi mở quan trọng cho chúng tôi khi đi vào tìm hiểu vẫn đề này Qua quá

trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy, cùng với øước lứa và giấc mơ cũng xuất hiện với tư cách là những cô mẫu và ở một góc độ nào đó, chúng góp phân quan trọng trong việc thúc đây diễn tiễn câu chuyện, đồng thời trở thành những nhân vật sống động, biến hóa trên trang viết của nhiều nhà văn

2.2.1 Những vũ điệu của nước

2.2.1.1 Nước và ý nghĩa biểu tượng

Không phải ngẫu nhiên mà mọi nên văn minh cô đại đêu được khai sinh bên những dòng sông Hơn một ngàn năm trước công nguyên, Kinh Veda (cội gốc của giới Bà La Môn và là suỗi nguồn của nền văn minh An

Độ) từng vang lên lời ngợi ca dòng nước mang lại sự sống, sức mạnh và sự

thanh tây:

Trang 7

Hồi những dòng nước hôi sức cho đời,

Hãy mang lại cho chúng tôi sức mạnh,

Sự cao cả, niêm vui, cảnh mộng!

( )Hỡi những dòng nước, xin hãy cuồn di cdi tội lôi này, dù lớn hay nhỏ mà tôi đã phạm, cái điều không hay mà tôi đã gây cho ai đó, câu

thê nguyện dối trá mà tôi đã thốt ra [47; 706]

Cựu trớc và tiếp đó là Tân ước của người Do Thái giáo và Kitô giáo cũng không ngừng ngợi ca vẻ đẹp của nước Những cuộc gặp gỡ quan trọng trong Kinh thánh thường diễn ra bên giếng nước Nước lưu giữ những điều linh thiêng, những hoan lạc kỳ thú Hành trình của người Do Thái tìm về miễn đất hứa cũng là hành trình tìm đến dòng nước thiêng - nước Thanh tây

Ý nghĩa tượng trưng của nước thường xoay quanh ba chủ đề chính:

“nước - nguồn sống, nước - phương tiện thanh tẩy, và nước - trung tâm tái sinh” [47;709] Đây là ba chủ đề thường xuyên được đề cập đến trong các truyền thuyết, huyền thoại cố, từ đó hình thành những lớp kết cấu ý nghĩa bên

vững

Là chất lỏng, nước có khuynh hướng hòa fan, nhưng nước cũng có khả

năng kết tụ Với người Hindu giáo, nước được coi 1a sattva (su thanh khiết),

và vì nước chảy xuống chỗ thấp nên khuynh hướng của nó là /ømas (trời); nước lan tỏa theo mặt phẳng nằm ngang nên nó tương ứng với r/as (lan rộng) Đó là ba đặc tính tương ứng với sự hiển mình, đân độn, và đam mê [47;709]

Trang 8

Người Châu A xem nước là biểu tượng của sự sống, sự sinh sôi nảy nở

Và vì nước mang trong nó “sự hiển minh, không chứa đựng sự tranh chấp,

nước tự do và không hé bi ràng buộc, fự đề mình cháy trôi theo chiếu dốc của

mặt đất ” [47710] nên nó được xem là “công cụ thanh tầy” trong nghi lễ của

nhiều tôn giáo khác nhau trên thé giới (Đạo giáo, Đạo Hỗi, Kitô giáo, Ấn Độ

giáo) Cùng với tính năng thanh tây, nước còn mang trong nó sức mạnh tái sinh, sức mạnh của sự bất tử Sức mạnh ấy ân chứa dưới lớp vô thức và là sức mạnh không định hình của tâm hôn C.G.Jung cho rằng: “zước là biểu tượng

phổ biến nhất dành cho vô thức ”, và về phương diện tâm lý học “#„ước là tỉnh thân đã trở thành vô thức ( ) Nước là trần thể và hữu hình, nó cũng là

chat long của cơ thể bản năng tính, máu và là dòng lưu chuyến của máu, là

mùi của thu tính, tính nhục dục mạnh với đam mê” [48; 93]

Cũng như Jung, G.Bachelard đã có những phút giây chiêm nghiệm sâu lắng với nước Trong công trình LEau et les Rêves (Nước và những giấc mo,

1942), ông đã dệt nên những “biến tấu” kỳ diệu về chủ đề nước Ở đó có

những dòng nước trong, những dòng nước mùa xuân, những dòng nước chảy,

những dòng nước đa tình, những dòng nước sâu, nước tù đọng, chết chóc, nước pha tạp, nước dịu hiền, nước dữ đội Ngân ay dòng nước là ngân ay

biểu tượng lấp lánh tựa những tia sáng phản chiếu từ tắm gương dưới nắng

mặt trời Với G.Bachelard, nước là “zmội kiểu định mệnh đặc thi” Ông cho

rằng “Trong bê sâu của mình, con người đã có định mệnh của nước dang

chảy” [168; 273] Khi thịnh nộ, nước chuyền từ âm (êm đêm/ nữ tính) sang

dương (đữ đội/ nam tính) Nước mang trong nó số phận, dáng vóc, tâm hồn

Trang 9

và giọng nói Và như vậy, nước được khám phá và nhận diện chăng khác nào một nhân vật, một con người

Trong tâm thức người Đông Nam Á nói chung, cũng như người Việt

Nam nói riêng, nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, gắn liền với văn minh

lúa nước Rất nhiêu nghi thức và nếp sinh hoạt văn hóa diễn ra bên sông Ký

ức về nước, với họ, thường đi liền với những câu chuyện cổ, những truyền thuyết, huyện thoại linh thiêng về các vị thân Nước mang lại sự sông tốt tươi, nhưng nước cũng chứa đựng trong nó cái uy lực khiến người ta khiếp đảm, nước có kha năng nhân chìm tất cả (lũ lụt, sóng thân ) Cũng từ đó mà xuất hiện văn hóa sùng bái nước và những lê hội nước v.v

Về mặt từ nguyên, ở nước ta, ngoài việc chỉ một dạng vật chất, „ước

còn kết hợp với đất làm nên khái niệm “đá ước ” - chỉ phạm vi lãnh thô

Năm trong trường nghĩa này còn có giang sơn, sơn hà, nước non Với người Việt, nước không chỉ gắn với ý niệm khởi nguyên mà nó còn là những øì thân

thiết, ruột thịt Và như một lẽ tự nhiên, nước trở thành một phân kí ức, ăn

sâu vào tiêm thức mỗi người Nước thấp thoáng, ấn hiện trong lời ăn tiếng nói của chúng ta mà nếu không đề ý ta sẽ không nhận ra Có bao giờ ta thắc mắc

tại sao lại là lặn lội, quá giang, xe đò, hay tại sao lại là bề dâu, bể khổ ? Rat nhiều cách diễn đạt tương tự như vậy mà nêu làm một cuộc truy tìm ta sẽ lần

ra được “soi chi” dẫn đến “hệ cổ mẫu nước”

2.2.1.2 Hệ cô mâu Nước trong truyện ngăn Việt Nam đương dai Huyễn thoại Việt Nam ngay từ buốồi đầu đã lưu giữ không ít câu chuyện

vê nước, có thê kê đên như sự tích Quá bâu mẹ, Đẻ đít để nước, Con rong

Trang 10

cháu tiên, Sơn Tỉnh Thủy Tĩnh, Trương Chi, My Chau Trọng Thủy Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy răng, văn học Việt Nam nói chung cũng như truyện ngăn đương đại Việt Nam nói riêng, cỗ mẫu Nước vô cùng sống động Ở đó, “nước” vừa thoát thai từ tâm thức dân gian, vừa mang trong

mình hơi thở cuộc sống hiện đại Điều đặc biệt là, không chỉ dừng lại ở vai

trò như một thành phân phụ mang tính điểm xuyết, nước còn được các nhà văn tái hiện như một sinh thể sống động trong tác phẩm, dưới nhiêu hình thái

khác nhau

Nếu ở văn chương trung đại, 7a, sương xuất hiện một cách “tiét ché”

và “chưa phải là nhân vátí ” [170], thì đến văn học hiện đại, cùng với một số

hình tượng khác, wa, sương đã làm nên những vũ điệu đầy ám ảnh Đó là những cơn mưa thu âm ào chốn rừng núi như dấu hiệu của điềm bất thường:

“Mùa thu này mưa nhiễu Mưa ào một cái nghe ran ran trên rừng vầu, rừng nứa, ngoảnh lại đã thấy cả Kin Chu Phìn biến mắt trong màn mưa trắng xóa Ngôi nhà tranh của Thuận oằn mình dưới sức nước xôi, tưởng chừng chỉ một trận mưa nữa nó sẽ mủn nát, mục ra, nhường chỗ cho những làm cỏ ngải hung hăng thả sức trồ xanh rì” (Cơn mưa hoa mận trang) [11; 227] Mua gợi về những khát khao yêu thương ở người con gái mù lòa: “Hăng chong gậy lần ra sân Nàng ngửa mặt lên trời, đề cho những giọt mưa lây phây nhẹ bổng đậu xuống má ( ) Hằng cứ ngước khuôn mặt nhỏ thoáng chút e lệ lên

trời, mong những giọt nước mưa lại đậu xuống môi, để một lân nữa tìm lại

cam giác cái hôn của người trời” (Làn môi đông trinh) [25; 77] Cũng như

mẹ, như bà nội, và những người đàn bà một đời lầm lũi khác, Hang mang

trong mình niêm tin răng nêu ngửa bàn tay ra mà hứng ngay được đúng mười

Trang 11

giot, trong mot tran mua, thi sé lay duoc chong sang, sé sudt đời được yêu chiéu, sung sướng Với họ, mưa như một thứ ân huệ ban phát từ trời

Đến với Nguyễn Huy Thiệp, a, sương thực sự trở thành những nhân vật sống động trên trang viết Đó là màu khói sương huyên hồ - đặc trưng của vùng núi Tây Bắc: “ Sương mù ở vùng núi cao khác với sương mù ở vùng đồng băng: nó dày đặc, nó như màn sương loãng, mênh mông bí ẩn, không hoang tưởng, không làm hại ai, nó là khí núi tan ra tôi tụ lại; nó không phải hơi nước, hơi bụi và mưa nhỏ làm ta vân gọi là sương ở dưới đồng bằng "(Chuyện tình kế trong đêm mưa) [28; 336] Có khi, đó lại là thứ sương mù chết chóc, sộc lên mùi tử khí của chốn rừng thiêng: “Từ đưới miệng vực, sương mù dâng lên cuôn cuộn ( ) Ở hõm sâu nay, gan như đều đặn năm nào cũng có người bị sương mù giăng bây làm cho toi mạng” (Muối của rừng) [27: 102] Cũng có khi đó là thứ sương mù khiến người ta bấn loạn: “76¡ đứng dậy đi ra ngoài trời Tôi nhớ lại màn sương mù xám bạc

vấn thay ở vùng cao, thứ màu xám bạc u dot, no lam thân kinh bải hoải, vô

vọng tột cùng” (Tội ác và trừng phạ?) [27: 420] Thế giới của mưa, sương trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thường là thế giới của bất trắc, của âu

lo và sự xô lệch Mưa mở ra câu chuyện huyền bí, huyền hoặc về người con

gái thủy thân để một đời Chương rong ruôi tìm kiếm: “Trận bdo dy, 6 Bai Nổi trên sông Cái, sét đánh cụt ngọn cây muôm đại thụ ( ) Tạnh mưa, dưới sốc cây muốm có một đứa bé mới sinh đang năm Đứa bé ấy là con gái thủy

thân đề lại” (Con gái thúy thần) [27:109] Mưa là dẫu hiệu bất thường cho

một tai họa chết chóc: “7 phia dang Dong, may đen kéo đến ùn ùn không có

tí tỉ gió nào Một vài hạt mưa rất to lộp độp rơi xuống mái ngói ( ) Thăng

Trang 12

Phúc reo lớn: “Mưa đá” Reo xong nó chạy ra sân Bông lòe một cái, rồi một tiếng sét long trời lở đất vang lên Khói ở ngoài sân bốc lên một dun den

ngòm khét lẹt Cô Chiêm và Phong ngã lăn ra, mái ngói xô âm âm Lát sau

Phong tỉnh lại, tê dại cả người, thấy cô Chiêm đang gào thét bên xác thằng Phúc giữa sân Muưa như trút nhưng mùi khét vẫn nông nặc "(Giọt máu) [27: 179-180] Mưa là chứng nhân cho câu chuyện tình cảm động giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ: “Hôm Nguyễn ngỏ lời câu hôn, trời mưa như trút Đồn rằng hôm ấy có rồng bay trên sông Cái” (Nguyễn Thị Lộ) [27; 328] Mưa như xoa dịu đất trời và lòng người: “Ra khỏi thung lũng, ông Diễu đi xuống cánh đồng Mưa xuân dịu dàng nhưng rất mau hại Ông cứ trần truông như thế, cô đơn như thê mà đi Chỉ một lát sau, bóng ông nhòa vào màn mưa” (Muối của rừng) [27: 108] Mưa xôi xả như cuốn đi mọi đắng cay

mặn chát ở đời:

“Mua thang Tư là thứ mưa đâu mùa ở vùng nhiệt đới Nhoằng một ánh chớp, một làn gió thoảng qua là mưa liên không sao lường được Bắt đấu tưởng là cơn mưa bóng mây không phải

ngại gì, bổng thoát là mưa đá, sấm rên, sét nổ Mưa như roi quát,

tàn bạo, hung hãn Mây đen cuôn cuộn, gió giật liên hồi rồi mưa như những thác nước trên cao đồ xuống ào ào ( ) Rồi mưa

cùng với thời gian sẽ xóa đi thôi, xóa hết/ Xóa tát cá, rửa đi tất

cả ` (Mưa Nha Nam) [27;:415]

Với Nguyễn Huy Thiệp, mưa như một vũ khúc đủ mọi cung bậc, khi

sâu lăng, u huyện, khi ào ạt, dữ dội Dưới những màn mưa ay cuộc đời con

Trang 13

người cứ lần lượt được phơi bày một cách thản nhiên, lạnh lùng, đôi khi vô

Ở nước ta cô mẫu biển xuất hiện sau Để đất đẻ nước, huyền thoại Con

Rồng cháu Tiên, truyền thuyết Sơn Tỉnh Thủy Tỉnh, My Châu Trọng Thủy Sự kết hợp kỳ diệu trong “thé ludng hop” Au - Lạc để cho ra đời những người con đất Việt đầu tiên là sự kết hợp giữa núi và biển (Con Rồng cháu Tiên) W.Taylor (nhà nghiên cứu Mĩ) cho rằng “Cái ý tưởng về một vị thân linh từ Nước (Biển) lên xây dựng cội nguôn tham dự vào việc hình

thành cư dân Việt Nam thời tiên sử là một ám thị sớm nhất ” [Dẫn lại:

169:504] Biển cho con người sức mạnh, và cũng là nơi trở về sau cõi tran

gian Lạc Long Quân từ biển mà lên, đề lại dòng máu Lạc Hồng roi lai trở về

với biển An Dương Vương cũng nhờ biến mà xây dựng cơ đồ (hai lần được thân Kim Quy giúp đỡ), để rồi khi rơi vào bước đường cùng một lần nữa biển lại rẽ nước đón ông trở về Nhưng đến truyện thuyết Sơn Tỉnh Thủy Tỉnh thì biển lại trở thành biểu tượng của kẻ thất bại và phá hoại: “Hăng năm vào

Trang 14

khoảng tháng bảy, tháng tám vẫn thường như vậy Dân vùng chân núi hay bị gió to nước lớn, lúa má thiệt hại cả Người đời tương truyền răng đó là do Sơn Tình, Thủy Tỉnh tranh nhau lấy Ngọc Hoa nên Thủy Tình dâng nước lên tàn phá cho hả” [Dẫn lại: 58;119] Biển cũng là chứng nhân của tân thảm kịch lịch

sử (My Châu Trọng Thủy) Ký ức của dân gian về biển dường như luôn là ký

ức buôn Sóng gió Và bất trắc

Với văn chương hiện đại, cỗ mẫu biển một lần nữa được đánh thức trên

các trang viết Trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, biển gắn liền với khao khát thoát khỏi môi trường sống u uất, tù đọng của làng quê Biển thôi thúc, bôi hồi, giục giã bước chân Chương - chàng trai một đời rong ruỗi kiễm tìm con gái thủy thân: “Trước mắt tôi dòng sông đang thao thiết chảy Sông

ra biển Biến rộng vô cùng Tôi chưa biết biển, mà tôi sống nửa cuộc đời rồi đây ( ) Tôi đứng lên đi về nhà Ngày mai tôi đi ra biển Ngoài biển không có

`

Lại 39

thuy than” [27; 125] Với nhà văn nữ Qué Huong, bién duoc dat trong một

trò tung hứng diễn ra trong tích tắc nhưng nắm giữ định mệnh của cả đời người (Biển và người) Chuyến ra khơi đầu tiên của Nục, bất ngờ gặp phải bão dữ, biển phăng phăng cuốn đi tất cả Sau 72 giờ lênh đênh - đói khát trên nước, bỏng rát dưới năng, Nục được cứu sông Người dân làng chài đón Nục trở về “nhu đón đứa con của Biển chứ không phải của Người ” và lạ một điều

là dù hồi phục nhanh chóng nhưng một mảng tóc của Nục trở nên “răng nu muối, kết dính thành bờm, gội xả bang nhiễu thứ dấu gội vẫn thể” Người ta

đến “lang lé cham tay vao bom toc muối của đứa con Biển như chạm vào nổi

đau và cả niêm hy vọng Họ tin răng làm thể, Biển sẽ cho họ trở về với cá mực đây ghe” Là nguồn tài nguyên vô tận nhưng biên cũng chất chứa trong

Trang 15

nó đây sóng gió, bão tô Đó là lý do vì sao con người tự ngàn đời vẫn giữ một niêm tôn kính và khiêp sợ trước biên

Một trong những nhà văn say sưa với biển nhất, theo chúng tôi, đó là Ngô Tự Lập Dường như khắp các trang sách của ông đều thấp thoáng bóng hình của biển cả và những con người đi ra từ biển Biển là nguôn sống, là nơi chứa đựng cái thắm sâu của lẽ sống Biển chứng nhân cho sự chân thành, đồng thời cũng là nhân chứng lật tây cái ác Trước biển, con người ta buộc phải đối diện với chính mình Lật giở tập Mộng du và những truyện khác, ta

có thê bắt gặp một loạt truyện “viết trên sóng nước” của Ngô Tự Lập (Vĩnh biệt đảo hoang, Bão mùa lac, Lita trong lòng biến, Xác chết báo thi ) Biến có lúc trở thành ranh giới tách biệt cha con người đàn ông bất hạnh với loài người (Vĩnh biệt đảo hoang) Thế giới loài người với họ chỉ là hai người Ngôn ngữ của họ chỉ là những “ống # ớ”., những “âm thanh ngong

nghịu” Và rồi, như một quy luật tự nhiên, biển gol về những khát khao trong

tâm hồn cô gái đang độ xuân thì Biến khơi dậy khát khao hạnh phúc, nhưng biến cũng lạnh lùng giành lại tất cả Sự xuất hiện của người thủy thủ sau trận bão vừa mở ra trước mặt nàng một thế giới khác đã vội hất ngược nàng về trong nỗi cô đơn tuyệt vọng Ngày người đàn ông ấy ra đi, “nàng chăng còn nghe thấy giai điệu vui tươi, chăng còn cảm thấy hương thơm ngây ngất Mùa xuân đã tắt trong lòng nàng ( )Nàng vùng chạy, lao ra biển Mặt trăng vừa nhô lên Biển lóng lánh căng ngực ra chào đón Nàng lao mình

xuống nước, bơi đi, bơi mãi đến không càng ” [10; 26]

Cũng có khi, biển hóa thân thành một vị quan tòa linh thiêng, đầy uy lực (Xác chết trả thù) Câu chuyện xảy ra trên con tàu TC 9071 khi tránh bão

Trang 16

ở vùng Vụng Giải Vì một sai lầm nghiêm trọng, con tàu bị sợi dây nilông phi

ba mươi quấn chặt vào giò bên phải Việc lặn gỡ dây neo quân chân vịt luôn

là điều ngán ngắm đối với dân sông nước Hải Bản - chàng trai lính cơ điện,

mười chín tuôi xung phong nhận nhiệm vụ đó, đổi lại là một khoản tiền

thưởng và 15 ngày phép Hai phút, ba phút, rồi năm phút trôi qua vẫn chưa thay bóng dáng Hải Bản ngoi lên Đoàn người trên tàu bắt đầu nháo nhào Nhưng mọi cử động của họ đều “chậm chạp”, “Tiếng nước bắn tung tóe lên xung quanh tàu oang oang dường như không thật Cả thể gian này, trong đó

có chiếc tàu mấy chục con người và hành động ngụp lặn của họ cũng vậy, đường như chỉ là hư do” [10: 79] Sự giả dỗi của họ có thé qua mắt nhau nhưng chăng thể nào qua “mắt biển” Vụng Giải - “chốn nước đữ từ lâu nổi

tiếng linh thiêng” đã lật tây sự hèn nhát, giả dối Chỉ vài phút sau khi cái xác

của Hải Bân nỗi lên cũng là lúc mấy chục con người “ngã vật ra boong tàu”

Biển nỗi giận Một trận gió bất ngờ đã ném chiếc tàu TC 9071 vào vách đá và

nó “vĩnh viên nằm lại trong long biển ” [10; 83]

Không sóng gió, huyền bí như những trang viết của Ngô Tự Lập, trong

cái nhìn của Phan Cung Việt, biên hiện lên với vẻ trinh nguyên, mềm mại đến

ngỡ ngàng: “Biển lúc này rất lạ, im lặng như nín thở Từng mảng từng mảng lụa hông như lặn vào phù sa Chim bay từng đôi Sóng đổi hướng chéo, từ Đông sang Bắc, không thắng hướng bờ như ngày thường Biển có màu vàng

trang, pha mau son dấu dãi là phù sa, vừa có nét cung cấm, vừa có nét chân

quê” (Biển trinh nguyên) [14: 309] Với Võ Thị Hảo, biển nhân hậu và bao dung: biến xoa dịu nỗi đau và có khả năng cứu chuộc (Biển cứu rỗi) Truyện một người lính trở về, nhưng số phận không dành cho anh một “nàng Tô Thị

Trang 17

chờ chồng” Đón anh, là những đứa trẻ khác bố, không cha; là cái nhìn eơ

ngác của người vợ lạc loài Đón anh, còn là nụ cười “hơi sữa”, “đổi chác”

của đứa con gái mười lăm tuổi Nụ cười “chào khách” của nó đã hất anh ra khỏi thế giới loài người Anh tìm đến đảo hoang, sông trong cảm giác “sớm ghiếc đàn bà” và cả đồng loại Nhưng trong sâu thắm tâm hôn người đàn ông

ây luôn là nỗi cô đơn khủng khiếp Anh khát khao tiếng người Anh soi mình trong gương để độc thoại với bóng Khi sự may mắn của biển cả mang đến

cho anh một người đàn bà làm bạn thì vì định kiến và ích kỉ, anh lại đây

người ấy “chạy nhanh lên phía trước để hoàn tất số phận thê thảm của

mình” Với người đàn bà khốn khô ấy, khi mà cả thế giới loài người xa lánh, xua đuổi thì chỉ có biến là nhân ái ôm cô vào lòng, xoa dịu những vết thương

đau: “Ba ngày sau, xác người đàn bà trôi dạt vào chán đảo đèn.( ) Và anh

kinh ngạc rước Sự cứu rồi của biển Khuôn mặt tàn tạ trước đây của người

đàn ba ấy bây giò đã giãn ra, thơ thới, và không thể tin được, mang vẻ kiêu hãnh với đường viên mỉ khép hờ” [21: 680]

Có thể nói, với truyện ngắn đương đại cỗ mẫu biển đã thực sự tái sinh

Ở đó có lúc biến rỡ ràng trong một một sớm bình minh, lại có lúc cuộn sóng

như độ chiều về, để rồi tất cả lại trở nên thăm sâu, huyền hoặc khi màn đêm

buông xuống Nhưng dù là gì đi nữa thì tình yêu đối với biến dường như không lúc nào thôi nông nàn, da diết: “Chứng kiến biển hiên, biển ác mà vấn không oán, cứ yêu, cứ thấy chói lòa thứ ánh sáng tráng lệ rực rõ của biển

sớm, biên chiêu ` (Biên và người)

Cùng với Biên, cô mâu sông cũng được các nhà văn đặc biệt quan

tâm, và ở một mức độ nào đó sông đã trở thành một hình tượng nhân vật ám

Trang 18

ảnh trong truyện ngăn Việt Nam đương đại “Chảy xuống từ trên núi cao, quanh co qua những thung lũng, biến mắt trong những hồ và biển, dòng sông tượng trưng cho đời người với chuối liên tiếp những mong ước, những tình

[47: 829] Từ khởi nguyên, sông đã bước vào huyền thoại để rồi làm nên

những câu chuyện huyền bí và thơ mộng Đó là dòng sông của những ân huệ trong truyền thuyết Do Thái; là dòng sông tẩy uế chảy ra từ mái tóc than Shiva trong tin ngưỡng Hindu; là đòng sông Ngân Hà mỗi độ thu phân chàng Ngưu, nàng Chức gặp nhau; là dòng sông phân tách giữa mê - ngộ của bậc

Thiên giả Có thé nói, mỗi dân tộc, mỗi vùng văn hóa khác nhau lại có

những huyền tích riêng về dòng chảy vắt ngang mảnh đất quê hương xứ sở Người Hy Lạp cô đại coi sông là đối tượng thờ cúng Trước sông, họ luôn giữ thái độ tôn kính và sợ hãi

Với người Việt, sông thường gắn với cảm thức về quê hương, về những

øì gần gũi, thân thuộc Không gian mênh mông, thời gian ngàn đời của sông thường được lây để diễn tả tình yêu, tình người: “Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn/ Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên ”; “Sông đài cá lội biệt tăm/ Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ”; “Sông sâu sào văn khó

do/ Kia kìa con tạo đưa đò âm cung ” (Ca dao) Sông trở thành chứng nhân

của bao chuyện tình huyền thoại Đó là nơi chàng trai nghèo khó Chử Đông

Tử mưu sinh; cũng là nơi nàng công chúa xinh đẹp Tiên Dung hôn nhiên du lãng (Chứ Đông Tử) Cuộc gặp gỡ oái oăm giữa họ là một định mệnh Sông trở thành cây câu nỗi kết tình yêu của đôi trai gái “lệch chuẩn” Họ đã dũng

cảm bước qua lăn ranh của lê giáo đê làm nên một cuộc tình tự do và hiện đại

Trang 19

nhất trong lịch sử Cũng có khi, sông trở thành dấu tích của những tân bi kịch tình yêu Ở đó là bi kịch của một chàng Trương quay quắt với mối tình đơn phương, là bi kịch của một nàng My Nương luôn mang trong mình ảo ảnh và khát khao về cái tuyệt đối (Trương Chỉ) Đó cũng là nơi Vũ Nương trầm

mình, là nơi nàng và Trương Sinh tao ngộ để rồi nhận ra sự chia cách thăm

thăm của hai cõi âm - dương Giữa những con người ấy có một điểm gặp go thú vị: họ xuất hiện bên sông và trở về với dòng sông Nói như nhà nghiên cứu Dang Anh Đào thì “Tên nàng là Vũ Thị Là hạt mưa sa, nàng trở về với dòng sông Cũng như Trương Chỉ, người lái đò gieo mình xuống dòng sông trước

khi nhập vào cây sỐ bạch dan Và họ mượn mặt nước để thể hiện như một ảo ảnh, lần cuối cùng, trước người tình xưa ” [5S; 3 l]

Với truyện ngắn Việt Nam đương đại, sông không chỉ dừng lại ở ý

nghĩa biéu tượng mà nó còn được các nhà văn khám phá như một hình tượng

nhân vật, nêu bỏ đi, câu trúc tác phẩm sẽ trở nên rời rạc lỏng lẻo Một trong những nhà văn dành cho sông sự ưu ái hơn cả phải kế đến Nguyễn Huy Thiệp Dưới ngòi bút của ông, sông có khi khoác lên mình vẻ trầm mặc tự ngàn đời: “Con sông bến nước mơ màng và buôn cô liêu, nửa như chờ đợi nửa nhự hờn đổi ( ) Con sông tựa như giật mình phút chốc sau đó lại lặng

im trôi, giống như một người hiểu biết tất cả nhưng đang mải mê suy nghĩ, chăng cần mà cũng chăng thèm biết đến xung quanh chộn rộn những gì” (Chảy đi sông ơi) [27: 7] Cũng có khi sông gắn với cảm thức về thời gian,

về sự ngắn ngủi của kiếp người: “?rước mặt tôi, dòng sông đang thao thiết chảy Sông cháy ra biển Biển rộng vô cùng” (Con gái thủy thân) [21: 125] Sông trở thành biêu tượng của thử thách: “ ước chảy bao giờ cũng xiết, có

Trang 20

điêu phải cô mà bơi cho đến được bờ” (Chảy đi sông ơi) [27: 11] Sông cất

giâu những câu chuyện huyễn hoặc về con trâu đen, những bí ân về người con gái thủy thần Sông cũng là cái “hốc đen bí mát” khiến cuộc đời Trương Chi cuộn xoáy trong đó Với Nguyễn Huy Thiệp, sông luôn phập phông hơi thở, sau mỗi trang viết đều âm vang một dòng sông:

Này nhé: này là dòng sông Định mệnh cứ cuộn cuộn chảy

kiếm tìm cho người vợ bất hạnh một chỗn yên nghỉ Sông là chốn bình yên và

cũng là dòng nước thanh tây: “Hấy đê nước sông đêm cuôn đi mọi bán thiu

Trang 21

của mặt đất Đừng chạm tay vào nước ông cho đến sáng mai” [19; 520] Đi qua những đau thương, người đàn ông ấy chọn cho mình một bến đậu an toàn: dòng sông

Ở một góc nhìn khác, sông được tái hiện trong vẻ đẹp của tuôi xuân,

căng tràn nhựa sông: “Chỉnh lớn lên khỏe mạnh, dịu dàng và âm vang như

đòng sông” [19; 519] Sông là nhịp cầu nối Chinh với Thao - người đàn ông

trên bờ Sông là thế giới của ấm áp, tươi vui, khi họ bên nhau Nhưng nó

cũng là chốn người ta cầm tù nhau trong những hận thù, định kiến, đúng như

lời của Cát: “Một ông già độc đoán tự cho mình quyền ngự trị tất cả Ông bỏ

tù chính ông, bỏ tà một cặp đực cái, bỏ tù một thăng hèn hạ như tôi, bo ti ca

con bé đẹp nhưng mù chữ Tất cả ia đái xuống dong sông rồi lại nói nước sông trong sạch, lấy nước sông ăn, lấy nước sông uống” [19; 521] Và như vậy, nước từ vai trò là nguồn mạch sự sống đã trở thành “chất liệu của tuyệt vọng”, là thứ “nước khép kín, mang cái chết trong lòng nó” (theo cách nói của Bachelard)

Hình tượng sông trong truyện ngắn đương đại được tái hiện dưới nhiều sóc nhìn khác nhau Có khi, đó là dòng sông “phá bung đê tràn ngang đồng ruộng ” (Bí ẩn của làn nước) cũng có khi là dòng sông của yêu thương gọi hồn người trở về (Bến trần gian): là dòng sông nơi tiếng hát Trương Chỉ cất cánh và thăng hoa (Tiếng trăng) Mỗi dòng sông, mỗi bến nước đều lưu giữ

một bóng hình huyền thoại, để rồi bản thân nó trở thành một biểu trưng mang hôn văn hóa dân tộc.

Trang 22

Năm trong hệ hình cổ mẫu nước, cổ mẫu đẩm, hồ, giếng tiếp tục mang đến cho đời sống văn hóa cũng như văn học những ý nghĩa biểu trưng mới Nếu người Châu Âu xem đầm là biểu tượng của sự /ù đọng, bất động và lười

biếng, thì người Châu Á lại nhìn thấy ở đầm biểu tượng của sự “hòa hợp và

thỏa mãn, nguồn gốc của sự cường thịnh ”, là “†trung tâm của thân linh” [41: 286] Cùng với đầm, hồ cũng được xem là biểu tượng của “con mốt trái

đất”, là nơi “trú ngụ của thần linh”, và Giêng - tượng trưng cho sự linh thiêng thần thánh Điều này xuất phát từ đặc trưng của nó mà về sau Victor Huygo có lần từng nói: “Khi chúng ta cúi mình nhìn xuống cải giếng ấy, ở

vực sâu xa thắm trong một cái vòng tròn chát hẹp, chúng ta nhận ra cả một

thế giới mênh mông ” [41; 362] Giêng được xem là “sự tổng hợp của ba

cấp độ vũ trụ: trời, đất, địa phú; của ba yếu fÕ: nước, đất, và không khí”, và

bởi vậy nó “?ượng trưng cho sự đôi dào sung mãn và là biểu tượng của sự sống ” [47: 361] Với người Do Thái cố, đó là giếng nước của ân sủng, của sự sống - nơi Chúa Giêsu từng đưa cho người phụ nữ miễn Semaria uống Với người Bambara xưa, đó là giếng nước của Tri Thức, của chiều sâu bí mật và

sự lặng im Về điểm này, tâm thức dân gian Việt Nam khá gân với tâm thức các vùng văn hóa, tín ngưỡng cỗ xưa khác trên thế giới Giêng nước là chốn nuôi dưỡng và chắp cánh cho những phép màu thân kỳ (7m Cám); cũng là chon kết thúc và tái sinh trong truyện tình cảm động My Châu Trọng Thúy Giếng vừa như cất giấu trong nó những bí mật, vừa như một “iiệu pháp tỉnh thân ” xoa dịu nỗi đau (ngọc - My Châu rửa giếng - Trọng Thủy sẽ trở nên vô cùng rực rỡ)

Ngày đăng: 04/04/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w