Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường (Internal Quality Assurance system – IQA) là hệ thống các chính sách và cơ chế để vận hành một trường đại học hoặc một chương trình giáo dục nhằm đảm bảo rằng nhà trường hoặc chương trình giáo dục đáp ứng đầy đủ các mục tiêu và chuẩn mực được áp dụng cho trường đại học hoặc chương trình giáo dục đó (AUN, 2010).BĐCL bên trong là “ tất cả các hệ thống, nguồn tài nguyên và thông tin dành cho việc xây dựng, duy trì và cải tiến chất lượng và tiêu chuẩn của quá trình từ đầu vào đến đầu ra trong đó bao gồm các hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Đó là một hệ thống mà dưới sự tác động của nó, các nhà quản lý và nhân viên hài lòng với cơ chế kiểm soát đang hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng trong giáo dục đại học” (AUNQA, 2015).BĐCL bên trong giúp CSGD, hệ thống hoặc chương trình có chính sách và cơ chế phù hợp để đảm bảo đáp ứng các mục tiêu và tiêu chuẩn đã đề ra (theo AUNQA, 2021)
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VẤN ĐỀ THIẾT LẬP VÀ VẬN HÀNH HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG
BÊN TRONG TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn
Người thực hiện
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 01 năm 2023
Trang 2MỤC LỤC
1 Đặt vấn đề 3
2 Tổng quan lý luận về hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong 4
2.1 Khái niệm 4
2.2 Mô hình cấu trúc 5
2.3 Quá trình thiết lập 8
2.4 Quy trình vận hành hệ thống 10
2.5 Các nguồn lực và chính sách cho IQAS (Internal Quality Assurance System) 13
2.6 Kết quả vận hành, chia sẻ thông tin và cải tiến 14
3 Thực tiễn ĐBCL bên trong tại Trường ĐH Nguyễn Tất Thành (giới thiệu trường hợp cụ thể)- max 4-5 trang 15
4 Kết luận và khuyến nghị (max 2 trang) 19
5 Tài liệu tham khảo 21
Trang 41 Đặt vấn đề
Trong quá trình thay đổi diện mạo mới, nền giáo dục Việt Nam đã góp nhặt đượcnhững thành công nhất định trong quá trình nâng cấp quy mô, đa dạng hoá loại hìnhtrường học, chất lượng chương trình, nguồn nhân lực và cải tiến chu trình đào tạo Tuynhiên, chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng vẫn vấp phải nhữnghạn chế về chất lượng so với các chuẩn mực của khu vực quốc tế còn rất thấp so với mặtbằng chung
Dựa trên những nghiên cứu về thực trạng đào tạo của nước ta hiện nay, có thể nhậnthấy rằng chất lượng người học sau tốt nghiệp vẫn chưa đáp ứng được các nhu cầu pháttriển kinh tế - xã hội cũng như mong mỏi của đối tượng sử dụng lao động do các cơ sởgiáo dục đại học cung cấp sau quá trình đào tạo Do đó, có thể nhận định rằng vấn đề chấtlượng vẫn được đặt trong mối quan tâm hàng đầu không chỉ của cơ sở đào tạo mà của cảcác bên liên quan khi tiếp nhận nhưng vẫn phải đào tạo lại
Hệ thống bảo đảm chất lượng trong nền giáo dục đại học không thể đưa ra nhận địnhnhất thời trong tính đơn lẻ về chất lượng học thuật Theo quan điểm về nhu cầu và mongđợi khác nhau của các bên liên quan, chất lượng trong giáo dục đại học có thể nói là kháiniệm đa chiều
Tuyên bố Thế giới về Giáo dục Đại học trong thế kỷ 21: Tầm nhìn và hành động(tháng 10 năm 1998), Điều 11, Đánh giá định tính xác định chất lượng trong giáo dục đạihọc là:
“Một khái niệm đa chiều, bao gồm tất cả các chức năng và hoạt động, giảng dạy vàCTĐT, nghiên cứu và học bổng, nhân viên, sinh viên, cơ sở vật chất, thiết bị, dịch vụcộng đồng và môi trường học thuật Tự đánh giá nội bộ và đánh giá ngoài được thực hiệncông khai bởi các chuyên gia độc lập, nếu có thể với chuyên gia quốc tế, là những hoạtđộng rất quan trọng để nâng cao chất lượng”
Để phát triển, thực hiện, duy trì và nâng cao chất lượng trong giáo dục đại học, CSGDcần phải xây dựng một hệ thống BĐCL chặt chẽ Báo cáo khu vực châu Á và Thái BìnhDương (UNESCO, 2003) xác định BĐCL trong giáo dục đại học là quy trình quản lý vàđánh giá có hệ thống để giám sát hiệu suất của các CSGD đại học
Xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong nhằm đảm bảo rằng CSGD có đầy
đủ các chính sách, cơ chế cần thiết để giúp cho các hoạt động đào tạo đáp ứng được
Trang 5những mục tiêu và chuẩn mực đã đề ra, để triển khai các hoạt động đảm bảo chất lượng,
tự chăm lo chất lượng đào tạo của mình
Mục tiêu tổng quát là liên tục đẩy mạnh và cải thiện chất lượng của các chương trình,chế độ cung cấp, và cơ sở vật chất hỗ trợ, v.v (căn cứ cho phân bố kinh phí, nhân lực,đầu tư CSVC trang thiết bị…), trở thành cơ chế kiểm soát các hoạt động của CSGD đểduy trì và nâng cao chất lượng đồng thời hình thành và duy trì “văn hóa chất lượng”.Việc quản lý chất lượng bên trong cần được củng cố theo các hướng như tạo thói quentrong việc xây dựng kế hoạch chiến lược để đảm bảo chất lượng, xây dựng và sử dụngcác chỉ số, chuẩn mực chất lượng từ đó xây dựng và đưa vào thực hiện hệ thống quytrình, cơ chế quản lý và tăng cường hệ thống thông tin
Từ việc thiết lập hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong sẽ góp phần nâng cao quátrình tự đánh giá và chuẩn bị cho quá trình đánh giá ngoài, mặt khác giúp đổi mới quátrình đào tạo, nghiên cứu và cung cấp dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Tuy nhiên, thực tiễn công tác đảm bảo chất lượng giáo dục bên trong của các cơ sở
GD ở nước ta hiện nay còn nhiều khó khăn, hạn chế do thiếu/chưa quan tâm đúng việcthiết lập, vận hành thể hiện qua các mặt:
Thứ nhất, chất lượng giáo dục đại học chưa đánh giá thông qua các chỉ số thực hiện(chỉ số đầu vào, chỉ số quá trình, chỉ số đầu ra), các chỉ số này được sử dụng ở mức độtương đối hạn chế do đó dẫn đến việc khó khăn trong việc xác định các chuẩn mực tốithiểu để phục vụ công tác quản lý chất lượng
Thứ hai, các yếu tố liên quan đến vấn đề tổ chức, quản trị cơ sở giáo dục (bộ máy, cơcấu, cán bộ) chưa thay đổi phù hợp với các phương thức quản lý mới Các CSGD luônyêu cầu quyền tự chủ tuy nhiên lại thiếu chủ động trong việc thực hiện công tác quản lý
và chưa đặt yếu tố trách nhiệm lên hàng đầu trong việc công khai với các bên liên quan
về các hoạt động của nhà trường theo các quy trình, cơ chế, xây dựng pháp luật, văn hoá.Thứ ba, CSGD chưa đưa vấn đề quản lý chất lượng vào các định hướng chương trìnhđổi mới đối với hệ thống GDĐH Trong lĩnh vực quản lý chất lượng, hệ thống giáo dụcViệt Nam vẫn chưa có những bước đi cụ thể để khắc phục những hình thức cũ, còn gặpnhiều sai xót trong tiến trình sửa đổi
Chính vì những lý do nêu trên, giáo dục đại học Việt Nam cần có những cải tiến vượtbậc trong việc hội nhập và đề cao vấn đề chất lượng trong đào tạo tại CSGD, nói cáchkhác CSGD cần xây dựng và tổ chức triển khai các mô hình đảm bảo chất lượng bên
Trang 6trong, từ đó giúp nâng chuẩn chất lượng giáo dục đại học đồng thời khẳng định uy tín vịthế của CSGD từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện đánh giá ngoài, vươn tầmquốc tế với các tổ chức có uy tín trong khu vực và trên thế giới.
2 Tổng quan lý luận về hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong
2.1 Khái niệm
Hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường (Internal Quality Assurancesystem – IQA) là hệ thống các chính sách và cơ chế để vận hành một trường đại học hoặcmột chương trình giáo dục nhằm đảm bảo rằng nhà trường hoặc chương trình giáo dụcđáp ứng đầy đủ các mục tiêu và chuẩn mực được áp dụng cho trường đại học hoặc
chương trình giáo dục đó (AUN, 2010).
BĐCL bên trong là “ tất cả các hệ thống, nguồn tài nguyên và thông tin dành cho việcxây dựng, duy trì và cải tiến chất lượng và tiêu chuẩn của quá trình từ đầu vào đến đầu ratrong đó bao gồm các hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng
Đó là một hệ thống mà dưới sự tác động của nó, các nhà quản lý và nhân viên hài lòngvới cơ chế kiểm soát đang hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng trong giáo dục đạihọc” (AUN-QA, 2015)
BĐCL bên trong giúp CSGD, hệ thống hoặc chương trình có chính sách và cơ chế phù
hợp để đảm bảo đáp ứng các mục tiêu và tiêu chuẩn đã đề ra (theo AUN-QA, 2021)
Tiêu chuẩn và phương thức vận hành:
- Sự nhất trí, đồng thuận cao của các bên liên quan
- Áp dụng triệt để các tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục sẽ góp phần tối ưu hóa kếtquả, sản phẩm đầu ra theo nhu cầu mong đợi
- Tính tự nguyện được coi như là một tiêu chuẩn chủ yếu trong quá trình triển khaihoạt động
Trang 7b Quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management) – TQM
Mô hình dựa trên tiêu kiểm soát 4M bao gồm: Men: Con người; Method: PhươngPháp; Material: Nguyên liệu; Machine: Thiết bị
Mô hình này được vận hành dựa trên các tiêu chuẩn gồm: Sự tham gia của tất cả mọingười trong tổ chức, luôn nâng cao sự đáp ứng khách hàng, luôn cải tiến chất lượng đểlàm hài lòng khách hàng, tập trung đi tìm nguyên nhân của sự không phù hợp – để ngănngừa sự tái diễn và thực hiện PDCA (Plan – Do - Check – Action)
Mô hình khái quát của TQM khi thực hiện hệ thống quản lý chất lượng gồm các vấn
Ban quản lý lập bản đồ các quá trình quan trọng mà qua đó tổ chức đáp ứng nhu cầucủa khách hàng Ban quản lý giám sát việc hình thành các nhóm để nỗ lực cải tiến quytrình
Động lực của nỗ lực TQM được quản lý bởi ban chỉ đạo Các nhà quản lý đóng góp cánhân vào nỗ lực thông qua lập kế hoạch, đào tạo, huấn luyện hoặc các phương pháp khác.Quản lý và tiêu chuẩn hóa quy trình hàng ngày diễn ra, tiến độ được đánh giá và kếhoạch được sửa đổi khi cần thiết Nhận thức và phản hồi liên tục của nhân viên về tìnhtrạng được cung cấp và quy trình khen thưởng / công nhận được thiết lập
Trang 8Hình 1: Sơ đồ quản lý chất lượng tổng thể TQM
c Mô hình quỹ chất lượng châu Âu (EFQM)
Đặc điểm: Là mô hình quản lý chất lượng đa chiều trên nguyên tắc tự đánh giá tậptrung vào hoạt động của tất cả các cấp, được xây dựng dựa theo chu trình PDCA và đượcxem như tiêu chuẩn ứng dụng đánh giá chất lượng của châu Âu
Triết lý/ Tư tưởng chủ đạo: Dựa trên nguyên lý mô hình TQM để định ra các tiêu chí
và các mức độ của từng tiêu chí để đánh giá mức độ của một đơn vị
Tiêu chuẩn và phương thức vận hành:
Xác lập mục tiêu, đo lường các kết quả của việc thực hiện các mục tiêu đề ra thôngqua ý kiến góp ý của các bên liên quan làm cơ sở để rà soát các quy định và thực hiện cảitiến các hoạt động - 9 tiêu chuẩn và được đánh giá mức độ phát triển qua từng giai đoạnkhác nhau (hướng theo hành động, hướng theo tiến trình, hướng theo hệ thống, hướngtheo chuỗi, quản lý chất lượng toàn diện)
d Mô hình AUN-QA
Đảm bảo chất lượng tầm chiến lược, hệ thống và chiến thuật; kết hợp đảm bảo chấtlượng bên trong (IQA) và đảm bảo chất lượng bên ngoài (EQA), bao gồm cả đánh giángoài và kiểm định chất lượng
Mô hình này được thiết lập trên 3 thành tố cơ bản: Mô hình QLCL cấp Cơ sở giáo dục(công cụ để phân tích những điểm mạnh và điểm yếu của một CSGD); Mô hình QLCLcho hệ thống ĐBCL bên trong (công cụ để phân tích mức độ đáp ứng các yêu cầu của hệthống ĐBCL bên trong); Mô hình QLCL cấp chương trình (công cụ để phân tích điểmmạnh, điểm yếu ở cấp CTĐT)
Mô hình AUN-QA đối với hệ thống BĐCL bên trong Mô hình AUN-QA cho hệ thốngBĐCL bên trong (IQA) bao gồm các thành phần sau:
Trang 9- Khung BĐCL bên trong.
- Công cụ giám sát
- Công cụ đánh giá
- Các quy trình BĐCL đặc biệt để thực hiện các hoạt động cụ thể
- Công cụ BĐCL cụ thể
- Các hoạt động tiếp theo để cải tiến
Hình 2: Mô hình AUN-QA cho hệ thống BĐCL bên trong
Hệ thống BĐCL bên trong là tổng thể các nguồn lực và thông tin dành cho việc thiếtlập, duy trì và nâng cao chất lượng cũng như các tiêu chuẩn giảng dạy, trải nghiệm họctập, nghiên cứu và dịch vụ cộng đồng Đây là một hệ thống mà các cơ chế BĐCL hoạtđộng để duy trì và nâng cao chất lượng trong giáo dục đại học
e Mô hình CIPOF (UNESCO)
Để hoạt động đảm bảo chất lượng bên trong đạt hiệu quả, các cơ sở giáo dục cần xâydựng quy trình đảm bảo chất lượng với hệ thống công cụ kiểm soát, đánh giá để khôngngừng cải tiến, nâng cao chất lượng; đồng thời cần có sự phối hợp và chia sẻ thông tingiữa các thành viên trong nhà trường
Thông tin phản hồi là cơ sở để các nhà quản lý xem xét, rà soát, đánh giá những hoạtđộng của nhà trường nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót, từng bước nâng cao chấtlượng trong từng hoạt động, cũng như hiệu quả đạt được trong công tác quản lý chấtlượng giáo dục trong bối cảnh các trường đại học ở Việt Nam hiện nay Quản lý theo môhình CIPOF là quản lý các hoạt động gồm 5 thành tố: Đầu vào, quá trình, đầu ra, thôngtin phản hồi thu thập từ các bên liên quan và các thành tố này được đặt trong bối cảnhmôi trường cụ thể (Bùi Ngọc Hữu Vinh & Nguyễn Thành Nhân, 2020)
Trang 10Hình 3: Cấu trúc mô hình CIPOF
Cơ sở giáo dục cần xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong theo tiếp cận môhình CIPOF trong quản lý chất lượng nhà trường là hoàn toàn phù hợp Để vận dụng môhình CIPOF vào tình hình thực tế bối cảnh giáo dục các trường đại học ở Việt Nam thì cơ
sở giáo dục cần quan tâm các yếu tố của hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong
2.3 Quá trình thiết lập
Trước khi thiết kế quá trình tự đánh giá, nhóm chuyên gia phải nắm được những thôngtin sơ bộ về cơ sở GDĐH Những thông tin này liên quan đến thực trạng mục tiêu (đã xácđịnh hoặc chưa); thời gian tự đánh giá lần trước (trong khoảng bao lâu); năng lực thôngtin (đội ngũ, kinh nghiệm) và sự hiện diện của dữ liệu (con số, xu thế, ý kiến, hệ thốngthông tin); hiện trạng lập kế hoạch; sự nhất trí trong giới lãnh đạo về việc tự đánh giá vàxác định vấn đề; các yếu tố lịch sử và chính trị trong tổ chức; sự tác động của cơ quanbên ngoài; hiện trạng các chương trình đào tạo mà nhà trường đang thực hiện
Việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong phải trải qua các quá trình tổchức và thiết lập như:
Thứ nhất, Quá trình thiết lập và hoàn thiện các thành tố, nguồn tài nguyên (nhân lực, vật lực, tài lực) cần thiết cho hoạt động giáo dục và ĐBCLGD, bao gồm:
Cơ sở vật chất (thư viện, phòng thực hành, thí nghiệm ), trang thiết bị giáo dục, hạtầng cơ sở thông tin- truyền thông; Kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục tầm vĩ mô
Trang 11(cấp nhà nước) và tầm vi mô (nhà trường), nguồn nhân lực (giảng dạy- giáo dục- nghiêncứu; lãnh đạo-quản lý; nhân viên phục vụ…), Chương trình giáo dục
Quy chế hoạt động và cơ chế phối hợp trong các hoạt động nội bộ của cơ sở GD vớinhau và với các tổ chức bên ngoài, các quy định, quy trình, thủ tục, công cụ, biểu mẫuxây dựng và tổ chức các hoạt động nghiệp vụ cốt lõi của CSGD, các yêu cầu, tiêu chuẩn,chuẩn mực, tiêu chí, chỉ số… xem xét, kiểm soát, kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quảthực hiện các mặt hoạt động trong CSGD
Các chế độ, chính sách khuyến khích, khen thưởng và điều chỉnh, xử lý, chế tài nhằmtạo động lực tích cực, thúc đẩy hoạt động GD mang tính hiệu quả, bền vững, các nộidung, quy định, kế hoạch, chương trình, quy trình tự đánh giá CLGD, các phương tiện,hình thức phổ biến thông tin giáo dục và báo cáo tự đánh giá CLGD
Thứ hai, quá trình tổ chức và triển khai các hoạt động trong cơ sở giáo dục, trong đó
có thể chia hành ba hệ hoạt động có ý nghĩa then chốt trong cơ sở GD cùng vận hành đồng bộ, đó là:
Hệ hoạt động mang tính chuyên môn như giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học,chuyển giao công nghệ, phục vụ cộng đồng
Hệ hoạt động mang tính hành chính- quản trị của các phòng ban chức năng; và,
Hệ hoạt động kiểm soát, đánh giá CLGD bên trong được thực hiện bởi bộ phậnĐBCLGD bên trong của cơ sở GD
Thứ ba, quá trình tự đánh giá CL và công bố kết quả tự ĐG các mặt hoạt động của cơ
sở GD
Trong quá trình này được chia nhỏ ra thành các quá trình bộ phận có chú trọng đếnnhiều công đoạn quan trọng, trong đó không thể thiếu các nội dung sau: thành lập hộiđồng tự đánh giá; xác định nội dung tự đánh giá; thiết lập và thống nhất quy trình tự đánhgiá; viết báo cáo tự đánh giá; và công bố kết quả tự ĐG theo quy định
Thứ tư, quá trình cải tiến chất lượng CL sau tự đánh giá
Trong đó chỉ rõ các mặt mạnh cần phát huy; những yếu kém cần khắc phục, biện phápkhắc phục, dự kiến kết quả đạt được sau cải tiến CL
Như vậy, có thể khẳng định, quá trình ĐBCLGD bên trong mang tính hệ thống- có thểgọi đó là hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ, trong đó bao gồm một loạt các vấn đề liênquan đến chính sánh về chất lượng, các thủ tục, việc giảng dạy hiệu quả, kiểm tra/kiểm
Trang 12toán chất lượng, các hành động cải tiến, và cả đánh giá về hoạt động quản lý của cơ sởGD.
Thứ sáu, Quá trình đánh giá chất lượng từ bên ngoài (bởi tổ chức KĐCLGD)
Quá trình này được tiếp nối sau quá trình đánh giá CLGD bên trong như nêu trênnhưng được thực hiện theo nhu cầu có tính tự nguyện của cơ sở GD
Chúng có đặc trưng sau: Kiểm định chất lượng giáo dục có thể được tiến hành ở phạm
vi cơ sở đào tạo (kiểm định nhà trường) hoặc chương trình đào tạo (kiểm định chươngtrình); kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động hoàn toàn tự nguyện; kiểm định chấtlượng giáo dục không thể tách rời công tác tự đánh giá; tất cả các quy trình kiểm địnhchất lượng giáo dục luôn gắn liền với đánh giá ngoài (đánh giá đồng nghiệp); các chuẩnmực đánh giá rất linh hoạt và được biến đổi cho phù hợp với mục tiêu hoạt động của từngtrường
Sơ đồ dưới đây minh họa quá trình ĐBCLGD theo Sallis (1993) trong đó có thể chỉ ra
ba khâu quan trọng gồm: tự đánh giá; đánh giá ngoài; và công nhận kết quả đánh giá
Hình 3: Sơ đồ minh họa quá trình ĐBCLGD
Sau khi các nội dung nêu trên đã được xác định, nhóm thiết kế xây dựng một kế hoạchchỉ tiết bao gồm các mục như hoạt động, thời gian tiến hành, thời điểm kết thúc, kết quảmong đợi và những cá nhân liên quan có trách nhiệm trong quá trình Bản kế hoạch này
là công cụ theo dõi tiến trình đánh giá của các nhóm đối tượng quản lý và thực thi
2.4 Quy trình vận hành hệ thống