Tổ quốc Hay như Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận về Đất nước gắn liền với những gì cụ thể, gần gũi, thân thiết: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong cái “ngày xửa ngày xưa…”
Trang 1Luận văn
Thơ Giang Nam - Tiếng nói trữ tình sâu lắng,
chân thành
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦUError! Bookmark not defined
1 Lý do chọn đề tàiError! Bookmark not defined
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đềError! Bookmark not defined
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứuError! Bookmark not defined
4 Phương pháp nghiên cứuError! Bookmark not defined
5 Đóng góp mới của luận vănError! Bookmark not defined
6 Cấu trúc của luận văn:Error! Bookmark not defined
Chương 1: GIANG NAM – CUỘC ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG
TÁCError! Bookmark not defined
1.1 Cuộc đờiError! Bookmark not defined
1.2 Những chặng đường sáng tácError! Bookmark not defined 1.3 Quan niệm nghệ thuậtError! Bookmark not defined
Tiểu kết Error! Bookmark not defined
Trang 3Chương 2: THƠ VÀ TRƯỜNG CA GIANG NAM-TIẾNG NÓI TRỮ TÌNH
SÂU LẮNG, CHÂN THÀNHError! Bookmark not defined
2.1 ThơError! Bookmark not defined
2.1.1 Thơ ca kháng chiến chống MỹError! Bookmark not defined
2.1.2 Thơ ca từ sau năm 1975 đến nay51
2.1.3 Đôi nét về nghệ thuật 72
2.2 Trường caError! Bookmark not defined
2.2.1 Trường ca trước năm 1975Error! Bookmark not defined
2.2.2 Trường ca sau năm 1975Error! Bookmark not defined
Tiểu kếtError! Bookmark not defined
Chương 3: VĂN XUÔI CỦA GIANG NAM – NHỮNG SÁNG TẠO TỪ
NGUỒN HỒI ỨCError! Bookmark not defined
3.1 Truyện ngắnError! Bookmark not defined
3.1.1 Những cảm hứng, chủ đề chínhError! Bookmark not defined
3.1.2 Thế giới nhân vậtError! Bookmark not defined
3.2 KíError! Bookmark not defined
3.2.1 Bút kíError! Bookmark not defined
Trang 43.2.2 Hồi kíError! Bookmark not defined
Tiểu kếtError! Bookmark not defined
KẾT LUẬNError! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢOError! Bookmark not defined
PHỤ LỤC
Trang 52.1.1 Thơ ca kháng chiến chống Mỹ
2.1.1.1 Khi còn học ở Quy Nhơn, mới mười hai tuổi Giang Nam đã có
những sáng tác đầu tay viết về quê hương đất nước, nhưng như nhà thơ tự
nhận là “vẫn còn non nớt” Bước vào cuộc kháng chiến, ông được sống với
những năm tháng chiến đấu tuy gian khổ nhưng hào hùng, vĩ đại của cả dân
tộc Và ông thực sự được “chín” trong thực tiễn cách mạng
Một điều dễ nhận thấy trong các sáng tác của ông giai đoạn này là hình ảnh quê hương, đất nước Tình yêu quê hương xứ sở là tình cảm sẵn có trong trái tim mỗi người và Giang Nam cũng không ngoại lệ Quê hương, đất nước vốn là đề tài quen thuộc, là nguồn cảm hứng lớn của thi ca từ bao đời nay, là nơi bao thế hệ thi nhân gặp nhau và gặp lại mình trong tình yêu lớn của dân tộc Trong tiếng gầm của đại bác, xe tăng tiếng hát ca ngợi quê
hương, đất nước vẫn vút cao Tình yêu quê hương, đất nước thật đậm đà
trong thơ ca cách mạng [21, tr.99-100] Chẳng hạn Lê Anh Xuân đã có những vần thơ đẹp về hình ảnh đất nước:
Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
Như sông, như núi, như người Việt Nam
Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang
Cà Mau cuối đất mỡ màng phù
sa
(Nguyễn Văn Trỗi)
Trang 6Còn đất nước trong thơ Viễn Phương đẹp bình dị, hiền hòa và đầy chất thơ:
Tổ quốc mình mát rượi những dòng sông
Bốn ngàn năm đôi má vẫn hồng
Đỉnh núi vươn cao cho mặt trời làm tổ
Bình nguyên dài nắng trải mênh mông
(Tổ quốc)
Hay như Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận về Đất nước gắn liền với những gì cụ thể, gần gũi, thân thiết:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong cái “ngày xửa ngày xưa…”
mẹ thường hay kể Đất nước bắt đầu bằng miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Trang 7Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó…
(Trích trường ca Mặt đường
khát vọng)
Trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, Đất nước bắt nguồn từ cội nguồn văn hóa dân gian, từ truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc, từ phong tục tập quán, từ tình nghĩa thủy chung của con người, từ lao
động,… Tất cả đã làm nên “Đất Nước muôn đời” và những người làm ra Đất
Nước đó chính là Nhân dân với những lớp người qua bốn ngàn năm, nên Đất
Nước đó là “Đất Nước của nhân dân - Đất Nước của ca dao thần thoại”
Tiếp thu mạch nguồn truyền thống của dân tộc, đi vào kháng chiến và
cách mạng, sống cuộc đời chiến đấu giữa cảnh Quê hương mình trăm vết thương rỉ máu, đã giúp Giang Nam lớn lên thật nhiều trong suy nghĩ và trong
cảm xúc nghệ thuật Dù viết về đề tài nào cũng là dịp để ông gắn bó với quê hương hơn Rất ít những bài thơ mà tác giả không nói về quê hương Quê
hương là đất mẹ, quê hương là “Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường”, là
“trang sách nhỏ”, là “những ngày trốn học, đuổi bướm cạnh cầu ao”, là tình yêu đầu đời với “cô bé nhà bên”, là “dòng Krông-nô nước phù sa cuốn đỏ”, quê hương là “rẫy lúa, nương khoai”, quê hương là “tiếng xa quay dìu dịu ngân dài”, quê hương là “tiếng dân ca như mạch nước ngầm trong mát”, quê hương là “tiếng hò khoan dìu dặt” [107, tr.99-100] Chính vì vậy mà khi đọc
Trang 8thơ Giang Nam, Hoài Thanh đã có nhận xét thật chính xác: “Tình yêu quê hương đất nước đúng là linh hồn của thơ Giang Nam” [20, tr.115]
Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn, là quê cha đất tổ, là nơi có tiếng mẹ ru con dịu dàng từ thuở còn nằm nôi Vì vậy, dù thoát ly gia đình, tham gia kháng chiến từ khi còn là chàng thanh niên mười sáu tuổi, trái tim ông vẫn hướng về quê mẹ mến thương và những vần thơ ngọt ngào về quê hương Ninh Hòa – Khánh Hòa vang lên thật nồng nàn, tha thiết:
Quê hương ơi, tạm biệt!
Ta đi đây thôi nhé, ta đi đây!
Nhớ thương nhiều, từ bến nước đồi cây
Từ khung cửa, mảnh trời, từ góc vườn, đám bí
(Đi để trở về)
Kháng chiến bùng nổ, quê hương đầy bóng giặc, tạm biệt quê hương thân yêu, tác giả dấn thân vì lý tưởng cao đẹp, giải phóng quê hương, mang lại sự bình yên cho thôn xóm Ra đi, thế nhưng lòng vẫn mang nặng nỗi nhớ
thương, lưu luyến Một bến nước, đồi cây, một khung cửa, mảnh trời, một góc vườn, đám bí thật giản dị, nhưng đó là tất cả, là quê hương, là nơi in dấu những kỷ niệm tuổi thơ Hai câu cảm thán đi liền nhau, cùng với những hình ảnh quen thuộc, gần gũi đã phần nào diễn tả tâm trạng bịn rịn, lưu luyến, nhớ thương của người ra đi
Trang 9Chính vì lẽ đó mà trên những bước đường hành quân hay khi “vòng vây kẻ thù xiết chặt dưới chân”, tác giả vẫn mơ về quê hương yêu dấu:
Có những buổi dừng chân bên bờ suối
Nhai lá thay cơm, nhường nhau hạt muối
Mơ thấy quê hương trong giấc ngủ chập chờn
(Tiếng hát trên cao)
Xa quê nhưng trong lòng nhà thơ vẫn giữ cho mình một góc nhỏ quê hương Quê biển miền Trung với sóng, với gió vẫn vỗ mãi trong lòng người xa quê nỗi nhớ thương da diết:
Tôi lại về quê biển miền Trung
Nghe sóng nói những lời thương nhớ Nghe gió gọi những tên người quen cũ Nghe rì rầm ghềnh đá nhấp nhô
Nha Trang ơi! Biển đêm sóng vẫn vỗ bờ (…)
Biển vẫn là quê hương Nơi cuối cùng tôi đến
Trang 10Biển vẫn là tâm hồn
Chắt chiu từng kỷ niệm
(Biển miền Trung)
Quê hương là nơi ta sinh ra và cũng là nơi ta trở về Với Giang Nam, biển đâu chỉ là quê hương, biển chính là tâm hồn nhà thơ, là nơi lưu giữ những kỷ niệm, những kí ức khó quên Biển là một phần không thể thiếu trong cuộc đời nhà thơ cũng như của những con người sinh ra từ biển Yêu biển, gắn lòng mình với phố biển thân thương, Giang Nam say sưa ca ngợi vẻ đẹp của biển:
Làng biển của em, làng biển của anh
Người chung thủy nên biển càng đẹp lắm
Bãi cát, hàng dương, làng chài đầy nắng
Đến bây giờ mới thật là ta!
Buổi bình minh biển nhìn rất xa
Và Hòn Lớn, Hòn Tre xinh như hòn ngọc
(Biển miền Trung)
Ai một lần đặt chân đến Nha Trang, ngắm nhìn biển trong buổi bình minh, mới cảm nhận hết vẻ đẹp mặn mà của biển, mới hiểu hết những điều nhà thơ gởi gắm trong những vần thơ Biển thật đẹp với bãi cát trắng trải dài lấp lánh, với hàng dương rì rào trong gió, với những làng chài đầy nắng, ở đó có
Trang 11những con người cần mẫn lao động, suốt đời bám biển, thủy chung với biển Phải yêu biển mãnh liệt, Giang Nam mới có những cảm nhận, những rung động tinh tế trước vẻ đẹp của Hòn Lớn, Hòn Tre Đó không chỉ là cảm nhận của riêng ông mà còn là cảm nhận chung của mọi người khi đến với Nha Trang - Khánh Hòa Sinh ra từ biển, lớn lên với biển, vị mặn của biển đã ngấm sâu vào da thịt, vào tâm hồn nên những năm sống chiến đấu ở rừng thiếu muối, ông càng nhớ chất mặn của biển, của làng quê mình:
Ôi chất mặn đã làm nên đảo, nên dừa
Ăn hột muối Cầu Hin, thương người bám biển
Biển với những lời ru cho em, cho anh
Từ biển mình đi đánh giặc
(Biển miền Trung)
Biển hiền hòa chảy dọc suốt tuổi ấu thơ Biển dịu dàng, ngọt ngào như lời ru của mẹ cho em, cho anh Chúng mình lớn lên trong lời ru của sóng biển Chất mặn của biển đâu chỉ làm nên đảo, nên dừa mà nó còn ngấm sâu trong từng
thớ thịt, hun đúc nên tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh Và “từ biển mình đi đánh giặc”
Quê hương với Giang Nam đâu chỉ có biển, quê hương còn có cả tiếng hát ru con buồn buồn của mẹ, có cả những cuộc đời lam lũ, có cả xương máu của những người đã ngã xuống mang lại sự bình yên cho quê hương:
Trang 12Hăm ba năm rồi
Ba chưa về quê nội
Nơi ba lớn lên
Giữa những cây xoài, cây ổi
Nơi ba biết yêu
Tiếng nội hát buồn buồn
“À ơi, con mèo, con chuột có lông
Ống tre có lỗ, nồi đồng có quai”
Ở đó có những cuộc đời
Quanh năm còng lưng trên ruộng cạn
Ở đó có máu chú cô rắc trên những cánh hoa một màu đỏ thắm
(Con có về thăm quê nội)
Nhịp điệu thơ chậm, buồn kết hợp với lối thơ tự do rất phù hợp với tâm trạng của người con xa quê mong mỏi được một lần về thăm Hai mươi ba năm đi
mải miết “mang quê hương mình xanh biếc trên lung”, trái tim nhà thơ luôn
hướng về quê mẹ với tình cảm thật thiêng liêng, sâu nặng Chỉ cần một hình ảnh, thanh âm khẽ chạm vào trái tim cũng có thể làm ông nhói lòng Ông gởi
Trang 13lời nhắn nhủ cho đứa con gái thân yêu “con có về thăm nơi ấy thay ba” hay
đó cũng là lời nhắn nhủ với chính mình Hai mươi ba năm nhớ thương về một vùng quê, nơi hoa toàn màu đỏ, nơi thắm thiết lời ru ngọt ngào ngày xưa của
mẹ theo nhịp võng đong đưa đọng lại trong trái tim nhà thơ và theo ông trên mỗi nẻo đường chiến đấu Chính vì lẽ đó mà dù xa cách nhà thơ vẫn gắn lòng mình với quê hương:
Em ơi! Dù xa xôi cách trở
Dù hết cùng em chia ngọt xẻ đau
Anh vẫn là cây cổ thụ rễ sâu
Bám chặt xóm thôn, ăn vào lòng đất
(Đi để trở về)
Một điều dễ nhận thấy là Giang Nam hay sử dụng đại từ nhân xưng
“Em” Em là ai? Là một người thân thiết gắn bó, một nửa yêu thương của nhà thơ, hay em là cả quê hương thân thương Dù là ai đi chăng nữa thì “Em” vẫn
là nhân vật trữ tình để nhà thơ bộc lộ cảm xúc của mình Tiếng gọi “Em ơi!”
vang lên thật tha thiết và gói trọn trong ấy là một lời hứa thủy chung, chân thành nhưng rất đỗi thiêng liêng! Dù có ở phương trời nào Anh vẫn nguyện
là một phần của quê hương, như cây cổ thụ suốt đời bám rễ vào quê hương
Dù không trực tiếp chiến đấu trên mảnh đất Ninh Hòa yêu thương, nhưng tấm lòng ông lúc nào cũng hướng về quê hương Và tâm hồn nhà thơ ngân vang rộn rã khi hay tin quê mình được giải phóng:
Trang 14Đi giữa đường Trường Sơn
Nghe quê mình giải phóng
Ba mươi năm dài, có phút giây nào
lòng ta không cháy bỏng Khánh Hòa ơi, nôi mẹ ru ta
Rất thiêng liêng từng ngọn cỏ, tàu dừa
(Khánh Hòa – Nha Trang ơi)
Ba mươi năm chưa về thăm quê mẹ Ba mươi năm dài mang nỗi nhớ khôn nguôi về một vùng đất yêu thương… Và trong tấm lòng của người con
xa quê, gắn lòng mình với quê hương, đất nước những vật vô tri bình thường như ngọn cỏ, tàu dừa sao quá đỗi thiêng liêng, bởi đó là biểu tượng, là một
phần của quê hương Ba mươi năm dài tranh đấu, có “bao nhiêu người thân yêu ngã xuống”, có bao “ước mơ cao hơn ngọn núi xanh” và bao “căm thù dập dồn hơn sóng” (Giang Nam) Và hôm nay nghe quê hương được giải
phóng làm sao không khỏi vui mừng Trong niềm vui sướng tột cùng, nhà thơ
mơ một điều thật giản dị:
Trong ngày vui này, xin được về cùng em
Giữa thành phố thùy dương
sóng vỗ rất hiền
Trang 15Để tung hoa
Lên chiếc tăng “giải phóng” đầu tiên
Và khóc, cười cho thỏa thích
(Khánh Hòa – Nha Trang ơi)
Mang nặng trong lòng nỗi nhớ quê hương nên ông luôn ao ước được trở về:
Ta sẽ trở về mảnh đất nhỏ quê hương
Ấm áp, hiền lành của lòng ta: quê mẹ
Chân sẽ bước trên ruộng đồng màu mỡ
Trong tiếng cười, trong tiếng hát yêu thương
(Đi để trở về)
Mấy ai đi xa lại không ao ước được trở về bến đỗ bình yên, ấm áp: quê mẹ, quê hương Ước mơ giản dị ấy cháy bỏng khôn nguôi trong tâm hồn nhà thơ Được trở về quê hương là một điều thật hạnh phúc! Hạnh phúc đơn sơ ấy phải đánh đổi bằng xương máu, nước mắt của biết bao đồng bào, đồng chí thân yêu Và sẽ hạnh phúc hơn khi quê hương không còn bóng kẻ thù xâm lược để mảnh đất này mãi mãi nở hoa, để ta có thể bước những bước tự do trên ruộng đồng màu mỡ trong tiếng cười, tiếng hát yêu thương
Quê hương trong cách hiểu chung đó là nơi ta sinh ra và lớn lên, nơi in dấu những kỷ có mặt ở những niệm tuổi thơ, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tâm
Trang 16hồn và nhân cách của mọi người Nhưng đối với Giang Nam lại không hẳn như thế Do yêu cầu công tác, phải bám chặt chiến trường, phải nơi nóng bỏng nhất của cuộc chiến, nên Giang Nam có điều kiện đi đến nhiều nơi Chiến trường Nam Bộ rộng lớn không chỉ là mảnh đất màu mỡ, là hiện thực sinh động tạo chất liệu cho ông sáng tác mà còn là quê hương thân thiết, gắn
bó máu thịt với cuộc đời ông Đó là Sài Gòn, thành phố muôn đời vẫn trẻ, đó
là Củ Chi, Long An, Bến Tre, Cà Mau,… Mỗi vùng đất đi qua đều để lại trong lòng ông bao cảm xúc rưng rưng về quê hương đất nước Với ông đâu cũng là quê hương! Chính không gian miền Nam rộng lớn đã giúp Giang Nam thể hiện tình yêu quê hương đất nước trong thơ toàn diện hơn Dường như có sự đồng điệu trong tâm hồn của thế hệ nhà thơ thời chống Mỹ khi đề cập đến điều này Nhà thơ Xuân Quỳnh cũng đã từng viết:
Ngọn gió đi qua thành nỗi nhớ
Cát khô cằn ở mãi hóa yêu thương
(Gió Lào cát trắng – Xuân Quỳnh)
Câu thơ trữ tình mà đậm chất chính luận thể hiện tình cảm yêu thương, gắn
bó của con người đối với vùng đất mình đã từng sinh sống
Giang Nam khi về sống giữa quê em mới có mấy ngày mà cứ ngỡ như đã ở
đây lâu lắm rồi, và khi chia xa, ông vẫn “nhớ thương mãi một góc trời quê hương” (Giang Nam)
Có thể thấy hình ảnh quê hương Nam bộ luôn thường trực trong trái tim của nhà thơ Yêu mến, tự hào vô cùng về vùng đất anh dũng thành đồng, Giang
Trang 17Nam say sưa ca ngợi vẻ đẹp của quê hương đất nước, con người miền Nam
Vẻ đẹp của vùng quê Nam bộ hiện lên ở sự xanh mát của hàng dừa, ở cánh đồng lúa vàng nặng trĩu bông, ở đàn cò trắng sải cánh trên đồng ruộng bao la,
ở cái nắng vàng rực rỡ, ngọt ngào Và tấm lòng nhà thơ đôi khi hòa quyện với cảnh sắc quê hương:
Tôi đã nghe tiếng hò khoan dìu dặt
Một chiều Cửu Long bát ngát mây trời
Tôi đã về thăm phố chợ đông vui
Vết đạn còn in trên tường vôi, mái ngói
(Đất anh hùng)
Trong cảm nhận của Giang Nam, quê hương đất nước vốn là những gì rất cụ thể, gần gũi, thân quen Hình ảnh quê hương đất nước trong thơ Giang Nam gắn liền với những kỷ niệm tuổi thơ:
Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Trang 18Đuổi bướm cạnh cầu ao
Mẹ bắt được…
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Cô bé nhà bên nhìn tôi cười khúc khích…
(Quê hương)
Tiếng thơ Giang Nam là tiếng nói chân tình, ấm áp đưa ta về với
những kỷ niệm tuổi thơ và quê hương Quê hương đối với mỗi người là cái gì
đó thật giản dị, gần gũi nhưng cũng rất đỗi thiêng liêng Với Giang Nam, quê hương là con đường ngày ngày cắp sách đến trường, là trang sách nhỏ chở bao mơ ước, là phút giây thả hồn mình mơ màng nghe tiếng chim hót, là những ngày trốn học đuổi bướm cầu ao, là tiếng khóc sợ đau của trẻ nhỏ khi
bị mẹ bắt gặp, là tiếng cười khúc khích của cô bé nhà bên
Không những thế, quê hương đất nước còn hiện lên qua hương vị đậm
đà chốn quê nhà:
Con lại về leo cây khế sau vườn
Ăn trái khế chua mỉm cười nhắm mắt
(Sau ngày chiến thắng)
Quê hương ngọt múi sầu riêng chín
Những chiếc xuồng vui chở ánh trăng
Trang 19(Có một mùa xuân đẹp đã về)
Ôi ngọn khói hòa bình thơm mùi cỏ mật quê hương!
(Vì một em gái ngã xuống giữa ngày
28-1-1973)
Anh biết mùa này thơm chín khắp nơi
Gió, nắng quê ta đã ngọt ngào chất mật
Ngọt cả lòng em, con thoi đưa khách
Đi khắp đất trời vẫn nhớ mùa thơm
(Mùa thơm)
Mảnh đất đồng bằng ngọt mía, vàng cam
Gợi nhớ, gợi thương những chân trời cũ
Đuốc rừng Ba Tơ – đắng, lạt canh đu đủ
Đêm Hàm Luông, cá nhảy trắng khoang xuồng
(Một mặt trời đỏ rực)
Hương vị ngọt ngào của quê hương như thấm sâu, lan tỏa trong tâm hồn nhà thơ để rồi bật lên thành tiếng thơ ngọt lịm, trong trẻo
Trang 20Tình yêu quê hương đất nước trong thơ Giang Nam còn gắn liền với những tình cảm thật cụ thể: tình mẹ con, tình vợ chồng, tình yêu đôi lứa
Đọc thơ Giang Nam, người đọc nhận thấy ông ghi lại rất đúng, rất sâu, rất cảm động tình mẹ con gắn liền với tình yêu quê hương đất nước [116,
tr 316] Thuở còn thơ, chàng trai trong bài “Quê hương” đã từng “có những ngày trốn học – Đuổi bướm cạnh cầu ao – Mẹ bắt được – Chưa đánh roi nào
đã khóc” Khóc vì sợ mẹ đánh đòn đau Đó là nỗi sợ ngây ngô của trẻ nhỏ
Theo thời gian, chàng trai lớn dần lên, chàng càng thấu hiểu tấm lòng mẹ
dành cho con, bởi ông cha ta từng nói “Thương cho roi cho vọt” Chính vì lẽ
đó mà trong nỗi nhớ về những kỷ niệm ngày xưa về quê hương, có nỗi nhớ
về tình mẹ:
Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi…
(Quê hương)
Yêu quê hương đâu chỉ bởi cảnh đẹp của quê hương mà yêu quê
hương còn bởi ở đó có kỷ niệm khôn nguôi về mẹ Nhà thơ không nói gì về tình mẹ con, thế nhưng người đọc vẫn cảm nhận được tình cảm thiêng liêng
và sâu nặng ấy qua hình ảnh “trốn học bị đòn roi”
Tình vợ chồng, tình yêu đôi lứa – những tình cảm riêng tư rất khó được chấp nhận trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh Vì vậy, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, trong văn học có rất ít bài thơ viết về tình yêu Và
nếu có chăng thì những bài thơ ấy cũng bị lên án, bị khép vào lỗi “thời đại”
Trang 21Nhưng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thì lại có khá nhiều bài thơ đề cập đến tình cảm riêng tư ấy Nhưng tình yêu trong giai đoạn này lại mang một màu sắc mới, tích cực hơn nhiều
Đọc bài Quê hương, người đọc không thể nào quên mối tình đẹp như
thơ trong cảnh quê hương khói lửa của chàng trai cùng cô bé nhà bên có “đôi mắt đen tròn” lay láy cùng miệng cười khúc khích Nhưng mối tình ấy nhanh
chóng bị giết chết bởi sự tàn bạo của kẻ thù, bởi cô gái đã từng vì quê hương đất nước mà đứng lên, vào du kích cầm súng chống ngoại xâm:
Giặc bắn em rồi, quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người…
Chỉ một tiếng “em ơi!” nhưng chất chứa trong ấy biết bao nhiêu là nỗi
đau đớn, xót xa, nỗi uất ức, căm hờn Và từ đây tình yêu quê hương đất nước được nâng lên một bậc:
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi
Tình yêu riêng mất đi đã bồi đắp cho tình yêu quê hương những ý nghĩa mới Tình yêu quê hương giờ đây không còn giản dị, êm dịu như trước nữa mà giờ đây trong tình yêu còn có cả ý chí căm thù giặc sâu sắc Ngày
nay, yêu quê hương là yêu “từng nắm đất” quê mình đã thấm máu thịt của
Trang 22người thân yêu Chính vì vậy, tình yêu đối với quê hương giờ đây thật thiêng liêng, sâu nặng Giang Nam đã diễn tả rất đúng những tình cảm riêng – chung của người cách mạng [116, tr.318] Tình cảm riêng tư của con người hòa lẫn vào cái lớn lao chung của quê hương Tất cả như hòa quyện thành một khối thống nhất không thể tách rời Không nói ra nhưng người đọc vẫn nhận thấy đằng sau nỗi đau đớn, căm hờn ấy là một lời hứa, một quyết tâm bảo vệ quê hương đất nước Để mối tình của đôi lứa không phải tắc nghẹn nửa chừng thì chỉ có một con đường là chiến đấu
Quê hương còn được Giang Nam cụ thể hóa bằng đôi mắt của “em”: “Tôi nhớ đôi mắt em – đôi mắt quê hương đậm đà chung thủy” và “em còn sống đấy, quê hương – Vẫn đôi mắt của đồng, bưng cuối trời” Như vậy, quê
hương đâu còn là khái niệm trừu tượng, vô hình mà hết sức cụ thể, hữu hình Quê hương chính là mẹ, là em, là những gì thân thiết nhất đối với ông
Ngay cả khi khóc anh Trỗi, ông cũng nhắc đến quê hương:
Quê chúng mình khu Năm – anh còn nhớ
Chuyến đò ngang trên sông nước Thu Bồn
Và Sài Gòn –
Sài Gòn trăm mến nghìn thương
Bà Chiểu, Thị Nghè, Cầu Bông, Khánh Hội
Trang 23(Mạnh hơn súng gươm và án
tử hình)
Có lẽ một điều khiến Giang Nam khác với các nhà thơ khác cùng thời
là ông hay nhắc đến những địa danh mọi miền của đất nước trong thơ Luôn sống trong cảm thức về quê hương đất nước nên những địa danh đất nước đi vào thơ ông ngọt ngào như câu ca dao thuở trước:
Ta về, ta nhớ Hàm Luông Hầm chông An Thạnh, mái trường Mỹ Nhơn
(Giã từ Bến Tre)
Hoài Thanh cho rằng việc Giang Nam nhắc đến những địa danh đất
nước như vậy là điều nên làm: “Có những mảnh đất ta chưa hề đi đến bao giờ mà ta lại thấy rất quen, mỗi lần nhắc đến bỗng như sống lại cả một trời
kỷ niệm: một bến nước sông Tương, một đầu cầu sông Vị Trái lại có những mảnh đất đáng lẽ phải rất quen vì cha ông ta đời này sang đời khác đã gửi vào trong đó bao nhiêu vui buồn, bao nhiêu mồ hôi nước mắt, bao nhiêu xương máu nữa, thế mà ta lại thấy hững hờ xa lạ Ấy chỉ vì nó chưa được nhắc đến trong văn thơ Món nợ lâu đời ấy đối với quê hương chúng ta phải liệu mà thanh toán Và Giang Nam là một người nhiều khả năng góp phần thanh toán” [20, tr.116]
Giang Nam nói nhiều đến miền Bắc Đó là điều đặc biệt ở ông, bởi trong số các nhà thơ miền Nam cùng thế hệ ít có cây bút nào viết nhiều về miền Bắc Dù chưa một lần đặt chân lên miền Bắc nhưng miền Bắc trong
Trang 24niềm khát khao, trong trí tưởng tượng của ông hiện lên thật đẹp Ở đó có màu
“đỏ dải lụa sông Hồng”, “màu xanh cành cam”, “màu trắng cánh cò”,
“màu tím hoa mua”, “màu vàng của ngôi sao vàng năm cánh”, nơi có “năm sắc cầu vồng đã làm nên Tổ quốc ta hùng vĩ”, làm nên “màu cuộc sống
thiêng liêng từ thuở những vua Hùng” Miền Bắc là hậu phương cách mạng
vững chắc, không những là chỗ dựa tinh thần, cổ vũ sức mạnh mà còn là
động lực vật chất đối với tiền tuyến lớn miền Nam “Mỗi tiếng nói hậu
phương cũng trở thành chông súng” [72, tr.135] Giang Nam đã từng tâm sự
đối với quân và dân miền Nam lúc bấy giờ hậu phương miền Bắc thật sự quan trọng Nếu có việc gì xảy ra với miền Bắc thì miền Nam không biết bấu víu vào đâu Và nếu không có hậu phương lớn miền Bắc thì liệu cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của quân dân miền Nam có đi đến thắng lợi và đất nước Việt Nam có được thống nhất hoàn toàn? Chính đế quốc Mỹ cũng hiểu được điều đó Chúng đã từng cố gắng dùng đủ mọi thủ đoạn, dùng những vũ khí tối
tân nhất để đưa miền Bắc trở về thời kì đồ đá Chúng “không chỉ giết người, chúng cố giết niềm tin – Ôi ngọn hải đăng xa bờ rực sáng” [69, tr.134] Cuộc
chiến khốc liệt là thế nhưng hình ảnh tươi vui của miền Bắc trong lòng miền Nam vẫn vô cùng thân thiết Những người con của hai miền Nam Bắc vẫn tìm đến nhau Những ngày đoàn đại biểu miền Nam đi thăm miền Bắc, nhà
thơ Thanh Hải có mặt trong đoàn đã nói: “Mười ngày như một giấc mơ”
Riêng Giang Nam không có mặt trong đoàn, nhưng đúng ngày đoàn đặt chân lên miền Bắc, ngày 19-10-1962, ông đã viết những dòng thơ ngọt ngào, thắm thiết:
Giữa một ngày cuối thu
Trang 25Các anh đặt chân lên miền Bắc
(…) Bước xuống Đồng Đăng giữa cô bác, anh em Anh có nghe đất dưới chân mịn màng quen thuộc?
Khi đàn cháu miền Nam ôm hoa trước ngực Chưa kịp tặng anh mà nước mắt chạy quanh
Anh có bồng cháu lên hôn đôi má mủm xinh
Kể chuyện má ba không ngừng chiến đấu?
Dọc đường xe đi có bao nhiêu giàn giáo
Chọc trời, điện sáng đêm đêm…
Ngói đỏ, áo hoa, hạnh phúc, hòa bình…
Anh có khóc khi “trở về” Tổ quốc?
(Anh có thấy không anh)
Từ một nửa đất nước đau thương mà vô cùng anh dũng, tấm lòng nhà thơ hướng về miền Bắc ruột thịt yêu thương với những vần thơ chân thành, xúc động, sâu lắng một niềm tin yêu tha thiết:
Mười năm rồi, đường chiến đấu ta đi
Trang 26Từng phút, từng giây nhớ thương miền Bắc…
Chưa thấy Hồng Gai tàu ăn than tấp nập
Chưa về Nghệ An thăm làng nhỏ: Kim Liên Hà Nội ơi, máu về tụ giữa tim Tóc Bác có bạc nhiều những đêm không ngủ?
Giặc Mỹ liệu hồn: thịt xương ta đó…
(Gởi miền Bắc)
Đó là tiếng lòng của người thanh niên trên tiền tuyến lớn miền Nam gởi cho đồng bào miền Bắc yêu thương Lẽ thường con người nảy sinh tình cảm với những nơi mình đã đi qua, những nơi mình từng gắn bó yêu thương Còn với Giang Nam dường như không hẳn như thế Chúng ta điều biết chắc chắn một điều nhà thơ chưa từng đặt chân lên miền Bắc, chưa thấy Hồng Gai, chưa về Nghệ An, thế nhưng mười năm rồi trên bước đường chiến đấu, từng giây, từng phút ông không nguôi nhớ thương về miền Bắc Với ông miền Bắc đâu chỉ là hậu phương, miền Bắc còn là máu thịt, là một phần cơ thể, là lẽ sống của ông.Vì vậy, ông gởi trọn tình yêu và niềm tin tưởng của người con miền Nam với miền Bắc Giang Nam nhiều lần tâm sự:
Ngàn vạn lần tôi thầm gọi hậu phương
Chưa nói hết được tấm lòng tôi với em, với mẹ
Trang 27(Giữ cho tôi màu sắc nước non
- Súng khoác vai, ba lô nặng lên đường” theo tiếng gọi của tiền tuyến lớn Và
Giang Nam nói:
Những chuyến ra đi trong này hiểu lắm
… Những chuyến ra đi xanh rờn lá ngụy trang
… Những chuyến ra đi không bao giờ chấm dứt
Như sông Mã, sông Hồng cuồn cuộn phù sa
Những chuyến ra đi trong thời đại Bác Hồ…
Trang 28Giang Nam viết về những đồng chí hải quân, những đồng chí pháo binh, những chị công nhân miền Bắc với thái độ ngợi ca, cảm phục:
Hoan hô các anh, những anh hùng rất trẻ
Hoan hô hậu phương dũng cảm tuyệt vời
[108, tr.232] Giang Nam đã nói được nghĩa tình của cả dân tộc khi mà cả hai miền còn đang bị chia cắt Qua những vần thơ của Giang Nam, ta hiểu vì sao trong những năm tháng đấu tranh gian khổ đồng bào miền Nam vẫn chịu đựng bền bĩ, bởi họ tin vào đồng bào, đồng chí, vào Đảng, vào chế độ Xã hội Chủ nghĩa tốt đẹp ở miền Bắc Đó là nét tâm lý rất thật của đồng bào miền Nam Và Giang Nam bằng vốn sống, bằng ngòi bút của mình đã chuyển tải nét tâm lý lịch sử ấy đến với bạn đọc một cách nhẹ nhàng, chân thật [108, tr.230] Những bài thơ viết về miền Bắc cho người đọc thấy được tình cảm gắn bó giữa hai miền của Tổ quốc, thấy được ý nghĩa vô cùng sâu xa của tình
nghĩa ruột thịt, của lẽ sống quý giá “không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Trang 29Nhà văn Nga I Ê-ren-bua đã từng nhận định khá sâu sắc: “Chiến tranh khiến cho mỗi công dân Xô Viết nhận ra vẻ thanh tú của chốn quê hương” Chính
sự đau thương, mất mát của quê hương càng thôi thúc chúng ta biết yêu và biết giữ gìn vẻ đẹp thanh bình của đất nước Có thể nhận thấy tình yêu da diết đối với quê hương của Giang Nam là thứ tình yêu được xây dựng trên sự mến phục, tự hào về quê hương đất nước Và những trang thơ của ông đã gợi dậy trong mỗi chúng ta niềm yêu mến, tự hào về vẻ đẹp của quê hương đất nước; ngưỡng mộ và cảm phục trước vẻ đẹp của con người trong một thời kì máu lửa
2.1.1.2 Hình tượng người phụ nữ là một hình tượng đẹp xuyên suốt
trong văn học từ cổ điển đến hiện đại Ở mỗi thời kì, cách nhìn nhận và đánh giá về người phụ nữ có sự khác nhau Trong nền văn học cách mạng hiếm có nhà thơ nào viết nhiều và viết hay về người phụ nữ, đặc biệt là người phụ nữ trẻ, như Giang Nam Ngòi bút của ông đặc biệt trân trọng, trìu mến với hình tượng nghệ thuật này Hình ảnh người phụ nữ miền Nam xuất hiện trong thơ Giang Nam thật phong phú, đa dạng Người phụ nữ miền Nam trong thơ Giang Nam vừa mang nét đẹp truyền thống: tần tảo, trung hậu, đảm đang, chịu thương chịu khó, yêu chồng, thương con của người phụ nữ trong ca dao xưa, vừa mang nét hiện đại của một Nguyệt Nga cầm súng trong thời đại chống Mỹ: kiên cường, bất khuất, trung thành với Đảng Đúng như lời nhận
xét của Hoài Thanh: không phải đợi đến Giang Nam người phụ nữ Việt Nam mới có mặt trong thơ ca cách mạng nhưng người phụ nữ trong thơ ông vừa
có những tính cách của con người mới trong thời đại cách mạng vừa đậm đà bản sắc của con người Việt Nam [116, tr.331]
Trang 30Hình ảnh các chị trong thơ Giang Nam hiện lên thật đẹp, thật dễ thương: một
bờ vai nhỏ, một mái tóc dài, một tà áo bà ba, một đôi mắt đen tròn, miệng cười khúc khích cũng đủ làm say lòng người:
Thương biết mấy những bờ vai nhỏ hẹp
Áo bà ba trắng thon thon
(Những người vợ miền Nam)
Môi em cười như hoa bưởi, hoa sen Tươi mát những dòng sông mùa mít ngọt
(Chiến thắng)
Hình như em mặc áo màu xanh nhạt Hình như kẹp tóc em màu mây
Ơi ngày bé theo mẹ về quê ngoại
Có đẹp bằng cô biệt động hôm nay
(Cô gái mùa xuân)
Vẻ đẹp của người phụ nữ như kết tinh từ vẻ đẹp của quê hương đất nước Dù trong hoàn cảnh kháng chiến thật khắc nghiệt, hằng ngày, hằng giờ phải đối mặt với tội ác, với cái chết nhưng những người con gái miền Nam vẫn hiện ra với những nét đẹp mềm mại và duyên dáng
Trang 31Trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, ở miền Nam người “nông dân bị cướp ruộng cày Bát cơm khoai sắn mỗi ngày một vơi” [116, tr.318], người phụ nữ
cũng không thoát khỏi cảnh khổ nghèo, lam lũ Yêu thương, trân trọng người phụ nữ nên Giang Nam đặc biệt xót xa trước cảnh sống của người phụ nữ nghèo:
Nửa căn nhà trống, vài phiên chợ
Đôi cánh tay gầy, một mụn con
Mưa nắng đã phai màu áo cưới
Giấc mơ còn lại: một lưng cơm
(Lá thư thành phố)
Những chiếc áo sờn vai
Những bàn chân đen sạm đạp sỏi dày gai
Trang 32Ngòi bút của nhà thơ ghi lại thật xúc động hoàn cảnh của người phụ nữ miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ Cuộc đời họ là chuỗi ngày dài đói nghèo, khổ nhọc Trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt phải sống cách xa chồng, không còn bờ vai vững chãi để nương tựa, người phụ nữ phải tự mình gánh vác gia đình và nhiều khi gánh luôn cả phần việc của người chồng Thế
nhưng, họ vẫn tự mình vượt lên hoàn cảnh để sống, để yêu thương Và hơn hết, họ chính là hậu phương vững chắc cho người chồng nơi xa vững tâm chiến đấu Lá thư người vợ gửi cho chồng đang công tác ở nơi xa gói trong ấy biết bao nhiêu là tình cảm thủy chung, thương nhớ:
Con vẫn ăn chơi, em vẫn khoẻ
Anh yên lòng nhé chốn xa xăm
(Lá thư thành phố)
Hay: Nhà ta mấy bận mưa hư nát
Mái lá tơi bời lạnh gối chăn
Em không buồn lắm vì em biết!
Anh khổ nơi xa gấp mấy lần
(…)
Em biết anh không ngừng chiến đấu
Trang 33Muôn ngàn anh chị ở bên anh
Bao giờ em được lên trên ấy
Vá áo cho anh rách lại lành
(Lá thư thành phố)
Xúc động vô cùng trước tấm lòng của những người vợ yêu chồng, thương
con trong Lá thư thành phố ! Một ước mơ thật bình dị, nhỏ bé: “Bao giờ em
được lên trên ấy - Vá áo cho anh rách lại lành”, một cử chỉ thật đơn giản,
bình thường nhưng cũng đủ làm ấm lòng, xóa bớt nỗi cô đơn của người chồng ở nơi xa Qua lời thơ ta thấy được cái tình của người vợ nghèo miền Nam
Và hãy lắng nghe lời tâm sự của người vợ:
Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ
Nó khóc làm em cũng khóc theo
Anh gởi về em manh áo cũ
Đắp cho con, đỡ nhớ anh nhiều
(Lá thư thành phố)
Lời tâm sự của người vợ nhớ chồng thật kín đáo, rất đúng với tình cảm của phụ nữ Việt Nam nhưng chứa đựng trong ấy bao nhiêu là nhớ thương, âu yếm Có gì đó vừa quen vừa lạ trong cách suy nghĩ, cách nói của người vợ
Trang 34“Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ” Vậy còn em thì sao? Có người đã
chữa câu thơ thành:
Anh nhớ gởi về manh áo cũ
Ủ con, cho mẹ ấm nhờ hơi
Nhưng đâu cần phải sỗ sàng như thế! Kín đáo, ít lời thật đấy nhưng cũng đủ
để anh và em, những người trong cuộc hiểu nhau Và như thế, tình yêu và nỗi nhớ càng thêm sâu sắc [116, tr.320]
Người mẹ miền Nam cũng như tất cả những bà mẹ trên trái đất này đều có tình cảm yêu thương vô tận với đứa con của mình Đó là thứ tình cảm rất đỗi
thiêng liêng: “Người mẹ sinh con mang nặng đẻ đau Người mẹ nuôi con bằng dòng sữa của mình, bằng tâm huyết của mình, bằng toàn bộ tinh lực của mình Ngoài nghĩa cả đối với Tổ quốc, đối với cách mạng, có tình cảm
nào thiêng liêng hơn tình cảm mẹ con” (Lê Duẩn) Chị phụ nữ trong Chiếc áo
cuối cùng đã chín năm trời bám chặt đất quê hương để đấu tranh Trước khi
bị địch hành hình, chị đã cởi chiếc áo mặc trên người gởi lại cho con:
“Tôi sắp chết rồi, không cần mặc áo
Xin gởi lại cho con tôi bán lấy tiền mua gạo
Nhờ các anh treo hộ nó lên cành
Máu dây vào khó giặt lắm”
Trang 35Cảm động vô cùng tấm lòng người mẹ dành cho con Đến phút cuối cùng của cuộc đời mình mẹ vẫn hướng về con Cử chỉ bình dị mà cao quý ấy của tình
mẹ con khiến chúng ta cảm phục, khiến kẻ thù khiếp sợ
Yêu chồng, thương con, người phụ nữ có thể hi sinh cả cuộc đời vì một nửa yêu thương của mình nhưng trên hết ở người phụ nữ miền Nam trong thơ
Giang Nam là tấm lòng yêu nước, trung thành với Đảng: “Thương chồng, theo Đảng bước lên hàng đầu” Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ở miền Nam giặc
mở chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, chúng buộc những người phụ nữ có chồng đi tập kết ở Bắc phải làm tờ “phản tỉnh” nghĩa là phải từ bỏ chồng, nói
xấu cách mạng, nói xấu Đảng Và người phụ nữ trong bài thơ Trước tờ giấy
trắng đã trải qua những giây phút dằn vặt, đau khổ:
Chị ngồi trước tờ giấy trắng
Hàng giờ không viết một câu
Bóng cây ngắn dần theo nắng
Đàn trâu chậm chạp qua cầu
Có ai từng sống trong những ngày oi bức, ngột ngạt như thế mới hiểu hết những gì mà nhà thơ đã ghi lại Thời gian trôi qua thật nặng nề Viết hay không viết? Có lúc chị đã dao động, chị nói như phân bua với chồng:
Có nên viết để con ta được sống
Dù một ngày, một buổi nữa rồi thôi
Trang 36Đứt ruột sinh con đêm nào mình mẹ
Lẽ nào giọt nắng chết trên nôi…
Có làm mẹ mới thấu hiểu hết tấm lòng của người mẹ thương con, mới thông cảm cho phút giây yếu lòng của chị: thương con, chị muốn bám lấy cuộc sống Thế nhưng:
Vụt hiện những ngày kháng chiến
Giành từng góc ruộng bờ ao
Vụt hiện những ngày trên bến Vẫy khăn anh bước xuống tàu!
Và kìa, dường như con và chồng đang trách chị:
Có thể nào như thế được, mẹ ơi!
Có thể nào như thế được, em ơi!
Cuối cùng, người phụ nữ ấy đã chiến thắng chính mình:
Chị bỗng vùng lên, tưởng đang nắm tay chồng
Day dứt quá giữa buồn vui mừng giận
Lũ quỷ ập vào, dí súng bên hông
Chị vẫn ngồi nghiêm trước tờ giấy trắng
Trang 37(Trước tờ giấy trắng)
Không chỉ tình yêu vợ chồng, tình cảm mẹ con mà trên hết là tấm lòng thuỷ chung son sắt dành cho Đảng, cho đất nước Từ sự day dứt về tình cảm riêng tư ta thấy được tinh thần kiên cường, bất khuất của người vợ miền Nam Những người vợ miền Nam ấy dù có bị kẻ thù tra tấn dã man vẫn kiên gan, bất khuất, thà hi sinh thân mình chứ quyết không chịu sống cuộc đời ô
nhục bởi: “Gái chỉ một chồng, người không hai nước!” Dù phải sống cuộc
đời khổ nghèo, cơ cực, dù hằng ngày phải đối mặt với họng súng, với tội ác
của kẻ thù, và dù có bị bắt làm tờ “phản tỉnh” thì:
Những người vợ miền Nam
Hột muối cắn đôi
Đợi chồng vẫn đợi…
(Những người vợ miền Nam)
Vì vậy mà những người vợ bất khuất ấy bị điệu vào nhà lao Và những đứa con chưa rời vú mẹ cũng phải theo mẹ vào chốn lao tù:
Và những cháu thơ
Sớm hiểu lao tù đế quốc
Chập chững đi, chân non dại ngập ngừng
Mất của cháu rồi hết mấy mùa xuân?
Trang 38Mấy bận tay gầy ôm chặt mẹ?
(Những người vợ miền Nam)
Hình ảnh cháu bé thơ võ vàng sau khung cửa sắt, khát từng tia nắng mặt trời nhức nhối mãi trong trái tim nhà thơ để rồi bật lên thành lời nghe thật đau xót
Xiềng xích ngục tù chỉ khóa được thân xác chứ không khóa được tinh
thần của con người Sống cuộc sống tù đày ngột ngạt: “muỗi, rệp, phân
người, tim bầm óc buốt”, chị vẫn mơ về kỷ niệm tuổi thơ:
Sáng nay xuân đến rồi,
Đất trời như trẻ lại
Theo má về bên ngoại
Xanh biếc những hàng cau
Trang 40xuất và chiến đấu Và khi sắp bị kẻ thù hành hình chị vẫn ngẩng cao đầu bất khuất:
Một phút nữa thôi, đạn thù sẽ nổ!
Chị đứng đó, bóng ngả dài trên lúa
Không van xin, không khóc, không buồn
Vầng trán nám đen chưa lau kịp vết bùn
Mảnh khăn rằn vải thưa bó tròn mái tóc
Chị đứng đó: nhỏ bé, mong manh nhưng tràn đầy sinh lực
Như mạ non chị cấy, như bụi chuối chị trồng
Mắt thản nhiên nhìn họng súng đen ngòm
Ôi! Đôi mắt chưa bao giờ biết sợ!
(Chiếc áo cuối cùng)
Tinh thần của người phụ nữ miền Nam là thế hay cũng chính là tinh thần chung của con người miền Nam Đạn bom của kẻ thù không bao giờ có thể hủy diệt được sức sống mãnh liệt của con người
Và từ trong đau khổ, căm hờn, Giang Nam nhìn thấy ở những người phụ nữ miền Nam ấy sự trưởng thành trong chiến đấu và trong tính cách: