“Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người, nhằm thoả mãn những nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của xã hội loài người.”1 “Mức
Trang 1NÔNG THỊ LAN PHƯƠNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐
NÔNG THỊ LAN PHƯƠNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan những gì tôi viết trong luận văn là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
Đề tài của luận văn chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc
sĩ nào và cho đến nay chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin truyền thông nào
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì đã cam đoan ở trên
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nông Thị Lan Phương
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC 3
1.1 MỨC LAO ĐỘNG 3
1.1.1 Khái niệm lao động và mức lao động 3
1.1.2 Các loại mức lao động 3
1.1.2.1 Mức thời gian (M tg ) 3
1.1.2.2 Mức sản lượng (M sl ) 4
1.1.2.3 Mức phục vụ.(Mpv) 4
1.1.2.4 Mức định biên 5
1.1.2.5 Mức quản lý (Mql) 5
1.1.2.6 Mức lao động tổng hợp 5
1.2 ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG 5
1.2.1 Khái niệm định mức lao động 5
1.2.2 Nhiệm vụ của định mức lao động 6
1.2.3 Ý nghĩa của việc xây dựng mức 7
1.2.4 Yêu cầu của mức và của định mức 8
1.2.4.1 Yêu cầu của mức 8
1.2.4.2 Yêu cầu của định mức 9
1.2.5 Nội dung của định mức lao động 10
1.2.5.1 Phân chia quá trình sản xuất thành các bộ phận hợp thành 10
1.2.5.2 Phân loại hao phí thời gian làm việc của người lao động 12
1.2.5.3 Các phương pháp khảo sát thời gian làm việc 14
1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến định mức lao động 15
1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ĐMLĐ 19
1.3.1 Nhóm các phương pháp tổng hợp 19
1.3.1.1 Phương pháp thống kê 19
1.3.1.2 Phương pháp kinh nghiệm 20
1.3.1.3 Phương pháp dân chủ bình nghị 20
1.3.2 Nhóm các phương pháp phân tích 20
Trang 51.3.2.1 Phương pháp phân tích tính toán 21
1.3.2.2 Phương pháp phân tích khảo sát 21
1.3.2.3 Phương pháp so sánh điển hình 21
1.4 VAI TRÒ CỦA ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG 22
1.4.1 ĐMLĐKH là cơ sở để phân phối theo lao động 22
1.4.2 ĐMLĐKH là cơ sở để tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm 23
1.4.3 ĐMLĐKH là cơ sở để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh 24
1.4.4 ĐMLĐKH là cơ sở của tổ chức lao động khoa học 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐMLĐKH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA 27
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA 27
2.1.1 Giới thiệu chung 27
2.1.2 Sơ lược về hai nhà máy của Công ty 27
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh 29
2.1.3.1 Chức năng 29
2.1.3.2 Nhiệm vụ 29
2.1.4 Cơ cấu tổ chức 30
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC ĐMLĐKH 31
2.2.1 Đặc điểm sản phẩm và thị trường 31
2.2.1.1 Đặc điểm sản phẩm 31
2.2.1.2 Đặc điểm thị trường tiêu thụ 32
2.2.2 Nguyên vật liệu 33
2.2.3 Đặc điểm lao động sản xuất 34
2.2.4 Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất và máy móc thiết bị 36
2.2.5 Thuận lợi và khó khăn khác hiện nay của công ty 39
2.2.5.1 Thuận lợi 39
2.2.5.2 Khó khăn 40
2.3 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐMLĐKH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA 41
2.3.1 Bộ phận làm công tác định mức lao động ở công ty 41
2.3.2 Các loại mức đang áp dụng tại Công ty 44
2.3.3 Quy trình xây dựng mức tại công ty 46
2.3.5 Các điều kiện hỗ trợ người lao động thực hiện mức 60
Trang 62.3.5.1 Tình hình cung cấp nguyên vật liệu và ký kết hợp đồng 60
2.3.5.2 Về quản lý 60
2.3.5.3 Tình hình tổ chức và phục vụ nơi làm việc 62
2.3.5.4 Điều kiện lao động 62
2.3.5.5 Chế độ làm việc, nghỉ ngơi 64
CHƯƠNG 3:GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA 68
3.1 MỤC TIỀU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA ĐẾN NĂM 2015 68
3.1.1 Phương hướng sản xuất kinh doanh 68
3.1.1.1 Dự kiến một số chỉ tiêu cơ bản 68
3.1.1.2 Những giải pháp thực hiện 69
3.1.2 Dự kiến về định mức lao động 71
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐMLĐ 72
3.2.1 Hoàn thiện bộ máy làm công tác định mức lao động 72
3.2.2 Đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ định mức 75
3.2.3 Nâng cao chất lượng cho CNV 77
3.2.4 Hoàn thiện tổ chức sản xuất 82
3.2.4.1 Hoàn thiện phân công và hiệp tác lao động 82
3.2.4.2 Nâng cao quản lý kỹ thuật, quản lý vật tư 85
3.2.5 Hoàn thiện công tác triển khai định mức 85
3.2.5.1 Đưa mức vào sản xuất 86
3.2.5.2 Phân tích tình hình thực hiện mức 87
3.2.5.3 Xem lại và điều chỉnh mức 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 91
Trang 7DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1 Sự phân chia quá trình sản xuất thành các bộ phận hợp thành 12
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ hao phí thời gian làm việc của người lao động 13
Sơ đồ 2.1 Quy trình công nghệ của Công ty cổ phần giấy An hòa 38
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy làm công tác định mức 42
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm giấy 31
Bảng 2.2:Cơ cấu lao động của công ty 34
Bảng 2.3 : Định mức sản lượng của Công ty năm 2013 45
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp hao phí cần thiết để đóng gói sản phẩm giấy A4 49
Bảng 2.5: Bảng tổng hợp tiền lương-thu nhập của công nhân 51
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp thời gian hao phí 52
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp thời gian hao phí 53
Bảng 2.8: Bảng tổng hợp thời gian hao phí 54
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp hao phí thời gian của Công nhân Phan Trọng Toàn trong 3 ngày quan sát 55
Bảng 2.10 : Bảng tổng hợp thời gian hao phí 56
Bảng 2.11: Bảng tổng hợp thời gian hao phí 57
Bảng 2.12: Bảng tổng hợp thời gian hao phí 58
Bảng 2.13: Bảng tổng hợp hao phí thời gian của nhân Vũ Minh Kế 59
trong 3 ngày quan sát 59
Bảng 2.14: Một số yếu tố chủ yếu của môi trường lao động tại Công ty cổ phần giấy An Hòa so với tiêu chuẩn của Bộ LĐTBXH 63
Trang 9
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam đang có những bước phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, loại hình kinh doanh và hình thức hoạt động Nhưng dù cho doanh nghiệp đó lớn hay nhỏ thì việc đầu tiên cần phải xây dựng là một loại hình sản xuất kinh doanh, một cơ cấu tổ chức phù hợp, một phương pháp hạch toán Và đặc biệt là phải xây dựng được một hệ thống các định mức lao động khoa học Có định mức lao động khoa học thì mới có đủ điều kiện để
tổ chức sản xuất, để tính năng suất lao động Và định mức lao động là cơ sở để biết được năng suất lao động của doanh nghiệp mình tăng hay giảm
Tuy nhiên không phải ở bất kỳ doanh nghiệp sản xuất nào công tác định mức lao động cũng được quan tâm thực hiện tốt Qua thời gian nghiên cứu và làm việc tại Công ty cổ phần giấy An Hòa em đã biết về công tác định mức lao động tại Công ty và thấy công tác định mức này còn một số vấn đề cần được quan tâm Do
vậy em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác định mức lao động khoa học tại Công ty cổ phần giấy An Hòa” cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích hệ thống hoá cơ sở lý luận về định mức lao động Vận dụng những lý luận đó để luận giải, đánh giá về nội dung, thực trạng công tác định mức lao động của Công ty Từ đó đề xuất những phương hướng, tìm ra giải pháp hoàn thiện công tác định mức lao động cho Công ty cổ phần giấy
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài được phát triển dựa trên những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp: tập hợp các tài liệu có sẵn từ Công ty như các báo cáo tổng kết, từ trang Web của công ty, từ các công trình nghiên cứu…
- Phương pháp so sánh: từ tài số liệu thu thập được, so sánh qua các giai đoạn khác nhau để rút ra nhận xét
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp tính toán, phương pháp khảo sát,…nhằm mục đích làm cho công tác định mức lao động của Công ty tốt hơn
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần lớn mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về định mức lao động khoa học
Chương 2: Thực trạng công tác định mức lao động khoa học tại Công ty cổ phần giấy An Hòa
Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác định mức lao động tại Công ty cổ phần giấy An Hòa
Do thời gian nghiên cứu, trình độ có hạn nên chuyên đề này không tránh khỏi những thiếu sót Em mong sẽ nhận được sự góp ý của thầy cô, các bạn để chuyên đề này thêm phong phú và có tính hiện thực
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG KHOA HỌC
1.1 MỨC LAO ĐỘNG
1.1.1 Khái niệm lao động và mức lao động
“Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người, nhằm thoả mãn những nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của
xã hội loài người.”1
“Mức lao động là lượng lao động hao phí được quy định để hoàn thành một đơn vị sản phẩm (hoặc một khối lượng công việc) đúng tiêu chuẩn chất lượng, trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định.”2
Điều kiện tổ chức kỹ thuật gồm:
+ Trình độ tay nghề của người lao động
+ Máy móc thiết bị sản xuất
+ Nguyên, nhiên vật liệu
+ Tổ chức phục vụ nơi làm việc
+ Điều kiện lao động
Khi một trong các điều kiện trên thay đổi thì mức lao động thay đổi
1 PGS.PTS Phạm Đức Thành, PTS Mai Quốc Chánh (1998), Giáo trình Kinh tế lao động , Nxb Giáo dục, tr.5
2 Trường Cao đẳng lao động xã hội (2004), Giáo trình Định mức lao động, Nxb LĐ-XH, tr.12
Trang 12Thời gian hao phí
Mức sản lượng được xây dựng trên cơ sở mức thời gian và dùng công thức:
tg
ca sl
Đơn vị đo Msl là đơn vị sản phẩm trên đơn Mtg (phút, giờ, ca)
Nếu gọi x: % giảm mức thời gian
y: % tăng mức sản lượng
y
y x
+
= 100
100 và
x
x y
−
= 100 100
Mức thời gian sẽ giảm chậm hơn so với mức tăng của sản lượng, nên phải chú
ý loại hình sản xuất nào thì áp dụng mức nào
1.1.2.3 Mức phục vụ.(Mpv)
Mức phục vụ là số lượng đơn vị thiết bị (máy móc, diện tích sản xuất, nơi làm việc ) được quy định cho một hay một nhóm người lao động phải phục vụ trong điều kiện tổ chức, kỹ thuật sản xuất nhất định
Trang 13Mức phục vụ thường được áp dụng trong điều kiện kết quả sản xuất không đo được bằng những số đo tự nhiên (chiếc, cái) và đối với công nhân phụ
1.1.2.4 Mức định biên
Là số lượng lao động được quy định để hoàn thành công việc (sản phẩm) trong những điều kiện tổ chức - kỹ thuật hợp lý và trình độ thành thạo của công nhân phù hợp với mức độ phức tạp của công việc
Các điểm chung của các mức lao động:
- Đều thể hiện sự quy định về tiêu hao thời gian lao động cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm hay một khối lượng công việc nào đó đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng
- Các dạng biểu hiện của mức lao động luôn luôn gắn với điều kiện tiêu chuẩn
kỹ thuật nhất định của sản xuất phù hợp với điều kiện tâm sinh lý của công nhân, đảm bảo trong quá trình lao động người công nhân không những sử dụng đầy đủ và
có hiệu quả công suất của máy móc, thiết bị mà còn áp dụng được các phương pháp làm việc tiên tiến để không ngừng nâng cao năng suất lao động
1.2 ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG
1.2.1 Khái niệm định mức lao động
Nhà nghiên cứu kinh tế học lao động Liên Xô cũ Cotsin cho rằng: định mức lao động là xác định mức độ tham gia khách quan của người lao động trong tổng thể lao động xã hội, hay nói cách khác đó là việc quy định tiêu chuẩn lao động cho mọi người tham gia, sáng tạo ra thành quả lao động
Trang 14Theo Lênin: định mức lao động là định bao nhiêu người làm công việc đó Như vậy: định mức lao động là lĩnh vực hoạt động về thực tiễn để xây dựng và
áp dụng các mức lao động đối với tất cả các quá trình của người lao động
Cách khác: Đây là quá trình dự tính tổ chức thực hiện những biện pháp tổ chức kỹ thuật để thực hiện công việc có năng suất lao động cao, trên cơ sở đó xác định mức tiêu hao để thực hiện công việc
Quá trình định mức lao động yêu cầu phải làm các công việc sau:
- Nghiên cứu cụ thể điều kiện tổ chức kỹ thuật nơi sản xuất
- Đề ra và đưa vào sản xuất những biện pháp tổ chức kỹ thuật
- Xác định mức và đưa mức vào sản xuất
- Quản lý và điều chỉnh mức
1.2.2 Nhiệm vụ của định mức lao động
Nhiệm vụ cơ bản của công tác định mức lao động trong doanh nghiệp là nghiên cứu, phát hiện và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn nhân lực của doanh nghiệp để không ngừng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế trong sản xuất- kinh doanh
Từ nhiệm vụ cơ bản đó, công tác định mức lao động có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Nghiên cứu thường xuyên tình hình sử dụng thời gian lao động của mọi người lao động trong doanh nghiệp, phân tích khả năng sản xuất của tất cả các đơn
vị, tham khảo kinh nghiệm sản xuất tiên tiến của các doanh nghiệp khác trên cơ sở
đó mà xây dựng và sửa đổi các loại mức lao động trong doanh nghiệp
- Đưa các mức lao động có căn cứ khoa học vào sản xuất đồng thời thực hiện các biện pháp tổ chức- kỹ thuật- kinh tế đi đôi với giáo dục và nâng cao trình độ nhận thức của mọi người lao động trong doanh nghiệp về mức lao động, tạo mọi điều kiện cần thiết để họ tham gia vào quá trình xây dựng, thực hiện và hoàn thành vượt mức lao động
- Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, thống kê, phân tích và quản lý tình hình thực hiện mức lao động kết hợp với việc động viên khen thưởng vật chất đối với
Trang 15những người đạt và vượt mức lao động, bảo đảm cho công tác định mức lao động thật sự là một công cụ quan trọng của quản lý doanh nghiệp
Định mức lao động bao gồm các nội dung sau:
- Phân chia quá trình sản xuất ra thành các bộ phận hợp thành Xác định kết cấu, trình tự hợp lý để thực hiện các bộ phận của bước công việc Phát hiện những bất hợp lý trong quá trình thực hiện, hoàn thiện chúng trên cở sở phân công và hiệp tác lao động một cách hợp lý
- Nghiên cứu khả năng ở nơi làm việc, cải thiện điều kiện lao động, hợp lý hóa phương pháp và thao tác lao động, xây dựng chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý Các khả năng ở nơi làm việc bao gồm:
+ Tổ chức phục vụ nơi làm việc: Thiết kế, quy hoạch nơi làm việc; Trang bị nơi làm việc; Bố trí nơi làm việc; Phục vụ nơi làm việc
+ Tình hình máy móc thiết bị: Công suất máy móc thiết bị; Chủng loại máy móc thiết bị; Chất lượng máy móc thiết bị;
+ Tình hình về người lao động: Trình độ kỹ thuật, tay nghề (Cấp bậc công nhân) ; Sức khỏe; Tình hình sử dụng thời gian lao động
+ Nguyên nhiên vật liệu: Số lượng; Chất lượng; Kích thước; Chủng loại
- Tiến hành khảo sát, xác định các loại thời gian làm việc và nguyên nhân gây nên những lãng phí để xây dựng mức, tiêu chuẩn lao động
- Đưa các mức, tiêu chuẩn đã được xây dựng vào sản xuất, thường xuyên theo dõi tình hình thực hiện mức, điều chỉnh những mức sai, mức lạc hậu, có cơ chế thích hợp khuyến khích hoàn thiện định mức kỹ thuật lao động trong doanh nghiệp
1.2.3 Ý nghĩa của việc xây dựng mức
Định mức lao động là môn khoa học kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu trong quản lý lao động Đồng thời là một công tác khá phức tạp đòi hỏi người cán bộ định mức có trình độ rõ ràng Mặt khác công tác định mức lao động có quan hệ trực tiếp đến quyền lợi người lao động, nhất là công nhân trực tiếp Vì vậy muốn làm tốt công tác định mức lao động ta phải làm cho mọi người trong doanh nghiệp thấy rõ đầy đủ khách quan của quản lý lao động, quản lý sản xuất Có thực hiện tốt công tác
Trang 16định mức lao động thì công nhân sản xuất mới có những mục tiêu cụ thể để phấn đấu thực hiện nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập cho bản thân họ Với cán bộ làm công tác quản lý thì công tác định mức lao động là cơ sở để tiến hành tổ chức lao động hợp lý, xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh sát hợp và đánh giá được đầy đủ khả năng sản xuất của công nhân, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao
Định mức lao động còn là cơ sở để trả lương, thưởng đúng với hao phí lao động mà người lao động đã bỏ ra Đối với mọi quá trình sản xuất, đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có định mức Là yếu tố để tiết kiệm nhiên liệu thông qua việc định biên nhiên liệu cho mỗi sản phẩm Giảm chi phí về tiền lương
vì từ định mức có thể tính định biên lao động cần thiết cho mỗi bước công việc, mỗi sản phẩm, mỗi quá trình sản xuất
Công ty thực hiện tốt việc quản lý và thực hiện mức sẽ làm cho quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên và có hiệu quả
1.2.4 Yêu cầu của mức và của định mức
Mức lao động có căn cứ khoa học phải đảm bảo những yêu cầu sau đây:
- Tính tiên tiến: Bảo đảm có cơ sở khoa học, trong các điều kiện tổ chức và kỹ
thuật tiên tiến, có tính đến các phương pháp công nghệ tiên tiến
- Tính hiện thực: Mức lao động đảm bảo tính trung bình tiên tiến, tức là mức
trung bình của những người công nhân tiên tiến để mọi người lao động đều có thể hoàn thành được mức
- Tính quần chúng: Đảm bảo rằng, người lao động phải được tham gia tích cực
vào quá trình xây dựng và chính họ là những người thực hiện các mức đó Có như vậy mới có thể động viên được tính chủ động, tích cực và sáng tạo của mọi người trong doanh nghiệp vào công tác định mức lao động
Trang 17
1.2.4.2 Yêu cầu của định mức4
Định mức phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Mức lao động cho đơn vị sản xuất phải tính từ các mức nguyên công (chính, phụ trợ, quản lý) nên mức nguyên công phải là những mức hợp lý
- Phải theo đúng quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm Chỉ tính những hao phí lao động thuộc quỹ sản xuất sản phẩm của bản thân doanh nghiệp không tính những hao phí lao động do thuê hoặc mua của bên ngoài doanh nghiệp (nhưng trong giá thành sản phẩm sẽ được tính đến)
- Ở từng nguyên công phải xác định theo đúng mức độ phức tạp của công việc phù hợp với tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, không tính theo bậc công nhân thực tế đang làm việc đó (đối với trường hợp công nhân bậc cao làm việc bậc thấp sẽ được
bù bậc tính theo tổng quỹ lương)
- Trong khi tính mức và tính quỹ thời gian định mức, không tính theo số người thực hiện có bao gồm cả người dôi ra chưa bố trí được việc khác
- Hiện nay, tình hình sản xuất chưa ổn định, năng lượng, vật tư thiếu hoặc cung cấp không đúng hạn… cho nên trong quá trình tính mức cho đơn vị sản phẩm, cần có một loại hệ số bổ sung bên cạnh mức để doanh nghiệp có quỹ thời gian nhằm
bù vào những mất mát không do lỗi doanh nghiệp gây ra, coi đó là phẩn ổn định của mức Bởi vì hệ số bổ sung này chỉ có tính chất tạm thời, còn phần mức vẫn là ổn định theo công nghệ trong điều kiện bình thường Hệ số này chỉ được thừa nhận với điều kiện có thật trong thực tế, có yêu cầu phải hao phí thêm thời gian để bù vào mất mát Trị số của hệ số được xác định căn cứ vào số liệu thống kê những mất mát thường xảy ra trong một số năm gần nhất, đồng thời còn phải căn cứ vào dự báo những điều kiện tổ chức và kỹ thuật mới trong thời kỳ kế hoạch Khi xác định hệ số này, còn phải cân nhắc, phân tích tình hình hoàn thành mức của công nhân trong thời kỳ báo cáo, tình hình sử dụng thời gian lao động và tính chủ động của doanh nghiệp trong việc tổ chức lại sản xuất và tổ chức lại lao động đề tận dụng những thời gian ngừng việc, thời gian thiết bị, máy móc ngừng hoạt động trong sản xuất
4 : “Các phương pháp xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật trong xí nghiệp”, tr 46- Tạp chí Kinh tế và Dự báo
Trang 18chính Cần lưu ý rằng mất mát ở khâu nào thì chỉ tính cho khâu đó Có thể dùng tỷ
lệ đã tìm được để phân bổ bình quân chung cho cả sản phẩm theo tỷ trọng hao phí thời gian của từng khâu so với tổng hao phí thời gian chung của sản phẩm
- Trong quá trình sản xuất sản phẩm, có những trường hợp không tránh khỏi sản xuất ra hàng hỏng do tính chất của công nghệ thì trong mức nguyên công được tính bổ sung hệ số hàng hỏng cho phép; mức cao nhất của hệ số này chỉ được tính bằng tỷ lệ hàng hỏng cho phép
1.2.5 Nội dung của định mức lao động
Định mức lao động nhằm nghiên cứu đầy đủ các yếu tố để xác định mức tiêu hao cần thiết để hoàn thành một đơn vị sản phẩm hoặc một khối lượng công việc Xây dựng định mức có căn cứ kỹ thuật phải dựa trên các quy trình sản xuất máy móc, thiết bị, dây truyền sản xuất, tổ chức lao động, và chuẩn bị tốt các nội dung sau:
1.2.5.1 Phân chia quá trình sản xuất thành các bộ phận hợp thành
Để tiến hành định mức lao động chúng ta phải nắm được bản chất của quá trình sản xuất Quá trình sản xuất là quá trình làm ra một loại sản phẩm cần thiết cho tiêu dùng xã hội thường được thực hiện khép kín trong doanh nghiệp Căn cứ vào tính chất nguyên vật liệu sử dụng, tính chất của sản phẩm chế tạo, tính liên tục của quá trình sản xuất, loại hình sản xuất, trình độ kỹ thuật áp dụng Quá trình sản xuất thường chia ra các quá trình bộ phận, được hiểu là bộ phận đồng nhất và kết thực về phương diện công nghệ của quá trình sản xuất Quá trình sản xuất bộ phận
có thể là quá trình công nghệ để chế tạo sản phẩm, cũng có thể là quá trình phục vụ sản xuất
Quá trình sản xuất bộ phận lại được chia thành các bước công việc Bước công việc là một phần của quá trình sản xuất, bao gồm các công việc kế tiếp nhau được thực hiện bởi một (hay một nhóm) công nhân trên một đối tượng lao động nhất định tại một nơi làm việc nhất định Sự phân chia quá trình sản xuất thành các bước công việc là cơ sở để phân phối công việc hợp lý giữa những người thực hiện, để tổ chức
Trang 19và lập kế hoạch hoá lao động đúng đắn Bước công việc là đối tượng của định mức, khi tiến hành định mức thường căn cứ vào bước công việc
* Về mặt công nghệ: bước công việc phân chia ra thành giai đoạn chuyển tiếp
và bước chuyển tiếp
- Giai đoạn chuyển tiếp: Là bộ phận đồng nhất về công nghệ, được biểu thị bằng sự cố định của bề mặt gia công, dụng cụ gia công
- Bước chuyển tiếp: là một phần việc như nhau được lặp đi lặp lại trong giai đoạn chuyển tiếp
* Về mặt lao động, bước công việc được phân chia thành thao tác lao động, động tác lao động và cử động lao động
- Thao tác lao động: Là hoạt động lao động đồng nhất có tính kết thực về mặt công nghệ, được thực hiện bằng hoạt động có mục đích cụ thể của người lao động
để hoàn thành một nhiệm vụ lao động nhất định
- Động tác lao động: Là một bộ phận của thao tác biểu thị bằng những cử động chân tay và thân thể người công nhân nhằm mục đích lấy hay di chuyển một vật nào
đó Sự phân chia thao tác thành các động tác nhằm mục đích hợp lý hoá hơn nữa quá trình lao động của công nhân
- Cử động lao động: Là hành động nhỏ nhất của con người không thể phân chia được nữa và được diẽn ra một cách không gián đoạn, không có sự thay đổi về hướng Qua nghiên cứu cho thấy có tất cả 21 cử động cơ bản: 9 cử động ngón, 10
cử động thân, 2 cử động nhìn
Sự phân chia nhỏ các quá trình sản xuất thành cá bộ phận hợp thành tạo điều kiện để đi sâu nghiên cứu độ dài chu kỳ sản xuất, để ra biện pháp rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm, cho phép dự kiến kết cấu hợp lý các bước công việc thực hiện, các phương pháp thao tác làm việc tiên tiến, trên cơ sở cải tiến tổ chức sản xuất, tổ chức lao động xây dựng các mức lao động có căn cứ khoa học
Trang 20Sơ đồ 1.1 Sự phân chia quá trình sản xuất thành các bộ phận hợp thành
1.2.5.2 Phân loại hao phí thời gian làm việc của người lao động
Để định mức lao động có căn cứ khoa học cần phải nghiên cứu có hệ thống việc sử dụng thời gian trong quá trình làm việc Qua nghiên cứu thời gian hao phí sẽ tìm thấy những thời gian làm việc có ích cần thiết và thời gian lãng phí trong ca sản xuất; tìm nguyên nhân của những thời gian làm việc lãng phí và đề ra các biện pháp nhằm xoá bỏ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất những lãng phí nâng cao tỷ trọng thời gian làm việc có ích trong ngày
Thời gian làm việc trong ngày được chia làm 2 loại:
- Thời gian được tính trong mức
- Thời gian không được tính trong mức
Quá trình sản xuất
Quá trình bộ phận
Bước công việc
Giai đoạn chuyển tiếp
Bước công việc
Mặt công nghệ
Thao tác
Động tác
Cử động Mặt lao động
Trang 21Sơ đồ 1.2 Sơ đồ hao phí thời gian làm việc của người lao động
● Thời gian được tính trong mức (Tdm ): Là thời gian công nhân hoàn thành sản phẩm Gồm các loại sau:
+ Tck: Thời gian chuẩn kết, là thời gian người lao động chuẩn bị và kết thúc công việc Gồm: thời gian nhận nhiệm vụ, nhận bản vẽ, nhận dụng cụ, dọn vệ sinh Thời gian này chỉ hao phí một lần cho cả loạt sản phẩm, không phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm và độ dài thời gian làm việc trong ngày
+ Ttn: Thời gian tác nghiệp, là thời gian trực tiếp hoàn thành bước công việc, được lặp đi lặp lại qua từng đơn vị sản phẩm Thời gian tác nghiệp bao gồm:
Tc: Thời gian tác nghiệp chính (thời gian máy) là thời gian làm cho đối tượng lao động thay đổi về mặt chất lượng hay hình dáng, kích thước, tính chất lý, hoá…
Tp: Thời gian tác nghiệp phụ (tác nghiệp tay) là thời gian hao phí vào các hoạt động cần thiết để tạo khả năng làm thay đổi chất lượng của đối tượng lao động
+ Tpv: Thời gian phục vụ nơi làm việc, là thời gian hao phí để người công nhân đảm bảo cho nơi làm việc hoạt động liên tục trong suốt ca làm việc Thời gian phục
vụ gồm:
Tpvkt: Thời gian phục vụ kĩ thuật là thời gian hao phí để làm các công việc có tính chất kĩ thuật (điều chỉnh máy, sửa chữa lại các dụng cụ đã bị mòn, hỏng hóc…)
Thời gian làm việc trong ca
Thời gian làm việc cần thiết Thời gian lãng phí
T p T c T pvkt T pvtc
Trang 22Tpvtc: Thời gian phục vụ tổ chức, là thời gian hao phí để làm các công việc có tính chất tổ chức (giao nhận ca, sắp xếp nơi làm việc, cung cấp nguyên vật liệu…) + Tnc: Thời gian nghỉ ngơi và nhu cầu cần thiết, là thời gian nghỉ để duy trì khả năng làm việc của người lao động và thời gian để giải quyết các nhu cầu sinh lí của con người
● Thời gian không được tính trong định mức: (Tlp) gồm tất cả những thời gian làm những việc không nằm trong nhiệm vụ sản xuất, thời gian hao phí do thiếu xót
về tổ chức, về kỹ thuật và do người lao động kém ý thức tổ chức kỷ luật gây ra + Tlpkt: Thời gian lãng phí do kỹ thuật
+ Tlptc: Thời gian lãng phí do tổ chức (chờ dụng cụ, chờ nguyên vật liệu,…)
trong nhiệm vụ quy định
+ Tlpcn: Thời gian lãng phí công nhân, gồm thời gian người công nhân vi phạm
kỷ luật lao động (đi muộn về sớm, nói chuyện riêng,…)
Ngoài những lãng phí trông thấy như trên còn có những lãng phí không trông thấy do trình độ thành thạo của công nhân, do sử dụng chưa đầy đủ công suất của máy móc thiết bị và do tổ chức lao động chưa hợp lý Vì vậy khi làm công tác định mức lao động phải đi sâu nghiên cứu tỉ mỉ tìm nguyên nhân gây ra lãng phí để có biện pháp khắc phục
1.2.5.3 Các phương pháp khảo sát thời gian làm việc
a Chụp ảnh thời gian làm việc
Chụp ảnh thời gian làm việc là phương pháp nghiên cứu tất cả các loại hoa phí thời gian làm việc của công nhân trong một thời gian nhất định Nếu nghiên cứu thời gian làm việc của công nhân trong ca một ca làm việc thì gọi là chụp ảnh ca làm việc hay ngày làm việc, còn nghiên cứu thời gian cần thiết để công nhân hoàn thành một công việc gọi là chụp ảnh quá trình làm việc
Mục đích của chụp ảnh thời gian làm việc là:
- Nghiên cứu tình hình sử dụng thời gian làm việc, phát hiện các nguyên nhân lãng phí thời gian và đề ra biện pháp khắc phục
Trang 23- Nghiên cứu các kinh nghiệm tiên tiến để phổ biến trong công nhân
- Thu thập các số liệu để phục vụ cho việc xây dựng mức lao động
Tùy vào mục đích nghiên cứu và điều kiện thực tế của tổ chức mà người nghiên cứu có thể lựa chọn một trong các hình thức:
- Chụp ảnh cá nhân
- Chụp ảnh tổ (nhóm) ngày làm việc
- Tự chụp ảnh ngày làm việc
b Bấm giờ bước công việc
Bấm giờ là một phương pháp quan sát đặc biệt có sử dụng đồng hồ bấm giây
để nghiên cứu thời gian hao phí khi thực hiện các bước công việc hoặc các thao tác, động tác lặp đi lặp lại nhiều lần, có chu kỳ tại nơi làm việc
1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến định mức lao động
- Các yếu tố gắn liền với bản thân người lao động
Trình độ văn hoá: là sự hiểu biết cơ bản của người lao động về tự nhiên và xã
hội.Trình độ văn hoá tạo ra khả năng tư duy và sáng tạo cao Người có trình độ văn hóa sẽ có khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời trong quá trình làm việc họ không những vận dụng chính xác mà còn linh hoạt và sáng tạo các công cụ sản xuất để tạo ra hiệu quả làm việc cao nhất
Trang 24Trình độ chuyên môn: là sự hiểu biết khả năng thực hành về chuyên môn nào
đó ,có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định Sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo nghề càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động
Trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đối với định mức lao động của con người.Trình độ văn hoá tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Còn sự hiểu biết
về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ sảo nghề càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó góp phần nâng cao định mức Trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao động không chỉ giúp cho người lao động thực hiện công việc nhanh mà góp phần nâng cao chất lượng thực hiện công việc
Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khoa học ngày càng phát triển với tốc độ nhanh, các công cụ đưa vào sản xuất ngày càng hiện đại, đòi hỏi người lao động có trình độ chuyên môn tương ứng Nếu thiếu trình độ chuyên môn người lao động sẽ không thể điều khiển được máy móc, không thể nắm bắt được các công nghệ hiện đại
Tình trạng sức khoẻ: Trạng thái sức khoẻ có ảnh hưởng lớn tới định mức lao
động Nếu người có tình trạng sức khoẻ không tốt sẽ dẫn đến mất tập trung trong quá trình lao động, làm cho độ chính xác của các thao tác trong công việc giảm dần, các sản phẩm sản xuất ra với chất lượng không cao, số lượng sản phẩm cũng giảm, thậm chí dẫn đến tai nạn lao động
Thái độ lao động : Thái độ lao động là tất cả những hành vi biểu hiện của
người lao động trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh Nó có ảnh hưởng quyết định đến khả năng, năng suất và chất lượng hoàn thành công việc của người tham gia lao động nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu khác nhau, cả khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là:
Trang 25- Kỷ luật lao động: Là những tiêu chuẩn quy định hành vi cá nhân của lao
động mà tổ chức xây dựng nên dựa trên những cơ sở pháp lý và các chuẩn mực đạo đức xã hội Nó bao gồm các điều khoản quy định hành vi lao động trong lĩnh vực có liên quan đến thực hiện nhiệm vụ như số lượng, chất lượng công việc, an toàn vệ sinh lao động, giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi, các hành vi vi phạm pháp luật lao động, các hình thức xử lý vi phạm kỷ luật…
- Tinh thần trách nhiệm: Được hình thành dựa trên cơ sở những ước mơ khát
khao, hy vọng cảu người lao động trong công việc cũng như với tổ chức Trong tổ chức, nếu người lao động thấy được vai trò, vị thế, sự cống hiến hay sự phát triển, thăng tiến của mình được coi trọng và đánh giá một cách công bằng, bình đẳng thị
họ cảm thấy yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào tổ chức, Đây là cơ sở để nâng cao tính trách nhiệm, sự rèn luyện, phấn đấu vươn lên, cố gắng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động
- Sự gắn bó với doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp ngoài mục đích lao động để
kiếm sống họ còn coi tổ chức như một chỗ dựa vững chắc về vật chất và tinh thần Nếu quá trình lao động và bầu không khí trong tập thể lao động tạo ra cảm giác gần gũi, chan hoà, tin tưởng lẫn nhau giữa những người công nhân, tạo cảm giác làm chủ doanh nghiệp, có quyền quyết định đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra tính độc lập tự chủ sáng tạo, được quan tâm chăm lo đến đời sống và trợ giúp khi gặp khó khăn… thì ngươi lao đống sẽ có lòng tin, hy vọng, sự trung thành và gắn bó với doanh nghiệp
- Các yếu tố thuộc về môi trường lao động
Phân công lao động: “Là sự chia nhỏ toàn bộ các công việc được giao cho
từng người hoặc tưng nhóm người lao động thực hiện”
Tiền lương, tiền thưởng : Đây là một yếu tố quan trọng góp phần tạo động lực
thúc đẩy người lao động làm việc nâng cao năng suất lao động dẫn đến nâng cao định mức Tiền lương ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của người lao động Phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích của hết thảy mọi người lao động.mục đích này tạo động lực để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình
Trang 26- Tiền lương: “Là số lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo giá trị sức lao động đã hao phí trong những điều kiện xã hội nhất định
trên cơ sở thoả thuận của hai bên trong hợp đồng lao động”
- Tiền thưởng: Là số tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động trong những điều kiện đặc biệt theo sự thoả thuận của hai bên hoặc theo sự tự nguyện của bên sử dụng lao động trong các trường hợp như: Khi công nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiết kiệm được nguyên vật liệu, có những sáng kiến sáng tạo trong hoạt động lao động… Nếu tiền thưởng đảm bảo gắn trực tiếp với thành tích của người lao động, gắn với hệ thống chỉ tiêu được nghiên cứu, phân loại cụ thể
và mức thưởng có giá trị tiêu dùng trong cuộc sống thì tiền thưởng sẽ là công cụ để người sử dụng lao động kích thích sự hăng say, gắn bó, sự tích cực, tinh thần trách nhiệm, năng suất và hiệu quả của người lao động
Ngoài tiền lương, tiền thưởng các phúc lợi xã hội cũng góp phần thúc đẩy nâng cao năng suất lao động Phúc lợi xã hội là phần thù lao gián tiếp được trả dưới dạng các bổ trợ về cuộc sống cho người lao động Phúc lợi xó thể là tiền, vật chất hoặc những điều kiện thuận lợi mà người sử dụng lao động cung cấp cho người lao động trong những điều kiện bắt buộc hay tự nguyện để động viên hoặc khuyến khích và đảm bảo anh sinh cho người lao động Phúc lợi đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cũng như góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, từ đó thúc đẩy và nâng cao năng suất lao động
Tổ chức phục vụ nơi làm việc: Nơi làm việc là không gian sản xuất được trang
bị máy móc thiết bị, phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết để người lao động hoàn thành các nhiệm vụ sản xuất đã định, là nơi diễn ra các quá trình lao động Nơi làm việc là nơi thể hiện rõ nhất khả năng sáng tạo và nhiệt tình của người lao động.Tổ chức phục vụ nơi làm việc là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lao động của con người Nơi làm việc được tổ chức một cách hợp lý và phục vụ tốt góp phần bảo đảm cho người lao động có thể thực hiện các thao tác trong tư thế thoải mái nhất vì vậy tiến hành sản xuất với hiệu quả cao, nâng cao năng suất lao động
Trang 27Thái độ cư xử của người lãnh đạo: Lãnh đạo là việc định ra chủ trương, đường
lối, nguyên tăc hoạt động của một hệ thống các điều kiện môi trường nhất định Lãnh đạo là một hệ thống cá tổ chức bao gồm người lãnh đạo, người bị lãnh đạo, mục đích của hệ thống, các nguồn lực và môi trường
Bầu không khí của tập thể: Tập thể lao động là nhóm người mà tất cả các
thành viên trong quá trình thực hiện những trách nhiệm của mình hợp tác trực tiếp với nhau, luôn có sự liên quan cà tác động qua lại lẫn nhau Mức độ hoạt động, hoà hợp về các phẩm chất tâm lý cá nhân của mọi người trong tập thể lao động được hình thành từ thái độ của mọi người đối với công việc, bạn bè, đồng nghiệp và người lãnh đạo tạo nên bầu không khí của tập thể Trong tập thể lao động luôn có sự lan truyền cảm xúc từ người này sang người khác, nó ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái tâm lý, thái độ đổi với lao động, với ngành nghề và với mỗi thành viên Từ đó ảnh hưởng tới năng suất lao động và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ĐMLĐ
1.3.1 Nhóm các phương pháp tổng hợp
Nhóm phương pháp tổng hợp là nhóm phương pháp xây dựng mức lao động không dựa trên cơ sở nghiên cứu và phân tích các bộ phận của bước công việc và điều kiện tổ chức kỹ thuật hoàn thành nó Thời gian hao phí được quy định tổng hợp cho toàn bộ bước công việc
Nhóm phương pháp tổng hợp gồm: - Phương pháp thống kê
- Phương pháp kinh nghiệm
- Phương pháp dân chủ bình nghị
1.3.1.1 Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê là phương pháp xác định mức dựa trên cơ sở số liệu thống kê về hao phí thời gian để chế tạo ra sản phẩm cũng như là các công việc tương tự ở thời kỳ trước đó Các số liệu thống kê này thường được lấy từ giấy báo cáo về tình hình tưhực hiện nhiệm vụ sản xuất (sổ chấm công, sổ nhiệm thu sản phẩm), những báo cáo về tình hình hoàn thành mức lao động và những báo cáo về
Trang 28tình hình hoàn thành mức lao động và những giấy báo cáo về sự thực hiện các nhiệm vụ sản xuất
Ưu điểm: áp dụng đơn giản, dễ làm, tiết kiệm thời gian, thích hợp với những công việc làm bằng tay, những công việc ở đó trình độ tổ chức quản lý còn lạc hậu, còn thấp
Nhược điểm: Độ chính xác của mức kém vì còn chứa nhiều nhân tố lạc hậu, chưa tính được đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng tới hao phí lao động, chưa tính tới việc
áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và những kinh nghiệm làm việc tiên tiến
1.3.1.2 Phương pháp kinh nghiệm
Là phương pháp xác định mức lao động dựa vào kinh nghiệm đã được tích luỹ của cán bộ định mức hay những công nhân lành nghề trong quá trình thực hiện sản xuất hay chế tạo ra sản phẩm
Phương pháp này thường áp dụng để định mức cho những loại công việc có tính chất truyền thống Những công việc đã được thực hiện trong thực tế ổn định lâu dài
Ưu điểm: Đơn giản, tính mức nhanh, sát với thực tế
Nhược điểm: Dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan, độ chính xác của mức còn thấp, thiếu sự phân tích khoa học các điều kiện sản xuất kỹ thuật hợp lý
1.3.1.3 Phương pháp dân chủ bình nghị
Là phương pháp xác định bằng cách cán bộ định mức dự tính bằng thống kê hoặc kinh nghiệm, sau đó đưa cho công nhân cùng thảo luận quyết định
Do đặc điểm của các phương pháp trên đây nên có thể nói: phương pháp tổng hợp không phải là phương pháp định mức khoa học
Trang 29tác lao động hợp lý
Nhóm phương pháp phân tích gồm: - Phương pháp phân tích tính toán
- Phương pháp phân tích khảo sát
- Phương pháp so sánh điển hình
1.3.2.1 Phương pháp phân tích tính toán
Là phương pháp tính các mức lao động dựa trên cơ sở các tài liệu tiêu chuẩn
để xác định các loại hao phí thời gian Quá trình xây dựng mức chủ yếu được tiến hành trong phòng làm việc của cán bộ định mức Phương pháp này áp dụng thích hợp trong những điều kiện sản xuất hàng loạt, vì nó cho phép xây dựng mức nhanh, tốn ít công sức, bảo đảm chính xác và đồng nhất của mức
Ưu điểm: Mức xác định được nhanh và chính xác
Nhược điểm: Phải có đầy đủ tài liệu tiêu chuẩn thời gian và cán bộ định mức phải nắm vững nghiệp vụ, thành thạo về kỹ thuật
1.3.2.2 Phương pháp phân tích khảo sát
Là phương pháp xây dựng mức dựa vào các tài liệu nghiên cứu, khảo sát tại nơi làm việc Các phương pháp khảo sát cơ bản để nghiên cứu hao phí thời gian làm việc là chụp ảnh, bấm giờ hoặc kết hợp cả chụp ảnh và bấm giờ
Ưu điểm: Mức lao động được xây dựng chính xác, đồng thời còn tổng kết được kinh nghiệm sản xuất tiên tiến của người lao động, cung cấp được tài liệu để cải tiến tổ chức lao động và xây dựng các tiêu chuẩn định mức lao động đúng đắn Nhược điểm: Tốn thời gian, công sức và đòi hỏi cán bộ định mức phải có trình
- Xây dựng quy trình công nghệ hợp lý để gia công những chi tiết điển hình
- Xác định các thiết bị, dụng cụ cần thiết và điều kiện tổ chức kỹ thuật thực hiện chế tạo chi tiết điển hình
- Áp dụng phương pháp phân tích tính toán hoặc phân tích khảo sát để xây
Trang 30dựng mức cho các chi tiết (bước công việc) điển hình
Ưu điểm: Xây dựng mức bằng phương pháp so sánh điển hình sẽ nhanh chóng, tốn ít công sức
Nhược điểm: Độ chính xác không cao, thường chỉ áp dụng cho loại hình sản xuất hàng loạt nhỏ và đơn chiếc
1.4 VAI TRÒ CỦA ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG
Định mức lao động là một trong những nội dung quan trọng của tổ chức lao động, tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý lao động trong doanh nghiệp Như chúng
ta biết, quy luật kinh tế quan trọng hang đầu là qui luật tiết kiệm thời gian Quy luật này có liên quan trực tiếp tới tổ chức lao động khoa học, mặt khác một trong những nhiệm vụ quan trọng của tổ chức lao động khoa học là tiết kiệm thời gian làm việc Định mức lao động càng hướng tới xác định hao phí lao động tối ưu và phấn đấu tiết kiệm thời gian lao động thì nó càng ảnh hưởng tới quá trình hoàn thiện tổ chức lao động khoa học
1.4.1 ĐMLĐKH là cơ sở để phân phối theo lao động
Định mức lao động là cơ sở để thực hiện phân phối theo lao động Bởi vì nhờ
có mức lao động mới xác định được đơn giá tiền lương, mức càng chính xác thì trả lương đúng và tạo động lực lao động càng mạnh mẽ Đơn giá tiền lương được tính theo công thức sau:
° Đối với hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân:
Q Lcv : Lương theo cấp bậc công việc
ĐG = Lcv x T Q : Mức sản lượng của công nhân
hoặc
T : Mức thời gian hoàn thành 1 đơn vị
sản phẩm
Trang 31Đối với hình thức trả lương sản phẩm tập thể
1.4.2 ĐMLĐKH là cơ sở để tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm
Tăng năng suất lao động là quy luật kinh tế chung trong mọi hình thái kinh tế
xã hội, là động lực phát triển xã hội Việc phấn đấu tăng năng suất lao động của từng người, từng đơn vị, từng doanh nghiệp cũng chính là làm cho doanh nghiệp, cho đơn vị đó tồn tại và phát triển, đồng thời cũng tăng sản phẩm xã hội và tăng thu nhập quốc dân
Định mức lao động là công cụ có hiệu quả để khai thác khả năng tiềm tàng trong quá trình sản xuất và công tác Quá trình xây dựng và áp dụng định mức lao động và là quá trình tính toán, giải quyết các yêu cầu về mặt kỹ thuật, về sắp xếp nơi làm việc cũng như các yếu tố đảm bảo sức khoẻ cho người lao động Đây chính
là điều kiện thuận lợi để người lao động sử dụng hợp lý các thiết bị máy móc, vật tư
kỹ thuật, thời gian lao động nhằm áp dụng các phương pháp sản xuất tiên tiến để tăng năng suất, tăng hiệu quả lao động, tăng sản phẩm cho xã hội
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ tổ chức quản lý, trình độ áp dụng kỹ thuật mới của cơ sở, của doanh nghiệp Định mức lao
Trang 32động nghiên cứu áp dụng mọi biện pháp tổ chức kinh tế, kĩ thuật nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn dự trữ trong sản xuất, tiết kiệm hao phí lao động sống, làm cho lượng tiêu hao lao động cho 1 đơn vị sản phẩm giảm, làm giá thành giảm theo
1.4.3 ĐMLĐKH là cơ sở để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả phải
có kế hoạch về số lượng sản phẩm, định biên lao động và dự tính chi phí sản xuất kinh doanh Từ đó dựa vào mức lao động để tính ra số lượng và chất lượng lao động cần thiết năm kế hoạch theo công thức:
m
n
i i
T
T SL
CN = × ×
Trong đó: CNsp: Số công nhân làm theo sản phẩm
SLi: Số lượng sản phẩm i
Ti : Lượng lao động hao phí để làm ra một đơn vị sản phẩm loại i
Tn: Quỹ thời gian làm việc bình quân của một công nhân làm theo sản phẩm ở kỳ kế hoạch
Km: Hệ số hoàn thành mức
Vì vậy định mức lao động thể hiện rõ cả số lượng và chất lượng lao động gắn với những điều kiện tổ chức kỹ thuật cụ thể, tức là kế hoạch hoá số lượng người làm việc Đó là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch quỹ lương, kế hoạch giá thành, giá cả,…một cách chính xác
1.4.4 ĐMLĐKH là cơ sở của tổ chức lao động khoa học
Tổ chức lao động khoa học được hiểu là tổ chức lao động dựa trên cơ sở phân tích khoa học các quá trình lao động và điểu kiện thực hiện chúng, thông qua việc
áp dụng vào thực tiễn những biện pháp được thiết kế dựa trên những thành tựu khoa học và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến
Tổ chức lao động khoa học bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
• Phân công và hiệp tác lao động: là quá trình bóc, tách những công việc từ công việc chung thành những phần công việc riêng để thực hiện tương đối biệt lập, thực hiện song song đồng thời những công việc khác nhau nhằm đảm bảo phù hợp
Trang 33với mỗi người hay một nhóm người và để thực hiện nhiệm vụ lao động một cách tốt nhất
• Tổ chức và phục vụ nơi làm việc: là quá trình cung cấp đảm bảo cho nơi làm việc đầy đủ những phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết và sắp xếp, bố trí những phương tiện cần thiết sao cho phù hợp nhất Giúp người lao động sử dụng nó một cách tốt nhất
• Nghiên cứu phổ biến và áp dụng phương pháp, thao tác lao động hợp lý: Phải nghiên cứu để hoàn thiện những phương pháp thao tác lao động hay cách thức thực hiện công việc sao cho thuận tiện nhất, phù hợp nhất đối với mỗi người lao động trong điều kiện cụ thể mỗi công việc trong thực tế diễn ra
• Cải thiện các điều kiện lao động nhằm giảm nhẹ sự nặng nhọc của công việc, giữ gìn và tăng cường sức khoẻ cho người lao động, tạo ra những điều kiện lao động thuận lợi
Vai trò của định mức lao động đối với tổ chức lao động được thể hiện rõ nhất
ở nội dung phân công và hiệp tác lao động Thật vậy, để thực hiện phân công lao động hợp lý cần phải nắm được nội dụng của bước công việc và phải biết tính toán hao phí lao động để hoàn thành bước công việc đó, tức là phải tiến hành định mức cho bước công việc Nhờ có mức lao động cho bước công việc mà tính được lương lao động chế tạo sản phẩm, xác định được số lượng công nhân cần thiết, kết cấu nghề và trình độ lành nghề của họ, phân bổ công nhân theo nghề thích hợp Việc xác định chính xác hao phí lao động để hoàn thành chức năng phục vụ sản xuất cho phép tổ chức phân công lao động theo chức năng hợp lý hơn Nói cách khác là nhờ định mức lao động mà sẽ phân chia đúng đắn hơn trách nhiệm giữa công nhân chính
và công nhân phụ trong xí nghiệp
Mức lao động còn là cơ sở để hình thành các đội và xác định cơ cấu của đội sản xuất Việc phân công trách nhiệm cho mỗi thành viên của đội cũng phải căn cứ vào các mức lao động và khả năng kiêm nhiệm thay thế cho nhau trong quá trình lao động Phân công đúng chức năng sẽ đảm bảo hiệp tác lao động hợp lý cả về không gian và thời gian Ngoài ra định mức lao động còn nghiên cứu các điều kiện
Trang 34để tổ chức hợp lý nơi làm việc: các nhân tố về tâm sinh lý, vệ sinh, các điều kiện an toàn, tổ chức phục vụ , điều kiện nghỉ ngơi
Như vậy ĐMLĐKH đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Tuy vậy việc quản lý định mức lao động của hầu hết các doanh nghiệp sản xuất nói chung và Công ty cổ phần giấy An Hòa nói riêng vẫn chưa được triệt để, vì vậy vẫn chưa phát huy được hết tác dụng của công tác ĐMLĐ
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐMLĐKH TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN GIẤY AN HÒA
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA
2.1.1 Giới thiệu chung
Công ty cổ phần giấy An Hòa là một doanh nghiệp cổ phần có tổng nguồn vốn
2000 tỷ đồng, chuyên sản xuất bột giấy và giấy tráng phấn cao cấp - trực thuộc tập đoàn GELEXIMCO - Hà Nội
- Tên Công ty viết bằng tiếng Việt là: CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA
- Tên Công ty viết bằng tiếng nước ngoài: AN HOA PAPER JOINT STOCK COMPANY
- Tên viết tắt của Công ty là: AHP
- Địa chỉ trụ sở chính: Thôn An Hòa, xã Vĩnh Lợi, Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Việt Nam
- Điện thoại: 027.6257184 Fax: 027.6257188
- Email: ahp@anhoapaper.vn Website:
- Ngành, nghề kinh doanh: Sản xuất bột giấy, giấy và bìa Trồng rừng và chăm sóc rừng
2.1.2 Sơ lược về hai nhà máy của Công ty
Công ty cổ phần giấy An Hòa được thành lập từ ngày 06/08/2002 Cổ đông chính là Công ty cổ phần XNK tổng hợp Hà Nội Tổng diện tích 222 ha, Công ty có
2 nhà máy:
Nhà máy Bột giấy An Hòa:
- Sản phẩm chính: Bột kraft gỗ cứng tẩy trắng (BHKP) dạng tấm đóng kiện,
độ trắng tối thiểu 89% ISO
- Công suất: 130.000 tấn/năm
- Tổng mức đầu tư: 5.200 tỷ đồng
- Công nghệ và thiết bị: Dây chuyền sử dụng công nghệ tiên tiến và thiết bị hiện đại: Hệ thống nấu liên tục (Metso - Thụy Điển), tẩy trắng bột không sử dụng
Trang 36Clo nguyên tố (EK - Thụy Điển), hệ thống thu hồi hóa chất đảm bảo giảm thiểu lượng hóa chất thải ra môi trường Hệ thống sản xuất của Nhà máy được thiết kế khép kín theo quy trình: xử lý nguyên liệu - nấu bột - sàng rửa - tẩy - xeo bột tấm
- Nguyên liệu đầu vào: Gỗ keo được trồng trong vùng quy hoạch rộng hơn
200.000 ha tại các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn
- Vận hành thương mại: Từ tháng 8 năm 2011
Nhà máy giấy tráng phấn cao cấp An Hòa:
- Sản phẩm: Giấy tráng phủ 2 mặt, dải định lượng 60 ÷ 132 g/m2, trong đó định lượng điển hình là 82 g/m2 Sản phẩm thành phẩm: Dạng cuộn khổ 4,4m và dạng giấy RAM (A4, A3)
- Công suất dây chuyền: 140.000 tấn/năm
- Tổng mức đầu tư: 5.100 tỷ đồng
- Công nghệ và thiết bị: Sử dụng công nghệ tiên tiến và thiết bị đồng bộ, hiện
đại do các hãng Allimand (Pháp), Andritz (Đức + Thụy Sĩ), ABB (Pháp), Bielomatik (Italia), Metso (Thụy Điển) sản xuất và cung cấp Tốc độ máy Xeo: 1000m/phút
- Nguyên liệu đầu vào:
- Bột kraft sợi ngắn tẩy trắng lấy từ dây chuyền sản xuất bột của Nhà máy bột giấy An Hòa
- Bột kraft sợi dài tẩy trắng nhập khẩu
- Vận hành thương mại: Dự kiến từ quý II năm 2014
Với mục tiêu xây dựng, phát triển vùng nguyên liệu để cung cấp các loại giống tốt cho các đơn vị sản xuất lâm nghiệp trong và ngoài tỉnh Tuyên Quang; kinh doanh rừng bền vững để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu chính cho Nhà máy Giấy An Hòa, Công ty cổ phần Giấy An Hòa đang tiến hành đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh ươm giống cây, trồng rừng và khai thác lâm sản, xây dựng và phát triển trung tâm giống cây trồng lâm nghiệp với công nghệ tiên tiến
Trang 37Ngoài ra, Công ty còn đầu tư vào các lĩnh vực như: Xây dựng công trình công nghiệp; Lắp đặt trang thiết bị cho các công trình xây dựng
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
2.1.3.1 Chức năng
- Chức năng chính của Công ty là sản xuất đa ngành: trồng rừng, chế biến gỗ, giấy, bột giấy, sản xuất hoá chất, điện, văn phòng phẩm, xuất khẩu các loại phụ tùng, thiết bị may mặc vật tư ngành giấy, kinh doanh dịch vụ cho thuê văn phòng, khách sạn…
- Khai thác nguồn vật tư, nhân lực, tài nguyên của đất nước, đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ hàng hóa trong nước, tăng doanh thu bán hàng, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế
- Chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp sản phẩm giấy ra thị trường thế giới,… Tung ra thị trường trong nước các sản phẩm giấy và đẩy mạnh tiêu thụ
- Xuất nhập khẩu vật tư thiết bị phục vụ cho sản xuất giấy
2.1.3.2 Nhiệm vụ
- Thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trên cơ sở là chủ động và tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật
- Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường, kiến nghị và để xuất với
Bộ Công nghiệp và Nhà nước giải quyết các vấn đề vướng mắc trong sản xuất kinh doanh
- Quản lý và sử dụng vốn, đầu tư đổi mới trang thiết bị, đảm bảo kinh doanh
có lãi và làm nghĩa vụ nộp Ngân sách Nhà nước
- Nghiên cứu thực hiện có hiệu quả các biện pháp quản lý vật tư chặt chẽ, nâng cao chất lượng các mặt hàng sản xuất kinh doanh nhằm tăng cường sức cạnh tranh
và mở rộng thị trường
- Quản lý và đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên để theo kịp sự đổi mới của yêu cầu sản xuất kinh doanh đặt ra
Trang 382.1.4 Cơ cấu tổ chức
Để thực hiện chức năng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nói trên của Công ty thì bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình quản lý trực tuyến chức năng cụ thể như sau:
Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần giấy An Hòa được minh họa qua sơ đồ ở phụ lục 10, trong đó bao gồm 1 Tổng Giám đốc, giúp việc cho Tổng Giám đốc là 4 phó Tổng giám đốc, phụ trách các mảng công việc khác nhau là PTGĐ kinh doanh, PTGĐ phụ trách HCNS, PTGĐ phụ trách Công nghệ, PTGĐ phụ trách ban Quản lý
dự án giấy
- Tổng Giám đốc là người vừa chịu trách nhiệm chung quản lý toàn diện, vừa trực tiếp phụ trách kế hoạch tài chính, tổ chức cán bộ, bảo vệ và công tác có liên quan đến quốc phòng
- Phó Tổng giám đốc là người cộng sự đắc lực của giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc, trước Nhà nước về những phần việc được phân công
Căn cứ vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật, kế hoạch sản xuất, phương án sản xuất dùng làm phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh, Công ty được tổ chức thành 10 phòng-ban, 02 phân xưởng và 03 phòng ban thuộc dự án Giấy đó là:
10 phòng ban:
- Phòng Hành chính Nhân sự Phòng Bảo dưỡng
- Phòng Nguyên liệu gỗ - Phòng Đo lường điều khiển & Tự động hóa
- Phòng Bán hàng - Phòng Quản lý kho
- Phòng Mua hàng - Phòng Môi trường & An toàn lao động
- Phòng Tài chính Kế toán - Phòng Quản lý chất lượng
Trang 39- Phòng Quản lý thi công
Các phòng đều có một trưởng phòng và 1 phó phòng giúp việc Các phòng
Hành chính Nhân sự, phòng Nguyên liệu gỗ chịu trách nhiệm của Phó Tổng Giám
đốc phụ trách HCNS Phòng Mua hàng, phòng Bán hàng chịu sự chỉ đạo trực tiếp
của Phó Tổng Giám đốc phụ trách kinh doanh Ban QLDA Bột và phòng Tài chính
Kế toán chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc tài chính Các phòng còn lại của dự
án Bột thuộc sự chỉ đạo của Giám đốc sản xuất
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC
ĐMLĐKH
2.2.1 Đặc điểm sản phẩm và thị trường
2.2.1.1 Đặc điểm sản phẩm
Hiện nay Công ty cổ phần giấy An Hòa chuyên sản xuất Bột giấy chất lượng
cao Các sản phẩm của Công ty có nhiều độ trắng khác nhau từ 60 đến 89%
- Bột giấy có độ trắng 60-69%, có đơn giá (chưa thuế GTGT) từ 10,5 triệu
Bên cạnh sự đa dạng về về độ trắng, sản phẩm của công ty còn có chất lượng
cao Hiện nay, sản phẩm của Công ty đã đạt được những thông số tiêu chuẩn sau:
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm giấy
Trang 40Khối lượng quy khô 90% (kg) 250 2000
2.2.1.2 Đặc điểm thị trường tiêu thụ
Ngày 7/11/2006 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO Điều này đã mở ra một thị trường rộng lớn cho các sản phẩm của Việt Nam nói chung và sản phẩm bột giấy của Công ty cổ phần giấy An Hòa nói riêng Sản phẩm bột giấy của Công ty hiện đang được tiêu thụ cả ở trong và ngoài nước Trong đó số sản phẩm tiêu thụ tại thị trường miền Bắc chiếm khoảng 22,5%, miền Trung chiếm khoảng 10,7%, miền Nam chiếm khoảng 14,5% tổng sản lượng tiêu thụ của Công ty Với thị trường xuất khẩu, sản phẩm bột giấy của Công
ty được rất nhiều các bạn hàng nước ngoài đặt mua, do vậy sản lượng tiêu thụ của thị trường này rất cao, khoảng 52,3% sản lượng tiêu thụ Sản phẩm công ty không những có mặt trên thị trường cả nước mà còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài như: Nga, Italy, Pháp, Mianma, Ixraen, Bangladesh, Singapore… và đặc biệt là Nhật Bản, một thì trường “khó tính” đã chấp nhận sản phẩm của công ty Doanh thu xuất khẩu hàng năm ngày một tăng lên (năm 2012 là 1200 tỷ đồng, dự tính năm
2013 là 1350 tỷ đồng)