1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực Trạng Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại Việt Nam Và Những Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thu Hút Vốn Đầu Tư.doc

98 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại Việt Nam Và Những Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thu Hút Vốn Đầu Tư
Tác giả Nhóm Thực Hiện
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ Thuật Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài
Thể loại Bài Tập Lớn
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,16 MB
File đính kèm Kĩ thuật đầu tư trực tiếp nước ngoài.rar (466 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng FDI vào Việt N BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA THƯƠNG MẠI DU LỊCH MARKETING BỘ MÔN KỸ THUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TÊN ĐỀ TÀI THỰC TRẠ[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA THƯƠNG MẠI-DU LỊCH-MARKETING

BỘ MÔN:

KỸ THUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

TÊN ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ

Nhận xét của giáo viên

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ……….

Trang 3

Nắm bắt được tình hình thực tế đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

VI(tháng 12 năm 1986) đã đề ra những chính sách hết sức đúng đắn, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng, xoá bỏ hoàn toàn cơ chế quan liêu bao cấp cũ Một trong những bước chuyển biến lớn trong định hướng đổi mới kinh tế, thể chế hoá đường lối của Đại hội VI là việc ban hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 Sau khi Luật đầu tư nước ngoài ra đời và thay đổi, bổ sung liên tục quá trình thu hút đầu tư nước ngoài Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đó, quá trình thu hút đầu tư, sự vận hành của các

dự án đã làm nảy sinh nhiều vấn đề cần được khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa

hiệu quả sử dụng nguồn vốn này Chính vì vậy mà nhóm chúng em chọn đề tài:“

Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam và những giải pháp nâng

cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư thông”.

Do thời gian có hạn nên nhóm chúng em chỉ nghiên cứu sâu vào các bài học tại Trung Quốc Tuy đã nỗ lực hết sức mình nhưng nhóm không thể tránh khỏi

sơ sót Mong cô và các bạn sẽ giúp nhóm sửa đổi và đánh giá các kết quả mà nhóm đã thực hiện

Nhóm thực hiện

Trang 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm đầu tư FDI(Foreign Direct Investment)

1.1.1 Khái niệm

Có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)

có nêu: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu lợi íchlâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế củanhà đầu tư, ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư còn mong muốn giành được chỗđứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rông thị trường”

Hoặc: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhânhay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinhdoanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuấtkinh doanh này

Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".

Ở Điều 3 của Luật Đầu tư Việt Nam được Quốc hội thông qua 11/2005 nêurõ: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham giaquản lý hoạt động đầu tư”

1.1.2 Đặc điểm của đầu tư FDI:

 Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu hoặctối đa tùy theo quy định của luật đầu tư từng nước, ví dụ như Luật đầu tư của ViệtNam quy định “số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốnpháp định của dự án”, hay Luật đầu tư của Nam Tư trước đây quy định “phần củabên đối tc1 nước ngoài đóng góp không dưới 5% tổng số vốn đầu tư” Trong khi

đó, ở Hàn Quốc, luật quy định tối đa bên phía nước ngoài góp 49% vốn pháp định

Trang 5

 Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc độ góp vốn của chủ đầu tưtrong vốn pháp định Nếu góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu tư toàn quyềnquyết định sự hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

 Mục tiêu của chủ đầu tư là mục tiêu dài hạn

 Nhà đầu tư nước ngoài tham gia trực tiếp vào việc quản lý, điều hànhcác hoạt động sử dụng vốn với mức độ tham gia tỷ lệ với mức độ góp vốn hoặcchỉ định người quản lý đối tượng đầu tư

 Lợi nhuận của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả của hoạt động bỏ vốnđầu tư Lời và lỗ được chia cho các chủ đầu tư theo tỷ lệ góp vốn sau khi đã nộpthuế lợi tức cho nước chủ nhà

1.1.3 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tuỳ theo cách chọn tiêu chí khác nhau sẽ có các cách phân loại đầu tư trựctiếp nước ngoài khác nhau

Phân loại theo tính chất sở hữu :

• Liên doanh: là một hình thức hợp tác giữa hai hay nhiều doanh nghiệp độc

lập bằng cách cùng nhau thành lập, quản lý và đồng sở hữu một doanh nghiệp độclập khác

Quyền kiểm soát liên doanh phụ thuộc vào phần hùn vốn của mỗi bên trongliên doanh

• Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là một công ty con do doanh nghiệp

thành lập ở nước ngoài, sở hữu 100% vốn và nắm toàn quyền kiểm soát

Phân loại theo cách thức thực hiện đầu tư :

• Đầu tư mới (GI – Greenfield Investment): Các nhà đầu tư thực hiện đầu tư

ở nước ngoài bằng cách xây dựng các doanh nghiệp mới

• Sáp nhập và mua lại (M&A – Mergers and Acquisitions): Các nhà đầu tư

tiến hành đầu tư bằng cách mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nướcngoài

Phân loại theo lĩnh vực đầu tư :

• Đầu tư theo chiều ngang (HI – Horizontal Investment): là việc chủ đầu tư

nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào cùng một ngành, một lĩnh vực hoạt động sản xuấtkinh doanh mà họ đang thực hiện trong nước ḿnh

• Đầu tư theo chiều dọc (VI – Vertical Investment): là việc chủ đầu tư nước

ngoài bỏ vốn đầu tư vào ngành hay lĩnh vực sẽ cung cấp nguyên vật liệu đầu vàocho cơ sở sản xuất trong nước của họ (backward vertical FDI) hoặc vào ngành haylĩnh vực sẽ sử dụng sản phẩm của cơ sở sản xuất trong nước của họ (forwardvertical FDI)

Phân loại theo động cơ đầu tư:

Trang 6

• FDI tìm kiếm nguồn lực: là hoạt động đầu tư khai thác các nguồn tài

nguyên thiên nhiên (khoáng sản, nguyên liệu thô, các sản phẩm nông nghiệp) vàtìm kiếm lao động giá thấp hoặc có chuyên môn nhằm mục đích khai thác lợi thế

so sánh của một nước

• FDI tìm kiếm thị trường: là hoạt động đầu tư vào các thị trường đang sử

dụng hàng nhập khẩu hoặc vào các thị trường được bảo hộ bởi các rào cản thươngmại, là hoạt động đầu tư của các công ty cung ứng phục vụ cho khách hàng củamình tại nước ngoài, hoặc là hoạt động đầu tư nhằm sản xuất ra các sản phẩmthích ứng với thị hiếu và nhu cầu tại chỗ cũng như để sử dụng nguyên liệu tại chỗ.Mục tiêu của loại đầu tư này là nhằm chiếm lĩnh thị trường

• FDI tìm kiếm hiệu quả: là các hoạt động đầu tư hợp lý hóa sản xuất hoặc

kết nối sản xuất trong khu vực hay toàn cầu hoặc đầu tư chuyên môn hóa quy tŕnhsản xuất, thường là bước tiếp sau của đầu tư tìm kiếm nguồn lực hay tìm kiếm thịtrường và thường chỉ thực hiện được ở các thị trường hội nhập và có trình độ pháttriển cao

• FDI tìm kiếm tài sản chiến lược: là hoạt động mua lại và liên minh để thúc

đẩy các mục tiêu kinh doanh dài hạn

+ Thành phần vốn FDI

Các thành phần của vốn FDI bao gồm: vốn chủ sở hữu, lợi nhuận tái đầu tư

và các loại vốn khác (chủ yếu là các khoản vay nội bộ giữa công ty mẹ và các chinhánh của các công ty đa quốc gia)

1.2 Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1 Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước

Sự khác nhau về năng suất cận biên(số có thêm trong tổng số đầu ra mà mộtnhà sản xuất có được do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữacác nước là một trong những nguyên nhân chính tạo nên FDI Một nước thừa vốnthường có năng suất cận biên thấp hơn Còn một nước thiếu vốn thường có năngsuất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dưthừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận Vì chi phí sản xuất của cácnước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn Tuy nhiên như vậy không cónghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được cácDoanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sốngcòn của Doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suấtcận biên thấp

Trang 7

1.2.2 Chu kỳ sản phẩm

Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kìsống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản phẩmmới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa Sản phẩmmới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuấtkhẩu ra thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mớilàm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sảnxuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụâtcủa nước ngoài(giai đoạn sản phẩm chín muồi) Khi nhu cầu thị trường của sảnphẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện(giaiđoạn sản phẩm chuẩn hóa) Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến

sự hình thành FDI

Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giaiđoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩmnày có rất nhiều nhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nêncạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tớiquyết định cắt giảm chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sảnxuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn

1.2.3 Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia

Các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơbản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵnsàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đaquốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họphát huy các lợi thế đặc thù nói trên Những công ty đa quốc gia thường có lợi thếlớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhâncông rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng ta dễ dàng nhận ra lợi ích củaviệc này!

1.2.4 Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thươngmại song phương Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn doNhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trongquan hệ song phương Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào cácthị trường đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm

Trang 8

xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ còn đầu tư trực tiếp vào cácnước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu.

1.2.5 Khai thác chuyên gia và công nghệ

Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kémphát triển hơn Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa Nhật Bản là nướctích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ Ví dụ, cáccông ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng cácchuyên gia người Mỹ Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy Không chỉNhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chínhsách tương tự Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong

đó có đầu tư vào Mỹ Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo

mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch

Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuấtmáy tính ưu việt của IBM Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập vớiThompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, việc National Offshore OilCorporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ)cũng với chiến lược như vậy

1.2.6 Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên

Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vàonhững nước có nguồn tài nguyên phong phú Bên cạnh đó một số nước có nguồntài nguyên hạn chế thực hiện đầu tư FDI để mở rộng danh mục đầu tư sang cácquốc gia có nguồn tài nguyên phong phú hơn Điển hình là làn sóng đầu tư trựctiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 FDI của TrungQuốc hiện nay cũng có mục đích tương tự

1.3 Các hình thức đầu tư FDI

1.3.1 Hình thức xí nghiệp liên doanh(A Joint Venture Enterprise)

Xí nghiệp liên doanh là xí nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sởhợp đồng kinh doanh giữa bên hoặc các bên Việt Nam với bên hoặc các bên nướcngoài, hoặc trên cơ sở Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nướcngoài, nhằm hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam

Đặc điểm của hình thức đầu tư này:

Trang 9

 Doanh nghiệp được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạnhoặc công ty cổ phần, mang tư cch1 pháp nhân Việt Nam.

 Thời hạn hoạt động của dự án có vốn FDI tối đa là 50 năm, trong trườnghợp đặc biệt không quá 70 năm

 Nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trongnước trong trường hợp các nhá đầu tư Việt Nam sở hữu 51% vốn phápđịnh

-Phạm vi , lĩnh vực và địa bàn hoạt động của xí nghiệp liên doanh rộng hơn

xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

Tuy nhiên có thể giải thích xu hướng hạn chế dần hình thức xí nghiệp liêndoanh ở Việt Nam bằng những nguyên nhân sau :

-Sau một thời gian tiếp cận với thị trường Việt Nam , các nhà đầu tư nướcngoài , đặc biệt các nhà đầu tư Châu Á đã hiểu rõ hơn về luật pháp , chính sách vàthủ tục đầu tư tại Việt Nam

-Thực tiễn phát sinh nhiều tranh chấp trong việc quản lý điều hành mà mộtphần do sự yếu kém về trình độ của người Việt Nam Bên nước ngoài thường gópvốn nhiều hơn nhưng không quýêt định những vấn đề chủ chốt của xí nghiệp vìnguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị

-Khả năng tham gia liên doanh của bên Việt Nam là có hạn vì thiếu cán bộ ,thiếu vốn đóng góp

- Nhiều trường hợp cơ quan quản lý nhà nước đã tác động quá sâu vào quátrình sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp

1.3.2 Xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài(Enterprise with 100 percent foreign owned capital)

Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài là xí nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của các

tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài, do họ thành lập tại Việt Nam, tự quản lý vàchịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh Công ty 100% vốn nước ngoài có thểđược thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phầnmang pháp nhân Việt Nam, chịu sự điều tiết của pháp luật Việt Nam

Trang 10

Đầu tư nước ngoài theo hình thức này ngày càng tăng Nguyên nhân giảmsút tỉ trọng xí nghiệp liên doanh cũng chính là nguyên nhân tăng tỉ lệ các xí nghiệp100% vốn nước ngoài Uỷ ban nhà nước về hợp tác và đầu tư trước đây đã từ chốicấp giấy phép cho nhiều dự án 100% vốn nước ngoài trong những ngành ,lĩnh vựcquan trọng hoặc có tính đặc thù như : Bưu chính viễn thông , xây dựng kinh doanhkhách sạn , văn phòng cho thuê , sản xuất xi măng , dịch vụ xuất nhập khẩu , dulịch…Tuy nhiên trong những năm gần đây , các địa phương phía Nam , đặc biệt làcác tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu đã ủng hộ mạnh các dự án100% vốn nước ngoài với lập luận rằng cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê đất lập

xí nghiệp 100% vốn nước ngoài có lợi hơn việc giao đất cho bên Việt Nam gópvốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để tham gia liên doanh

1.3.3 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh(A business corporation contract)

Là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (gọi tắt là các bên hợp doanh)

để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hợp đồng kinh doanh ở Việt Nam trên cơ

sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà khôngthành lập pháp nhân mới

Đặc điểm của hình thức đầu tư này:

 Các bên Việt Nam và nước ngoài hợp tác với nhau để tiến hành kinh doanhsản xuất và dịch vụ tại Việt Nam trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký giữahai hoặc nhiều bên, trong hợp đồng quy định rõ nghĩa vụ, quyền lợi vàtrách nhiệm của mỗi bên tham gia

 Các bên tiến hành hoạt động kinh doanh mà không cần lập ra một phápnhân mới, tức không cho ra đời công ty, xí nghiệp mới

Hình thức này được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực thăm dò khai thác dầukhí và trong lĩnh vực bưu chính viễn thông Hai lĩnh vực này chiếm 30% số dự ánhợp đồng hợp tác kinh doanh , nhưng chiếm tới 90% tổng vốn cam kết thưc hiện Phân còn lại chủ yếu thuộc về lĩnh vực công nghiệp , gia công , dịch vụ

1.3.4 Hình thức đầu tư phát triển kinh doanh:

Là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài thực hiện phát triển hoạt động kinhdoanh của mình trên cơ sở hiện hữu qua các hình thức:

 Tăng vốn pháp định để mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinhdoanh

 Đổi mới trang thiết bị máy móc và công nghệ

Trang 11

 Đầu tư để cải thiện môi trường kinh doanh như xử lý môi trường, cải thiệnđiều kiện làm việc cho công nhân…

Các hình thức phát triển mở rộng kinh doanh nhà đầu tư nước ngoài phảithông báo đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam

1.3.5 Hình thức đầu tư thông qua việc thực hiện sáp nhập và mua lại doanh nghiệp:

Theo Điều 25 Luật Đầu tư của Việt Nam quy định: nhà đầu tư nước ngoàiđược phép mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt Nam; nhà đầu tư đượcquyền sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh Các điều về: tỉ lệ góp vốn trong một

số lĩnh vực ngành, nghề và điều kiện sát nhập, mua lại được quy định bở chínhphủ và các luật định

1.3.6 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài đặc biệt khác:

Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (Build- Transfer “B.O.T”):

Operate-Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) là văn bản ký kếtgiữa chủ đầu tư nước ngoài (cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài) với cơ quanNhà nước Việt Nam có thẩm quyền để xây dựng các công trình hạ tầng, tiếnhành khai thác và kinh doanh trong một thời hạn nhất định và khi hết thời hạnthì chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam

Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO):

Được thực hiện trên cơ sở hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh, làvăn bản được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt nam và nhàđầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong,nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt nam, Chínhphủ Việt nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thuhồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý

Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT):

Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam vànhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựngxong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam.Nhìn chung, hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản sau:

 Chỉ được ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

 Đầu tư vào hạ tầng cơ sở của Việt Nam: xây dựng đường, cầu, cảng, sânbay, các công trình điện nước…

Trang 12

 Được hưởng nhiều ưu đãi của chính phủ Việt Nam về tiền thuê đất, thuếcác loại, thời gian đầu tư dài tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thu hồi vốn

và có lời hợp lý

 Hết thời hạn hoạt động của giấy phép, chủ đầu tư phải chuyển giao khôngbồi hoàn công trình cho chính phủ Việt Nam trong tình trạng hoạt động bìnhthường

Hợp đồng đầu tư trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao, trong đó:

+ Khu chế xuất (Export Processing Zone): là khu công nghiệp tập trung cácdoanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chosản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định,không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết địnhthành lập

+ Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuậtcao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiêncứu- triển khai khoa học – công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranhgiới địa lý xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thànhlập

Hợp đồng licensing:

Chủ sở hữu bằng phát minh cung cấp bằng phát minh với sự cố vấn thêm về kỹthuật và bí quyết công nghệ cho nhà đầu tư Để đáp lại việc thanh toán được thựchiện dưới nhiều dạng khác nhau (phí cả gói, tỷ lệ % giá bán hàng, hoặc % lợinhuận hoặc được ưu tiên mua hàng với giá rẻ)

Hợp đồng quản lý công trình đầu tư do người nước ngoài bỏ vốn:

Người ký hợp đồng (thường là các công ty xuyên quốc gia) có trách nhiệm thaymặt chủ hợp đồng xây dựng nhà máy hoặc hạ tầng cơ sở ở nước chủ nhà, đảm bảocho nó hoạt động, duy trì sự hoạt động trong một thời gian Sau đó giao lại chochủ đầu tư quản lý

Hợp đồng phân chia sản phẩm:

Chủ yếu thường gặp trong công nghiệp tìm kiếm thăm dò khai thác dầu mỏ.Công ty nước ngoài thường nhận thăm dò và khai thác, nếu có dầu (hoặc một loạikhoáng sản nào đó) thì được quyền liên kết với các công ty quốc gia của nước chủnhà trong thời gian nhất định và được phân chia một phần sản phẩm quy định

 Các hình thức và phương thức trên đã được các nhà đầu tư nước ngoàichấp nhận, vận dụng Mỗi hình thức và phương thức đầu tư đều có mặt mạnh vàmặt hạn chế của nó, vì vậy Nhà nước Việt Nam đang dần dần đa dạng các loạihình đầu tư thông qua chính sách và pháp luật, nhằm đồng thời giải quyết nhiều

Trang 13

vấn đề của mục tiêu hợp tác như kết hợp lợi ích của bên đầu tư và bên nhận đầu tư,kết hợp mục tiêu thu hút vốn và điều chỉnh cơ cấu FDI phù hợp với cơ cấu chungcủa nền kinh tế và quy hoạch phát triển lực lượng sản xuất cả nước, từng ngành,từng địa phương.

1.4 Vai trò và hậu quả của đầu tư FDI

1.4.1 Vai trò của FDI:

1.4.1.1 Đối với quốc gia nhận đầu tư:

Có 3 lợi ích của tiếp nhận đầu tư: lợi ích chuyển tài nguyên, tác động về việclàm, và tác động cán cân thương mại

 Ảnh hưởng chuyển tài nguyên (Resource- transfer effects)

FDI có thể đóng góp tích cực cho nước sở tại bằng cung cấp vốn, công nghệ,

và nguồn lực quản lý mà quốc gia không sẵn có Nếu những yếu tố như vậy hiếmtrong quốc gia, FDI có thể thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế

Nhiều công ty đa quốc gia bằng sức mạnh tài chính và qui mô của họ, đãthâm nhập vào nguồn tài chính không sẵn có ở nước chủ nhà Những nguồn này cóthể sẵn có từ trong nguồn của công ty, hoặc bởi vì uy tín của họ, MNCs lớn có thể

dễ dàng hơn để vay tiền từ thị trường vốn hơn là công ty nước nhận đầu tư Côngnghệ có thể kích thích tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa Tuy nhiên nhiềuquốc gia thiếu nguồn nghiên cứu và phát triển kỹ năng yêu cầu để phát triển nhữngsản phẩm bản xứ của chính họ và xử lý công nghệ FDI có thể cung cấp nó

Kỹ năng quản lý nước ngoài mang đến thông qua FDI có thể cung cấp lợi íchquan trọng cho nước nhận đầu tư Tác động quay vòng lợi ích xuất hiện khi nhânviên địa phương được huấn luyện kỹ năng quản lý, tài chính, và duy trì kỹ thuậttrong công ty con của MNCs để lại công ty và giúp thành lập công ty bản xứ lợiích tương tự có thể tăng nếu kỹ năng của ban quản lý cấp cao của một MNCs nướcngoài khuyến khích nhà cung cấp, phân phối và đối thủ cạnh tranh địa phương đểcải thiện năng lực quản lý của họ

 Ảnh hưởng việc làm (Employment effects)

Ảnh hưởng có lợi về việc làm của FDI là mang đến việc làm cho nước sở tại

mà các loại hình khác không thể thực hiện được Ảnh hưởng trực tiếp xuất hiệnkhi MNCs nước ngoài trực tiếp thuê công nhân của nước sở tại Tác động gián tiếptăng khi việc làm được tạo ra ở nhà cung cấp địa phương như là kết quả của đầu tư

và khi việc làm được tạo ra bởi vì tăng chi tiêu ở kinh tế địa phương từ nhân viêncủa MNCs Ảnh hưởng việc làm gián tiếp cũng nhiều như ảnh hưởng trực tiếp

Trang 14

trong trường hợp của Nissan, đầu tư của Nissan ở Anh tạo ra 4.250 việc làm trựctiếp và ít nhất 4000 việc khác trong ngành công nghiệp hỗ trợ.

 Ảnh hưởng cán cân thanh toán (Balance of payment effects)

Tác động của tài khoản thanh toán của quốc gia là chính sách quan trọng chohầu hết chính phủ nước nhận đầu tư Cán cân tài khoản thanh toán của quốc giagiữ cả chi và thu từ các quốc gia khác Chính phủ thường được quan tâm khi quốcgia ở trong tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai Cách duy nhất mà tài khoảnvãng lai thâm hụt có thể được bù đắp dài hạn là bán tài sản cho người nước ngoài

Ví dụ, tài khoản vãng lai của Mỹ bị thâm hụt trong thập niên 80 và 90 được tài trợbởi bán đều đặn tài sản của Mỹ (chứng khoán, trái phiếu, bất động sản, và toàn bộcông ty) cho người nước ngoài Bởi vì chính phủ quốc gia không thích thấy tài sảncủa quốc gia họ rơi vào tay người nước ngoài, họ thích thặng dư tài khoản vãnglai FDI có thể giúp quốc gia đạt mục tiêu này bằng hai cách

Đầu tiên, nếu FDI thay thế cho nhập khẩu sản phẩm và dịch vụ, nó cải thiệntài khoản vãng lai của quốc gia sở tại Ví dụ, vốn FDI lớn của công ty xe hơi Nhật

ở Mỹ và Anh, thay thế cho nhập khẩu từ Nhật Vì vậy tài khoản vãng lai của Mỹ

có cải thiện bởi vì nhiều công ty Nhật bây giờ cung cấp sản phẩm tiêu dùng tại Mỹ

từ các cơ sở sản xuất ở Mỹ điều này giảm nhu cầu tài trợ thâm hụt tài khoản vãnglai bằng bán tài sản cho người nước ngoài, Mỹ đã có lợi Lợi ích tiềm năng thứ haixuất hiện khi MNCs sử dụng tài trợ nước ngoài để xuất khẩu sản phẩm và dịch vụđến nước khác

1.4.1.2 Đối với nước đầu tư:

Lợi ích của FDI cho nước đầu tư xuất hiện từ 3 nguồn:

Thứ nhất, tài khoản vãng lai của nước đầu tư có lợi từ thu nhập đến từ nước

ngoài FDI cũng có thể cải thiện tài khoản vãng lai của nước đầu tư nếu cơ sởnước ngoài tạo nhu cầu cho quốc gia xuất khẩu trang thiết bị, sản phẩm thay thế,sản phẩm trung gian…

Thứ hai, lợi ích cho nước đầu tư từ vốn FDI ra nước ngoài tăng từ tác động

việc làm Ví dụ, đầu tư của Electrolux vào nhà máy ở nước ngoài có thể có lợi cho

cả cán cân thanh toán và việc làm ở Thụy Điển, nếu Electrolux nhập khẩu vài linhkiện phụ tùng cho nhà máy ở nước ngoài trực tiếp từ Thụy Điển

Thứ ba, lợi ích tăng lên khi MNCs của nước đầu tư học kỹ năng có giá trị từ

nước nhận đầu tư và chuyển ngược về nước đầu tư Điều này tính cho tác độngchuyển nguồn tài nguyên có thể có lợi cho sự tăng trưởng kinh tế quốc gia Ví dụ,một lý do mà General Motor đầu tư vào công ty xe hơi Nhật Bản (GM sở hữu mộtphần của Isuzu và Ford sở hữu một phần của Mazda) là để học kỹ thuật quản lý

Trang 15

cấp cao của công ty Nhật và quy trình sản xuất nếu GM và Ford có thể chuyểngiao những bí quyết này ngược trở lại cho hoạt động sản xuất ở Mỹ, kết quả có lợicho kinh tế của Mỹ.

1.4.2 Hậu quả của FDI.

1.4.2.1 Đối với nước nhận đầu tư:

 Tác động lên cạnh tranh (Adverse effects on competition)

Đôi khi chính phủ nước sở tại buồn phiền vì sự hoạt động của các cơ sở nướcngoài của MNCs ở quốc gia của họ có tiềm lực kinh tế lớn hơn đối thủ cạnh tranhbản xứ bởi vì họ có thể là một phần của tổ chức quốc tế lớn hơn Như vậy, MNCsnước ngoài có thể rút quỹ từ nơi khác để tài trợ chi phí ở thị trường nước sở tại, cóthể đưa công ty bản xứ biến mất khỏi thị trường và cho phép công ty độc quyềntrên thị trường Một khi thị trường là độc quyền, MNCs nước ngoài nâng giá trênmức hiện tại của thị trường cạnh tranh, với tác động có hại lên sự thịnh vượngkinh tế của nước sở tại

 Tác động bất lợi lên cán cân thanh toán (Adverse effects on balance of payments)

Thứ nhất, so sánh với vốn thu hút FDI ban đầu phải là thu nhập chuyển ra saunày khi cơ sở nước ngoài chuyển thu nhập về cho công ty mẹ những tiền chuyểnnhư vậy cho thấy như khoản nợ trên tài khoản vãng lai

Thứ hai, khi công ty nước ngoài nhập khẩu một số nguyên liệu từ nướcngoài, cũng tạo ra khoản nợ trên tài khoản vãng lai Ví dụ, một quan điểm chốnglại các nhà sản xuất xe hơi của Nhật ở Mỹ là họ nhập khẩu nhiều linh kiện phụtùng từ Nhật Bản, giảm tác động tích cực của FDI lên cán cân của tài khoản vãnglai Công ty Nhật đáp ứng bằng cách mua 75% linh kiện phụ tùng từ các nhà sảnxuất tại Mỹ (không nhất thiết là các công ty của Mỹ)

 Chủ quyền quốc gia và tự trị (National sovereignty and autonomy)

Nhiều chính phủ sở tại lo ngại FDI sẽ dẫn đến sự phụ thuộc về kinh tế Yếu

tố quyết định có thể ảnh hưởng kinh tế nước sở tại sẽ được lập bởi các công ty mẹnước ngoài mà không có cam kết thực sự với nước sở tại, và vượt quá sự kiểmsoát của nước sở tại

1.4.2.2 Đối với nước đầu tư:

Vị thế thương mại của quốc gia đầu tư có thể giảm nếu mục đích của FDI là

để phục vụ cho nước nhà từ thị trường sản xuất chi phí thấp ví dụ, khi công ty dệtcủa Mỹ chuyển nhà máy từ South Carolina chuyển sang Trung Mỹ, nhập khẩu vào

Trang 16

Mỹ tăng và cán cân thương mại yếu đi Tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán

có thể bị lệch nếu FDI thay thế cho xuất khẩu trực tiếp

Hầu hết những quan tâm đặc biệt về việc làm tăng khi FDI thay thế sản xuấttrong nước nếu thị trường lao động ở quốc gia đầu tư rất hẹp, điều này không làvấn đề lớn tuy nhiên nếu quốc gia đầu tư bị thiệt hại từ thất nghiệp, quan tâm vềxuất khẩu công việc có thể tăng cho thời gian tới ví dụ, một mục tiêu thường tăngbởi lãnh đạo lao động Mỹ đối với Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ giữa Mỹ,Canada và Mexico là Mỹ sẽ mất đi hàng trăm ngàn việc làm khi công ty Mỹ đầu

tư vào Mexico để nắm lợi thế lao động rẻ rồi xuất khẩu ngược trở lại Mỹ

1.5 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.5.1 Những bài học từ thu hút FDI của Trung Quốc

Theo nhận xét của Nhật báo Kinh tế Les Echos cũng như một số nguồn tinkhác như Văn phòng Bộ trưởng kinh tế và công nghiệp Nhật Bản, thì sau khi gianhập WTO cùng với những cải cách phù hợp, nhanh nhạy của Chính phủ, TQ đãđược hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn làm địa điểm đầu tư lý tưởng,một thị trường đầy triển vọng với những lợi thế chủ yếu sau: cơ sở hạ tầng tươngđối hoàn thiện mà chi phí lại rẻ, trình độ văn hoá của đội ngũ nhân công cao, chiphí lao động thấp, cơ chế chính sách thông thoáng, cởi mở, có các ngành côngnghiệp hỗ trợ (69% DN tham gia Hội thảo về Tình hình thương mại thế giới được

tổ chức tại Pháp đã chọn TQ là địa điểm đầu tư lý tưởng) Hiện nay trong lĩnh vựcthu hút FDI, Trung Quốc đang dẫn đầu thế giới về số lượng

Biểu đồ: Tổng khối lượng và xu hướng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được đầu tư ở Trung Quốc 1986-2008:

Trang 17

1.5.1.1 Những bài học thành công

a) Từng bước mở rộng địa bàn thu hút FDI

a) Xây dựng các đặc khu kinh tế ( Special Economic Zones- SEZs)

5 đặc khu kinh tế: Thẩm Quyến tiếp giáp với Hồng Kông, Chu Hải nằm cạnh

Ma Cao, Sán Đầu và Hạ Môn đối diện với Đài Loan, riêng Hải Nam có vị trí vô

cùng độc đáo, không những có đường biển gần nhất nối Trung Quốc với Châu Âu,châu Phi, Châu Đại Dương mà Nam Á còn là điểm giao hội ở vị trí cực nam TrungQuốc

5 đặc khu trên có đặc điểm chung là được đặt ở khu vực có quan hệ lâu dàivới nước ngoài và có vị trí thuận lợi trong thương mại quốc tế Các đặc khu đềunằm sát các thị trường tư bản,giao thông đường biển,đường không thuận tiện.Đây

là con đường chủ yếu để Trung Quốc du nhập vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lýcủa tư bản ở nước ngoài vào Các đặc khu còn là quê hương của hang chục triệungười Hoa và Hoa kiều ở nước ngoài Họ có vốn, có kỹ năng quản lý hiện đại, cókinh nghiệm ngân hàng, có kiến thức tiếp thị…

Vị trí thuận lợi cộng với các chính sách ưu tiên và thể chế mang tính đặc thù,các đặc khu kinh tế đã thực sự mang lại những thành tựu đáng kể, khuyến khích sựphát triển của cả nền kinh tế Trung Quốc Các đặc khu kinh tế có điểm tương đồngvới các khu chế xuất ở các nước phát triển như nước ta, song nó có những điểm rấtkhác biệt Đặc khu kinh tế của Trung Quốc là nơi thử nghiệm các thể chế quản lýkinh tế và chính sách mới, làm bàn đạp lan ra các khu vực khác

b) Xây dựng 14 thành phố mở cửa ven biển:

Thực hiện chính sách mở cửa “không thu lại mà bung ra”( Đặng Tiểu

Bình),Trung Quốc tiến hành mở cửa thêm các thành phố ven biển.Tháng 4-1984,

TƯ ĐCS Trung Quốc và Quốc vụ viện quyết định mở cửa 14 thành phố ven biển:

Thiên Tân, Thượng Hải, Đại Liên, Tần Hoàng Đảo, Yên Đài, Thanh Đảo, Liên Vân Cảng, Nam Thông, Ninh Ba, Ôn Châu, Phúc Châu, Quảng Châu, Trạm Giang, Bắc Hải.

Các thành phố ven biển này là những hạt nhân để hình thành các khu kinh tếnăng động, thúc đẩy sự phát triển chung, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư,đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế biển Như vậy, sứ mệnh củacác khu kinh tế ven biển này chủ yếu là cùng với các thành phố lớn ven biển hiện

có tạo thành những trung tâm kinh tế biển mạnh, vươn ra biển xa

b) Tăng cường sức hấp dẫn của môi trường đầu tư

 Cải thiện môi trường đầu tư “mềm”

Môi trường đầu tư mềm là toàn bộ cơ chế,chính sách có liên quan đến hoạtđộng đầu tư trực tiếp nước ngoài Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và

Trang 18

quá trình phát triển của hoạt động đầu tư nước ngoài Bởi lẽ, nó là một trongnhững yếu tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đến khả năng thu hút và sử dụng vốnđầu tư nước ngoài Sự thành công trong thu hút vốn FDI của Trung Quốc trongthời gian qua có một phần đóng góp mang tính quyết định của việc hoàn thiện môitrường đầu tư mềm này.

+ Tạo dựng môi trường luật pháp cho đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Điều này thể hiện rất rõ qua việc rà soát 2.500 văn bản liên quan đến ĐTNN;thực hiện chính sách 1 giá trên toàn quốc; không phân biệt đối xử giữa các loạihình DN trong việc vay vốn, xin quỹ đất

Trung Quốc còn thể hiện sự quan tâm đến những quyền lợi của nhà đầu tư

nước ngoài bằng cách thường xuyên bổ sung, sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài,

đảm bảo tính thực thi nghiêm túc Những hoạt động thanh tra trái phép, thu lệ phíhay áp đặt thuế sai quy định đối với các doanh nghiệp nước ngoài bị xử lý nghiêmkhắc Nhiều quy định được xóa bỏ để phù hợp với pháp luật kinh doanh quốc tếnhư tỷ lệ nội địa hóa, cân đối ngoại tệ

Trung Quốc đã ban hành hàng loạt bộ luật, văn bản dưới luật trên nhiều mặt

có liên quan đến hoạt động này, bao gồm: Về hoạt động của các xí nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, Về định hướng chiến lược thu hút FDI, Về mặt đảm

bảo quyền lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp có xung đột,

Tóm lại, ta thấy chính phủ Trung Quốc đã rất chú trọng đến việc tạo lập vàhoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây là mộttrong những nguyên nhân quan trọng tạo nên thành công cho hoạt động thu hút và

sử dụng FDI ở Trung Quốc trong những năm qua

+ Đơn giản hóa thủ tục, quy trình đầu tư:

Về cải cách thủ tục hành chính, Trung Quốc thực hiện chế độ phân cấp raquyết định đầu tư cho các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhàđầu tư về thời gian, chi phí trong việc làm các thủ tục xin đầu tư.Sau khi có giấyphép đầu tư,các thủ tục liên quan đến triển khai dự án được giải quyết mau lẹ.Cácvấn đề giả phóng mặt bằng,cấp điện,cấp nước,giao thông,môi trường được giảiquyết dứt điểm

+ Thực hiện các ưu đãi:

Các ưu đãi về thuế: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, đều

được cắt giảm, điều chỉnh một cách hợp lý Cụ thể Luật thuế doanh nghiệp mớiđược ban hành ngày 01/01/2008, thống nhất và cắt giảm thuế suất từ 33% xuốngmức thuế suất chung là 25% cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu

tư nước ngoài và hai mức thuế suất thấp hơn 15% và 20% sẽ được áp dụng lần

Trang 19

lượt cho các doanh nghiệp công nghệ cao, công nghệ tiên tiến và các doanh nghiệpnhỏ có mức lợi nhuận thấp,các doanh nghiệp nằm trong đặc khu kinh tế (SEZs) Ngoài ra, Trung Quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàngnhư: máy móc, thiết bị, bộ phận rời, vật liệu được đưa vào khu chế xuất 14 thànhphố ven biển; các vật liệu bộ phận rời nhập để sản xuất hàng xuất khẩu Trungquốc cũng miến thuế xuất khẩu cho các mặt hàng xuất khẩu được sản xuất ở cáckhu chế xuất và 14 thành phố ven biển.

Ưu đãi về khu vực đầu tư, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài xây dựng ở

các đặc khu kinh tế và ở 14 thành phố ven biển được giảm thuế thu nhập 15% theo

tỷ lệ thuế

Ưu đãi về kỳ hạn kinh doanh, đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

trong lĩnh vực sản xuất,nếu kỳ hạn kinh doanh trên 10 năm,tính từ năm bắt đầu cólãi,năm thứ nhất và năm thứ hai họ được miễn thuế thu nhập,từ năm thứ 3 đến nămthứ 5 học được giảm một nửa thuế thu nhập

Ưu đãi cho hành vi tái đầu tư, Trung Quốc cung cấp cho các công ty có

vốn đầu tư nước ngoài hoàn lại tiền thuế của 40 phần trăm lợi nhuận được tái đầu

tư để tăng vốn của công ty hoặc khởi động một công ty Tuy nhiên, Lợi nhuận phảiđược tái đầu tư cho ít nhất năm năm

Ưu đãi cho hành vi tái đầu tư đặc biệt,

Các nhà đầu tư tái đầu tư xây dựng ở một số lĩnh vực đặc biệt như mở rộng

xí nghiệp có kỹ thuật tiên tiến,mở rộng xí nghiệp xuất khẩu sản phẩm hoặc đầu tưcho các hạng mục xây dựng cơ bản và mở mang nông nghiệp trong đặc khu kinh

tế Hải Nam thì có thể được trả lại toàn bộ số thuế thu nhập đối với phần vốn táiđầu tư

 Cải thiện môi trường đầu tư “cứng”

Cơ sở hạ tầng hiện đại, thuận tiện cho việc buôn bán và giao lưu quốc tế luôn

là yếu tố quan trọng hấp dẫn các nhà đầu tư Chính vì vậy, Trung Quốc đã chủđộng bỏ vốn ra xây dựng cải tạo đường xá, bến bãi, kho tàng, cảng nước sâu, sânbay, hệ thống thông tin

Điển hình là kinh nghiệm xây dựng cơ sở hạ tầng ở các đặc khu kinh tếTrung Quốc rất đáng được học tập

c) Đa dạng hóa các hình thức đầu tư và chủ đầu tư

Trung Quốc khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tới Trung Quốc thànhlập các doanh nghiệp “ba vốn” là chủ yếu:

Doanh nghiệp chung vốn kinh doanh (còn gọi là doanh nghiệp liên doanh):

doanh nghiệp hợp doanh kiểu cổ phần, là phương thức chủ yếu để thu hút đầu tưnước ngoài

Trang 20

Doanh nghiệp hợp tác kinh doanh: Là doanh nghiệp kiểu hợp đồng, chủ đầu

tư nước ngoài cung cấp tiền vốn, thiết bị kỹ thuật, phái Trung Quốc cung cấp tiềnvốn, địa điểm, nhà xưởng hiện có, cơ sở trang thiết bị, sức lao động và các dịch vụlao động… Hai bên cùng nhau hợp tác hoạt động hoặc cùng hợp tác sản xuấtkinh doanh

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp mà toàn bộ vốn do

chủ đầu tư nước ngoài đầu tư, xây dựng ở Trung Quốc theo luật pháp hữu quancủa Trung Quốc

Ngoài ba hình thức chủ yếu trên,ở Trung Quốc còn có các hình thức đầu tư

và phương thức tổ chức thu hút đầu tư khác Ví dụ, hình thức công ty Cổ phần cóvốn đầu tư nước ngoài, Chi nhánh công ty nước ngoài

d) Mở rộng các lĩnh vực đầu tư

Trung Quốc mở mới hoặc mở rộng một số lĩnh vực như tài chính, bảo hiểm,viễn thông, phân phối,… Nới lỏng một số những hạn chế đầu tư nước ngoài vàomột số lĩnh vực như thương mại, ngoại thương, xe hơi, hóa chất công nghiệp, một

số năng lượng, cơ sở hạ tầng và dự án phát triển tài nguyên, khoáng sản…

Về việc cho phép nhà đầu tư hoạt động trên thị trường tài chính: Trung Quốc

mở rộng các quy định về ngoại hối, vay ngoại tệ: Doanh nghiệp FDI được cấp giấychứng nhận quản lý ngoại hối, mở tài khoản ngoại tệ, vay vốn từ các ngân hàngTrung quốc nếu được bảo lãnh bởi các cổ đông nước ngoài Ngoài ra, nước nàycòn cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của doanh nghiệp nhànước như các ngân hàng(ngoại trừ các doanh nghiệp đặc biệt quan trọng đến kinh

tế và an ninh quốc gia)

e) Nâng cao vai trò của Chính phủ trong thu hút FDI

Năng lực quản lý của chính phủ có tác động lớn lên môi trường cạnh tranhcủa các nhà đầu tư Chính phủ Trung Quốc trong thời gian qua đã thể hiện tốt vaitrò của mình trong công cuộc thu hút FDI

1.5.1.2 Những bài học từ thất bại

Thành công trong chính sách thu hút FDI của Trung Quốc là không thể phủnhận Tuy nhiên, khi nghiên cứu kinh nghiệm thu hút FDI của Trung Quốc, tacũng cần nghiên cứu cả những mặt chưa thành công trong những chính sách đó đểrút ra những bài học cần thiết trong việc giảm thiểu những mặt trái của FDI đốivới nước nhận đầu tư

a) Hoạt động quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài còn nhiều bất cập, cần rút kinh nghiệm

Trang 21

Trong hoạt động thu hút FDI ở Trung Quốc, ta thấy Trung Quốc đã mạnhdạn thực hiện việc phân cấp quản lý cho các địa phương Đây là một việc làm tốt

và đã tạo ra không ít thành công cho Trung Quốc, song cũng chính điều này cũng

đã gây ra nhiều bất cập Đó là việc các địa phương đã đua nhau vượt quyền hạncủa mình, tự đề ra chính sách miễn giảm thuế, tranh giành thu hút đầu tư Nhiềuđịa phương cho phép nhà đầu tư nước ngoài rào đất với số lượng lớn trong tìnhtrạng không xác định dự án Thậm chí có nơi cho phép thương gia nước ngoài tựđặt địa điểm nhà máy, tự ý rào đất, không chịu sự giám sát, đôn đốc và hạn chếcủa địa phương Hiện tượng lãng phí đất đã gây tổn thất rất lớn cho Trung Quốc.Không chỉ vậy, chính quyền nhiều địa phương còn tự tiện xây dựng khu khai phátkinh tế, thường rập khuôn theo chế độ miễn giảm thuế cho các đặc khu và các khukhai phát kinh tế được Quốc vụ viện phê chuẩn đồng thời làm ảnh hưởng xấu tớithuế của cả địa phương và trung ương, gây tâm lý không tốt cho nhà đầu tư nướcngoài

Cũng do các địa phương đua nhau thu hút đầu tư, chỉ quan tâm tới lợi íchtrước mắt, nên họ thường đánh giá qua loa, đại khái đối với việc thu hút dự án,không cân nhắc kỹ lưỡng những lợi ích lâu dài và năng lực vốn đồng bộ của TrungQuốc Điều này dẫn đến tình trạng khi liên doanh cần mở rộng, phía Trung Quốcthường thiếu tiền đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài phải bỏ thêm vốn, làm thu hẹp dần

số cổ phần của phía Trung Quốc Thậm chí ngày càng có nhiều nhà đầu tư nướcngoài mua lại cổ phần của các đối tác Trung Quốc, khiến cho nhiều công ty lớn códanh tiếng của Trung Quốc chỉ trong một thời gian ngắn đã bị công ty nước ngoàiđánh bại hay hợp nhất

Trong quá trình thu hút FDI, do tình trạng lãnh đạo nhiều đầu, quản lý phântán ở mức độ khác nhau, chức trách không rõ ràng, các doanh nghiệp của thươnggia nước ngoài đã lọt qua khe hở luật pháp, không kinh doanh chính đáng như:trốn thuế, giả góp vốn Những thủ đoạn chủ yếu mà các doanh nghiệp này thườngdùng là:

- Chuyển thiết bị thành cổ phần, nâng cao giá Do nâng giá, tài sản cố địnhcủa doanh nghiệp tăng, tăng giá trị khấu hao lên, giảm thuế, trong khi đó, các nhàđầu tư nước ngoài dùng một khoản đầu tư tương đối thấp để thu được một khoảnlợi nhuận tương đối lớn

- Chuyển đầu tư thành cho vay, chỉ ngồi mà thu lợi bất chính Do vốn và lãicủa khoản cho vay được tính trước khi nộp thuế, lợi nhuận đầu tư lại tính sau khinộp thuế, nhà đầu tư nước ngoài sau khi chuyển đầu tư thành cho vay, tăng giáthành doanh nghiệp, từ đó đạt mục đích là giảm thuế phải nộp

Trang 22

- Nhập cao xuất thấp, chuyển dịch lợi nhuận Một số doanh nghiệp nướcngoài khi nhập khẩu báo giá cao nhưng khi xuất khẩu lại báo giá thấp, từ đó làmtăng giá thành doanh nghiệp, giảm mức thuế phải nộp Một số công ty xuyên quốcgia dùng thủ đoạn này để chuyển thuế ra nước ngoài Ngoài ra, có một số doanh

nghiệp “ba vốn” câu kết với các doanh nghiệp của nước ngoài để thực hiện thủ

đoạn này

- Làm lẫn lộn tiền thuế hàng tiêu thụ trong và ngoài nước, trốn thuế giá trịgia tăng Do thu nhập từ tiêu thụ bên ngoài không phải nộp thuế giá trị gia tăng,nên luật thuế của Trung Quốc quy định: các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài trực tiếp xuất khẩu hàng hoá do mình sản xuất, thì phần thuế của nguyên vậtliệu mua ở trong nước phải chịu sẽ không được thoái thuế, cũng không được trừ

vào các khoản thuế tiêu thụ trong nước Có doanh nghiệp “ba vốn” đã cố ý làm

lẫn lộn giữa hai loại thuế tiêu thụ trong và ngoài nước, nhờ đó trốn thuế giá trị giatăng

- Hợp tác liên doanh trên danh nghĩa để giành được những chính sách ưuđãi Doanh nghiệp nước ngoài cung cấp tiền đầu tư danh nghĩa nhưng không xuấtvốn thực tế đồng thời dựa vào đó để nhận tiền phí thủ tục và cổ phần tham gia;hoặc thông qua nhiều hình thức để chuyển tiền trong nước ra nước ngoài, sau đó,lại lấy danh nghĩa công ty nước ngoài quay lại đầu tư (round-tripping FDI), hoặcdùng những báo cáo kiểm tra vốn đầu tư giả hoặc chứng nhận giấy tờ thu tiền ngânhàng giả để xin giấy phép kinh doanh nhằm giành được những chính sách ưu đãi

Hiện tượng này được gọi là “chung vốn giả”.

- Thủ đoạn trốn thuế bằng cách biến mua thành gia công Theo quy định,các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài không được trực tiếp nhập vậtliệu từ nước ngoài, đồng thời phí gia công vật liệu từ nước ngoài của các doanhnghiệp 100% vốn phải nộp thuế giá trị gia tăng Nhưng khá nhiều doanh nghiệp100% vốn trên thực tế nhập vật liệu để gia công nhưng lại báo hải quan là nhập vậtliệu để sản xuất nhằm lừa đảo lấy quyền kinh doanh, trốn thuế

Cũng do tình trạng quản lý nhà nước còn sơ hở mà có một số doanh nghiệp

“ba vốn” đã vi phạm những quy định của Trung Quốc, trừ lương của phía công

nhân Trung Quốc, không cung cấp bảo hiểm xã hội như tiền dưỡng lão, thấtnghiệp cho nhân viên phía Trung Quốc, thiếu các biện pháp an toàn sản xuất, thậmchí tuỳ tiện phạt, làm nhục nhân viên phía Trung Quốc, xâm phạm nghiêm trọngquyền con người cơ bản

b) Trong thu hút FDI, tài sản nhà nước bị thất thoát nghiêm trọng

Trong quá trình đánh giá lại tài sản để xác định giá trị cổ phần của cổ đông,các nhà đầu tư nước ngoài thường đánh giá thấp tài sản của Trung Quốc, đánh giá

Trang 23

cao đối với tài sản của họ Nguyên nhân là do nắm quyền điều tiết cổ phần, cácnhà đầu tư nước ngoài khi nhập khẩu nguyên vật liệu và thiết bị, máy móc họthường báo giá cao, ngược lại khi xuất khẩu thành phẩm, bán thành phẩm họ lại

báo giá thấp Hiện tượng “một cao, một thấp” này có thể làm cho các thương gia

nước ngoài dễ dàng biến lợi nhuận của doanh nghiệp thành của riêng mình vàchuyển dời ra bên ngoài, còn doanh nghiệp Trung Quốc bị thua lỗ: Kỹ thuật thuộctài sản vô hình, tính so sánh thấp, nên việc đánh giá càng khó khăn Tài sản vôhình như loại sản phẩm, nhãn mác, kỹ thuật, mạng lưới thị trường, chế độ quốc tế,đội ngũ công nhân lành nghề đã không được đánh giá đầy đủ, do vậy, tài sản củaTrung Quốc bị thất thoát nghiêm trọng

c) Chưa có chính sách thích hợp để bảo hộ thị trường trong nước

Với phương châm “Lấy thị trường đổi lấy kỹ thuật”, “Lấy thị trường đổi lấy vốn”, “Lấy thị trường để phát triển”, Trung Quốc đã cho thi hành chính sách quy

định tỷ lệ tiêu thụ trong nước và ngoài nước về sản phẩm của doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài Tuy nhiên, hiện nay đã xuất hiện tình hình sản phẩm của một

số doanh nghiệp tiền vốn bên ngoài, đặc biệt là những sản phẩm công nghiệp nhẹtiêu dùng hàng ngày tiêu thụ ngày càng nhiều trên thị trường Trung Quốc Việcsản phẩm của doanh nghiệp vốn nước ngoài nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị trườngkhiến cho một số doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được, buộc phải rút

ra khỏi lĩnh vực sản xuất cũ, hoặc giảm bớt thị phần Công nhân viên chức trongcác doanh nghiệp này bị thất nghiệp, mức sống bị hạ thấp

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nước ngoài thường lợi dụng những nhượcđiểm của phía Trung Quốc như thiếu kinh nghiệm, tài sản vô hình ít để dùng nhiềuthủ đoạn, ép giá tài sản của phía Trung Quốc, nhất là giá trị tài sản vô hình trongquá trình hợp tác liên doanh, khiến cho lợi ích của các ngành sản xuất dân tộc bịxâm hại nghiêm trọng Thậm chí, có một số doanh nghiệp nước ngoài sau một thờigian dài thăm dò thị trường, mua lại nhãn hiệu hàng hoá dân tộc với giá rẻ rồi xếp

xó, cố ý đào thải các nhãn hiệu hàng hoá dân tộc, từng bước đẩy các nhãn hiệuhàng hoá dân tộc ra khỏi thị trường

d) Các nhà đầu tư nước ngoài khống chế kỹ thuật trong doanh nghiệp liên doanh

Do quyền khống chế cổ phần nên các nhà đầu tư đã khống chế phươnghướng kinh doanh của doanh nghiệp TNCs thường hướng sự phát triển của doanhnghiệp theo yêu cầu của công ty mẹ, tiến hành kinh doanh không biên giới Doanhnghiệp liên doanh chỉ là một bộ phận trong mạng lưới chiến lược toàn cầu của họ

và chỉ là một xưởng sản xuất sản phẩm trung gian Các nhà đầu tư thường giảmđầu tư cho nghiên cứu, phát triển (R&D), làm yếu đi sức sáng tạo của các doanh

Trang 24

nghiệp Trung Quốc Không chỉ vậy, họ còn có điều kiện chuyển giao kỹ thuật tiêntiến hiện có hoặc đã phát triển của doanh nghiệp liên doanh đi nơi khác Các nhàđầu tư còn hạn chế chuyển giao những kỹ thuật tiên tiến cho Trung Quốc, khốngchế kỹ thuật của doanh nghiệp liên doanh, hạn chế khả năng học tập kỹ thuật củaphía Trung Quốc khiến cho Trung Quốc không có cách nào đạt được mục đích cảitiến kỹ thuật Đa số những kỹ thuật do FDI mang lại chỉ phù hợp với nhu cầuTrung Quốc, mà không có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Các sản phẩmxuất khẩu được chủ yếu là do giá rẻ, tỷ giá hối đoái thấp.

Ở các ngành chế tạo đồ điện, máy móc, thiết bị điện tử thông tin, chế tạonguyên liệu hoá học, sản phẩm hoá học, sản xuất ô tô, xe máy tuy FDI có manglại kỹ thuật nhưng phía nước ngoài quản lý rất chặt và rất ít chuyển nhượng kỹthuật Chẳng hạn, nhà máy liên doanh sản xuất ô tô số 2 Thần Long không chonhân viên kỹ thuật Trung Quốc xem dù chỉ là một bản vẽ linh kiện đơn giản Ởđây, mục đích của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các công ty xuyên quốcgia hùn vốn bằng kỹ thuật không phải để cạnh tranh trên thị trường quốc tế mànhằm chiếm lĩnh thị trường Trung Quốc với lợi nhuận khổng lồ của thị trườngnày Do vậy, nếu để Trung Quốc nắm được kỹ thuật thì họ không còn thị trường tolớn này nữa Vì vậy, sau hơn 20 năm mở cửa, Trung Quốc tạo ra được rất ít ngànhnghề mũi nhọn có khả năng đứng vững trên thị trường quốc tế

e) Chưa thực sự coi trọng chất lượng của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong quá trình thu hút FDI, đã có thời gian Trung Quốc chỉ tập trung về sốlượng FDI mà không quan tâm đến chất lượng của nó Điều này gây không ít ảnhhưởng bất lợi cho nền kinh tế trên nhiều mặt, trong đó đáng chú ý là:

- Kết cấu ngành nghề không hợp lý, mất cân đối nghiêm trọng Trong 3ngành lớn của nền kinh tế quốc dân, đầu tư vào nông nghiệp chiếm tỷ trọng rấtnhỏ, trong khi các ngành khác chiếm tỷ trọng rất cao Hơn thế nữa, trong côngnghiệp, vốn đầu tư chủ yếu lại tập trung vào các ngành công nghiệp gia công, chếtạo như may mặc, giầy dép, điện tử sơ cấp Đã có lúc, đầu tư nước ngoài vàonhững ngành này đạt đến độ bão hoà Trong nhiều năm thu hút FDI theo hướngnhư vậy và đặc biệt là tỷ trọng vào ngành công nghiệp luôn cao song Trung Quốcchưa hề tạo ra một ngành công nghiệp mũi nhọn có khả năng đứng vững trên thịtrường quốc tế Về mặt này, Hàn Quốc thành công hơn Trung Quốc rất nhiều.Cũng bằng việc lợi dụng vốn đầu tư nước ngoài, Hàn Quốc đã tạo ra những ngànhcông nghiệp mũi nhọn có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế như ngành côngnghiệp ô tô, điện tử

- Ô nhiễm môi trường sinh thái Đây chính là hậu quả trực tiếp của việc coinhẹ vấn đề bảo vệ môi trường Trong nhiều năm thu hút FDI, Trung Quốc đã tiếp

Trang 25

nhận nhiều hạng mục gây ô nhiễm môi trường sinh thái Các hạng mục gây ônhiễm chủ yếu là các ngành nhựa, cao su, ngành công nghiệp hoá chất (sơn dầu,thuốc sâu, thuốc tẩy ), in nhuộm, làm sạch, mạ điện, chế tạo giấy, đồ hoá trang,chế biến thuốc, khoáng sản, năng lượng Các hạng mục này chủ yếu do các nhàđầu tư của Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao đầu tư vào Việc tiếp nhận các hạngmục gây ô nhiễm môi trường là một trong những biểu hiện xây dựng xí nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài theo đuổi số lượng, không coi trọng chất lượng ở TrungQuốc

1.5.2 Những bài học thu hút FDI từ Malaysia

1.5.2.1 Thành công

Trong các nước đang phát triển, Malaysia được đánh giá là nước thành côngtrong thu hút FDI để thực hiện công nghiệp hóa Từ một nước nông nghiệp lạchậu, đa sắc tộc, tích luỹ nội địa thấp, Malaysia luôn coi trọng nguồn vốn FDI đốivới sự phát triển nền kinh tế đất nước vì coi đây là yếu tố then chốt đẻ thực thiệncông nghiệp hóa Do quan điểm như vậy, Malaysia đã luôn tích cực cải thiện môitrường đầu tư của mình để thu hút đầu tư nước ngoài Nhờ đó, dòng FDI đổ vàoMalaysia ngày càng tăng và đã đóng góp to lớn tạo ra sự tăng trưởng “thần kỳ” cảnền kinh tế nước này trong nhiều năm qua Chính vì thế, chúng tôi cũng mongmuốn được tìm hiểu về các giải pháp thu hút vốn nước ngoài từ nền kinh tế này

+ Hoàn thiện cơ chế chính sách ngày càng đồng bộ, ổn định, linh hoạt

Ngoài tính ổn định, minh bạch, chính sách thu hút FDI của Malayxia cũng thể hiệntính linh hoạt, kịp thời bổ sung, điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn trongnước và quốc tế Malayxia đã sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài với nhiều quy định hấpdẫn hơn, nhất là việc nới lỏng tỷ lệ sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài

Chính sách thu hút FDI đã hướng vào một số lĩnh vực ưu tiên như côngnghiệp chế tạo; tài chính ngân hàng; bất động sản cũng góp phần tạo lập cơ cấungành kinh tế năng động hơn, hiệu quả hơn Trong khu vực công nghiệp chế tạo,

cơ cấu FDI cũng có sự thay đổi rõ rệt theo xu hướng tăng nhanh vào những ngànhcông nghiệp có quy mô vốn lớn và sử dụng công nghệ cao như ngành điện, điện

tử, đo lường, hóa chất, viễn thông nhưng lại giảm đáng kể trong các ngànhtruyền thống, sử dụng nhiều lao động như thực phẩm, thuốc lá, đồ uống, đồ gỗ

+ Thu hút đầu tư theo cơ cấu nghành

Trước bối cảnh hết sức khó khăn do phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ cuộckhủng hoảng, vốn nước ngoài ngắn hạn ồ ạt rút ra khỏi đất nước và dòng FDI chảyvào giảm sút mạnh, buộc Malayxia phải có những điều chỉnh chính sách phát triển kinh

Trang 26

tế - xã hội nói chung, chính sách thu hút FDI nói riêng Xu hướng chung của việc điềuchỉnh là mở cửa, tự do hóa và thông thoáng hơn; chuyển từ ngăn cấm trước đây sangcho phép có giới hạn hoặc cho phép và tự do hóa hoàn toàn Trong khi dòng FDI thếgiới có nhiều biến động và giảm sút mạnh, dòng FDI vào các nước khu vực ASEAN,trong đó có Malayxia cũng giảm theo, chưa kể lại vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ một

số thị trường mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ và các nước trong khu vực, nhưng nhờ

có những điều chỉnh chính sách kịp thời và hiệu quả, sự ổn định về môi trường chính trị

-xã hội nên Malayxia vẫn được coi là điểm đến hấp dẫn của FDI Theo đánh giá củaUNCTAD, Malayxia lọt vào Top 10 nước thu hút FDI nhiều nhất năm 2002 trong sốcác nước đang phát triển

+ Ưu đãi theo ngành và lĩnh vực đầu tư:

Trong nội bộ các ngành kinh tế, cơ cấu nguồn FDI đầu tư vào từng ngành cũngthuận chiều với những thay đổi về cơ cấu sản phẩm theo hướng gia tăng sản phẩm cógiá trị cao và phục vụ xuất khẩu Xu hướng chung là tiếp tục tăng nhanh vào cácngành có công nghệ, kỹ thuật cao, nhất là công nghiệp điện và điện tử Chính sáchđiều chỉnh cơ cấu kinh tế và định hướng thu hút FDI vào các ngành kinh tế đã làmcho cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Malaixia chuyển mạnh sang các sản phẩm thuộccông nghiệp chế tạo, nhất là các mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao

Doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất còn được hưởng một số ưuđãi đặc thù theo ngành như: (i) Ưu đãi dành cho việc chuyển các hoạt động sảnxuất vào địa bàn ưu đãi đầu tư; (ii) Ưu đãi dành cho doanh nghiệp công nghệ cao;(iii) Ưu đãi dành cho các dự án chiến lược có tầm quan trọng quốc gia; (iv) Ưu đãicho doanh nghiệp vừa và nhỏ; (v) Ưu đãi đối với các dự án có tính chất liên kếtcông nghiệp; (vi) Ưu đãi cho công nghiệp sản xuất máy móc và thiết bị; (vi) Ưuđãi dành cho công nghiệp chế biến vùng cọ nguyên liệu Ngoài ra, còn có một số

ưu đãi khác dành cho lĩnh vực sản xuất như hỗ trợ tái đầu tư, hỗ trợ mua sắm trangthiết bị để duy trì chất lượng nguồn điện (nhằm giảm chi phí sản xuất cho doanhnghiệp do sự cố mất điện gây ra)

+ Ưu đãi thuế

Ưu đãi thuế dành cho lĩnh vực sản xuất gồm 2 loại: ưu đãi dành cho doanhnghiệp đi tiên phong (Pioneer Status: PS) và hỗ trợ cho hoạt động đầu tư(Investment Tax Allowance: ITA) Các ưu đãi này được cấp cho doanh nghiệptrên cơ sở giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất, công nghệ áp dụng, hay mức độ

Trang 27

liên kết công nghiệp mà dự án đầu tư đem lại Các dự án được hưởng ưu đãi đượccoi là các hoạt động hay sản phẩm khuyến khích đầu tư Doanh nghiệp đạt các tiêuchuẩn của doanh nghiệp đi tiên phong sẽ được giảm thuế TNDN trong vòng 5năm, theo đó, doanh nghiệp chỉ phải nộp 30% số thu nhập chịu thuế bắt đầu từngày đi vào sản xuất (Production Day), ngày mà số lượng sản phẩm đạt ít nhất30% công suất

+ Ưu đãi đầu tư theo các loại hình khu công nghiệp

Theo các văn bản pháp lý của Malaysia, có 3 loại hình khu công nghiệp tậptrung tại quốc gia này bao gồm: khu công nghiệp (industrial estate), khu tự do(free zone) và khu công nghiệp tự do (free industrial zone)

Hiện tại, trên toàn lãnh thổ Malaysia có trên 200 khu công nghiệp tập trung

do các cơ quan của chính phủ xây dựng bao gồm: các Tập đoàn phát triển kinh tếcủa từng bang (State Economic Development Corporations), Cơ quan phát triểnvùng (Regional Development Authorities), chính quyền địa phương và các thànhphố cảng Bên cạnh đó, nhiều khu công nghiệp vẫn tiếp tục được quy hoạch nhằmđáp ứng nhu cầu về đất công nghiệp ngày càng gia tăng Bên cạnh các cơ quan củaChính phủ, các công ty hạ tầng tư nhân cũng được phép xây dựng các khu côngnghiệp tại nhiều Bang

Gần đây, Chính phủ Malaysia đã công bố dự án lớn với tên gọi là Hành langkinh tế miền Bắc hướng tới tầm nhìn 2020 Dự án với số vốn đầu tư ban đầu 177

tỷ ringhit (51,2 tỷ USD) nhằm mục đích trong vòng 18 năm biến một vùng đấtthuần nông thành một hành lang kinh tế với các lĩnh vực sinh học, chế biến thựcphẩm và du lịch Dự án Hành lang kinh tế miền Bắc là biến bốn bang nằm giápThái Lan gồm Penang, Perak, Pelit và Keda thành một khu vực kinh tế đa năng.Bốn bang này có số dân khoảng 4,3 triệu người, chủ yếu là người Mã-lai có thunhập bình quân 717 USD/hộ gia đình, được coi là thấp nhất trong sáu khu vực của

cả nước

+ Ổn định và mở cửa thị trường tài chính

Gần đây, Chính Phủ Malayxia đã công bố các biện pháp mở cửa ngành ngânhàng, tài chính, bảo hiểm Cụ thể, tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài tại cáccông ty bảo hiểm, ngân hàng Hồi giáo và ngân hàng đầu tư được nâng lên 70% từ49% trước đây Ngoài ra, thông qua các biện pháp ổn định khu vực tài chính - tiền tệ,

hệ thống ngân hàng đã được cải tổ, các khoản nợ xấu đã được xử lý, qua đó làm cho các

Trang 28

cơ sở sản xuất trong nước từng bước nâng cao năng lực sản xuất và khả năng tham giavào mạng lưới sản xuất toàn cầu có ý nghĩa trong việc góp phần tạo khả năng cạnhtranh của cả nền kinh tế, và thực tế năng lực cạnh tranh của Malayxia trong những nămqua được đánh giá tăng lên.

Hướng tới tầm nhìn 2020, những dự án phát triển của Malaysia tiếp tục hấpdẫn các nhà đầu tư Các lợi thế trong việc thu hút vốn đầu tư của Malaysia chủ yếutập trung vào: xây dựng hệ thống chính trị ổn định và đoàn kết dân tộc; hệ thốnggiáo dục vững mạnh; hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại; có kế hoạch phát triển kinh

tế ngắn hạn và dài hạn với mục tiêu rõ ràng; và có chương trình khuyến khích đầu

tư tích cực cho cả người đầu tư trong và ngoài nước

1.5.2.2 Hạn chế-Thất bại

 Quan điểm bảo thủ về việc nhận đầu tư nước ngoài

Với quan điểm bảo vệ quyền lợi dân tộc, giữ ổn định chính trị xã hội, thúcđẩy đầu tư nội địa, ngay từ những năm 1970, chính sách Kinh tế mới (NEP) củaMalaixia với việc quy định tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệpliên doanh phải giảm xuống 30% vào năm 1990 đã làm cho một số nhà đầu tư nướcngoài hạn chế đầu tư, thậm chí rút vốn ra khỏi Malaixia Hơn nữa, xét về điều kiên tíchlũy nội địa về vốn, công nghệ, kinh nghiệm của doanh nghiệp bản địa còn nhiều hạnchế thì các biện pháp này rõ ràng là thiếu tính thực tế

Trong giai đoạn này, Malaixia vẫn chưa khắc phục được việc quá ưu đãi vớicác nhà đầu tư bản địa Trong hợp tác đầu tư, mặc dầu Malayxia đã nhiều lần điềuchỉnh, nới lỏng các quy định này, nhưng vẫn còn một số lĩnh vực chưa hoàn toàn

tự do hóa, chẳng hạn vẫn còn quy định các công ty mà người lãnh đạo không phải

là người bản địa sẽ không được tham gia đấu thầu các dự án nhà nước Việc nớilỏng tỷ lệ sở hữu đối với người nước ngoài cũng vẫn chưa thực sự thông thoángtrên tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế nên phần nào cũng còn ảnh hưởng đến sứchấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài

 Sự mất cân đối trong các vùng, nghành

Sự thay đổi trong chính sách ưu đãi đầu tư có lựa chọn của Malaixia như việcmiễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm chỉ áp dụng đối với các ngành kỹ thuậtcao, còn một số ngành khác lại hạn chế; bên cạnh đó là việc tiền lương tăng cao do khan

Trang 29

hiếm lao động, đặc biệt là lao động có trình độ cao cũng là nguyên nhân làm cho dòngFDI chảy vào đây giảm mạnh trong thời kỳ cuối thập niên 80, đầu thập niên 90

Một hạn chế khác trong sự phát triển của nền kinh tế Malayxia chủ yếu dựavào xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chế tạo như là ngành điện và điện tử vớinhững đối tác chính là Mỹ, Nhật Bản… đã làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tếvào thị trường bên ngoài Do vậy, khi nền kinh tế các nước đối tác có biến động haysuy thoái sẽ có những tác động xấu tới sự phát triển chung của nền kinh tế Malayxia

Trong quá trình thu hút FDI, Malayxia cũng luôn phải đứng trước tình trạng

"tiến thoái lưỡng nan" khi giải quyết vấn đề tỷ trọng giá trị nhập khẩu cao so vớigiá trị xuất khẩu Nếu hạn chế nhập khẩu thì các công ty FDI không đủ nguyênliệu đầu vào để sản xuất hàng xuất khẩu khi trong nước chưa đáp ứng được yêucầu nguyên liệu đầu vào của các công ty này Hành động này sẽ làm hạn chế xuấtkhẩu và không khuyến khích được FDI Ngược lại, nếu đẩy mạnh xuất khẩu chủyếu dựa vào tăng nhập khẩu thì phần giá trị gia tăng sẽ thấp và không mở rộngđược các liên kết với các công ty nội địa Tuy nhiên, những năm gần đây, Malaiyia

đã có những nỗ lực nâng cao khả năng khoa học và công nghệ trong nước để pháttriển một số ngành công nghiệp nội địa nhằm cung cấp nguyên liệu và dịch vụ chocác công ty nước ngoài Điều đó đã làm giảm bớt những hạn chế nêu trên và gópphần cải thiện tính cân đối trong cán cân thương mại quốc tế

 Vấn đề môi trường chưa được quan tâm đúng mức

Vấn đề bảo vệ môi trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững đặt ra chomọi quốc gia trên thế giới trước tình trạng ô nhiễm môi sinh, môi trường đang diễn

ra tới mức báo động Thực tế trong quá trình giải quyết vấn đề này, Malayxia luôn phảiđứng trước sự lựa chọn giữa bảo vệ môi trường và tính hấp dẫn của các khuyến khíchđầu tư nước ngoài Vì thế, trong thời gian qua Malayxia đã có những quy định chặt chẽhơn về bảo vệ môi trường, nhưng cũng chưa thật triệt để, kiên quyết và còn phải cónhiều thời gian hơn nữa mới hy vọng giải quyết được

Trong việc thu hút FDI, các chính sách này cũng chưa chú trọng đến vấn đề bảo vệmôi trường Do đó cân nhắc trong việc bảo vệ môi trường và tạo lập điều kiện thuận lợithu hút FDI là một thách thức đặt ra cho nước này

Trang 30

1.5.3 Indonexia

1.5.3.1 Thành công

Là một nước công nghiệp, tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng lại thiếuvốn để khai thác, do đó đường lối phát triể kinh tế của nước này cũng phải đưa vàonguồn vốn nước ngoài Năm 1991, nợ nứoc ngoài của nước này đã lên đến 57,5 tỷUSD Luật đầu tư nước ngoài ra đời năm 1967, trong đó điều đáng chú ý là:

Thời gian hoạt động của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài có thể lênđến 30 năm;

Khuyến khích hình thức liên doanh, trong đó phần góp vốn của các chủ đầu

tư trong nước tối thiểu là 20% vốn pháp định vào thời điểm thành lập công ty vàtrong vòng 15 năm sau khi hoạt động được phép tăng vốn ít nhất tới 51%;

Được miễn thuế nhập khẩu và thuế doanh thu đối với hàng nhập khẩu dùngcho mục đích góp vốn đầu tư

Inđônêxia khuyến khích đầu tư vào các dự án xuất khẩu,tiết kiệm ngoạitệ,chế biến thành phẩm và bán thành phẩm, chuyển giao công nghệ, sử dụngchuyên gia và lao động Inđônêxia

 Về chính sách thuế:

Đối với thuế lợi tức,nếu công ty có mức lãi ròng 10 triẹu rupi trỏ xuống thìđánh thuế 15%, trên 10 triệu rupi thì đánh thuế 25%,và trên 50 triệu rupi thì dánhthuế 35%.Các khoản thu từ lãi suất cho vay, cho thuê, phí tài nguyên, phí kỹthuật,phí quản lí bị đánh thuế 15%trên doanh thu Không miễn giảm thuế doanhthu và thuế lợi tức

 Về chính sách thị trưòng: Gần đây để tạo môi trường cạnh tranh thuận

lợi, Inđônêxia cho phép mọi ngành công nghiệp trừ các ngành trong danh mục loạitrừ và trong kho ngoại quan, còn tự do trong thịo trường nội địa Inđônêxia còn dỡ

bỏ các hạn chếvà thuế đối với việc sử dụng người nước ngoài Gần đây, nhà nước

đã quy định bất kỳ người nước ngoài nào phải đóng thuế xuất cảnh thì được khấutrừ vào thuế thu nhập Về thủ tục hành chính:Inđônêxia thực hiện đơn giản hoá thủtục cấp giấy phép đầu tư, đặc biệt đầu tư vào công nghiệp

Trang 31

1.5.3.2 Thất bại

Các nhà đầu tư nước ngoài không muốn bỏ đầu tư vào Indonesia vì hệ thống

cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu hiệu quả và vấn nạn tham nhũng Trong khi đó,Indonesia sẽ giảm được tỉ lệ thất nghiệp nếu nước này có khả năng thu hút đầu tưnước ngoài

Ông Thee Kian Wee, chuyên gia kinh tế cao cấp thuộc Viện Khoa họcIndonesia cho biết, một trong những yếu tố hàng đầu kìm hãm đầu tư trực tiếpnước ngoài vào ngành công nghiệp sản xuất của Indonesia là do sự yếu kém của

hệ thống cơ sở hạ tầng Điều đó khiến cho việc bốc và dỡ hàng ở nước này tốnthời gian hơn rất nhiều so với Singapore hoặc Malaysia

Ngoài ra, sự yếu kém của môi trường chính sách đối với lĩnh vực đầu tư cũngnhư những trở ngại trong việc xin cấp phép đất đai khiến cho các nhà đầu tư khôngthể có được diện tích đất cần thiết để mở nhà máy Điều này đã khiến cho nhữngnhà đầu tư nước ngoài lớn, trong đó có Nhật Bản, không dám đầu tư vàoIndonesia Cho đến nay, Trung Quốc là nước duy nhất cung cấp viện trợ và đềnghị xây dựng một số nhà máy điện cho Indonesia

1.5.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 

1.5.4.1 Bài học về lợi ích

    FDI hình thành mối quan hệ giữa các lợi ích cơ bản: lợi ích đất nước vớilợi ích của nhà đầu tư nước ngoài; lợi ích Bên Việt Nam với lợi ích Bên nướcngoài; lợi ích người sử dụng lao động với lợi ích người lao động

 Quan hệ giữa lợi ích đất nước với lợi ích nhà đầu tư nước ngoài 

   Nước ta thu hút FDI nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của cácchiến lược phát triển; còn nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam chủ yếu nhằm mụcđích lợi nhuận Do vậy, trong bối cảnh đang diễn ra cuộc cạnh tranh thu hút FDIkhá gay gắt đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng thể chế, tạo môi trường đầu tư hấpdẫn để hài hòa được lợi ích đất nước với lợi ích nhà đầu tư thì mới có thể thu hútđược nhiều FDI

    Lợi ích đất nước đòi hỏi lợi ích ngành, địa phương, doanh nghiệp phảiphục vụ mà không được đối lập với nó Đáng tiếc là trong thực tế đã có nhận thức

và hành động tác động tiêu cực đến lợi ích dân tộc, như không chịu mở cữa thịtrường, muốn kéo dài tình trạng độc quyền, đề ra những điều kiện trái với luậtpháp Có thể dẫn ra một số ví dụ điển hình Tình trạng thiếu điện đã ảnh hưởngtiêu cực đối với hoạt động kinh tế và dân sinh, nhưng do giữ thế độc quyền nênTập đoàn điện lực không muốn thực hiện BOT đối với FDI các dự án điện năng,

Trang 32

mặc dù đó là phương thức đươc nhiều nước áp dụng Ngành bưu chính viễn thôngchủ trương không liên doanh và đầu tư 100% vốn nước ngoài trong dịch vụ viễnthông, nên đã hạn chế việc đáp ứng nhu cầu đang gia tăng nhanh chóng đối vớidịch vụ này Một số địa phương đề ra chủ trương ưu đãi thuế, tiền thuê đất cao hơnkhung pháp lý Nhiều doanh nghiệp gây sức ép và bằng một số kênh liên hệ đểChính phủ kéo dài chủ trương bảo hộ mậu dịch Tình trạng đó vừa trái với luậtpháp của Nhà nước, không phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta, vừa làmchậm quá trình chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

      Chính sách, luật pháp của Nhà nước phải được thực hiện thống nhấttrong cả nước Ngành và địa phương có thể vận dụng chính sách, luật pháp phùhợp với đặc điểm của mình, nhưng không thể vượt ra ngoài khung khổ mà Nhànước đã quy định

      Cần lưu ý rằng, nước ta có quyền ban hành chính sách và luật pháp thìcác nhà đầu tư có quyền lựa chọn quốc gia mà họ thực hiện dự án Trong trườnghợp lợi ích của họ hài hòa với lợi ích nước ta thì họ sẽ triển khai dự án; ngược lại,nếu chính sách, luật pháp không tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn thì họ khôngđầu tư, thậm chí chuyển nhà máy đang được vận hành sang nước khác

      Cũng cần nhận biết giới hạn đáp ứng lợi ích nhà đầu tư trong khi hìnhthành chính sách và luật pháp, để không làm tổn hại lợi ích dân tộc Giá bán ô tô ởnước ta là một điển hình về việc các nhà đầu tư đã được hưởng lợi quá nhiều vàquá dài do chính cách bảo hộ mậu dịch của Nhà nước, gây tổn hại đến lợi íchngười tiêu dùng và lợi ích đất nước

 Quan hệ giữa lợi ích Bên Việt Nam với lợi ích Bên nước ngoài

   Trong doanh nghiệp liên doanh giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam với nước

ngoài hình thành quan hệ lợi ích giữa hai bên Hoạt động cuả doanh nghiệp liêndoanh phụ thuộc rất lớn đến việc chia sẻ lợi ích giữa Bên nước ngoài với Bên ViệtNam; nếu hài hòa lợi ích thì thuận lợi, ngược lại khi có xung đột lợi ích thì gặpkhó khăn

     Trong thực tế đã xảy ra tình trạng giải thể trước thời hạn một số doanhnghiệp liên doanh mà Bên Việt Nam là tư nhân, nguyên nhân chủ yếu là mâuthuẩn về lợi ích do thiếu sự tin cậy lẫn nhau, thiếu thiện chí trong giải quyết tranhchấp

    Trong các liên doanh mà Bên Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước thì tìnhtrạng phổ biến là đại diện Bên Việt Nam không đủ năng lực, thiếu đấu tranh bảo

vệ lợi ích của doanh nghiệp mình; thường phó mặc cho người nước ngoài điềuhành kinh doanh, miễn là hàng tháng lĩnh những khoản tiền lương hậu hĩnh Đây

Trang 33

là vấn đề cần phải được giải quyết, nếu không muốn biến các liên doanh thành nơichỉ để làm giàu cho một vài cá nhân.

Quan hệ giữa lợi ích người sử dụng lao động với lợi ích người lao động

Các doanh nghiệp FDI phần lớn là của tư nhân, một số liên doanh là hỗn hợpgiữa tư nhân và nhà nước; do vậy quan hệ lao động chủ yếu là quan hệ chủ- thợthường nảy sinh mâu thuẩn lợi ích; chủ doanh nghiêp muốn tăng thời gian laođộng, trả lương vừa phải để thu lợi nhuận nhiều; người lao động đòi tăng lương,giảm giờ làm Mặc dù luật lao động đã quy định quyền lợi và nghĩa vụ của ngườilao động, việc giải quyết mâu thuẩn giữa chủ và thợ, kể cả đình công, bãi công,nhưng trên thực tế tồn tại hai vấn đề cần được lưu ý: 1) Người lao động thiếu hiểubiết luật pháp, chưa được tổ chức công đoàn hướng dẫn việc đấu tranh bảo vệquyền lợi chính đáng của họ, đồng thời  thực hiện nghĩa vụ lao động đối với doanhnghiệp; 2) Chủ doanh nghiệp thiếu tôn trọng luật pháp, chưa ứng xử phù hợp vớivăn hóa và tập quán người Việt Nam; không thực hiện đúng quy định của Chínhphủ về tiền lương, thời gian lao động và các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp đốivới người lao động

      Các phương tiện truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc đưa racông luận việc xâm phạm lợi ích của người lao động; nhưng cũng tránh từ những

vụ việc cá biệt quy thành vấn đề chính trị hay quan hệ giữa nước ta với các nướckhác  

1.5.4.2 Bài học về lợi thế so sánh

    Mỗi nước đều tìm cách khai thác tối đa lợi thế so sánh cuả đất nước để thuhút nhiều FDI Trong thế giới hiện đại, lợi thế so sánh đã biến đổi Tài nguyênthiên nhiên là một lợi thế, nhưng không còn đóng vai trò trọng yếu như thời kỳphát triển công nghiệp chủ yếu dựa vào tài nguyên và vốn Địa- chính trị vẩn làyếu tố quan trọng, nhưng cũng giảm bớt ảnh hưởng do cuộc cách mạng về viễnthông và giao thông vận tải đang làm cho thế giới “ thu nhỏ lại” Sau sự kiệnkhủng bố quốc tế 11/9/2001, vấn đề an ninh kinh tế, an toàn xã hội, ổn định chínhtrị nổi lên như là yếu tố hàng đầu Chi phí lao động vẩn được các nhà đầu tư quantâm, nhất là trong các dự án sử dụng nhiều lao động; nhưng năng suất lao độngmới là yếu tố quan trọng gắn với trình độ lành nghề, năng lực tiếp cận công nghệhiện đại của đội ngũ lao động được đào tạo có chất lượng với cơ cấu hợp lý

Trang 34

10 nhân tố hàng đầu thường được nhà đầu tư tính đến khi lựa chọn địa bàn đầu tư:

2) Môi trường chính trị và xã hội ổn định 64

4) Độ tin cậy và chất lượng cơ sở hạ tầng 50

5) Khả năng thuê chuyên viên có trình độ cao 39

( Nguồn: MYGA, Điều tra đầu tư trực tiếp nước ngoài, tháng 1/2002 )

Nước ta có tài nguyên đa dạng, trừ bốc xít thuộc loại giàu cuả thế giới, cáckhoáng sản khác có trử lượng không nhiều; hiện nay chỉ có dầu thô mỗi năm khaithác để xuất khẩu 15- 16 triệu tấn, đưa lại nguồn thu ngoại tệ 6-7 tỷ USD, nhưngkhó có thể tăng thêm, các tài nguyên khác chỉ đủ đáp ứng nhu cầu trong nước, do

vậy không có lợi thế về tài nguyên.      

Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, nước ta được đánh giá có lợi thế về laođộng dồi dào, chi phí thấp; nhưng hiện nay lại là nhược điểm lớn do trình độ taynghề thấp, cơ cấu lao động không hợp lý, ở những địa phương thu hút được nhiềuFDI như Đồng Nai, Bình Dương thì thiếu lao động có kỷ năng cao, khi có dự ánlớn trong ngành công nghệ thông tin thì thiếu hàng ngàn kỷ sư lành nghề

Hạ tầng kỷ thuật và kinh tế như đường giao thông, vận tải hàng không, hànghải, đường bộ, chất lượng cung ứng điện, cấp thoát nước, mạng lưới thông tin vàviễn thông, dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, công nghiệp phụ trợ…khôngđáp ứng kịp nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội cũng là nhược điểm lớn

Lợi thế nổi trội của nước ta hiện nay là sự ổn định về chính trị gắn với thểchế kinh tế, an ninh và an toàn xã hội được bảo đảm so với nhiều nước trong khuvực; tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập của người dân tăng lên nhanh chóng sắpvượt qua ngưỡng của nước có thu nhập thấp, dung lượng thị trường ngày càng lớncủa hơn 80 triệu người trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài

Để làn sóng FDI đang diễn ra hiện nay đưa lại những kết quả lớn hơn, nước

ta cần phát huy lợi thế về ổn định chính trị, an toàn xã hội, thị trường tiềm năng;đồng thời có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo để hình thành độingũ công nhân lành nghề, cán bộ kỷ thuật, chuyên viên kinh tế, nhà quản lý có

Trang 35

trình độ cao, xây dựng đồng bộ hạ tầng kỷ thuật và kinh tế đủ sức tiếp nhận nhiều

dự án FDI có quy mô lớn, phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa đất nước

Việc hình thành thể chế kinh tế trước hết cần hướng vào việc tự do hóathương mại và thị trường vốn để khơi các dòng chảy hàng hóa và dịch vụ, vốn đầutư; kích thích mở rộng thị trường trong nước và giao lưu quốc tế, đồng thời bảođảm sự bảo hộ hợp lý đối với hoạt động đầu tư và kinh doanh, bao gồm FDI.Việc theo đuổi chính sách khuyến khích FDI, đồng thời coi trọng chất lượngFDI là hai mặt có quan hệ hữu cơ của thể chế và chính sách của Việt Nam Giatăng về số lượng dự án và vốn FDI trong các ngành và lĩnh vực, trừ một số ngành,lĩnh vực có điều kiện hoặc cấm là nhiệm vụ có tính chiến lược, đồng thời bảo đảmchất lượng của FDI Trong điều kiện hoạt động đầu tư trong nước đang gia tăngnhanh chóng, thì việc lựa chọn dự án FDI cần bảo đảm hiệu quả kinh tế- xã hộitrong mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực

Các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các Tập đoàn kinh tế lớn đòi hỏi Chínhphủ Việt Nam phải có những cam kết rõ ràng như công khai và minh bách về luậtpháp, thực hiện quy định của WTO về đầu tư có liên quan đến thương mại, về xử

lý tranh chấp…và bảo đảm các cam kết đó được thực hiện trong cả quá trình đầu

tư và kinh doanh của họ

Từ khi Chính phủ phân cấp cho Chính quyền tỉnh, thành phố quyền hạn lớnhơn đối với FDI, bên cạnh mặt tích cực, đã xảy ra tình trạng mà các nhà kinh tế thếgiới gọi là “ cuộc chiến chào mời khuyến khích đầu tư”, tác động tiêu cực đếnphúc lợi xã hội của địa phương tiếp nhận FDI do những ưu đãi không cần thiết, chỉ

vì để cạnh tranh với địa phương lân cận

Trong điều kiện nước ta đã là thành viên WTO, thì Chính phủ cần hướng vàochính sách nâng cấp FDI; trong khi vẩn khuyến khích các nhà đầu tư vừa và nhỏ,cần khai thác thế mạnh của những Tập đoàn kinh tế nằm trong 500 doanh nghiệplớn nhất thế giới; trong khi vẩn quan tâm đến đầu tư từ các nước Châu Á, cần có

Trang 36

giải pháp để gia tăng nhanh chóng FDI từ các nước OECD, nhất là Mỹ, nước cóFDI đứng đầu thế giới và các nước lớn trong EU như Đức, Pháp, Anh.

Kinh nghiệm thực tế cũng đã chỉ ra rằng, ốn định chính sách FDI là đòi hỏi

chính đáng của nhà đầu tư Trong trường hợp Chính phủ thay đổi chính sách thìcần tạo thuận lợi cho họ; hết sức tránh gây ra tâm lý phản kháng vì làm thiệt hạilợi ích của nhà đầu tư như đã xảy ra trong lần sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài năm

1996 Trong trường hợp bất khả kháng, khi Chính phủ áp dụng chính sách không

có lợi cho họ thì cần thực hiện nguyên tắc “ không hồi tố”, hoặc bồi thường thiệthại cho nhà đầu tư do chính sách mới gây ra

1.5.4.4 Bài học về quản lý nhà nước

Cần đặt trọng tâm công tác quản lý nhà nước FDI vào hoạt động xúc tiến đầu

tư, bởi vì đây là công đoạn đầu tiên và quan trọng nhất để các nhà đầu tư nước

ngoài thực hiện dự án ở Việt Nam Tuy Bộ KH&ĐT đã lập ba Trung tâm xúc tiếnđầu tư; nhiều địa phương đã tổ chức các đoàn vận động, tổ chức hội thảo đầu tư ởtrong và ngoài nước; nhưng tình trạng phổ biến là kém hiệu quả

Hoạt động xúc tiến đầu tư phải đáp ứng được đòi hỏi của các nhà đầu tưnước ngoài, không phải chỉ là giải thích môi trường, luật pháp như trong thời kỳđầu, mà là các tư liệu cụ thể, chính xác tiềm năng kinh tế, nguồn nhân lực, dự ánphát triển, các quy định về đất đai, ưu đãi thuế, tình trạng giao thông, nguồn điện,cấp thoát nước, thông tin liên lạc, mặt bằng, điều kiện cư trú, đi lại, địa chỉ liên hệkhi cần thiết

Nhiều cơ quan và địa phương đã lập Website về FDI, nhưng đáng tiếc làthiếu những thông tin mà nhà đầu tư cần biết và thiếu cập nhật Đó là nhược điểmlớn cần được khắc phục bằng việc thành lập nhóm chuyên viên về Website, quảng

bá rộng rãi trên mạng Internet và tìm đến địa chỉ các nhà đầu tư đầy tiềm năng đểgiữ mối liên hệ thường xuyên

Cần cải tiến công tác thẩm định và cấp phép đầu tư; coi đây là thủ tục hành

chính đầu tiên đối với dự án FDI, các cơ quan nhà nước cần làm đúng chức năngcủa mình là hướng dẫn, hổ trợ nhà đầu tư để dự án được cấp phép nhanh chóng.Nhà đầu tư là người bỏ vốn, biết tính toán hiệu quả kinh tế; các cơ quan Nhà nướckhông nên và không thể làm thay họ được Hơn nữa trong kinh tế thị trường, một

dự án được cấp giấy phép chậm có thể không còn đủ điều kiện thực hiện, nên việcdành công sức quá nhiều cho công tác thẩm định sẽ trở nên vô ích

Chính quyền địa phương cần tập trung vào công tác chuẩn bị trước dự án đầu tư bao gồm mặt bằng đất đai đã được đền bù, giải tỏa, cung ứng điện nước,

đường giao thông, mạng thông tin, cổng Internet, nguồn nhân lực, khả năng phát

Trang 37

triển công nghiệp phụ trợ, dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán; đó là nhữngđiều kiện bảo đảm thành công khi triển khai thực hiện dự án FDI.

Cần nhanh chóng thực hiện “ Chính phủ điện tử” trong quản lý nhà nước

FDI Cục đầu tư nước ngoài, Sở KH&ĐT và Ban quản lý KCN đã có đủ điều kiện

xây dựng Trung tâm thông tin để thu thập và xử lý thông tin liên quan đến FDI, 

được nối mạng với các doanh nghiệp FDI và các cơ quan nhà nước, cập nhật luậtpháp mới, các quy định của địa phương, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp vàcác thông tin kinh tế- xã hội khác; từ đó các cơ quan nhà nước kịp thời nắm đượcthông tin để ra các quyết định về chủ trương, giải pháp xử lý vấn đề, tình huống cóhiệu quả

Làn sóng FDI thứ hai đang diễn ra ở nước ta với khối lương lớn hơn và chấtlượng cao hơn so với làn sóng đầu tiên vào giữa thập kỷ 90 Thời cơ là to lớn,nhưng nếu không biết chớp lấy thời cơ thì nó sẽ qua đi và thách thức trở nên gaycấn hơn

   Kỷ niệm 20 năm Quốc hội ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 

là dịp để từ những bài học kinh nghiệm trên đây đề ra các giải pháp đồng bộ, cóhiệu quả hơn theo hướng tiếp cận những chuẩn mực quốc tế tốt nhất, biến làn sóngFDI mới thành nguồn lực quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đưa nước ta về

cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020

* Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, lành mạnh hoá môi trường kinh tế

vĩ mô

Khi nhà đầu tư bỏ vốn ra kinh doanh thì ổn định kinh tế và chính trị là vấn đềquan tâm hàng đầu, đặc biệt là với những nền kinh tế mới chuyển đổi như ViệtNam và Trung Quốc Chính trị có ổn định thì đời sống kinh tế xã hội trong nướcmới có điều kiện phát triển

Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế theo hướng tích cực cũng là tiền đềcho việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của FDI Môi trường kinh tế vĩ

mô tốt cho đầu tư bao hàm sự lành mạnh về giá cả hàng hoá nguyên vật liệu, vềgiá trị đồng tiền và tỉ giá hối đoái, về hoạt động của hệ thống ngân hàng, thị trườngvốn, cơ chế tổ chức quản lý nền kinh tế

Một nền kinh tế thị trường thực sự phát triển, có hệ thống thị trường đồng bộ,một môi trường chính trị ổn định sẽ là một nhân tố tích cực đối với việc tạo dựngmôi trường đầu tư hấp dẫn tại Việt Nam, góp phần thu hút nhiều hơn vốn FDI từcác nước phát triển

* Nâng cao trình độ phát triển nguồn nhân lực

Đây là vấn đề có tính chất quyết định đến trình độ sản xuất và đến việc nhàđầu tư nước ngoài có quyết định đầu tư công nghệ cao vào Việt Nam hay không

Trang 38

Muốn thu hút được công nghệ cao thì trong nước phải có đội ngũ cán bộ, côngnhân có đủ điều kiện để vận hành nó Bên cạnh việc chú trọng đào tạo trong nước,Trung Quốc còn có chính sách thích hợp để thu hút nhân tài về Tổ quốc Vào cuốithập kỷ 70, Trung Quốc bắt đầu cho phép sinh viên du học nước ngoài với mongmuốn họ sẽ trở về hỗ trợ công cuộc hiện đại hoá đất nước Hơn 320.000 sinh viên

đã được đưa ra nước ngoài trong đó có gần một nửa được đưa sang Mỹ, nhưmgđến giữa thập kỷ 80, chỉ có khoảng 1/3 số họ trở về sau tốt nghiệp Trước tình hình

đó, Trung Quốc đã có nhiều biện pháp tích cực để khuyến khích lưu học sinh trở

về như: thành lập trung tâm dịch vụ sinh viên hồi hương năm 1991, cử hàng loạtquan chức sang Mỹ gặp gỡ và phổ biến những chính sách ưu đãi của chính phủcho sinh viên hải ngoại Nhờ những nỗ lực đó, trong 4 năm qua, tỷ lệ học sinh tốtnghiệp về nước đã tăng bình quân 13% mỗi năm Hầu hết các thành phố cuả miềnNam đến Đại Liên của miền Bắc đều cố gắng tạo ra môi trường làm việc tốt nhấtcho người lao động có tay nghề cao Các khu công nghệ cao đã được xây dựngtrong toàn quốc và đối tượng ưu tiên là những lưu học sinh và các nhà khoa họcnước ngoài Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chưa cao nên việc học tậpcác kinh nghiệm trên của Trung Quốc là rất cần thiết để tăng cường thu hút đầu tưnước ngoài

* Mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từng bước, theo khu vực.

Thực hiện tư tưởng của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã thực hiện mở cửadần từng bước theo liệu pháp "dò đá qua sông", dễ trước khó sau, tiến dần từngbước, giảm bớt rủi ro nên đã tránh được những va chạm xã hội lớn và sự phân hóahai cực quá nhanh như đã xảy ra ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu do thực hiện

"liệu pháp xốc"

* Phương pháp thu hút công nghệ tiên tiến của nước ngoài.

Phương châm "dùng thị trường đổi lấy công nghệ" của Trung Quốc là mộtcon dao hai lưỡi, bởi lẽ với phương châm này, trình độ kỹ thuật của Trung Quốcchỉ trong một thời gian ngắn đã có những bước tiến đáng kể so với các nước đangphát triển khác Tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt được, Trung Quốc cũng đã gặpphải những khó khăn hết sức to lớn Điều đó đòi hỏi phải có chính sách, bước điphù hợp để phát huy tốt mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong thu hút vốnĐTTT nước ngoài

* Về quản lý hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTTT nước ngoài

Phát triển công nghệ quốc gia cơ sở vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với cácCông ty xuyên quốc gia; làm tốc công tác kiểm tra, kiểm toán trong các doanhnghiệp có vốn ĐTTT nước ngoài, phấn đấu tăng tỷ lệ góp của đối tác thuộc quốcgia tiếp nhận đầu tư để hạn chế các thua thiệt trong đầu tư nước ngoài

Trang 39

2 Chương II: Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

2.1 Quy chế quản lí hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

2.1.1.1 Nghị định số 115/CP ngày 18/04/1977 ban hành điều lệ đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam

Để thực hiện được nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế xã hội, Đại hội

Đảng lần thứ 4 năm 1976 đã khẳng định “việc đẩy mạnh quan hệ phân chia và hợp tác song phương trong lĩnh vực kinh tế và phát triển các quan hệ kinh tế với các nước khác có một vai trò vô cùng quan trọng” (Báo cáo chính trị của Đại hội

Đảng lần thứ 4 năm 1976) Thực hiện chủ trương đúng đắn đó của Đảng, ngày18/4/1977, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/CP kèm theo Điều lệ đầu tưnước ngoài (sau đây gọi tắt là Điều lệ đầu tư năm 1977), một văn bản pháp quyriêng biệt nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoàitại Việt nam Văn bản pháp quy đầu tiên về đầu tư nước ngoài này, đã thể hiệnđường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, được các nhà đầu tư nước ngoài thời

kỳ đó đón nhận như một tín hiệu mở cửa của Việt nam

2.1.1.2 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987

Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được soạn thảo dựa trên nội dung cơ bảncủa Điều lệ đầu tư năm 1977, xuất phát từ thực tiễn Việt nam và tham khảo kinhnghiệm của các nước khác trên thế giới Với một nội dung tương đối hấp dẫn, cấutrúc đơn giản, đầy đủ và nhìn chung phù hợp với tập quán luật pháp Quốc tế, LuậtĐầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã đáp ứng được mong mỏi của cácnhà đầu tư nước ngoài Và khi kinh tế trong những giai đoạn khó khăn Luật Đầu

tư nước ngoài năm 1987 làm cầu nối vươn ra bên ngoài và cùng với những nhân

tố khác đưa vị thế của Việt nam nâng lên tầm cao mới

2.1.1.3 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1990

Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá 8 ngày 30/6/1990 đã thông qua Luật sửađổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam(sau đây gọi là

Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990) Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi

năm 1990 gồm 2 điều, đã sửa đổi và bổ sung 15 điều của Luật Đầu tư nước ngoài

Trang 40

năm 1987.

Với những sửa đổi, bổ sung như trên của Luật Đầu tư nước ngoài năm

1990 đã làm cho môi trường đầu tư nước ngoài của Việt nam trong nhưng năm

1990 càng thêm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Đồng thời thể hiện chính sách

"mở cửa" của Việt Nam trên cơ sở tạo hành lang pháp lý ngày càng rõ ràng vàhoàn thiện hơn Nhìn lại lịch sử, có thể nói những năm 90 là sự khởi đầu cho mộtgiai đoạn rất phát triển của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, có được sự chuyểnbiến mạnh mẽ như vậy, không thể phủ nhân vai trò của Luật Đầu tư nước ngoài vàcàng khẳng định chủ trương sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài năm 1990 làđúng đắn, tuy sự sửa đổi, bổ sung chưa nhiều trong hàng loạt vấn đề còn nổi cộm,nhưng những điểm sửa đổi, bổ sung đã phần nào tháo gỡ những bế tắc về mặtpháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt nam trong giai đoạn đó

2.1.1.4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992

Sau những sửa đổi, bổ sung của Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990nhịp độ tăng trưởng của tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tăng rõ rệt từ 213 dự

án đầu tư với tổng vốn đầu tư là 1,793 tỷ USD tại thời điểm năm 1990, chỉ sau 2năm thực hiện có số đầu tư đã lên đến 459 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư là5,28 tỷ USD Điều này chứng tỏ sự sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài đãphần nào tác động đến tâm lý nhà đầu tư, làm cho nhà đầu tư yên tâm hơn khi đầu

tư vào Việt nam, và nhiều nhà đầu tư khác quan tâm đến thị trường Việt nam Từ

đó làm nảy sinh nhiều nhu cầu và đòi hỏi cần phải có một hành lang pháp lý hoànchỉnh hơn Như trên đã phân tích Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 chỉsửa đổi, bổ sung được 3 vấn đề lớn trong hàng loạt vấn đề còn nổi cộm và trongquá trình 2 năm sau khi triển khai Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990,nhiều vấn đề pháp lý đã phát sinh, phần nào làm cản trở hoạt động đầu tư nướcngoài Để đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội đã đặt ra chúng ta cần phải tiếptục sửa đổi và hoàn thiện pháp Luật Đầu tư nước ngoài Tại thời điểm năm 1992

việc đặt vấn đề sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài là cần thiết, bởi lẽ: Một

là, thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng trở thành một cuộc cạnh tranh gay gắt

vì cung cầu vốn đầu tư trên thế giới có sự biến động lớn; Hai là, thực tiễn hợp tác

đầu tư cho phép chúng ta nhận thức rõ hơn vị trí của các mục tiêu, kinh tế, xã hội

và tài chính của hoạt động đầu tư Không khuyến khích đủ mức về tài chính thìkhông thu hút được nhiều vốn đầu tư, sẽ hạn chế mục tiêu kinh tế, xã hội; mục

tiêu kinh tế, xã hội đạt càng thấp thì nguồn thu tài chính sẽ càng eo hẹp; Ba là,

Ngày đăng: 14/03/2023, 10:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w