Trong những năm qua, vị trí, vai trò, ý nghĩa và các mục tiêu của công tác này đã liên tục được đề cập đến trong nhiều loại hình văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà nước và Chính ph
Trang 1Nghiên cứu giải pháp kết nối một số phân khu
cấp nước của thủ đô hà nội
Chuyên ngành: Cấp thoát nước
Mã số: 60.58.02.10
luận văn thạc sĩ
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Dương Thanh Lượng
Hà nội - 2015
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
1.6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH KINH TẾ 3
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
1.1.2 Tình hình dân sinh kinh tế 8
1.2 NGUỒN NƯỚC 13
1.2.1 Nguồn nước mặt 13
1.2.2 Nguồn nước ngầm 14
1.2.3 Đánh giá khả năng đáp ứng của nguồn nước đối với cấp nước 14
1.3 HIỆN TRẠNG CẤP NƯỚC CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 15
1.3.1 Hiện trạng các nhà máy xử lý nước 15
1.3.2 Tình hình tổ chức quản lý và công trình cấp nước 18
1.4 ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH CẤP NƯỚC TOÀN TP HÀ NỘI 19
1.4.1 Định hướng phát triển không gian 19
1.4.2 Dự báo dân số 20
1.4.3 Định hướng quy hoạch về cấp nước 23
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá khả năng cấp nước theo quy hoạch 30
CHƯƠNG 2 ÁP DỤNG PHẦN MỀM EPANET ĐỂ TÍNH TOÁN LỰA CHỌN HỆ THỐNG CẤP NƯỚC VÀ PHÂN KHU CẤP NƯỚC CHO MỘT ĐỐI T ƯỢNG THỰC TẾ 33
2.1 CHỌN VÀ MÔ TẢ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 33
2.1.1 Chọn đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Mô tả đối tượng nghiên cứu 36
Trang 32.2.1 Lựa chọn sơ đồ hệ thống cấp nước 41
2.2.2 Nguyên tắc vạch tuyến mạng lưới cấp nước 42
2.3 XÁC ĐỊNH LƯU LƯỢNG NƯỚC YÊU CẦU 43
2.3.1 Đô thị vệ tinh Láng Hòa Lạc 43
2.3.2 Đô thị sinh thái Quốc Oai 48
2.3.3 Chuỗi khu đô thị phía đông vành đai 4 49
2.3.4 Lưu lượng nước yêu cầu toàn thành phố Hà Hội 51
2.3.5 Xác định chiều dài tính toán các đoạn ống 51
2.3.6 Xác định lưu lượng dọc đường của các đoạn ống 52
2.3.7 Tính toán thủy lực mạng lưới 54
2.4 MÔ PHỎNG MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC BẰNG MÔ HÌNH TOÁN (SỬ DỤNG PHẦN MỀM EPANET) 55
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP KỸ THUẬT KHỚP NỐI GIỮA CÁC PHÂN KHU CẤP NƯỚC 65
3.1 CHẠY CHƯƠNG TRÌNH MÔ PHỎNG THỦY LỰC 65
3.1.1 Phương án 1 (theo quy hoạch) 65
3.1.2 Phương án 2 (đề xuất điều chỉnh quy hoạch) 68
3.1.3 Phương án 3 (thiết kế mới ) 70
3.2 PHÂN CHIA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CÁC PHÂN KHU CẤP NƯỚC VÀ MẠNG LƯỚI CẤP NƯỚC 72
3.2.1 Quy hoạch cấp nước nội đô và chuỗi đô thị đông vành đai 4 72
3.2.2 Quy hoạch cấp nước các huyện phía Bắc 72
3.2.3 Quy hoạch cấp nước khu vực phía Nam 73
3.2.4 Quy hoạch cấp nước khu vực phía Tây 73
3.2.5 Quy hoạch cấp nước khu vực phía Đông 74
3.2.6 Quy hoạch cấp nước khu vực nông thôn 74
3.3 PHÂN TÍCH, LỰA CHỌN GIẢI PHÁP TỐI ƯU CỦA CÔNG TRÌNH VÀ THIẾT BỊ KẾT NỐI CÁC PHÂN KHU CẤP NƯỚC 75
3.3.1 Phân tích kết quả tính toán 75
3.3.2 Lựa chọn giải pháp 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
Trang 4Bảng 1.1 Dự báo dân số đô thị Thủ đô Hà Nội 21
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn cấp nước 2020 - 2050 24
Bảng 1.3 Lựa chọn nguồn nước cấp 25
Bảng 1.4 So sánh nguồn nước mặt các con sông và công suất dự kiến khai thác nước cho sinh hoạt 26
Bảng 1.5 Công suất các nhà máy nước ngầm thủ đô Hà Nội 29
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp tiêu chuẩn và nhu cầu dùng nước đô thị Láng Hòa Lạc 47
Bảng 2.2 Bảng tổng hợp tiêu chuẩn và nhu cầu dùng nước đô thị Quốc Oai 48
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp tiêu chuẩn và nhu cầu dùng nước chuỗi đô thị phía đông vành đai 4 50
Bảng 2.4 Bảng tổng hợp lưu lượng phân khu và toàn thành phố 51
Bảng 2.5 Xác định lưu lượng tập trung tại các nút khu đô thị Hòa Lạc 53
Bảng 2.6 Xác định lưu lượng tập trung tại các nút khu đô thị Quốc oai 54
Bảng 2.7 Các thuộc tính nút mối nối (Junction Properties) 58
Bảng 2.8 Các thuộc tính bể chứa (Reservoir Properties) 59
Bảng 2.9 Các thuộc tính Đài nước (Tank Properties) 60
Bảng 2.10 Các thuộc tính ống (Pipe Properties) Các thuộc tính máy bơm 61
Bảng 2.11 Các thuộc tính Máy bơm (Pump Properties) 62
Bảng 2.12 Các thuộc tính Van (Valves) 63
Bảng 3.1 Bảng thống kê chiều dài tuyến ống 75
Bảng 3.2 Áp lực tại các nút đưa nước về phân khu 76
Bảng 3.3 Tổng tổn thất của mạng lưới 76
Trang 5Hình 2.1 Vị trí các phân khu cấp nước: Đô thị vệ tinh Láng Hòa Lạc, đô thị sinh
thái Quốc Oai và một phần chuỗi đô thị khu vực phía đông vành đai 4 34
Hình 2.2 Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 Quy hoạch cấp nước toàn đô thị 35
Hình 2.3 Hộp thoại nhập số liệu nút 59
Hình 2.4 Hình hộp thoại nhập số bể chứa 60
Hình 2.5 Hình hộp thoại nhập số liệu đường ống 62
Hình 2.6 Hình Hộp thoại Partern và nhập chế độ lưu lượng 63
Hình 2.7 Hình hộp thoại nhập số liệu van 64
Hình 3.1 Sơ đồ mạng lưới cấp nước Phương án 1 (Theo Quy hoạch) 67
Hình 3.2 Sơ đồ mạng lưới cấp nước Phương án 2 (Đề xuất điều chỉnh Quy hoạch) 69
Hình 3.3 Sơ đồ mạng lưới cấp nước Phương án 3 (Thiết kế mới) 71
Trang 6MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, cung cấp nước sạch cho sinh hoạt đang là vấn đề cần được giải quyết
và rất quan tâm trên thế giới Các nhà khoa học trên thế giới đã cảnh báo thế kỷ 21 loài người sẽ phải đối mặt với nhiều mối đe dọa thiên nhiên, đặc biệt là phải đối mặt với hiểm họa thiếu nước và ô nhiễm nguồn nước
Nước sạch và vệ sinh môi trường đô thị là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đặc biệt quan tâm Trong những năm qua, vị trí, vai trò, ý nghĩa và các mục tiêu của công tác này đã liên tục được đề cập đến trong nhiều loại hình văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, cụ thể là Chiến lược phát triển cấp nước, thoát nước đô thị Việt nam đặc biệt là thủ đô
Hà Nội được thể hiện qua: Quyết định số 1929/QĐ-TT ngày 20/11/2009 về việc phê duyệt định hướng phát triển cấp nước đô thị và khu công nghiệp Viêt Nam đến năm
2025 và tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 50/2000/QĐ-TTg ngày 24/4/2000
về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống cấp nước thành phố Hà Nội đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020;
Tuy nhiên để đưa ra các phương án tối ưu cho một hệ thống đồng bộ được phát triển trong nhiều giai đoạn cũng gặp phải những khó khăn Việc áp dụng các phương pháp tính toán và các mô hình tính toán cho các mạng lưới cấp nước cũng
chưa thống nhất, phân khu cấp nước chưa chặt chẽ Điều này cũng gây nên những tác động đến chất lượng phục vụ của của hệ thống cấp nước
Vì vậy “Nghiên cứu giải pháp kết nối một số phân khu cấp nước của thủ đô Hà Nội ” là hết sức cần thiết Với kết quả của đề tài, chúng ta sẽ có biện pháp kỹ thuật,
kế hoạch cụ thể cho việc cải tạo, nâng cấp hệ thống cấp nước thủ đô Hà Nội
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu thực trạng khả năng cấp nước của hệ thống cấp nước thủ đô Hà Nội
- Nghiên cứu các phân khu cấp nước của thủ đô Hà Nội theo quy hoạch
- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật cụ thể khớp nối giữa các phân khu cấp nước
Trang 71.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tổng quan về hệ thống cấp nước thủ đô Hà Nội
- Các phương pháp tính toán thiết kế mạng lưới cấp nước
- Mô phỏng và lựa chọn sơ đồ mạng lưới cấp nước hợp lý ( áp dụng cho một đối tượng nghiên cứu điển hình)
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu;
- Phương pháp phân tích, xử lý, đánh giá số liệu;
- Phương pháp kế thừa;
- Phương pháp thống kê và phân tích hệ thống;
- Phương pháp mô hình toán - thủy lực;
- Phương pháp chuyên gia;
1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Hệ thống cấp nước thủ đô Hà Nội
Về thời gian:Định hướng cấp nước tương lai cho thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHUNG CỦA KHU VỰC
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH KINH TẾ
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thủ đô Hà Nội có địa hình khá đa dạng, gồm: Vùng đồng bằng, vùng Trung du, đồi núi thấp và vùng núi cao Cao độ địa hình biển đổi từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây sang Đông
Vùng đồng bằng: chiếm khoảng 54,5% diện tích tự nhiên, nằm dọc hạ lưu sông Hồng, sông Đáy và sông Tích Đây là vùng đồng bằng phì nhiêu, là vùng sản xuất nông nghiệp với cây trồng chủ yếu là lúa nước Tuy là vùng đồng bằng nhưng cao
độ cũng có nhiều biến đổi, phổ biến từ 1,0m đến trên 11,0m
Vùng trung du, đồi núi thấp: chiếm khoảng 40,5% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu thuộc Hà Tây cũ và Sóc Sơn Đây là dạng địa hình địa hình gò đồi, núi thấp, có độ cao từ (30-300)m tập trung chủ yếu ở vùng thấp của Ba Vì, vùng cao của các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Mỹ Đức, Chương Mỹ, TX Sơn Tây, Lương Sơn Đây là nơi tập trung nhiều núi đá vôi và hang động Karstơ Do có địa hình dốc, diện tích đất trống đồi trọc lớn nên đất đai thường bị xói mòn, rửa trôi mạnh Thuộc địa hình trung du còn một phần diện tích chiếm tỷ lệ không lớn, đó là các vùng đồi Sóc Sơn, Hoà Lạc
Vùng núi: Địa hình núi cao có diện tích khoảng 17.000ha, chiếm khoảng 5%, tập trung chủ yếu ở Ba Vì có độ cao từ 300m trở lên với đỉnh cao nhất tới 1.296m Đây là nơi có địa hình dốc (>25o), tập trung tới 54% diện tích đất lâm nghiệp của
Hà Tây cũ
Thủ đô Hà Nội nằm trong vùng khí hậu Đồng bằng và Trung du Bắc bộ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông lạnh và ít mưa, cuối mùa ẩm ướt với hiện tượng mưa phùn; mùa hè nóng và nhiều mưa Nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi tương đối đồng
Trang 9nhất, biến đổi không nhiều giữa các vùng địa hình (Nhiệt độ trung bình ở vùng đồng bằng khoảng 23o
C ÷ 24o
C, miền núi vào khoảng 21oC ÷ 22,8oC; Độ ẩm dao động 83-85%;lượng bốc hơi TB năm 800-<1000mm) Riêng phân bố lượng mưa trong địa bàn biến đổi theo không gian, thời gian, chịu ảnh hưởng mạnh của đặc điểm địa hình và hướng gió Mưa ở khu vực đồng bằng nhỏ hơn vùng núi Ba Vì là trung tâm mưa lớn nhất Hà Nội với tổng lượng mưa trung bình năm đạt 2100mm Khu vực đập Đáy là nơi ít mưa nhất với tổng lượng mưa trung bình năm chỉ đạt 1500mm Tại khu vực đồng bằng lượng mưa tăng dấn từ Bắc xuống Nam, song các trận mưa lớn xảy ra ở khu vực đồng bằng tương đối đồng đều
Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn và đi qua Hà Nội khá dày đặc và phong phú, gồm có: sông Hồng, sông Đà, sông Đáy, Nhuệ, Tích, Cà Lồ… Hệ thống này có chức năng giao thông thủy, cung cấp nước và phù sa cho nông nghiệp, tiêu thoát nước và cải thiện vi khí hậu cho thành phố Ngoài mạng lưới sông ngòi, Hà nội còn
là Thủ đô có nhiều ao hồ, hiện nay trên địa bàn 10 quận nội thành Hà Nội có tới 111hồ/ao với tổng diện tích khoảng 1.165ha
Sông Hồng là con sông lớn nhất miền Bắc có tổng diện tích lưu vực 155.000
km2 (phần trong nước ta 72.000 km2) Sông có chiều dài khoảng 1226km, đoạn qua lãnh thổ Việt Nam có chiều dài 556km, đoạn chảy qua Hà Nội dài khoảng 118km
có lưu lượng bình quân hàng năm 2640m3/s với tổng lượng nước khoảng 83,5 triệu
m3 Sông Hồng không chỉ là nguồn chính cung cấp nước tưới mà còn là một trong những nơi nhận nước tiêu của Hà Nội Mùa lũ kéo dài 5 tháng bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 Lượng nước trong các tháng mùa lũ chiếm 75 - 80% tổng lượng nước hàng năm, trong đó tháng 8 chiếm tỷ trọng lớn nhất
Chế độ thuỷ văn: Hà Nội do ảnh hưởng của địa hình các vùng núi xung quanh
có độ dốc lớn, độ che phủ bởi thảm thực vật thấp, cấu trúc mạng lưới sông có hình nan quạt, mưa lớn và kéo dài trên toàn lưu vực… đã làm cho nước lũ trên hệ thống mang tính chất lũ núi Mực nước và lưu lượng lũ biến đổi rất nhanh, nhiều khi rất đột ngột, thời gian lũ tương đối dài, trung bình 6-7 ngày, dài nhất lên tới 20 ngày
Trang 10Biên độ lũ khá lớn dao động từ 7 đến trên 10m Các vùng thượng lưu và trung lưu
hệ thống sông Hồng có chế độ nước lũ rất phức tạp, tốc độ dòng chảy lớn đạt từ 5m/s, cường suất mực nước khi lũ lên rất lớn từ 3 - 7m/ngày Vùng hạ lưu sau khi các sông Đà, sông Lô hội lưu với sông Hồng, thì toàn bộ lượng nước đều đổ dồn về đồng bằng, nơi có địa hình trũng thấp, lòng sông bị thu hẹp do các tuyến đê bao bọc gây lên lũ lớn Theo tài liệu thống kê 1971 trong vòng 70 năm đã có 7 lần lũ sông Hồng, sông Đà, sông Lô gặp nhau Trong đó đặc biệt là 3 năm lũ lớn là 1913, 1945
3-và 1971 Lưu lượng trung bình các tháng mùa lũ đạt tới 8.000 đến 10.000m3/s Số liệu thực đo tại Hà Nội trong khoảng 100 năm cho thấy trận lũ lịch sử với giá trị đo chưa hoàn nguyên do vỡ đê, tràn đê và phân chậm lũ của đỉnh lũ đo được ngày 20-8-1971: tại Sơn Tây mực nước lớn nhất 16,9m, lưu lượng 30.000m3/s; tại Hà Nội cũ
Hmax = 14,13m và Qmax = 25.000m3/s
Mùa kiệt kéo dài 7 tháng từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Dòng chảy của sông trong thời đoạn này ngoài nước mưa trên lưu vực, chủ yếu do nước ngầm cung cấp Mực nước sông trong các tháng 3 và 4 thường xuống mức thấp nhất
Khu vực Hà Nội có cấu trúc địa chất khá phức tạp, nguy hiểm nhất là động đất
dự đoán xảy ra trên các đứt gãy sâu chạy qua địa phận thành phố Khu vực từ đứt gãy ở phía Tây sông Hồng và ở phía Đông sông Lô nằm trong vùng động đất cấp 8 (trong điều kiện nền bình quân) magnitude Mmax≤ 6,2; độ sâu chấn tiêu h=15-20m Khu vực nằm giữa sông Hồng và sông Đáy thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng được thành tạo do quá trình bồi tụ và lắng đọng trầm tích trong điều kiện biển nâng cùng với các dòng chảy của sông ra biển Do quá trình chuyển động kiến tạo đã trải qua với các kỷ Trias, Đệ Tam, Đệ Tứ… cùng với tác động mạnh của các điều kiện tự nhiên (nhiệt độ, nóng, ẩm, mưa…) làm cho đất đá bị phong hoá mạnh tạo nên nền địa chất nham thạch, đất đai không đồng nhất Với các lớp bồi tích, trầm tích, phù sa khá dày thể hiện một bồn địa mới được hình thành Trải qua thời
kỳ biển lấn lần 1, lần 2 và thời kỳ phát triển kế thừa, biển lùi, miền trũng võng chuyển sang một thời kỳ bình ổn và lấp đầy tạo ra một vùng đồng bằng rộng lớn và
Trang 11ngập nước Nhìn chung khu vực này có nền địa chất rất yếu, khi xây dựng công trình đặc biệt là công trình cao tầng cần có biện pháp xử lý chống lún, chống cát đùn và cát chảy
Khu vực nằm giữa sông Đáy và sông Tích (tả Tích) kéo dài từ Tả Hồng đến cửa sông Tích tại Ba Thá thuộc kỷ Đệ tứ thống Halogioi bồi tích trầm tích, trầm tích đầm lầy, thành phần đất nền chủ yếu là cuội sỏi, cát kết xám xanh, xám đen và than bùn Khu vực nằm sát ven sông Tích chạy dọc đường QL21A từ Trung Hà đến Quảng Oai cũ thuộc thống giữa bậc Ladini điệp cốt bãi, thành phần cát kết, đá phiến sét xennit thấu kính vôi Khu vực từ Quảng Oai đến Tây Phương thuộc hệ Trias thống dưới điệp Mường Hinh Thành phần chủ yếu là cuội kết, đá phiến sét màu nâu đỏ phun trào bazơ, đá vôi Với đặc điểm địa chất như vậy khi xây dựng các công trình có tải trọng lớn cần lưu ý các biện pháp xử lý nền móng để chống lún sụt
và trượt ngang
Khu vực nằm phía bờ hữu sông Tích: đây là khu vực có địa hình chủ yếu là núi cao xen kẽ đồi núi thấp nên có nhiều dải địa chất xen lẫn khá phức tạp Dải sông Tích từ Trung Hà đến Xuân Khanh thuộc đới Protezoi phức hệ sông Hồng, đá phiến liatit có granat, ximimatit, grafit Dải từ Đầm Long theo đường Khê Thượng đến dưới Tân Xã thuộc hệ Trias thống giữa bậc ladimi cát kết, đá phiến sét xennit thấu kính vôi Sườn và núi cao của dãy Ba Vì thuộc hệ Trias dưới điệp Dốc Cun, đá phiến sét, cát kết, đá vôi bazan Điều kiện địa chất công trình khu vực này khá tốt, tuy vậy khi xây dựng các công trình có tải trọng lớn vẫn cần có các giải pháp xử lý nền phù hợp
Về hệ sinh thái rất đa dạng, bao gồm: hệ sinh thái rừng (Ba Vì, Hương Sơn, Mỹ Đức), hệ sinh thái nông nghiệp (đồng bằng châu thổ sông Hồng), hệ sinh thái thủy vực và hệ sinh thái ao hồ
Trang 12Về hệ thống thoát nước mưa đô thị: Khu vực đô thị phía Nam sông Hồng của
Hà Nội cũ có hệ thống thoát nước mưa đô thị và có trạm bơm tiêu đô thị, tuy nhiên các tuyến cống xây dựng trong nhiều thời kỳ Do vậy không đồng bộ và vẫn còn nhiều tuyến cống không đủ năng lực thoát Có những khu vực cống cao hơn cao độ
nền xây dựng do vậy có cống nhưng không tiêu được nước Quản lý về cấp phép đấu nối hệ thống thoát nước cục bộ vào hệ thống chung của thành phố chưa tốt dẫn đến năng lực của cống không được phát huy và thậm chí gây úng cục bộ Các khu
vực còn lại của Hà Nội có thể nói là chưa có hệ thống thoát nước đô thị, chủ yếu theo địa hình ra khu trũng và tiêu theo chế độ tiêu thoát của thuỷ lợi Hệ thống hồ tương đối nhiều nhưng phân bố không đồng đều Phần lớn các hồ có xuất xứ hình thành chủ yếu tự nhiên, hiện nay đang bị san lấp thu hẹp và không được cải tạo nạo vét nên hạn chế khả năng tham gia điều hòa thoát nước cho thành phố và khu vực Công tác quản lý hệ thống hồ có nhiều hạn chế
Về tình trạng úng ngập: Tình hình úng ngập tại đô thị vẫn xảy ra thường xuyên khi có mưa lớn do công trình đầu mối có năng lực kém hoặc chưa có công trình tiêu
chủ động Hệ số tiêu quá thấp so với yêu cầu Hệ thống công trình đầu mối và công trình nội đồng chưa đồng bộ Nhiều kênh tiêu bị xâm hại, lấn chiếm nghiêm trọng đặc biệt là các kênh mương nội đồng đi qua khu vực đô thị mới và khu công nghiệp
Có những khu vực các công trình đầu mối đã được đầu tư nhưng hệ thống kênh mương chưa đảm bảo để tiêu thoát về trạm bơm
Thủ đô Hà Nội là vùng có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi để xây dựng và phát triển đô thị Tuy nhiên, do đặc điểm chung của vùng Đồng bằng sông Hồng có nhiều sông hồ nhưng độ dốc thấp, nên hàng năm Hà Nội thường chịu ảnh hưởng của bão gây ra mưa lớn và làm ngập úng diện rộng Vì vậy khi xây dựng và phát triển đô thị cần phải có giải pháp thoát nước và xử lý cao độ nền hợp lý để hạn chế tối đa ngập úng
Ngoài ra do cấu trúc địa chất phức tạp, một số khu vực (Phú Xuyên) nền đất yếu cường độ chịu tải thấp R<1,5kg/cm2, khi xây dựng công trình đặc biệt là các
Trang 13khu vực tập trung xây dựng nhà cao tầng mật độ cao cần phải lưu ý về xử lý nền móng
1.1.2 Tì nh hình dân sinh kinh tế
Theo niên giám Thống kê toàn quốc 2009(tóm tắt), dân số Hà Nội là 6.472.200 người Tỉ suất tăng dân số bình quân năm của Hà Nội mới cho thời kỳ 1999-2009 trung bình 2% Tăng bình quân 2,1 %/năm (2000 – 2008) trong đó thành thị là 4,6
%, cao hơn cả thành phố Hồ Chí Minh (3,1%), chủ yếu tăng cơ học và 1,2%/năm ở nông thôn
Dân cư phân bố không đều, tập trung tại các quận nội thành, mật độ dân số trung bình là 1.926 người/km2 Tốc độ đô thị hóa phát triển tương đối nhanh, năm
2008 có 40,8% dân thành thị tương ứng với 2.632.087 người và 59,2% dân nông thôn tương ứng với 3.816.750 người
Trong 13 năm từ 1994 đến 2008 tại 4 quận nội thành cũ tăng thêm 96.600 người, trung bình trên 7.400 người/năm, riêng quận Hoàn Kiếm chỉ tăng gần 380 người/năm; 5 quận mới (trừ Hà Đông) thêm hơn 1 triệu dân, trung bình 79.000 người/năm, nhiều nhất là tại quận Thanh Xuân 6.600người/năm Vì vậy cần kiểm soát chặt chẽ mức tăng dân cư nội thành hơn nữa, nhất ở các quận Đống đa và 5 quận mới
Tại khu vực nông thôn biến động dân số chủ yếu do luồng di dân đi kiếm sống tại đô thị hoặc học tập Xu hướng dịch cư từ các tỉnh quanh Hà Nội mới vào, đặc biệt từ vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 70% lượng dịch cư và đa số chọn các vùng ven đô để sinh sống và đi làm tại các nội đô
Trang 142008 (theo sở Lao động, thương binh và xã hội) khu vực công nghiệp - xây dựng (31,27%), nông nghiệp (32,22%) và dịch vụ (36,51%) Tỷ lệ đô thị hóa tăng dần và cần có lộ trình để đào tạo tiếp một lực lượng lớn lao động nông thôn thành những người có tay nghề cao trong các ngành kinh tế
Theo Bộ Tài nguyên Môi trường, tổng đất tự nhiên hiện nay của Hà nội 3.344,6
km2 Tổng đất tự nhiên khu vực thành thị khoảng 34.615 ha (chiếm khoảng 10,4%), tổng đất tự nhiên khu vực nông thôn khoảng 299.845 ha (chiếm khoảng 89,6%) Đất nông, lâm nghiệp có >189.000 ha, chiếm 56,5% đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp
có khoảng 135.000 ha chiếm >40,4% đất tự nhiên Đất chưa sử dụng khoảng 10.450
ha chiếm 3,1% đất tự nhiên, trong đó đất bằng chưa sử dụng khoảng 4.850 ha, chiếm khoảng 1,4% đất tự nhiên Tổng đất xây dựng cả thành thị và nông thôn khoảng 45.500ha chiếm khoảng 13,7% diện tích tự nhiên Trong đó, đất xây dựng thành thị khoảng 18.000ha; chủ yếu tập trung vào 10 quận nội thành chiếm 5,2% đất
tự nhiên, đất xây dựng nông thôn khoảng 27.400ha; đất dành cho cây xanh-thể dục thể thao khoảng >720ha; đất dành cho các trường đại học và cao đẳng khoảng 600ha; đất khu công nghiệp khoảng >5.000 ha Chỉ tiêu đất đơn vị ở (không tính công cộng, cây xanh, giao thông cấp khu ở) năm 2009 trong 4 quận nội đô cũ rất thấp 11,1 m2/người, 5 quận mới 35 m2/người, thị trấn Thường Tín 16,4 m2/người, còn lại tại Hà Đông, thị xã Sơn Tây và các thị trấn khác đạt trên 40 m2/người
+ Đối với các khu công nghiệp
Công nghiệp Hà Nội trong những năm qua có mức tăng trưởng khá: Cơ cấu kinh tế Thủ đô có sự chuyển dịch theo xu hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp- xây dựng; Đến năm 2008, tỷ trọng công nghiệp- xây dựng trong GDP là 42,2% Tuy nhiên, sự phát triển này còn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa dự báo hết khả năng cạnh tranh cũng như sự xuất hiện các cơ hội và lợi thế mới của Hà Nội sau khi
mở rộng
Trang 15Mặc dù các cơ sở công nghiệp đã góp phần thể hiện vai trò của Hà Nội là 1 trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước, giải quyết gần 9 vạn lao động Song việc phát triển công nghiệp của Thành phố chưa tương xứng với tiềm năng đã có, nhiều KCN triển khai chậm và không có hiệu quả
+ Đối với các làng nghề
Hà Nội có tổng số 256 làng nghề Tuy nhiên thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa phát triển và mở rộng đúng tiềm năng Nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất chưa đảm bảo Quy mô sản xuất nhỏ lẻ Phát triển tự phát Hạ tầng xuống cấp Các tác động tiêu cực từ đô thị hóa như: đất đai bị thu hẹp, mật độ dân cư và mật độ xây dựng tăng nhanh Bảo tồn văn hóa làng nghề chưa được chú trọng đúng mức, đồng thời tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề gia tăng
+ Về Nông nghiệp
Trang 16Mô hình sản xuất nông nghiệp tại Hà nội đang theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phương thức canh tác, nhằm tăng chất lượng nông sản hàng hóa và hiệu quả kinh tế Tại các huyện ngoại thành Hà Nội đã hình thành một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại khu vực Đông Anh, Mê Linh, Gia Lâm; hình thành một số vùng chuyên canh rau sạch, hoa, cây cảnh, cây ăn quả và mở rộng diện tích trồng lúa chất lượng cao… Trong chăn nuôi đã xuất hiện một số mô hình chăn nuôi tập trung, các trang trại nuôi lợn, bò sữa, gia cầm tại khu vực Ba Vì, Mỹ Đức, Thanh Oai…
+ Về thủy sản
Ngành thủy sản Hà Nội mặc dù có tăng trưởng trong những năm qua, nhưng tỷ trọng thấp, chiếm <5% tỷ trọng GDP cơ cấu nông lâm thủy sản Một số diện tích đất nông nghiệp trồng lúa một vụ, vùng trũng đã được chuyển sang nuôi trồng thủy sản
Hầu hết các trường đại học cao đẳng này tập trung trong khu vực các quận nội thành đã gây áp lực quá tải tới hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị hiện có Cơ sở vật chất nghèo nàn, diện tích đất bình quân các trường quá thấp so với tiêu chuẩn tối thiểu, thiếu chỗ cho nơi học tập, rèn luyện thể chất, nghiên cứu sáng tạo Mạng lưới trường học phổ thông tại Hà Nội có nhiều tồn tại đó là: Thiếu trường học (đặc biệt ngành mầm non, tiểu học) Trừ một số trường mới được xây dựng, đa số các trường có cơ sở vật chất trang thiết bị dạy và học thiếu thốn, không đáp ứng tiêu
Trang 17chuẩn quốc gia, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Các trường ngoài công lập không ổn định vị trí do phải đi thuê cơ sở vật chất Mạng lưới giáo dục phổ thông còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập so với yêu cầu hiện đại hóa trường lớp Những trường “điểm”, tỷ lệ học sinh / lớp quá cao, thiếu trường học đặc biệt ngành mầm non, tiểu học Mạng lưới trường ngoài công lập không ổn định, phụ thuộc vào các hợp đồng thuê mượn Diện tích đất / học sinh còn thấp so với quy định Để nâng cao chất lượng sống cho người dân Hà Nội, cần phải có những giải pháp cụ thể và khả thi để mở rộng cơ sở trường lớp, đặc biệt là khu vực đông dân cư nội đô hiện nay
Phần lớn các bệnh viện tại Hà Nội có quy mô diện tích nhỏ, được xây dựng từ lâu, mặt bằng chật hẹp, xen kẽ trong các khu dân cư đông đúc, thiếu so với tiêu chuẩn Mật độ các bệnh viện tập trung quá nhiều vào khu vực nội thành gây sức ép lên cơ sở hạ tầng và môi trường Trình độ năng lực của đội ngũ nhân viên y tế không đồng đều Quá tải tại các bệnh viện TW do số lượng bệnh nhân tập trung từ các tỉnh khác
Đất nông nghiệp đặc biệt là đất trồng lúa bị thu hồi để triển khai các dự án sân golf gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân cũng như nền nông nghiệp của vùng Thu hồi đất nông nghiệp vào mục đính khác làm thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giảm sản lượng lúa, tạo ra một luồng lao động tự phát tràn vào đô thị, gia tăng áp lực cho đô thị trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và an ninh xã hội Vấn đề phát triển sân golf là xu hướng tất yếu của nhu cầu xã hội nhưng cần có quy hoạch rõ ràng cho những khu vực phát triển loại hình sân golf này
Tình trạng các công viên được nghiên cứu và gắn kết cùng các dự án mới với các công trình mới được xây kèm làm thu nhỏ không gian xanh vốn có Các không gian xanh không chỉ thiếu thốn tại khu vực trung tâm mà còn bị ô nhiễm đối với khu vực hai bên sông của hệ thống các con sông của Hà Nội Phần lớn phần xanh được che phủ bởi đất nông nghiệp, đất hoang, chưa được quy hoạch thống nhất để tạo cảnh quan đẹp Thiếu quy hoạch đồng bộ các hệ thống cây xanh đô thị và mặt nước
Trang 18cấp Vùng, cấp thành phố, cấp quận, huyện và các phường xã đến các đơn vị ở theo quy chuẩn quy phạm của đô thị Diện tích ao hồ giảm mạnh trong các năm qua gây tình trạng úng lụt và tiêu thoát không tốt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan thiên nhiên của đô thị và làm mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường Sông hồ
Hà Nội là nguồn tiếp nhận, dẫn, vận chuyển và chứa xử lý nước thải sinh hoạt công nghiệp và điều hòa nước mưa
lý và đổ thẳng ra sông, hồ Dự báo đến năm 2020 mức ô nhiễm môi trường nước của các sông nội thành ở Hà Nội sẽ tăng gấp 2 lần hiện nay nếu không có giải pháp hiệu quả
+ Sông Nhụê: Tiếp nhận nước thải đô thị chủ yếu của Hà Nội, Hà Đông và nước thải nông thôn, làng nghề trong lưu vực Chất lượng nước thay đổi dọc chiều dài sông và đều bị ô nhiễm, đoạn sau đập Thanh Liệt ô nhiễm nghiêm trọng
+ Sông Đáy: Sông Đáy hiện bị bồi lấp, cạn kiệt dòng chảy Chất lượng nước sông đang bị ô nhiễm bởi nước thải nông thôn, làng nghề bởi các thành phần hữu cơ
và vô cơ (COD vượt 3,54 lần, BOD5 vượt 3,2 lần)
+ Sông Hồng: Sông Hồng trước trạm bơm Yên Sở hầu như chưa bị ô nhiễm (trừ hàm lượng cặn) Đoạn hạ lưu trạm bơm Yên Sở BOD5 có dấu hiệu ô nhiễm nhưng không cao Nước sông Hồng tại hạ lưu mương thoát nước của trạm bơm Yên
Sở BOD5, COD, NH4+; đều vượt TCVN 5942-1995 trong đó tại vị trí cảng Khuyến Lương vượt TCCP 5,8 lần Tuy nhiên do lưu lượng dòng chảy lớn nên khả năng tự làm sạch còn tốt
Trang 19+ Sông Tích: Chất lượng nước sông Tích bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ
và kim loại nặng (BOD5 vượt 1,05 lần, Fe vượt 1,41 lần)
+ Sông Bùi: Các kết quả quan trắc cho thấy nước sông Bùi chưa ô nhiễm
Chất lượng nước các hồ nội thành Hà Nội ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, nặng nhất tại các hồ Văn Chương, Giám, Linh Quang, Ngọc Khánh, Trúc Bạch Các
hồ ở ven đô (hồ Yên Sở, Linh Đàm, Hạ Đình, Pháp Vân ) là những hồ điều hòa đang được sử dụng để nuôi cá, khả năng ô nhiễm trong những năm tới cao Các hồ thượng lưu Đồng Mô, Suối Hai, Quan Sơn đều chưa bị ô nhiễm
1.2.2 Nguồn nước ngầm
Nước ngầm hiện nay đang là nguồn nước sử dụng chính cho thủ đô Hà Nội với công suất khai thác 700.000 m3/ngđ, cần khai thác nước ngầm hợp lý để tránh sụt lún nền đất đô thị cũng như do chất lượng nước nhiều khu vực không đảm bảo Các nhà máy nước chủ yếu tập trung tại Hà Nội cũ, Sơn Tây và Hà Đông Khu vực Hà Nội cũ Nam sông Hồng có 11 NMN chính với tổng công suất 555.000 m3/ngđ, Bắc sông Hồng có 2 NMN với công suất 37.000 m3/ngđ, Sơn Tây có 2 NMN với tổng công suất 20.000 m3/ngđ, Hà Đông có 2 NMN với tổng công suất 36.000 m3/ngđ Nước ngầm tại Hà Nội đang ngày càng suy giảm về trữ lượng Mực nước ngầm Hà Nội đang sụt giảm 0,3-0,4 m/năm, đặc biệt là khu vực Mai Dịch, Pháp Vân Xuất hiện ô nhiễm Asen trong nguồn nước ở Hà Nội, có nơi đã lên tới 40 lần TCVN (Đan Phượng) Ô nhiễm amôni (NH4+) một số nơi cũng vượt mức cho phép 20-30 lần
1.2.3 Đánh giá khả năng đáp ứng của nguồn nước đối với cấp nước
Đánh giá thực trạng hiện tại:
- Nguồn nước ngầm tiếp tục bị suy giảm từ 1% ÷ 2% hàng năm, nguồn nước Sông Đà cung cấp cho nội đô cũng chỉ đạt bình quân từ 40.000- 45.000 m3/ngđ, trong khi nhu cầu sử dụng nước hàng năm dự kiến tăng từ 2- 3% Đặc biệt vào dịp
hè có những đợt nắng nóng kéo dài, nhu cầu sử dụng nước tăng đột biến từ 10 ÷ 15%, do vậy tổng lượng nước thiếu hụt so với nhu cầu từ 40.000 ÷ 60.000 m3/ngđ
- Các dự án phát triển nguồn nước như nguồn nước mặt Sông Hồng, Sông
Trang 20Đuống đang trong giai đoạn nghiên cứu báo cáo khả thi
- Công tác khoan bổ sung thay thế các giếng suy thoái để duy trì công suất khai thác, bổ sung nguồn nước cũng gặp nhiều khó khăn do Quỹ đất thành phố hạn hẹp, chưa tìm được địa điểm để khoan thay thế Một số giếng, cụm giếng bị xen kẹt trong các nhà dân, khu dân cư không có đường thoát nước nên cũng ảnh hưởng đến công tác thi công thổi rửa bảo dưỡng giếng theo định kỳ hàng năm
- Công tác đầu tư xây dựng cơ bản để mở rộng, nâng cấp HTCN rất lớn trong khi đó nguồn vốn hỗ trợ ngân sách hạn hẹp, chủ yếu dùng nguồn vốn vay và vốn tự
có của Công ty để triển khai thực hiện trong điều kiện giá nước được điều chỉnh chưa đủ để bù chi phí đầu vào do vậy ảnh hưởng rất lớn đến tình hình SXKD của Công ty
- Công tác GPMB các Quận, huyện gặp nhiều khó khăn trong cơ chế đền bù giải phóng mặt bằng làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án mở rộng hệ thống cấp nước theo nhiệm vụ của Thành phố giao
Tóm lại, nguồn nước ngầm đang ngày càng giảm sút về trữ lượng và chất lượng Nguồn nước mặt đang ngày càng cạn kiệt và bị ô nhiễm nặng Với những nguồn nước như ở trên thì không đủ cung cấp và đáp ứng nhu cầu dùng nước cả về trữ lượng và chất lượng Hiện nay nhà máy nước sông Đà công suất giai đoạn 1 là: 300.000m3/ngđ là nguồn cấp nước bổ sung cho Hà Nội, đến nay công suất khai thác
sử dụng thấp do mạng lưới cấp nước chưa được xây dựng hoàn chỉnh, các dự án khai thác nước mặt sông Hồng và sông Đuống đang trong giai đoạn nghiên cứu báo cáo khả thi Với những khó khăn trên để đảm bảo cấp nước thì cần có biện pháp phát triển hệ thống cấp nước để đảm bảo đủ lượng nước cũng như chất lượng nước cho hiện tại và trong tương lai Ngoài ra nguồn vốn đầu tư và giải phóng mặt bằng
là vô cùng quan trọng
1.3 HIỆN TRẠNG CẤP NƯỚC CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI
1.3.1 Hiện trạng các nhà máy xử lý nước
Hiện nay nguồn nước cấp cho thủ đô Hà Nội là nguồn nước ngầm và nguồn nước mặt sông Đà
Trang 21Nguồn nước ngầm được xử lý tại các trạm xử lý nước ngầm và được bơm vào mạng lưới qua trạm bơm cấp II Đối với nguồn nước ngầm: Áp dụng công nghệ truyền thống làm thoáng - xử lý sơ bộ (tiếp xúc; keo tụ, lắng hoặc lọc đợt I) - lọc nhanh - khử trùng Bao gồm 21 nhà máy nước ngầm với tổng công suất hiện nay là 860000m3/ ngđ Một số nguồn nước ngầm phía Nam Hà Nội có chất lượng xấu sẽ giảm dần công suất khai thác và ngừng hoạt động vào năm 2020 đối với Nhà máy nước Hạ Đình và năm 2030 đối với Nhà máy nước Tương Mai, Nhà máy nước Pháp Vân Thay thế nguồn nước ngầm này là nguồn nước mặt lấy từ Nhà máy nước mặt Sông Đà và từ Nhà máy nước mặt Sông Đuống
Nguồn nước mặt: Từ cuối tháng 7/2008 các hạng mục xây dựng chính của nhà
dự án xây dựng nhà máy nước sông Đà trong giai đoạn I với công suất 300.000
m3/ngày đêm đưa vào khai thác Gồm các kênh dẫn nước sông, khu nhà máy xử lý
và tuyến ống tải nước sạch Tại khu nhà máy xử lý: Cuối hồ Đầm Bài xây dựng trạm bơm nước hồ để đưa nước thô được lấy từ nguồn nước mặt sông Đà lên nhà máy xử lý Nhà máy xử lý được xây dựng ở độ cao 92m trên vùng núi đá thuộc xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn và xã Yên Quang, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Tại đây, nước thô được xử lý, lọc sạch và khử trùng sau đó nước sạch tự nhiên chảy theo đường ống truyền tải đến bể chứa cách nhà máy 12km rồi được đưa về Hà Nội Nước sông Đà có ưu thế hơn so với nước từ các con sông khác trong vùng vì lưu lượng lớn và ổn định, hàm lượng cặn nhỏ (lớn nhất là 161g/m3, nhỏ nhất là 15g/m3)
do nước được sơ lắng qua hồ Hòa Bình, không bị ảnh hưởng do các nhà máy sản xuất công nghiệp phía thượng nguồn
Công tác quản lý chất lượng nước được thực hiện như sau:
- Các Nhà máy, Trạm SX cục bộ sản xuất cấp nước đạt tiêu chuẩn chất lượng nước theo quy chuẩn VN -01/2009/BYT của Bọ trưởng Bộ y tế
- Hàng ngày các nhà máy, trạm sản xuất nước kiểm tra chất lượng nước trên toàn bộ các công đoạn xử lý nước( từ nguồn nước thô đến đồng hồ tổng của Nhà máy cấp nước ra mạng lưới Thành phố)
- Phòng Kiểm tra chất lượng thường xuyên kiểm tra, kiểm soát chất lượng nước tại các nhà máy, trạm sản xuất và ngoài mạng
Trang 22- Công tác phối hợp với Trung tâm y tế dự phòng: Trung tâm Y tế dự phòng kiểm tra định kỳ hàng tháng, đột xuất các nhà máy sản xuất nước và ngoài mạng để thông báo đến cơ quan chức năng có biện pháp xử lý đảm bảo chất lượng nước theo quy định
Hiện trạng mạng lưới đường ống hệ thống cấp nước thủ đô
Hiện nay mạng lưới trong nội đô tiếp tục cải tạo, đầu tư mới để phát triển mạng lưới cấp nước, tăng cường công tác chống thất thoát thất thu nhằm giữ vững ổn định tình hình cấp nước và nâng cao mức độ dịch vụ cấp nước trên địa bàn Thành phố
- Về mạng lưới cấp nước thủ đô đến 2014 đã thi công lắp đặt được: 22,275 Km đường ống dịch vụ Nâng tổng chiều dài hệ thống cấp nước hiện có là 5.618 Km
trong đó: 314 km ống truyền dẫn; 1.609 km ống phân phối và 3.695 km ống dịch
vụ 100% dân số các quận nội thành và 41% dân số các huyện ngoại thành được cấp nước Tiêu chuẩn cấp nước đô thị đạt: 121 lít/người/ngđ Tỷ lệ thất thoát thất thu đạt
> 77%
- Trong hệ thống cung cấp nước Sông Đà thông qua trạm bơm nước sông về hồ Đầm Bài, Từ trạm bơm Hồ Đầm Bài → Nước thô được chuyển lên khu xử lý; Từ khu Xử lý → nước được đưa về bể chứa nước sinh hoạt BCNS → sẽ được vận chuyển nước về cung cấp cho chuỗi đô thị Miếu Môn, Sơn Tây, Hà Đông, Hòa Lạc,
Hà Nội Đường ống vận chuyển DN1600mm, chất liệu là ống cốt sợi thủy tinh, có L=41,005km Tuyến ống vận chuyển nước tới khu đô thị vành đai 4 và cấp nước cho khu đô thị Hà Đông thông qua tuyến ống phân phối: DN600; L=3,83km, tuyến ống DN400; L=8,02km; tuyến ống DN300; L = 1,26km Trạm bơm nước từ Hồ Đầm Bài lên Trạm Xử Lý là phức tạp nhất về thủy lực do chiều cao địa hình lớn Trong quá trình vận hành, khi xảy ra mất điện thường xảy ra hiện tượng nước va, nhiều lần vỡ ống dẫn đến tình trạng mất nước Số lần vỡ ống gây mất nước đã trên chục lần
- Công tác vận hành mạng lưới từ các nhà máy theo áp lực, kiểm soát lưu lượng, ap lực qua đồng hồ từ lắp đặt trên tuyến ống kiểm soát được hiệu quả đảm bảo cấp nước ổn định đặc biệt trong các thời điểm như cấp nước Tết, cấp nước hè
và các sự cố truyến ống truyền dẫn Sông Đà
Trang 231.3.2 Tình hình tổ chức quản lý và công trình cấp nước
Năm 2008 Thành phố Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, rộng gấp 3,6 lần
Hà nội cũ với Diện tích: 3.345 km2; Dân số: 6,5 triệu người có 29 Đơn vị hành chính: trong đó Trung tâm Hà Nội: 12 quận; Vùng đô thị hoá: 10 huyện; Khu vực nông thôn: 7 huyện; 17/29 quận huyện được cấp nước từ hệ thống cấp nước tập trung
Công tác phục vụ cấp nước cho Thành phố Hà Nội gồm 4 Công ty: Công ty nước sạch Hà Nội, Công ty CP cấp nước Viwaco, Công ty cấp nước Hà Đông và Công ty cấp nước Sơn Tây Tổng công suất khai thác: 900 000 - 1 000 000 m3/ngđ (Nước ngầm: 650 000 - 700 000 m3/ngđ; Nước mặt: 200 000 - 300 000 m3/ngđ) Trong đó:
Công ty Nước sạch Hà Nội: 620.000 m3/ngđ, địa bàn cấp nước gồm: 9 Quận nội thành (trừ Quận Thanh Xuân), 6 Huyện ngoại thành Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn và một phần huyện Mê Linh (Khu thị trấn công nghiệp Quang Minh)
Công ty CP cấp nước VIWACO: 230.000 m3/ngđ, địa bàn cấp nước gồm Quận Thanh Xuân, phần lớn huyện Từ Liêm và một phần Quận Cầu Giấy
Công ty cấp nước Hà Đông: 100.000 m3/ngđ, địa bàn cấp nước bao gồm 17/17 phường của Quận và 02 thị trấn Phú Minh, Phú Xuyên (huyện Phú Xuyên), thị trấn Tân Hội (huyện Đan Phượng)
Công ty Cấp nước Sơn Tây: 20.000 m3/ngđ, địa bàn cấp nước cho Thị xã Sơn Tây, thị trấn Phúc Thọ, Ba Vì và 01 xã thuộc huyện Thạch Thất
- Tỉ lệ dân số được cấp nước: 55% (tương ứng 3.6 triệu người): 100% Quận nội thành & 35% các huyện vùng lân cận
- Tiêu chuẩn cấp nước: 120 - 125 lít/người/ngày
- Chất lượng nước tiêu chuẩn Việt Nam: QCVN 01:2009/BYT
- Tỉ lệ thất thoát thất thu: 22 - 32%
- Tiêu chuẩn cấp nước: 121 lít/người/ngđ với mức độ dịch vụ cấp nước tốt, chất lượng nước bảo đảm theo Quy chuẩn VN - 01/2009/BYT
Trang 24- Công ty nước sạch Hà nội hiện đang quản lý và vận hành hệ thống cấp nước
để cung cấp nước sạch cho 9 Quận nội thành (trừ Quận Thanh Xuân và quận Nam
Từ Liêm), 5 Huyện ngoại thành Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn và một phần huyện Mê Linh (Khu thị trấn công nghiệp Quang Minh), với tổng số dân được
sử dụng nước sạch khoảng 3,2 triệu dân Trong đó:
+ 9 Quận nội thành: tỷ lệ dân số được cấp nước 100% tương ứng khoảng 2,4 triệu dân
+ Các huyện ngoại thành ( Thanh Trì, Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Mê Linh):
tỷ lệ dân số được cấp nước 43,25% tương ứng khoảng trên 800 nghìn dân
Nguồn nước sạch cung cấp cho Hà nội hiện nay được cấp bởi 2 nguồn chính là nguồn khai thác nước ngầm và nguồn nước mặt Sông Đà, với tổng công suất cấp nước đạt 620.000 m3/ngđ Trong đó:
+ Nguồn nước ngầm: 12 Nhà máy và 10 trạm sản xuất với tổng công suất cấp nước đạt 580.000 m3/ngđ, chiếm tỷ lệ 93,55%
+ Nguồn nước mặt sông Đà: Sản lượng nước cấp bình quân 40.000 m3/ngđ, chiếm tỷ lệ 6,45%
1.4 ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH CẤP NƯỚC TOÀN TP HÀ NỘI
1.4.1 Định hướng phát triển không gian
Hệ thống các đô thị và nông thôn của Hà Nội sẽ phát triển dựa trên các phân vùng phát triển như sau:
Khu vực đô thị hiện hữu chủ yếu thực hiện công tác bảo tồn đối với khu phố cổ, phố cũ thời Pháp thuôc; cải tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật, là khu vực có ý nghĩa về văn hóa - lịch sử và đóng vai trò là trung tâm hành chính - chính trị của quốc gia và của thủ đô Hà Nội Hình thành hệ thống đa trung tâm về văn hóa, kinh
tế, khoa học công nghệ gắn với các không gian chức năng khác trong đô thị Phía Bắc sông Hồng gắn với sân bay quốc tế Nội Bài, hành lang kinh tế dọc quốc lộ 18A, quốc lộ 3 được phát triển công nghiệp, dịch vụ thương mại tài chính, dịch vụ du lịch với hạt nhận dịch vụ là khu đô thị Mê Linh-Đông Anh, Khu đô thị Đông Anh và Đô thị vệ tinh Sóc Sơn Các không gian xanh bao gồm khu vực bảo
Trang 25tồn núi Sóc, đầm Vân Trì, sông Cà Lồ, vùng bảo vệ thành Cổ Loa, các khu vực bảo tồn vùng nông nghiệp nông thôn sẽ đóng vai là các không gian đệm, giới hạn sự phát triển của các khu vực đô thị
Phía Đông gắn với khu vực Gia Lâm - Long Biên được tiếp tục phát triển các công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ phát triển hành lang kinh tế Hà Nội – Hải Phòng với các dịch vụ logictic, dịch vụ thương mại, dịch vụ đào tạo, tiện ích công cộng, công nghệ cao Tại khu vực này cần phải tăng cường cải tạo đô thị hiện hữu và nhu cầu phát triển mới trở thành không gian đô thị thống nhất
Phía Nam gắn với hành lang kinh tế Bắc Nam dọc trục quốc lộ 1A được phát triển công nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ gắn với vùng nông nghiệp phía nam Thủ đô với trung tâm dịch vụ là đô thị vệ tinh Phú Xuyên - Phú Minh
Phía Tây là vùng phát triển gắn với bảo tồn, được phát triển các loại hình công nghệ cao, đào tạo chất lượng cao, dịch vụ y tế và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Tại đây hình thành chuỗi đô thị vệ tinh phía Tây (Sơn Tây - Hòa Lạc - Xuân Mai), hành lang xanh để bảo tồn vùng nông thôn và giới hạn sự phát triển của đô thị trung tâm
Kết nối các vùng chức năng bằng hệ thống giao thông liên kết đường bộ, đường sắt và đường thủy theo mạng hướng tâm và đường vành đai Trong đó việc tăng cường hệ thống giao thông công cộng hiện đại và cấu trúc lại đô thị sẽ đảm bảo sự liên kết trong tương lai được thuận lợi, dễ dàng, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững
Khu vực núi Sóc, rừng quốc gia Ba Vì và vùng Quan Sơn - Hương Tích là 3 vùng cảnh quan tự nhiên rất có giá trị của thủ đô được bảo vệ thành các vùng du lịch sinh thái kết hợp với văn hóa tín ngưỡng phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, nghỉ ngơi của nhân dân thủ đô và nhân dân cả nước
Trang 26Căn cứ vào hệ thống thống kê Việt nam với thông tin/dữ liệu đầu vào đã có chúng tôi sử dụng phương pháp tính theo hàm trên:
P(t)= P(o) x (1+ r)t
Trong đó:
P(t) : dân số năm dự báo
P(o): dân số năm gốc
r: tỉ lệ tăng trưởng dân số, gồm tăng tự nhiên và tăng cơ học (thu hút lao động có trình độ cao )
t: số năm dự báo
Từ nay đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng dân toàn thành phố không tăng quá 1,4-2%/năm Tốc độ tăng tự nhiên trong khoảng 0,8-1%/năm Tốc độ tăng cơ học 2010-2020 (do lực hút đô thị) của toàn thành phố khoảng 1%/năm (0,4%/năm 2007)
và giai doạn 2021-2030 khoảng 0,4%; của riêng thành thị là 4,1% và 2%/năm Khu vực nông thôn mức tăng chung sẽ giảm từ dưới -1,1% đến 0,5%/năm do thu hẹp ranh giới và hạn chế di dân từ nông thôn vào thành thị, chủ yếu tăng tự nhiên
Dựa vào dự báo dân số ta xác định được dân số đến năm 2030 cho thủ đô Hà Nội theo bảng dưới đây
Bảng 1.1 Dự báo dân số đô thị Thủ đô Hà Nội
Long Biên+mở rộng) 2.167,8 1.727,8 1.656,0 1.790,5
a1 Nội đô lịch sử (4 quận nội thành cũ-Hoàn
Trang 27Nội đô mở rộng (từ vành đai 2 đến sông
Nhuệ: 4 quận nội thành mới, trừ Long
b1 Chuỗi khu đô thị phía Đông vành đai 4(từ
sông Nhuệ đến vành đai 4 ) 678 743,6 1.250 1.685
-
Khu đô thị thuộc toàn H.Từ liêm, toàn
H.Thanh Trì, Hoài Đức, Đan Phượng,
b2 Các khu đô thị phía Bắc sông Hồng 690,7 1277,0 1700,0 1969,5
- Khu đô thị Yên Viên-Long Biên-Gia Lâm 355 497 700 749,5
- Khu đô thị Mê Linh-Đông Anh 163,4 300 450 549,0
Trang 28+ Quyết định số 50/2000/QĐ- TTG ngày 24/4/2000 về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống cấp nước thành phố Hà Nội đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020
+ Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998 của Thủ tường chính phủ
về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm
2020
+ Các đồ án quy hoạch chi tiết của các Quận Huyện đã được phê duyệt
Trang 29+ Dự báo các thông số quy hoạch phần Kinh tế -Kiến trúc theo đồ án
+ Căn cứ theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXD: 01-2008
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn cấp nước 2020 - 2050
TT Công trình dùng nước
Nước sinh hoạt (l/ng.ngđ)
Nước công cộng
%Qsh
Nước khách vãng lai
%Qsh
Nước tưới cây
%Qsh
Nước TTCN
%Qsh
Nước
CN tập trung (m3/ha)
Nước thất thoát
rò rỉ
%
Nước bản thân nhà máy nước
Định hướng lựa chọn nguồn nước:
Khai thác nước ngầm hợp lý tại khu vực Hà Nội cũ Giai đoạn đến năm 2020 ngừng khai thác nước ngầm tại các nhà máy nước Tương Mai, Hạ Đình, Pháp Vân
và các NMN ngầm có quy mô nhỏ Tổng công suất dự kiến tiếp tục khai thác nước ngầm 2020 tại khu vực trung tâm Hà Nội là 400.000m3/ngđ, đến năm 2030 là 265.000 m3/ngđ
Cần nghiên cứu và đánh giá khả năng khai thác, chất lượng nước cũng như ảnh hưởng của nước ngầm đến địa chất Hà Nội giai đoạn 2030 để đưa ra phương hướng khai thác tiếp với quy mô nhỏ hoặc ngừng khai thác nước ngầm khu vực Hà Nội Tăng việc khai thác sử dụng nước mặt sông Hồng, sông Đà và sông Đuống Tăng cường bảo vệ chất lượng nước mặt các con sông Hồng, sông Đà, sông Đuống khỏi
ô nhiễm từ các nguồn thải đô thị
Trang 30Bảng 1.3 Lựa chọn nguồn nước cấp
TT Hạng mục
Nhu cầu cấp nước 2020/2030 (m3/ngđ)
Hiện trạng
Nước ngầm phía Đông 536.000 400.000 400.000 285.000 285.000
2 Nhà máy nước sông
3 Dự kiến NMN sông
A.2
Khu vực phía tây
(Hòa Lạc, Xuân Mai,
Khu vực phía bắc (Mê
Linh, Sóc Sơn, Đông
Khu vực phía Đông
(Yên Viên, Gia Lâm,
Trang 31TT Hạng mục
Nhu cầu cấp nước 2020/2030 (m3/ngđ)
Hiện trạng
Bảng 1.4 So sánh nguồn nước mặt các con sông và công suất dự kiến khai thác
nước cho sinh hoạt
TT Tên nhà máy nước Lưu lượng sông
(m3/s)
Công suất NMN (m3/s)
Tỷ lệ % CS khai thác/ Qsông min
1 % 1.64 %
3,18 % 6,36 %
Trang 323 Quy hoạch công trình đầu mối cấp nước
Các công trình đầu mối cấp nước chính
Bảng 2 1 Tổng hợp các nhà máy nước thủ đô Hà Nội
3
C Các trạm cấp nước quy mô nhỏ khu vực nông thôn 250.000 250.000
Nhà máy nước sông Đà đã được xây dựng công suất hiện trạng 300.000
m3/ngđ Công suất dự kiến 2020: 600.000 m3/ngđ, 2030: 1.200.000 m3/ngđ Diện tích nhà máy nước dự kiến đến năm 2030: 25ha
Hiện trạng các hạng mục công trình đã đầu tư xây dựng: Kênh dẫn nước sông; trạm bơm nước sông công suất 345.000m3/ngđ; hồ Đầm Bài chu vi 16km, độ sâu từ 20-40m, chứa được hơn 6 triệu m3 nước; trạm bơm nước hồ công suất 320.000m3/ngđ để đưa nước thô lên nhà máy xử lý
Nhà máy xử lý được xây dựng ở cao độ +93.00m thuộc huyện Kỳ Sơn và xã Yên Quang, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Phạm vi cấp nước của nhà máy nước sông Đà được xác định bao gồm các đô thị phía tây Hà Nội như Xuân Mai, Sơn Tây, Hòa Lạc, các thị trấn Quốc Oai, Chúc
Trang 33Sơn, Phúc Thọ, khu vực vành đai 3 và 4, cấp bổ sung cho khu vực nội đô và khu vực nông thôn liền kề đô thị
Dự kiến xây dựng tại xã Phù Đổng, Gia Lâm Hà Nội, là nhà máy nước liên vùng dự kiến cấp cho Hà Nội và cấp cho một phần Bắc Ninh và một phần thuộc Hưng Yên, Hải Dương Dự án cấp nước sông Đuống đang được VIWASEEN làm chủ đầu tư lập báo cáo đầu tư xây dựng có công suất đến năm 2020: 300.000m3/ngđ, 2030: 600.000m3/ngđ Diện tích nhà máy nước dự kiến: 60ha
Nguồn nước: từ sông Đuống lưu lượng trung bình tại ngã ba sông 880m3/s, lưu lượng đỉnh lũ đo được 9.000m3/s
Phạm vi cấp nước: Sóc Sơn, Đông Anh, Long Biên, Gia Lâm, Phú Xuyên, Thường Tín
Dự kiến xây dựng tại xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, công suất 2020 là 300.000 m3/ngđ, năm 2030 là 450.000 m3/ngđ Diện tích nhà máy nước dự kiến đến năm 2030: 30ha
Nước mặt sông Hồng có độ đục lớn, do vậy cần xây dựng hồ sơ lắng để lắng nước và dự trữ
Phạm vi cấp nước: cấp bổ sung cho khu vực nội đô, Mê Linh và Đông Anh, cấp một phần cho khu vực đô thị thuộc vành đai 3-4
Các nhà máy nước ngầm tại thủ đô Hà Nội hiện nay phần lớn tập trung tại khu vực nội đô, Hà Đông và Sơn Tây Định hướng khai thác nước ngầm được xác định
Trang 34Bảng 1.5 Công suất các nhà máy nước ngầm thủ đô Hà Nội
Số
TT Tên nhà máy
Công suất thiết kế (m3/ngđ)
Công suất khai thác
2009 (m3/ng)
Công suất khai thác
2020 (m3/ng)
Công suất khai thác
Hệ thống cấp nước truyền dẫn chính NMN sông Đà:
+ Tuyến ống cấp nước trên tuyến đường Láng Hòa Lạc D1600mm, D2400mm;
+ Tuyến ống cấp nước truyền dẫn chính D800mm dẫn nước tới đô thị Sơn Tây trên quốc lộ 21 từ tuyến ống cấp nước trên đường Láng Hòa Lạc;
Trang 35+ Tuyến ống cấp nước truyền dẫn D800mm cấp nước tới đô thị Xuân Mai trên quốc lộ 21 từ tuyến ống cấp nước trên đường Láng Hòa Lạc;
+ Tuyến ống cấp nước truyền dẫn chính trên trục Bắc Nam cấp nước cho các thị trấn D600mm;
+ Tuyến ống cấp nước truyền dẫn chính trên đường vành đai 4: D800mm, trên đường vành đai 3: D1200mm
+ Tuyến ống cấp nước truyền dẫn D600mm trên tỉnh lộ 21B cấp cho các thị trấn Kim Bài, Vân Đình, Đại Nghĩa, Quan Sơn và dân cư nông thôn dọc tuyến
Hệ thống cấp nước truyền dẫn chính NMN sông Đuống
+ Tuyến ống cấp nước chính truyền dẫn tới Long Biên Gia Lâm D1200mm; + Tuyến ống cấp nước truyền dẫn chính từ NMN tới Đông Anh, Sóc Sơn D1200mm;
+ Tuyến ống cấp nước truyền dẫn tới đô thị Thường Tín Phú Xuyên D800mm + Hệ thống cấp nước truyền dẫn chính NMN sông Hồng
+ Tuyến ống cấp nước truyền dẫn chính cấp nước bổ xung cho khu nội đô D1000mm, D800mm;
+ Tuyến ống cấp nước truyền dẫn chính cấp cho khu phía bắc qua cầu Thượng Cát 2D800mm
+ Tổng nhu cầu cấp nước đến năm 2050 dự kiến là 3.200.000 m3/ngđ
+ Dự kiến nước ngầm sẽ được khai thác với quy mô nhỏ ổn định hoặc có thể ngừng khai thác và được thay thế bằng nước mặt
+ Tiếp tục khai thác nước mặt các con sông Hồng, sông Đà, sông Đuống cấp nước cho đô thị, sông Lô là nguồn nước dự phòng cho Hà Nội
+ Sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả Tăng tỷ lệ tái sử dụng nước trong sản xuất công nghiệp cũng nhu trong sinh hoạt
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá khả năng cấp nước theo quy hoạch
Về đối tượng: Nghiên cứu công trình và thiết bị để thực hiện sự kết nối gữa các phân khu cấp nước
Trang 36Về số phân khu: Mạng lưới cấp nước có từ 2 đến 3 phân khu và từ 2 đến 3 nguồn nước cấp Cụ thể các phân khu là đô thị vệ tinh Láng Hòa Lạc, đô thị sinh thái Quốc Oai và một phần chuỗi đô thị khu vực phía đông vành đai 4 Nguồn cấp nước là nguồn nước mặt sông Đà và hai nhà máy nước ngầm khu đô thị Hà Đông
Về thời gian: Định hướng cấp nước tương lai cho thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050
Căn cứ quy hoạch cấp nước của thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050, đánh giá khả năng cấp nước đối với khu vực nghiên cứu:
Hệ thống cấp nước thiết kế bao gồm:
Các kênh dẫn nước sông, khu nhà máy xử lý và tuyến ống tải nước sạch Tại khu nhà máy xử lý: Cuối hồ Đầm Bài xây dựng trạm bơm nước hồ để đưa nước thô được lấy từ nguồn nước mặt sông Đà lên nhà máy xử lý Nhà máy xử lý được xây dựng ở độ cao 92m trên vùng núi đá thuộc xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn và xã Yên Quang, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Tại đây, nước thô được xử lý, lọc sạch và khử trùng sau đó nước sạch tự nhiên chảy theo đường ống truyền tải đến bể chứa cách nhà máy 12km tại cốt cao độ 72m rồi tự chảy về khu đô thị vệ tinh Hòa Lạc; Theo tuyến ống cấp nước D1600mm hiện có trên đại lộ Thăng Long và tuyến ống D2400mm dự kiến chảy về trạm bơm tăng áp Quốc Oai với công suất 23.000 (m3/ngđ) vợt công suất dự kiến là 5.000 (m3/ngđ); (công suất theo quy hoạch đến năm 2030 là 18.000 (m3/ngđ)
Sau đó, theo tuyến ống cấp nước D1600mm hiện có trên đại lộ Thăng Long và tuyến ống D1800mm dự kiến cấp nước cho chuỗi đô thị vành đai 4, kết hợp với nguồn nước ngầm công suất 20.000 (m3/ngđ) tại khu vực Hà Đông theo quy hoạch năm 2030
Nước cấp cho khu đô thị vệ tinh Sơn Tây theo quy hoạch đến năm 2030 sẽ lấy
từ đường ống vận chuyển dự kiến DN 2400mm trên đại lộ Thăng Long tại nút 6
Trang 37theo sơ đồ vạch tuyến mạng lưới cấp nước Lưu lượng quy về nút của khu Sơn Tây
sẽ được lấy từ nút 115 với lưu lượng Q = 695(l/s )= 60.000 (m3/ngđ)
Nước cấp cho khu đô thị vệ tinh Xuân Mai theo quy hoạch đến năm 2030 sẽ lấy
từ đường ống vận chuyển dự kiến DN 2400mm trên đại lộ Thăng Long tại nút 6 theo sơ đồ vạch tuyến mạng lưới cấp nước Lưu lượng quy về nút của khu Xuân Mai sẽ được lấy từ nút 116 với lưu lượng Q = 926 (l/s )= 80.000 ( m3/ ngđ)
Tính toán thủy lực, kiểm tra, đánh giá khả năng cấp nước theo quy hoạch
khu cấp nước
Sau khi kiểm tra, đánh giá khả năng cấp nước theo quy hoạch, đề xuất các phương án so sánh:
Phương án 1: theo quy hoạch
Phương án 2: đề xuất điều chỉnh quy hoạch cấp nước
Phương án 3: nghiên cứu thiết kế mới
Trang 38CHƯƠNG 2
ÁP DỤNG PHẦN MỀM EPANET ĐỂ TÍNH TOÁN LỰA CHỌN
HỆ THỐNG CẤP NƯỚC VÀ PHÂN KHU CẤP NƯỚC
CHO MỘT ĐỐI TƯỢNG THỰC TẾ
2.1 CHỌN VÀ MÔ TẢ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Chọn đối tượng nghiên cứu
Theo mục 6 trong phần mở đầu ta chọn phân khu cấp nước quy hoạch đến năm
2030 là đô thị vệ tinh Láng Hòa Lạc, đô thị sinh thái Quốc Oai và một phần chuỗi
đô thị khu vực phía đông vành đai 4 Nguồn cấp nước là nguồn nước mặt sông Đà
và hai nhà máy nước ngầm khu đô thị Hà Đông thuộc khu đô thị phía khu vực vành đai 4
Trang 39Hình 2.1 Vị trí các phân khu cấp nước: Đô thị vệ tinh Láng Hòa Lạc, đô thị sinh thái Quốc Oai và một phần chuỗi đô thị
khu vực phía đông vành đai 4 (Nguồn: Quy hoạch kiến trúc TP Hà Nội)
Trang 40Hình 2.2 Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050
Quy hoạch cấp nước toàn đô thị