Kiểm định chất lượng Hệ thống các tổ chức đảm bảo chất lượng (các tổ chức đánh giá ngoài và các tổ chức kiểm định độc lập) 1 Khái niệm kiểm định chất lượng Kiểm định chất lượng là mô hình đảm bảo chất. Kiểm định chất lượng là một quy trình mà một tổ chức công lập hoặc ngoài công lập hoặc tư nhân tiến hành đánh giá cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo để công nhận một cách chính thức cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo đạt được những tiêu chuẩn hoặc tiêu chí tối thiểu đã đề ra. Kết quả của kiểm định là quyết định công nhận đạt hoặc không đạt (có hoặc không) và cấp giấy chứng nhận quy định rõ thời gian có hiệu lực. Quy trình kiểm định chất lượng thường bao gồm ba bước: (1) tự đánh giá của cơ sở giáo dục, (2) đánh giá ngoài của đoàn đánh giá ngoài do tổ chức kiểm định lựa chọn, và (3) thẩm định kết quả của hội đồng kiểm định.
Trang 1Kiểm định chất lượng: Hệ thống các tổ chức đảm bảo chất lượng (các tổ chức đánh giá ngoài và các tổ chức kiểm định độc lập)
1 Khái niệm kiểm định chất lượng
Kiểm định chất lượng là mô hình đảm bảo chất lượng được sử dụng rộng rãi nhất trong các hệ thống giáo dục đại học hiện nay Kiểm định chất lượng bắt đầu được áp dụng ở Hoa Kỳ cách đây hơn 100 năm Hội đồng kiểm định giáo dục đại học, Hoa Kỳ (CHEA) định nghĩa “kiểm định chất lượng là một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài được giáo dục đại học tạo ra và sử dụng để đánh giá các trường cao đẳng, đại học và các chương trình đào tạo nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng” Ở Hoa Kỳ thì kiểm định chất lượng là một quá trình dựa trên sự tin tưởng, tiêu chuẩn, bằng chứng, đánh giá và đồng cấp (Nguyễn Hữu Cương, 2017)
Kiểm định chất lượng là một quy trình mà một tổ chức công lập hoặc ngoài công lập hoặc
tư nhân tiến hành đánh giá cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo để công nhận một cách chính thức cơ sở giáo dục hoặc chương trình đào tạo đạt được những tiêu chuẩn hoặc tiêu chí tối thiểu đã đề ra Kết quả của kiểm định là quyết định công nhận đạt hoặc không đạt (có hoặc không) và cấp giấy chứng nhận quy định rõ thời gian có hiệu lực Quy trình kiểm định chất lượng thường bao gồm ba bước:
(1) tự đánh giá của cơ sở giáo dục,
(2) đánh giá ngoài của đoàn đánh giá ngoài do tổ chức kiểm định lựa chọn, và
(3) thẩm định kết quả của hội đồng kiểm định
2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kiểm định chất lượng
2.1 Nhà nước ban hành 2 văn bản quan trọng:
Luật Giáo dục 2005 (Điều 17, 58, 99)
Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục (Chương II, Điều 38-40);
2.2 Bộ GD&ĐT ban hành 2 văn bản quy phạm pháp luật trong các năm 2004-2006:
Quyết định 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/12/2004 ban hành quy định tạm thời về kiểm định chất lượng các trường đại học
Trang 2Quyết định 27/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 27/06/2006 ban hành quy định tạm thời các trường đại học về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/12/2004 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
2.3 Trong các năm 2007-2008, Bộ GD&ĐT ban hành 9 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó:
Quyết định 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học
Quyết định 66/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường cao đẳng
Quyết định 67/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường trung cấp chuyên nghiệp
Quyết định 72/2007/QĐ-BGDĐT ngày 30/11/2007 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình Giáo dục Tiểu học trình độ cao đẳng
Quyết định 76/2007/QĐ-BGDĐT ngày 12/12/2007 ban hành quy định về Quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp
Quyết định 03/2008/QĐ-BGDĐT ngày 04/02/2008 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông trình độ đại học Quyết định 04/2008/QĐ-BGDĐT ngày 4/02/2008 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường tiểu học
Quyết định 29/2008/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2008 ban hành quy định chu kỳ và kiểm định chất lượng chương trình giáo dục của các trường đại hoc, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp
Chỉ thị của Bộ trưởng số 46/2008/CT-BGDĐT ngày 5/8/2008 về việc tăng cường công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục
2.4 Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục ban hành các văn bản hướng dẫn:
Hướng dẫn tự đánh giá cho các trường ĐH, CĐ, THCN
Hướng dẫn sử dụng tiêu chí đánh giá chất lượng trường đại học
Trang 3Hướng dẫn tìm minh chứng cho bộ tiêu chí đánh giá chất lượng trường CĐ
Hướng dẫn tìm minh chứng cho bộ tiêu chí đánh giá chất lượng trường TCCN
Các văn bản trên là những công cụ pháp lý quan trọng để triển khai kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam
3 Mục đích của kiểm định trong giáo dục đại học
Vai trò của kiểm định trong giáo dục đại học nhằm giúp đảm bảo mức độ chất lượng chấp nhận được trên một loạt các chương trình và các cơ sở Theo Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (ED)
mô tả thực tiễn kiểm định là một phương tiện tiến hành đánh giá phi chính phủ, để đánh giá các tổ chức và chương trình giáo dục, với một số mục đích sau đây:
- Đánh giá chất lượng của các chương trình học tập tại các tổ chức giáo dục đại học
- Tạo ra văn hóa cải tiến liên tục chất lượng học tập tại các trường cao đẳng và đại học, kích thích nâng cao tiêu chuẩn chung giữa các tổ chức giáo dục
- Liên quan đến đội ngũ giảng viên và nhân viên trong việc đánh giá và lập kế hoạch thể chế
- Thiết lập các tiêu chí để chứng nhận và cấp phép tính chuyên nghiệp và để nâng cấp các khóa học được cung cấp
Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học Hoa Kỳ (CHEA) (The Council for Higher Education Accreditation) hiện có khoảng 3.000 trường cao đẳng và đại học cấp bằng Các
cơ quan kiểm định, mô tả kiểm định là một quy trình đánh giá chất lượng bên ngoài được giáo dục đại học tạo ra và sử dụng để xem xét các trường cao đẳng, đại học và các chương trình nhằm đảm bảo chất lượng, cải thiện chất lượng CHEA xác định cụ thể các vai trò hoặc mục đích công nhận sau đây:
- Đảm bảo chất lượng bằng việc kiểm định là phương tiện chính mà các trường cao đẳng, đại học và chương trình đảm bảo chất lượng cho sinh viên và công chúng Tình trạng được công nhận là một tín hiệu cho sinh viên và công chúng rằng một tổ chức hoặc chương trình đáp ứng các tiêu chuẩn ở ngưỡng tối thiểu Ví dụ như: giảng viên, chương trình giảng dạy, dịch vụ sinh viên và thư viện Tình trạng được công nhận chỉ được chuyển tải nếu các tổ chức và chương trình cung cấp bằng chứng về sự ổn định tài khóa
Trang 4- Thu hút sự tự tin của khu vực tư nhân Tình trạng công nhận của một tổ chức hoặc chương trình rất quan trọng đối với người sử dụng lao động khi đánh giá thông tin đăng
ký của người xin việc và khi quyết định có cung cấp hỗ trợ cho nhân viên hiện tại đang tìm kiếm giáo dục bổ sung hay không Các cá nhân và cơ sở tư nhân tìm kiếm bằng chứng kiểm định khi đưa ra quyết định về việc cho tư nhân
- Kiểm định là rất quan trọng đối với sinh viên để chuyển giao dễ dàng các khóa học và chương trình giữa các trường cao đẳng và đại học Các tổ chức tiếp nhận lưu ý xem các khoản tín dụng mà sinh viên muốn chuyển có được nhận tại một tổ chức được công nhận hay không (Bành Thị Hồng Lan, 2020)
4 Phân loại cấp độ kiểm định chất lượng
Kiểm định chất lượng có thể được triển khai ở hai cấp, cấp cơ sở đào tạo (CSĐT), hay còn gọi là cấp trường, và cấp chương trình đào tạo (CTĐT)
Kiểm định trường liên quan đến việc xem xét, đánh giá toàn bộ hoạt động của một cơ sở giáo dục đại học dựa trên một bộ tiêu chuẩn kiểm định trường
Ở cấp trường, nội dung đánh giá phủ rộng các mặt hoạt động của cơ sở giáo dục, tập trung nhiều vào sứ mạng, mục tiêu, chiến lược, quản trị và quản lý của CSĐT, đồng thời đánh giá các nguồn lực như cơ sở vật chất trên phạm vi toàn trường
Kiểm định chương trình đào tạo (khóa đào tạo/ ngành đào tạo) là việc xem xét, đánh giá một phần của cơ sở giáo dục đại học liên quan trực tiếp đến một chương trình/ khóa đào tạo, và chú trọng vào các hoạt động chuyên môn Kiểm định chương trình có thể được thực hiện với một bộ tiêu chuẩn kiểm định được dùng chung cho các chương trình đào tạo hoặc một bộ tiêu chuẩn được xây dựng cho một chương trình đào tạo cụ thể
5 Nguyên tắc kiểm định chất lượng
5.1 Nguyên tắc ‘Độc lập’
Độc lập là nguyên tắc căn bản nhất trong KĐCL trên thế giới, được hiểu là hoạt động kiểm định - gồm toàn bộ quá trình đánh giá, ra quyết định điều chỉnh đối với CSĐT hoặc CTĐT - là khách quan, không thiên vị, không chịu tác động hay ảnh hưởng, dù về chính trị hay tài chính, của các bên liên quan bao gồm Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, các CSĐT hay các đối tượng tham gia vào quá trình này
Trang 5Thực tế triển khai KĐCL trên thế giới cho thấy nguyên tắc này có thể được đảm bảo bằng nhiều cơ chế khác nhau chứ không phụ thuộc vào việc tổ chức KĐCL là cơ quan nhà nước hay do Chính phủ thành lập hay không
Chẳng hạn, hơn 60 cơ quan KĐCL CSĐT và CTĐT theo chuyên ngành của Mỹ hoạt động độc lập hoàn toàn, kể cả về hình thức tổ chức, với Chính phủ và Bộ Giáo dục Mỹ Các cơ quan này chủ yếu là các tổ chức hiệp hội, ví dụ Hiệp hội các trường ĐH&CĐ khu vực Bắc Mỹ, hoặc là các tổ chức nghề nghiệp, được Hội đồng KĐCL giáo dục đại học
Mỹ (CHEA) giám sát và công nhận Chính phủ Mỹ không trực tiếp tham gia hay can thiệp vào toàn bộ quá trình này mà quản lý chất lượng giáo dục đại học thông qua NACIQI, một ủy ban tư vấn độc lập về việc sử dụng KĐCL và kết quả KĐCL như thế nào, và CHEA Như vậy, toàn bộ quy trình KĐCL của Mỹ được thực hiện hoàn toàn độc lập với các cơ quan quản lý nhà nước và Chính phủ Mỹ
Trong khi đó, TEQSA, cơ quan KĐCL của Australia, mặc dù được thành lập theo Điều luật TEQSA 2011 của Chính phủ Australia, Chủ tịch và các Ủy viên của TEQSA đều do Chính phủ bổ nhiệm nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc ‘độc lập’ thông qua các quy định: (1) Bộ chủ quản không được phép đưa ra chỉ đạo đối với hoặc liên đới tới một trường ĐH&CĐ cụ thể nào; (2) TEQSA không chịu chỉ đạo của ai trong việc thực hiện chức năng và thực thi quyền hành, ngoại trừ chỉ đạo của Bộ chủ quản trong trường hợp nhằm đảm bảo tính liêm chính trong giáo dục đại học (Điều 135-136, Mục 2, Chương 8, TEQSA 2011)
Trong hệ thống KĐCL của Việt Nam, các trung tâm KĐCL được gọi là các trung tâm độc lập nhưng toàn bộ các tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá, cũng như quy trình KĐCL là
do Bộ GD&ĐT quy định Theo Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT quy định về KĐCL cơ sở giáo dục đại học ban hành hồi tháng Năm mới đây, các trường phải gửi báo cáo tự đánh giá và báo cáo rà soát giữa kỳ cho Bộ GD&ĐT Việc cấp chứng chỉ hành nghề kiểm định viên cũng là do Bộ GD&ĐT thực hiện Sự can thiệp khá sâu của Bộ vào quá trình kiểm định cộng với việc các trung tâm KĐCL nằm trong các đại học quốc gia và đại học vùng, đặt ra dấu hỏi lớn về tính độc lập của các trung tâm KĐCL và liệu nguyên tắc độc lập của
hệ thống có thể đạt được bằng cách nào (Đỗ Thị Ngọc Quyên, 2017)
Trang 65.2 Nguyên tắc ‘Bắt buộc’
Hệ thống KĐCL ở các nước trên thế giới đều hướng tới ràng buộc các trường trong hệ thống tham gia KĐCL nhưng bằng hai tiếp cận khác nhau, bắt buộc hoặc tự nguyện
Ở Mỹ, nơi sinh ra KĐCL, các trường ĐH&CĐ không bắt buộc phải tham gia KĐCL, nhưng kết quả KĐCL lại được ràng buộc với việc cấp ngân sách liên bang theo đầu sinh viên Còn ở các nước khác như Hà Lan, Australia và nhiều nước Tây Âu, KĐCL là bắt buộc
Ở Việt Nam, KĐCL cũng là bắt buộc theo Luật Giáo dục Thông tư 12/2017 ràng buộc KĐCL với các điều kiện tự chủ cho các trường Thế nhưng, trên thực tế, nguyên tắc ‘bắt buộc’ về cơ bản chưa được thực hiện, đồng nghĩa với việc Luật chưa được thực thi, do những chậm trễ và non yếu trong triển khai hệ thống và cung cấp dịch vụ KĐCL (Đỗ Thị Ngọc Quyên, 2017)
5.3 Nguyên tắc 'Liên tục cải tiến'
Tất cả các hệ thống KĐCL trên thế giới đều nhấn mạnh nguyên lý ‘cải tiến liên tục’, thể hiện qua việc triển khai những khuyến nghị cải tiến trong các báo cáo đánh giá ngoài Ở Australia, TEQSA soạn thảo và xuất bản báo cáo hằng năm về kết quả KĐCL trong toàn
hệ thống nhằm tổng kết và phân tích hoạt động và thực hành của các trường ĐH&CĐ, rút
ra các quy tắc thực hành tốt (good practices), giới thiệu và đề xuất áp dụng những quy tắc này, qua đó khuyến khích các trường vượt ra ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn sàn trong
bộ tiêu chuẩn KĐCL và thúc đẩy quá trình cải tiến chất lượng không ngừng trong hệ thống GDĐH
Ở Việt Nam, trong Thông tư 12/2017, lần đầu tiên bộ tiêu chuẩn KĐCL mới nhất đã đưa
ra tiêu chuẩn riêng về nâng cao chất lượng nhiều mặt của các cơ sở giáo dục, trong đó có đào tạo, nghiên cứu và quản trị (Tiêu chuẩn 12) Thay đổi này chắc chắn sẽ tác động đến
ý thức cải tiến chất lượng ở các trường nhưng kết quả ra sao, có lẽ còn phải chờ hành động thực tế của các trường sau khi hoàn thành KĐCL theo bộ tiêu chuẩn mới (Đỗ Thị Ngọc Quyên, 2017)
6 Quy trình KĐCL
Trang 7Quy trình KĐCL ở Mỹ cũng như ở các nước du nhập hệ thống này trải qua những bước căn bản sau: Đăng ký KĐCL - Tự đánh giá - Đánh giá ngoài - Thẩm định kết quả đánh giá - Ra quyết định công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục (xem Bảng 1), với các bên tham gia bao gồm cơ sở giáo dục đại học và cơ quan KĐCL Các khâu trong quy trình nói trên tạo ra hai sản phẩm quan trọng và đồ sộ là báo cáo tự đánh giá và báo cáo đánh giá ngoài
Theo quy định mới nhất của Bộ GD&ĐT, quy trình KĐCL của Việt Nam cũng gồm các bước cơ bản như vậy nhưng trong quá trình thực hiện ngoài CSĐT, cơ quan KĐCL, còn
có sự liên quan trực tiếp của Bộ GD&ĐT
Đây là một gợi ý cho KĐCL của Việt Nam trong bối cảnh chúng ta có tới gần 450 trường trong phạm vi KĐCL, chưa kể hàng ngàn CTĐT cấp bằng, mà chỉ có bốn trung tâm KĐCL
(1) Gồm các trường đại học và cao đẳng có cấp bằng nằm trong nhóm mục IV thuộc Luật Giáo dục Đại học Mỹ năm 1965, thuộc phạm vi điều chỉnh của chương trình hỗ trợ tài chính cho sinh viên của Chính phủ Liên bang Mỹ.
Trang 82 Gồm 40 trường công lập, 2 trường quốc tế và 1 trường tư; có một số ít trường cao đẳng được cấp bằng và thuộc phạm vi KĐCL.
3 Gồm 18 trường ĐH nghiên cứu và 42 trường ĐH ứng dụng.
4 Bao gồm 60 cơ quan KĐCL được CHEA công nhận, kể cả 6 tổ chức KĐCL vùng, và một số cơ quan KĐCL được Bộ GD Mỹ (USDE) công nhận Có những tổ chức KĐCL giả, không được CHEA hay USDE công nhận.
5 Thành lập năm 2002 Hiện nay Chính quyền Flanders (vùng đất nói tiếng Hà Lan thuộc Bỉ) đã xây dựng hệ thống KĐCL riêng.
6Hệ thống KĐCL của Hà Lan được điều chỉnh năm 2011, theo đó KĐCL trường, được triển khai từ 2002, đã được xoá bỏ, thay vào đó là thẩm định chất lượng Hệ thống KĐCL chỉ còn triển khai KĐCL CTĐTNguồn: Tác giả tổng hợp từ nhiều nguồn
7 Khó khăn và thuận lợi trong việc thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam
6.1 Khó khăn
Có sự lúng túng và thiếu ổn định
Kể từ khi KĐCL mới được bắt đầu thí điểm rồi trở thành yêu cầu bắt buộc, một hệ thống các văn bản pháp quy dày đặc điều chỉnh các hoạt động KĐCL trong giáo dục đại học đã được ban hành liên tiếp vào các năm 2007 (65/2007/QĐ-BGDĐT), 2008 (29/2008/QĐ-BGDĐT), 2012 (37/12/TT-BGDĐT; 60&61& 62/2012/TT-(29/2008/QĐ-BGDĐT), 2013 (18/2013/TT-BGDĐT; 38/2013/ TT-BGDĐT), 2016 (04/2016/TT-BGDĐT), 2017 (12/2017/TT-BGDĐT)
Trong giai đoạn đầu triển khai thí điểm và khởi động hệ thống, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chủ yếu tập trung triển khai KĐCL cấp trường Mặc dù đã có chủ trương KĐCL CTĐT thể hiện qua các văn bản pháp quy do Bộ GD&ĐT ban hành suốt từ những năm 2008, 2013 và 2016, KĐCL chương trình về cơ bản vẫn để trống do các trường và
cơ quan KĐCL còn đang xoay sở thực hiện KĐCL cấp trường
Xem nhẹ vai trò của kiểm định chất lượng
KĐCL buộc các trường phải thống kê và công bố nhiều thông tin về các hoạt động của mình cho bên ngoài đánh giá, dẫn đến sự e ngại từ phía lãnh đạo nhà trường về kết quả
Trang 9đánh giá và ảnh hưởng của nó tới uy tín cá nhân lãnh đạo Trong khi đó, nếu không (chưa) tham gia KĐCL thì trường vẫn được hoạt động, được tuyển sinh và cấp bằng bình thường
Bất cập về nội dung kiểm định
Việc thay đổi nhiều nội dung trong bộ tiêu chuẩn KĐCL mới dẫn tới việc phải tập huấn lại cho toàn bộ cán bộ ĐBCL và cán bộ tham gia tự đánh giá cấp trường Hơn nữa, rõ ràng là đánh giá theo bộ tiêu chuẩn cũ với 61 tiêu chí chắc chắn sẽ dễ đạt chuẩn hơn so với bộ tiêu chuẩn mới tăng thêm tới 50 tiêu chí, tức là thêm 50 yêu cầu Sự xáo trộn này hiển nhiên tác động không nhỏ tới kế hoạch hoạt động cũng như chiến lược của nhiều trường
Theo quy định hiện hành về KĐCL của Bộ GD&ĐT, chu kỳ KĐCL ở Việt Nam là 5 năm; tức là cứ 5 năm, các trường phải tiến hành tự đánh giá và đăng ký KĐCL một lần Điều này cũng có nghĩa để thực thi quy định KĐCL đối với CSĐT theo Luật Giáo dục, các cơ quan KĐCL trong hệ thống phải hoàn thành KĐCL toàn bộ gần 450 trường trong vòng 5 năm Chưa kể các nhiệm vụ khác như KĐCL CTĐT và đánh giá phục vụ phân tầng và xếp hạng, nhiệm vụ này là gánh nặng quá lớn đối với bốn trung tâm KĐCL hiện
có tại Việt Nam
6.2 Thuận lợi
Trước những quy định, yêu cầu của Bộ GD&ĐT với các CSĐT đại học về công tác đảm bảo chất lượng nói chung và KĐCL nói riêng, phản ứng thông thường của các trường trong một hệ thống quản lý mang tính tập trung hóa cao như Việt Nam là tuân thủ Tuy nhiên, sau bước tìm hiểu và triển khai thụ động, một số trường đã có ý thức tạo ra những hạt nhân nhân sự KĐCL, như hai Đại học Quốc gia đã nhanh chóng tích cực đầu tư và xây dựng hệ thống KĐCL riêng, với bộ tiêu chuẩn riêng để KĐCL các trường thành viên
và chương trình của mình Có thể nói, việc hai Đại học Quốc gia xây dựng lực lượng triển khai công tác KĐCL, dù còn rất mỏng, đã đóng góp đáng kể cho việc phát triển hệ thống KĐCL của Việt Nam Bên cạnh đó, một số trường công lập khác cũng tích cực tham gia KĐCL ngay từ đầu, như 40 trường tình nguyện tham gia chương trình KĐCL thí điểm giai đoạn 2005-2009
Trang 10Bộ GD&ĐT có chính sách khuyến khích các trường tự tham gia KĐCL quốc tế đối với các chương trình tiên tiến, chất lượng cao
Tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục.
Việt nam phối hợp với cơ quan giáo dục đại học chuyên ngành (HBO raad) của Hà Lan triển khai Dự án "Thành lập 5 trung tâm đảm bảo chất lượng cho 5 trường ĐH và tăng cường năng lực ở cấp hệ thống" 2005-2008 Các đơn vị tham gia Dự án là Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Cần Thơ, Cục KT&KĐCLGD, 5 trung tâm đảm bảo chất lượng đã được thành lập và đi vào hoạt động
Bộ GD&ĐT đã tổ chức các đợt tập huấn về đánh giá ngoài với sự tham gia của các chuyên gia quốc tế (đợt tập huấn tháng 2/2006 do chuyên gia Australia và Indonesia thực hiện; đợt tập huấn tháng 8/2006 do 2 chuyên gia Hà Lan thực hiện; đợt tập huấn tháng 4/2007 do một chuyên gia Hoa Kỳ thực hiện)
Cục KT&KĐCLGD đã đăng ký làm thành viên của mạng lưới chất lượng Châu Á -Thái Bình Dương(APQN) Trong 4 năm gần đây APQN đã hỗ trợ cho 16 lượt cán bộ trong nước đi dự các đợt tập huấn, hội thảo tại các nước trong khu vực nhằm chuần bị lực lượng cho các hoạt động đánh giá và kiểm định ở Việt Nam 4 trung tâm đảm bảo chất lượng của 4 trường đại học là thành viên của APQN
Cục KT&KĐCLGD đang đăng ký làm thành viên của mạng lưới quốc tế các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học (INQAAHE)
Hiện nay đã bắt đầu có những hợp tác với Australia trong việc tìm các ứng viên đăng
ký nhận học bổng của Australia để tăng cường đội ngũ chuyên gia về kiểm định
8 Đề xuất mô hình tổ chức Kiểm định chất lượng giáo dục đại học mới cho Việt Nam
Để thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học Luật số 34/2018/QH14, tác giả xin đề xuất 2 mô hình tổ chức mới như sau:
Mô hình 1:
o Ưu điểm: Định chuẩn, so chuẩn thống nhất
o Rủi ro: Hành chính, tổ chức phức tạp